Hội đồng quản trị trong các công ty cổ phần ở Việt Nam do Đại hội đồng cổđông trực tiếp lựa chọn.Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần ở các nước khác nhau có sự khácbiệt nhất định các nước
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ KIM XUYẾN
PHÁP LUẬT VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG
TY HOÁ CHẤT VIỆT TRÌ
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Quang
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
Trang 2Lời cam đoan
1.1 Khái luận chung về Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần
1.1.1 Khái lược về công ty cổ phần
1.1.2 Hội đồng quản trị trong mối tương quan với các thiết chế
quản lý khác của công ty cổ phần
1.1.3 Mô hình và cơ chế hoạt động của Hội đồng quản trị
1.1.4 Phong cách làm việc của Hội đồng quản trị
1.1.5 Mô hình Tricker - một khuôn khổ để phân tích về các hoạt
động của Hội đồng quản trị
1.2 Một số nội dung về quản trị công ty theo OECD
1.2.1 Nhận thức về quản trị công ty theo OECD
1.2.2 Trách nhiệm của Hội đồng quản trị theo OECD
1.3 Khái lược pháp luật về Hội đồng quản trị ở Việt Nam
1.3.1 Nhận thức bước đầu về pháp luật Hội đồng quản trị
1.3.2 Đặc điểm của pháp luật về Hội đồng quản trị
1.3.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật về Hội đồng quản trị
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY HOÁ CHẤT VIỆT TRÌ
2.1 Những vấn đề chung
2.1.1 Ứng cử, đề cử thành viên Hội đồng quản trị
2.1.2 Tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị
2.1.3 Miễn nhiệm, bãi nhiệm và bổ sung thành viên Hội
đồng quản trị
2.1.4 Thành phần Hội đồng quản trị
2.1.5 Chủ tịch Hội đồng quản trị
Tran g
15
5581117182020212222263032
323234373839
Trang 32.1.6 Thẩm quyền của Hội đồng quản trị
2.1.7 Trách nhiệm và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị, thành
viên Hội đồng quản trị
2.1.8 Cuộc họp của Hội đồng quản trị
2.1.9 Các Tiểu ban của Hội đồng quản trị
2.1.10 Thư ký Hội đồng quản trị
2.1.11 Thù lao của Hội đồng quản trị
2.2 Thành viên Hội đồng quản trị độc lập
2.3 Một số quy định khác của pháp luật về Hội đồng quản trị
2.3.1 Vai trò định hướng chiến lược của Hội đồng quản trị
2.3.2 Trách nhiệm trung thực và tránh các xung đột về quyền
lợi của các thành viên Hội đồng quản trị
Chương 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
GÓP PHẦN HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
3.1 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về Hội đồng quản trị
3.2 Khuyến nghị của OECD về trách nhiệm của Hội đồng quản trị3.3 Một số đề nghị cụ thể của tác giả góp phần hoàn thiện những
quy định của pháp luật Việt Nam về Hội đồng quản trị
3.3.1 Đối với những quy định về Hội đồng quản trị
theo Luật doanh nghiệp 2005
3.3.2 Đối với các công ty cổ phần
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
4 4 4 8
5 0 5 2 5 3 5 4 5 6 5 9 6 5 6 5 6 8 7 0
7 0 7 1
7 5
76
Trang 483
84
8 8
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á
CIEM: Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ươngĐHĐCĐ: Đại hội đồng cổ đông
IFC: Quỹ tiền tệ quốc tế
HĐQT: Hội đồng quản trị
NXB: Nhà xuất bản
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
VNR: Câu lạc bộ 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt NamWB: Ngân hàng Thế giới
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ cấu của công ty cổ phần, Hội đồng quản trị là một thiết chếquan trọng, từng được ví như “khối óc” của công ty Hiện nay, Hội đồng quảntrị được sự quan tâm không chỉ ở các quốc gia đang chuyển đổi như TrungQuốc, Việt Nam mà ngay cả các nước phát triển như Mỹ, Đức, Nhật… Sự phásản của các đại công ty ở Mỹ trong những năm gần đây như Worldcom, Tyco,Enron…đặt ra nhiều vấn đề quản lý, điều hành trong công ty, đặc biệt vai trò,trách nhiệm của Hội đồng quản trị, thu hút được sự quan tâm của nhiều họcgiả và các nhà quản lý trên toàn thế giới.Vai trò của Hội đồng quản trị, nhân tốquan trọng trong việc tạo sự tin cậy trên thị trường đầu tư, đã được chú trọngquan tâm hơn
Một cuộc điều tra định tính đối với các nhà quản lý quỹ được thực hiệnbởi các nhà tư vấn Mỹ, Mckiney, năm 1997, đã chỉ ra rằng các nhà quản lýquỹ nên tăng thêm khoảng 11 – 16% vốn đầu tư cho công ty được coi là cónhà quản lý tốt Bởi hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở ViệtNam, vốn kinh doanh của các công ty được huy động phần lớn từ thu nhậpthặng dư của các cổ đông là những người lao động Đây là nguồn đầu tư cầnđược đảm bảo chắc chắn nhất vì nó liên quan đến cuộc sống của những ngườilao động Do vậy, các công ty cần đảm bảo rằng vốn đầu tư này sẽ mang lạilợi nhuận cho các nhà đầu tư Những thành viên của Hội đồng quản trị lànhững người quản lý vốn đầu tư có ý nghĩa xã hội lớn đó, do vậy họ cần pháthuy được năng lực và hoạt động có hiệu quả để phát triển giá trị của công ty,thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận cho công ty
Do mới làm quen với nền kinh tế thị trường, khái niệm về cổ phần, cổphiếu, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát …còn khá mới mẻ ở Việt Nam Cung
Trang 8cách quản lý doanh nghiệp theo kiểu Á Đông, bị ràng buộc bởi nhiều mốiquan hệ gia đình và xã hội, cùng với chế độ sở hữu chưa rõ ràng…là nhữngnguyên nhân quan trọng cản trở việc hình thành một hệ thống quản lý, điềuhành công ty tốt Việc phân bổ thẩm quyền giữa các bộ phận trong cơ cấu tổchức của công ty cổ phần còn nhiều những bất cập, chồng chéo Địa vị pháp
lý của Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần ở Việt Nam còn được nhìnnhận thấp, được coi là người quản lý công ty nhưng pháp luật thiết kế cho họmột địa vị pháp lý không tương xứng
Vấn đề này càng trở nên cấp thiết hơn khi các công ty cổ phần ra đờingày càng nhiều, nhiều công ty mong muốn mở rộng thị trường ra nướcngoài, thị trường chứng khoán đang phát triển, nhiều nhà đầu tư đang có xuhướng bỏ vốn mua cổ phần của các công ty Hội đồng quản trị không làm tròntrách nhiệm của mình, ban giám đốc thì lạm quyền, quyền lợi của các nhà đầu
tư không được bảo vệ, đặc biệt là các cổ đông nhỏ Điều đó làm giảm khảnăng huy động vốn trên thị trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triểnbền vững của nền kinh tế
Nhằm tìm hiểu một cách có hệ thống, đầy đủ những quy định của phápluật Việt Nam, pháp luật quốc tế về Hội đồng quản trị, góp phần đưa ra cáckhuyến nghị cần thiết để hoàn thiện pháp luật về Hội đồng quản trị ở ViệtNam, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Pháp luật về Hội đồng quản trị của công ty cổphần và thực tiễn áp dụng tại công ty Hoá chất Việt Trì” làm Luận văn tốtnghiệp cao học Luật
2 Tình hình nghiên cứu
Hội đồng quản trị là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của công ty cổphần, một mắt xích quan trọng trong quản trị công ty Vì thế, Hội đồng quảntrị đang được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập đến với tư cách là một
Trang 9thiết chế, một khâu trong quản lý, điều hành của công ty cổ phần (corporategovernnance) Đầu tiên phải kể đến bài viết “The Modern Corporation andPrivate Property” (Công ty theo kiểu hiện đại và tư nhân) xuất bản năm 1932của Adolf A Berle và Gardiner C Mean, một tác phẩm được đánh giá là tạobước thay đổi quan trọng đối với mô hình công ty cổ phần Hay cuốn “Separtion of Ownership and Control (Sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý) củaEugene F Fama và Michael C Jensen…
Đối với giới nghiên cứu của Việt Nam, giống như Quản trị công ty, Hộiđồng quản trị là một vấn đề còn tương đối mới mẻ Hội đồng quản trị đượcnhiều học giả nghiên cứu nhưng đều đặt trong tổng thể những vấn đề của
công ty (chẳng hạn, Luật doanh nghiệp Vốn và quản lý trong công ty cổ phần,của ThS Nguyễn Ngọc Bích; (2006), Quản trị doanh nghiệp hiện đại, của Học Viện Tài chính; CEO và Hội đồng quản trị của Phạm Trí Hùng và
Nguyễn Trung Thắng; các bài viết của ThS Bùi Xuân Hải…)
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, mục tiêu của tác giả là tìm hiểu, phân tích làm rõcác vấn đề cơ bản về lí luận và thực tiễn của Hội đồng quản trị, từ đó đưa ragiải pháp nhằm cải tổ nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị
Đề tài chỉ tập trung làm rõ cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, vai trò của Hộiđồng quản trị trong công ty cổ phần ở Việt Nam, đặc biệt từ khi Luật doanhnghiệp năm 2005 và Luật chứng khoán năm 2006 có hiệu lực Trên cơ sở đótìm hiểu thực trạng pháp luật về Hội đồng quản trị và thực tiễn áp dụng tạiCông ty Hoá chất Việt Trì để tìm những nhân tố hợp lý và bất hợp lý, là cơ sở
để kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Hội đồng quản trị
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, bình luận các quy định của pháp luật về Hộiđồng quản trị trong công ty cổ phần Trong đó, tập trung là các quy định củaLuật doanh nghiệp năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006, Điều lệ mẫu ápdụng cho công ty niêm yết (Quyết định 15/2007/QĐ – BTC ngày 19/3/2007)
và Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giaodịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán (Quyết định 12/2007/QĐ– BTC ngày 13/3/2007)
Phương pháp so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với phápluật quốc tế về Hội đồng quản trị; xem xét kế thừa những yếu tố hợp lý là nềntảng cho sự đề xuất cải tổ Hội đồng quản trị
5 Giới hạn nghiên cứu
Các số liệu phân tích và khung pháp luật về Hội đồng quản trị được luận văn nghiên cứu được cập nhật và có giá trị tại thời điểm 20/8/2010
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về Hội đồng quản trị;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về Hội đồng quản trị ở Việt Nam và
thực tiễn áp dụng tại Công ty Hoá chất Việt Trì;
Chương 3: Một số khuyến nghị và giải pháp góp phần hoàn thiện
những quy định của pháp luật Việt Nam về Hội đồng quản trị
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ 1.1 Khái luận chung về Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần
1.1.1 Khái lược về công ty cổ phần
Công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới ra đời vào khoảng thế kỷ XVIIInhưng đến đầu thế kỷ XIX vẫn còn rất hiếm Khi quá trình tập trung tư bản đãphát triển ở mức độ cao và nhất là sau khi có sự bùng nổ của các cuộc cáchmạng công nghiệp đã trực tiếp dẫn đến sự hình thành các công ty cổ phần.Cho đến giữa thế kỷ XIX, công ty cổ phần đã phát triển mạnh mẽ và rộngkhắp trên các nước tư bản nhờ sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí và
sự phát triển rộng rãi của chế độ tín dụng Từ góc độ pháp lý, có thể khái quátmột số đặc trưng của công ty cổ phần như sau:
- Là một tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập Đây là loại hình công ty
có tính chất tổ chức cao, hoàn thiện về vốn, hoạt động mang tính xã hội hoá cao;
- Công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm đối với mọi khoản nợ bằng tàisản riêng của công ty Các cổ đông/người góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp vàocông ty;
- Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia làm các phần bằng nhaugọi là cổ phần Đây là đặc trưng rất cơ bản của công ty cổ phần Trong quátrình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra côngchúng để công khai huy động vốn Do đó, sự ra đời của công ty cổ phần gắnliền với sự ra đời của thị trường chứng khoán Việc chuyển nhượng cổ phầnđược thực hiện dễ dàng với mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán;
Trang 12- Công ty cổ phần có số lượng thành viên rất đông Có công ty cổ phần
có tới hàng vạn cổ đông ở hầu khắp các nước trên thế giới, vì vậy có khả nănghuy động vốn rộng rãi nhất trong công chúng để đầu tư vào nhiều lĩnh vựckhác nhau, nhất là trong công nghiệp
Công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn, sở hữu dù ít dù nhiều đã
có sự tách khỏi điều hành Vì thế, so với các loại hình công ty khác, cơ cấu tổchức của công ty cổ phần chặt chẽ và phức tạp hơn Hiện trên thế giới tồn tạihai mô hình phổ biến [18] Đó là mô hình đơn nhất và mô hình hai cấp
Mô hình đơn nhất có trong Luật công ty của hầu hết các nước thuộc hệthống Commen law, như Anh, Mỹ, Australia, Canada…Cấu trúc này, về cơbản, được xây dựng theo mô hình luật công ty kiểu Anglo – American, màluật công ty Hoa Kỳ là điển hình Theo mô hình đơn nhất, cấu trúc quản trịnội bộ của một công ty cổ phần gồm có: Đại hội đồng cổ đông (shareholders’meeting) và Hội đồng giám đốc (board of directors) Bộ phận quản trị - điềuhành chỉ do một cơ quan đảm nhiệm là Hội đồng giám đốc - cấu trúc hội đồngđơn Đại hội đồng cổ đông sẽ bầu chọn các thành viên của Hội đồng giám đốc(thường có từ ba đến hai chục thành viên) Mọi quyền lực và các vấn đề củacông ty được pháp luật đặt vào tay Hội đồng giám đốc, trừ những vấn đềthuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông Tiếp đó, Hội đồng giám đốc lại bổnhiệm các thành viên của mình hoặc người khác điều hành hoạt động kinhdoanh hàng ngày của công ty Sự phân chia quyền lực này khác với việc phânchia quyền lực trong các công ty cổ phần của các nước châu Âu lục địa, TrungQuốc và Việt Nam Vì thế, Hội đồng giám đốc trong công ty Anh - Mỹ cónhiều quyền lực hơn các đồng nghiệp của họ trong Hội đồng quản trị công tycủa các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc, Việt Nam
Trang 13Mô hình hai cấp có nguồn gốc từ nước Đức, xứ sở của dòng họ luậtGerman civil law Cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần theo luật Đứcgồm có: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng giám sát (Aufsichtsrat), và Ban quảntrị Việc quản lý - điều hành công ty cổ phần được phân chia cho hai cơ quan
là Hội đồng giám sát và Ban quản trị, như một thiết chế hai tầng, mà ở đó, Hộiđồng giám sát nằm ở tầng trên Vì thế, giới luật học trên thế giới gọi đây làcấu trúc hội đồng kép hay hội đồng hai tầng Và trong mô hình hai cấp, Đạihội đồng cổ đông, thậm chí cả người lao động, sẽ bầu chọn Hội đồng giámsát Hội đồng giám sát có quyền bầu Ban quản trị, giám sát hoạt động của Banquản trị Ban quản trị thực hiện chức năng điều hành hoạt động kinh doanhhàng ngày của công ty
Theo luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005, thì cấu trúc quản trị nội bộcủa công ty cổ phần ở Việt Nam, xét một cách toàn diện, không phải là cấutrúc đơn theo mô hình luật công ty Anh - Mỹ, cũng chẳng phải là cấu trúc haicấp như mô hình của luật Đức Nó có vẻ là cấu trúc pha trộn giữa hai mô hìnhnói trên, đặc biệt có rất nhiều điểm tương đồng với mô hình theo luật công tynăm 2005 của Trung Quốc Cấu trúc nội bộ của công ty cổ phần ở Việt Namcũng gồm có các cơ quan: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Tổnggiám đốc và Ban kiểm soát Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần ở ViệtNam không giống với Hội đồng giám đốc trong luật công ty Anh - Mỹ, cũngkhông phải là Hội đồng giám sát hay Ban quản trị theo mô hình luật công tycủa Đức Hội đồng quản trị trong luật Việt Nam không có quyền hạn rộng lớnnhư Hội đồng giám đốc trong cấu trúc công ty của nhiều nước Commen law.Song, nó có thẩm quyền rộng hơn so với Ban quản trị trong cấu trúc hai tầngtheo luật công ty của một số nước châu Âu Nếu thành viên Ban quản trị theoluật công ty Đức do Hội đồng giám sát bổ nhiệm thì thành viên
Trang 14Hội đồng quản trị trong các công ty cổ phần ở Việt Nam do Đại hội đồng cổđông trực tiếp lựa chọn.
Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần ở các nước khác nhau có sự khácbiệt nhất định (các nước theo hệ thống luật Commen law và Châu âu lục địa),nhưng có thể khái quát thành ba bộ phận cơ bản: Tập hợp những người gópvốn/cổ đông; người được cổ đông đông uỷ quyền quản lý công ty/hội đồngquản trị và người điều hành công ty/giám đốc hoặc tổng giám đốc
Trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần, Hội đồng quản trị chỉ là mộtthiết chế nhỏ nhưng vai trò của nó hết sức quan trọng Hội đồng quản trị đượcnhấn mạnh là người đặt ra chiến lược tổng thể cho doanh nghiệp, giám sát quản
lí rủi ro, giám sát kết quả quản trị, đảm bảo sự trung thực của báo cáo tài chính,
có kế hoạch đào tạo nhân sự kế nhiệm cho các vị trí quản lí cấp cao Để hiểu rõhơn vị trí, tầm quan trọng của Hội đồng quản trị, chúng ta cần xem xét Hội đồngquan trị trong mối quan hệ với các thiết chế khác của công ty cổ phần
1.1.2 Hội đồng quản trị trong mối tương quan với các thiết chế quản
lý khác của công ty cổ phần
Trong cơ cấu tổ chức của một công ty, Hội đồng quản trị chiếm một vịtrí rất nhỏ; thế nhưng trên thực tế vai trò của nó lại rất lớn Trong công ty,người bỏ vốn là các cổ đông, Giám đốc điều hành doanh nghiệp còn Hội đồngquản trị – đại diện cho cổ đông, bảo đảm doanh nghiệp có được quản lí tốt và
đi đúng hướng hay không, vốn của nhà đầu tư có được sử dụng một cách hiệuquả không Hình ảnh này được ví như một chiếc xe chở khách Khách đi trên
xe (tương tự như các cổ đông trong công ty) ai cũng muốn đến nơi (cùngmuốn có lãi) nhưng không biết đi đường nào, lại cũng không biết lái xe, do đó
họ bèn lựa một người làm đại diện chỉ đường (HĐQT) Người này đóng vaitrò “cai “ xe, sẽ đi tìm thuê một anh lái xe (ban giám đốc), thương lượng, trả
Trang 15một số tiền để anh ta lái chiếc xe (công ty) chạy theo bản đồ về hướng màngười cai xe được khách ủy nhiệm đã vạch ra.
1.1.2.1 Hội đồng quản trị với Đại hội đồng cổ đông
Cổ đông của công ty là những người góp vốn/người sở hữu cổ phầntrong công ty cổ phần Như trên đã đề cập, công ty cổ phần có số lượng cổđông rất lớn, có cổ đông là cá nhân và cũng có cổ đông là tổ chức Nhưng chỉ
có các cổ đông có quyền biểu quyết mới được tham gia Đại hội đồng cổ đông.Đại hội đồng cổ đông/tập hợp các cổ đông (chủ sở hữu công ty) là cơ quan cóquyết định cao nhất của công ty cổ phần [34, tr.64] Một trong những quyền
đó là lựa chọn những người có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt để quản lý,lèo lái công ty - Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, do Đại hội đồng cổ đôngbầu ra, người đại diện cho quyền lợi của các cổ đông/người góp vốn Hộiđồng quản trị phải chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước các cổđông/Đại hội đồng cổ đông và trước công ty Hội đồng quản trị được thựchiện tất cả các quyền, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng
cổ đông
1.1.2.2 Hội đồng quản trị với Ban giám đốc
Tập tục của các nước trên thế giới, Tổng giám đốc (CEO) đều do Hộiđồng quản trị lựa chọn Trong công ty của Hoa Kỳ, CEO thông thường làthành viên Hội đồng quản trị; nhưng theo luật của Pháp thì CEO không nhấtthiết là thành viên Hội đồng quản trị Cũng giống như luật công ty của Pháp,luật doanh nghiệp của Việt Nam không có quy định bắt buộc Tổng giámđốc/Giám đốc phải là thành viên Hội đồng quản trị Có thể nói rằng, chứcdanh Tổng giám đốc/Giám đốc của công ty cổ phần theo luật doanh nghiệpViệt Nam 2005 có vị trí như CEO (chief executive officer) hay MD
Trang 16(managing director) trong các công ty Mỹ, Anh, Australia, Nhật và nhiềunước khác [20].
Hội đồng quản trị là người định hướng chiến lược thì Tổng giám đốc làngười thực thi chiến lược Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước cổ đông
và công ty thì Tổng giám đốc chịu sự giám sát, quản lý của Hội đồng quản trị.Các thành viên Hội đồng quản trị không thể chỉ đạo ban giám đốc làm bất cứđiều gì với tư cách cá nhân Hội đồng quản trị thường phải thông qua Tổnggiám đốc khi muốn đưa ra định hướng cho các nhà điều hành Mối quan hệgiữa Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc là mối quan hệ giữa quản lý và điềuhành; giữa “đầu não” và “cánh tay” [21]
Một trong những nguyên tắc của OECD là Hội đồng quản trị phải ápdụng tiểu chuẩn đạo đức cao Tiêu chuẩn đạo đức đó không chỉ đối với bảnthân các thành viên Hội đồng quản trị mà còn thể hiện bằng việc bổ nhiệm vàgiám sát các cán bộ chủ chốt Đặc biệt sự có mặt của thành viên Hội đồngquản trị không kiêm nhiệm, một xu hướng được nhiều tổ chức quốc tế hàngđầu khuyến nghị, chủ yếu để đảm bảo sao cho CEO là người có khả năng vàđạo đức
1.1.2.3 Hội đồng quản trị với Ban kiểm soát
Trong cấu trúc quản trị nội bộ của các công ty cổ phần trên thế giới, có
sự khác nhau khá rõ về thiết chế Kiểm soát nội bộ Ở cấu trúc hội đồng haitầng, ví dụ luật Đức, Đại hội đồng cổ đông hoặc người lao động lựa chọn raHội đồng giám sát; Hội đồng giám sát có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cáchchức các thành viên của bộ máy điều hành – Ban quản trị và tham gia trựctiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty,giám sát Ban quản trị Còn trong cấu trúc hội đồng một tầng lại không có bộphận kiểm soát độc lập Ngoài việc bổ nhiệm Tổng giám đốc, Hội đồng giám
Trang 17đốc trực tiếp giám sát hoạt động của Tổng giám đốc Tuy nhiên, trong cáccông ty lớn, đặc biệt là các công ty niêm yết, xu hướng đa số thành viên Hộiđồng giám đốc là thành viên độc lập không điều hành đang thắng thế Cácthành viên độc lập không điều hành sẽ đảm nhiệm chức năng xem xét, đánhgiá một cách độc lập về các quyết sách quản trị của Hội đồng giám đốc vàgiám sát hoạt động của bộ phận điều hành.
Luật doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam lại quy định Ban kiểm soát
là một thiết chế độc lập so với Hội đồng quản trị, do Đại hội đồng cổ đôngbầu, từ ba đến năm người, nhiệm kỳ không quá 5 năm Thành viên Hội đồngquản trị không thể là thành viên Ban kiểm soát Bởi nhiệm vụ của Ban kiểmsoát là kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị nên cần có sự độclập giữa hai thiết chế này Nếu Hội đồng quản trị có quyền giám sát hoạt độngcủa Tổng giám đốc/Giám đốc thì Ban kiểm soát lại giám sát Hội đồng quảntrị, kiểm tra tính hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lýcủa Hội đồng quản trị [32, điều 123] Sự phân chia quyền lực như trên phầnnào hạn chế sự lạm quyền, vụ lợi của Hội đồng quản trị, bảo vệ lợi ích nhàđầu tư,
So với mô hình cơ quan giám sát của cả hai cấu trúc quản trị phổ biếntrên thế giới như đã nói ở trên, thì mô hình Ban kiểm soát độc lập từ Hội đồngquản trị và do Đại hội đồng cổ đông bầu trong các công ty cổ phần ở ViệtNam là cấu trúc khá độc đáo và hiệu quả, nếu Ban kiểm soát làm việc thực sựnhư được thiết kế trong luật [20]
1.1.3 Mô hình và cơ chế hoạt động của Hội đồng quản trị
Cấu trúc Hội đồng quản trị của các công ty trên thế giới theo truyềnthống được chia làm bốn loại [2, 279] Ở Anh và Mỹ, người ta dùng một hộiđồng duy nhất hay cấu trúc đơn Đó là một hội đồng bao gồm những thành
Trang 18viên có kiêm nhiệm hay không kiêm nhiệm, theo một tỷ lệ được coi là thíchhợp Ở các nước theo lục địa châu Âu có hội đồng hai tầng, cấu trúc kép,trong đó một ủy ban ở trên giám sát ban ban chấp hành ở dưới thay mặt chocác cổ đông Khi gọi một tầng hay hai tầng, người ta nhắm đến các bộ phậntrong công ty; chứ không căn cứ vào các cá nhân được kết thành tổ chức.
1.1.3.1 Hội đồng quản trị gồm toàn những thành viên kiêm nhiệm
Trong hội đồng này tất cả các thành viên đều là nhân viên, là ngườiđiều hành hay ban giám đốc công ty Nhiều công ty gia đình bắt đầu bằng mộthội đồng như thế này Từ người sáng lập đến người đồng sự làm những côngviệc khác nhau trong công ty tất cả đều là thành viên Hội đồng quản trị Hộiđồng quản trị của các công ty con trong một tập đoàn cũng thường chọn hìnhthức này, thực tế là các nhân viên cao cấp trong ban giám đốc đều là thànhviên của Hội đồng Ở Nhật, Hội đồng quản trị rất đông và toàn là người trongban giám đốc của công ty
1.1.3.2 Hội đồng quản trị có đa số thành viên kiêm nhiệm
Theo sự tiến hóa của công ty và của Hội đồng quản trị, vì nhiều lí dokhác nhau dần dần những thành viên không kiêm nhiệm được cử vào Hộiđồng Có khi trong một công ty đang phát triển, các giám đốc kiêm nhiệmthấy cần có những kiến thức chuyên môn từ bên ngoài, những kinh nghiệmcần thêm để bổ sung cho họ Những thành viên không kiêm nhiệm có khiđược chỉ định từ các đơn vị có đầu tư hay tài trợ cho doanh nghiệp, hay để tạonên mối liên hệ chặt chẽ với nhà cung cấp, khách hàng hay nhưng nơi khácnhằm tăng giá trị doanh nghiệp Một lí do nữa là do sự thừa kế trong gia đình,
cổ phần được chia cho các chi khác nhau trong dòng họ
Ưu điểm của của cơ cấu Hội đồng quản trị phần lớn thành viên tham giađiều hành là (i) các thành viên Hội đồng quản trị hiểu biết về kinh doanh và
Trang 19ngành nghề kinh doanh của chính doanh nghiệp Do vậy, các định hướng họ đưa
ra thường là phù hợp và thành viên hội đồng quản trị có thể đưa ra các quyếtnhanh chóng (ii) Thu nhập của thành viên Hội đồng quản trị gắn liền với sựthành bại của doanh nghiệp, đó chính là động lực khiến các thành viên hội đồngquản trị làm việc hết mình, gắn bó lâu dài vì sự phát triển của doanh nghiệp
Nhược điểm của cơ cấu Hội đồng quản trị phần lớn thành viên tham giađiều hành là: (i) Thành viên Hội đồng quản trị có thể chú trọng công việc liênquan đến lĩnh vực kinh doanh mà người đó đảm nhiệm, từ đó có thể làm giớihạn quan điểm chiến lược của Hội đồng quản trị (ii) Hội đồng khó có thể hoạtđộng một cách chuyên nghiệp vì các thành viên phải mất quá nhiều thời giantham gia vào công tác điều hành của doanh nghiệp [19, tr 61]
1.1.3.3 Hội đồng quản trị có đa số thành viên không kiêm nhiệm
Khi doanh nghiệp phát triển đến một mức độ nhất định có thể thống trịtrong ngành, lĩnh vực kinh doanh, để có những bước tăng trưởng mới, một sốdoanh nghiệp có thể niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc kêu gọi từ cácnhà đầu tư quan trọng Trong trường hợp này, doanh nghiệp cần có thêm cácthành viên Hội đồng quản trị không kiêm nhiệm Tập tục của các công ty lớn
và hàng đầu ở Anh và Mỹ là có các hội đồng loại này Trong các công ty đó,thành phần không kiêm nhiệm vượt trội thành phần kiêm nhiệm Mô hìnhquản trị công ty cổ phần theo cấu trúc hội đồng đơn kiểu Anh - Mỹ không cómột cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát những người quản lý - điềuhành công ty như mô hình của Việt Nam hay Trung Quốc Hội đồng quản trịkhông làm đúng vai trò của mình, dễ dàng thông đồng với CEO che giấunhững giao dịch với các bên liên quan hoặc làm các nhà đầu tư hiểu sai về giátrị của công ty, gây rủi ro cho các nhà đầu tư Đặc biệt, ở Mỹ trước khi xuấthiện những khó khăn nhấn chìm Enron và nhiều công ty cổ phần khác, việc
Trang 20quản trị công ty cổ phần đã chú ý đến việc sử dụng các thành viên Hội đồngquản trị độc lập để kiềm chế quyền lực của Ban giám đốc, đồng thời bảo vệquyền lợi của các cổ đông Trong đó, vai trò của các thành viên độc lập được
đề cập rất nhiều Ủy ban về Tiêu chuẩn đưa vào Danh sách giao dịch và Tráchnhiệm giải trình của công ty thuộc trung tâm giao dịch chứng khoá New York(the New York Stock Exchange - NYSE - Corporate Accountability andListing Standards Committee) đã khuyến nghị lên Hội đồng NYSE việc nênsửa đổi các tiêu chuẩn để được đưa vào danh sách giao dịch Khuyến nghị này
đã được chấp nhận này 01/8/2002, có những nội dung chính sau:
+ Yêu cầu các công ty trong danh sách phải có HĐQT với đa số cácthành viên độc lập
+ Định nghĩa rõ hơn thế nào là một thành viên độc lập Ví dụ, một
thành viên độc lập không được có quan hệ vật chất với công ty và không thể
là một nhân viên cũ cho đến năm năm sau khi thôi việc
+ Trao thêm quyền cho các thành viên HĐQT không có chân trong bangiám đốc để họ thực hiện nhiệm vụ kiềm chế ban giám đốc một cách hiệu quảhơn; yêu cầu họ có những phiên họp thường kì ở cấp điều hành không có bangiám đốc hiện diện, đồng thời, yêu cầu các thành viên HĐQT độc lập chỉ định
và tiết lộ công khai danh tánh của thành viên HĐQT sẽ chủ toạ các phiên họpnày, nhằm tạo điều kiện cho một thành viên HĐQT lãnh đạo số còn lại và làmđối trọng với quan chức điều hành cao nhất (CEO) trong công ty
+ Yêu cầu các công ty trong danh sách phải có một uỷ ban tiến cử/quảntrị công ty gồm toàn thành viên HĐQT độc lập để xem xét việc bổ nhiệmnhững người mới vào HĐQT và định hình cơ chế quản trị công ty Tương tự,
uỷ ban phụ trách về thù lao gồm toàn thành viên HĐQT độc lập
Trang 21+ Gia tăng quyền lực và trách nhiệm cho uỷ ban kiểm toán, kể cả giao
cho họ quyền quyết định thuê mướn hay sa thải các kiểm toán viên độc lập
+ Các công ty trong danh sách phải cáo bạch những nguyên tắc quản trịcông ty của mình, bao gồm các tiêu chuẩn về năng lực, trách nhiệm, mức thùlao của thành viên HĐQT…
+ Yêu cầu các công ty trong danh sách chấp nhận thực hiện cũng nhưcáo bạch một bộ quy tắc về hành vi đạo đức kinh doanh áp dụng cho cácthành viên HĐQT, các quan chức và nhân viên của công ty, và nhanh chóngcáo bạch mọi trường hợp khước từ bộ quy tắc này đối với các thành viênHĐQT hay các quan chức điều hành
Yêu cầu phải có các thành viên Hội đồng quản trị độc lập nảy sinh là vìkhả năng xung đột lợi ích giữa những người cung cấp vốn, tức là cổ đông, vàban giám đốc Do những người điều hành công ty thường không nắm giữ vốngóp đáng kể trong công ty, có nguy cơ họ dành ưu tiên cho các quyền lợi riêngcủa họ hơn là quyền lợi của cổ đông Vì thế, một trong những vai trò củathành viên Hội đồng quản trị độc lập là giám sát Ban giám đốc
1.1.3.4 Hội đồng quản trị hai tầng
Các công ty gọi vốn công chúng ở Đức thường có loại hình này [2, tr.280] Hội đồng gồm hai phần, ở trên được gọi là Hội đồng giám sát; ở dưới làBan quản trị (Hội đồng chấp hành), Hội đồng này đề bạt giám đốc Hội đồng
ở trên yêu cầu Hội đồng dưới đệ trình các kế hoạch và đề nghị để xem xét,chấp thuận, sau đó kiểm tra lại và đánh giá kết quả thực hiện Hà Lan và Phápcũng áp dụng mô hình này
Hội đồng hai tầng được thiết lập vì người Đức cho rằng các tổ chức lớnphải có một mối tương quan bền chặt giữa vốn và lao động Trong ủy bangiám sát, số thành viên đại diện cho cổ đông và cho người lao động ngang
Trang 22nhau Việc kiêm nhiệm trong hội đồng hai tầng không được chấp nhận Quyềnlực của Hội đồng giám sát nằm ở chỗ họ được bổ nhiệm và bãi nhiệm thànhviên của hội đồng chấp hành Ưu điểm của mô hình hội đồng hai tầng là: (i)Hội đồng giám sát có thể là các chuyên gia đầu ngành ở các lĩnh vực khácnhau tham gia ủng hộ doanh nghiệp để đổi mới doanh nghiệp (ii) Doanhnghiệp có nhiều cơ hội thu nhận được các đóng góp của nhóm người giàukinh nghiệm cho chiến lược phát triển và sự tăng trưởng của doanh nghiệp.Bên cạnh đó Hội đồng hai tầng cũng có những hạn chế nhất định Đó là, cácthành viên hội đồng giám sát không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vềhoạt động của doanh nghiệp, do đó Tổng giám đốc có thể hạn chế cung cấpcác thông tin cho Hội đồng giám sát, từ đó làm giảm hiệu quả của hội đồnggiám sát Đồng thời các đề nghị của Hội đồng giám sát có thể không đượcchấp nhận hoặc không được thực hiện, vì trước pháp luật, Tổng giám đốckhông trách nhiệm phải chấp nhận hay hành động theo yêu cầu của Hội đồnggiám sát.
Có bốn loại mô hình Hội đồng quản trị và tuỳ vào đặc điểm của doanh nghiệp để lựa chọn mô hình phù hợp Bởi những loại cơ cấu Hội đồng quản trị
khác nhau sẽ phù hợp với các loại doanh nghiệp khác nhau và mức độ tăngtrưởng khác nhau
Trang 23Hình 1.1: Mô hình Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần
Nguồn: [2, tr.283]
1.1.4 Phong cách làm việc của Hội đồng quản trị
Phong cách của một Hội đồng quản trị phụ thuộc nhiều vào cách làmviệc của Chủ tịch hội đồng Thông thường phong cách của Hội đồng quản trị
có bốn loại [2, tr.285]:
- Gật đầu phê chuẩn: thành viên trong Hội đồng quản trị loại này
không quan tâm nhiều đến công việc của hội đồng hay sự giao tiếp giữa cácthành viên với nhau Điển hình của loại hội đồng này là Hội đồng quản trị củanhững công ty không có gì ngoài một địa chỉ liên lạc có đăng kí tại các nước
có chế độ thuế rất thấp mà người ta gọi là “thiên đàng của thuế” Các buổi
Trang 24họp của hội đồng hoàn toàn mang tính hình thức Thực sự họ làm biên bản màkhông cần họp Hội đồng của một số công ty chưa phát hành chứng khoán coibuổi họp của hội đồng chỉ là thủ tục, có thể vì một người thống trị và quyếtđịnh tất cả, hoặc có thể vì các thành viên đã gặp nhau trong các cuộc họp củaban giám đốc rồi.
- Câu lạc bộ: Hội đồng loại này quan tâm chủ yếu đến sự giao tiếp giữa
các thành viên với nhau; còn công việc đứng hàng thứ hai Hội đồng của cáccông ty đã có từ lâu và từng thành công trong quá khứ là điển hình cho loạinày Mỗi lần họp có nhiều lễ nghi, phòng họp trang hoàng lộng lẫy với nhiềuhình ảnh của các vị cựu chủ tịch Ở hội đồng này, truyền thống được tôntrọng, sáng kiến không được khuyến khích
- Hội đồng có tính cơ cấu: Hội đồng loại này quan tâm đến công việc
nhiều hơn là mối giao tiếp giữa các thành viên, nó có những thành viên đạidiện cho nhiều loại cổ đông khác nhau và giống như một nghị viện với đạidiện của nhiều tầng lớp Các vấn đề bàn bạc dễ trở thành tranh chấp của nhiềuphe phái Các cuộc thảo luận thường gay gắt Nền tảng của sự cân bằng quyềnlực trở thành quan trọng Các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận, các cơ sởvăn hoá và giáo dục thường có loại hội đồng này
- Hội đồng chuyên nghiệp: Hội đồng này quan tâm đến công việc của
mình lẫn sự giao tiếp trong nội bộ Đây là một hội đồng có phong cáchchuyên nghiệp và thành công, nó làm nảy nở những khả năng lãnh đạo tài ba.Hội đồng sẽ có những cuộc thảo luận giữa những người có ý chí mạnh mẽ và lập luận mạnh mẽ cộng với một sự hiểu biết chung và kính trọng lẫn nhau
1.1.5 Mô hình Tricker - một khuôn khổ để phân tích về các hoạt động của Hội đồng quản trị
Trang 25Đánh giá hoạt động của Hội đồng quản trị là xem xét hiệu quả hoạtđộng của Hội đồng quản trị trên cơ sở mục tiêu của doanh nghiệp Đây làcông việc hết sức quan trọng, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Bởikhi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp, các nhà đầu tư thường chú ý đến bađiểm [21, tr 91]:
(1) Tiềm năng phát triển của doanh nghiệp;
(2) Hoạt động quản lý;
(3) Chất lượng quản lý
Giáo sư Bob Tricker đã phát triển mô hình Tricker như một công cụ đểđánh giá các hoạt động của Hội đồng quản trị và đưa ra gợi ý cho Hội đồngquản trị nên sử dụng phần lớn thời gian của mình vào những hoạt động nào(Hình 1.2)
Trang 26Theo mô hình Tricker, Hội đồng quản trị có hai vai trò chính: vai tròđiều hành hoạt động nhằm hướng tới tương lai phát triển của doanh nghiệp vàvai trò tuân thủ, phục tùng nhằm đảm bảo quá trình hoạt động của doanhnghiệp trong hiện tại và quá khứ Việc đưa ra các định hướng chiến lược vàban hành chính sách là sự thể hiện vai trò hoạt động của Hội đồng quản trịcòn việc thực hiện hỗ trợ và đánh giá kết quả thực hiện chiến lược chính là vaitrò tuân thủ của Hội đồng quản trị.
1.2 Một số nội dung về quản trị công ty theo OECD
1.2.1 Nhận thức về quản trị công ty theo OECD
Quản trị công ty là một chủ đề rộng, mở rộng đến tất cả các khía cạnh
có liên quan đến cổ đông, các nhà quản lý và các kiểm toán viên của một công
ty Định nghĩa về Quản trị công ty có thể tìm thấy trong các Quy chế/Điều lệ
về quản trị công ty ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế John Farrar cho rằng, kháiniệm quản trị công ty (corporate governance) được sử dụng lần đầu tiênkhoảng 40 năm trước bởi tác giả Richard Eells trong sách “The Governance
of Corporation” Đồng thời ông cũng khẳng định rằng, khái niệm quản trị governance, là một thuật ngữ đến từ ngôn ngữ Latin “gubernare” và
-“gubernator” với nghĩa chỉ cho việc bánh lái một con tàu và thuyền trưởngcủa con tầu đó Tuy nhiên, một vài học giả khác lại cho rằng, vấn đề quản trịcông ty được đề cập đến từ những năm 1930 [43]
Về mặt ngôn ngữ, quản trị công ty được hiểu theo nhiều nghĩa, tuynhiên định nghĩa rộng nhất được nhiều nước vận dụng vào xây dựng hệ thốngpháp luật về quản trị công ty là của Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế -OECD trong ấn phẩm “Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD” (The
Trang 27OECD Principles of Corporate Governance) được sửa đổi và ban hành lại vàonăm 2004 Theo đó, OECD cho rằng:
Quản trị công ty bao gồm việc thiết lập các mối quan hệ giữa cơ cấuquản lý công ty, hội đồng quản lý công ty, các cổ đông và các bên có quyềnlợi liên quan khác Quản trị công ty cũng cung cấp cấu trúc mà thông qua đócác mục tiêu của công ty được thực hiện và những biện pháp để đạt đượcnhững mục tiêu và khả năng giám sát là được xác định [36, tr.11]
Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế và hiệu quả kinh doanh cao, giảm nguy cơ của các cuộc khủnghoảng và đảm bảo tính hợp pháp của nền kinh tế thị trường Quản trị là mộtloạt các mối quan hệ giữa ban giám đốc công ty, Hội đồng quản trị, các cổđông và các bên có quyền lợi liên quan tạo nên định hướng và sự kiểm soátcông ty Trong mối quan hệ đó, Hội đồng quản trị là một mắt xích quan trọng,một trong ba điểm đặc biệt quan trọng đối với việc quản trị công ty của rấtnhiều nước đang phát triển [4] Luận văn nghiên cứu về Hội đồng quản trị gắnvới việc quản trị công ty, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty
cổ phần nói chung, đặc biệt là công ty niêm yết
1.2.2 Trách nhiệm của Hội đồng quản trị theo OECD
Theo OECD, khung pháp luật về quản trị công ty bao gồm sáu nhómnguyên tắc, với 32 nguyên tắc cơ bản Trách nhiệm của Hội đồng quản trị làmột trong sáu nhóm nguyên tắc đó Và theo Daniel Blume, quản trị viên caocấp OECD, Hội đồng quản trị giữ vai trò quan trọng trong việc quản trị cóhiệu quả thực hiện chức năng của một bản lề giữa các cổ đông và các banquản lý chuyên môn [4]
Cơ cấu và hoạt động của Hội đồng quản trị ở từng quốc gia và giữa cácquốc gia thuộc OECD có sự khác biệt rất lớn Hội đồng quản trị của từng
Trang 28quốc gia có thể được tổ chức theo một hoặc, hai cấp nhưng đều có thể áp dụng chung bộ nguyên tắc của OECD.
Trách nhiệm của Hội đồng quản trị trong việc “lèo lái” công ty được cụthể hoá như sau:
* Thành viên Hội đồng quản trị phải hoạt động với thông tin đầy đủ, tincậy, có trách nhiệm và cẩn trọng, vì lợi ích cao nhất của công ty và cổ đông
* Khi các quyết định của Hội đồng quản trị có thể ảnh hưởng đến cácnhóm cổ đông theo các cách khác nhau, Hội đồng quản trị phải đối xử bìnhđẳng với mọi cổ đông
* Hội đồng quản trị phải áp dụng tiêu chuẩn đạo đức cao Phải quan tâm đến lợi ích của cổ đông
* Hội đồng quản trị phải thực hiện các chức năng quản lý và giám sát
chủ yếu
* Hội đồng quản trị phải có khả năng đưa ra phán quyết khách quan, độc lập về các vấn đề của công ty
Những nguyên tắc của OECD nói chung, về Hội đồng quản trị nói riêng
là cơ sở, căn cứ để đánh giá thực trạng pháp luật về Hội đồng quản trị ởchương 2
1.3 Khái lƣợc pháp luật về Hội đồng quản trị ở Việt Nam
1.3.1 Nhận thức bước đầu về pháp luật Hội đồng quản trị
Như trên đã đề cập, quản trị công ty là một loạt các mối quan hệ giữaban giám đốc, Hội đồng quản trị, các cổ đông…tạo nên sự định hướng vàkiểm soát công ty Hội đồng quản trị chỉ là một thiết chế nhỏ trong cơ cấu tổchức của công ty cổ phần, nhưng có vai trò quan trọng đối với việc lèo láicông ty Việc xác định nguồn pháp luật điều chỉnh hoạt động của Hội đồng
Trang 29quản trị có ý nghĩa quan trọng, vì nó là cơ sở pháp lý cho hoạt động địnhhướng và giám sát của Hội đồng quản trị trong suốt quá trình tồn tại của mỗicông ty cổ phần Nhìn chung, điều chỉnh về Hội đồng quản trị có hai nguồn
pháp luật chủ yếu: thứ nhất là các văn bản pháp luật của nhà nước; thứ hai là các văn bản nội bộ của công ty Những quy định trong các văn bản pháp luật
của nhà nước chính là khung pháp lý “tối cần thiết” cho hoạt động quản lý củaHội đồng quản trị, đảm bảo được những lợi ích tối thiểu của các nhà đầu tư vàcủa công ty Trên cơ sở khung pháp lý đó, công ty xây dựng các văn bản nội
bộ riêng của mình Tuy nhiên, những văn bản nội bộ đó không được mâuthuẫn với pháp luật của nhà nước
Ở Việt Nam, những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành quan trọngnhất điều chỉnh hoạt động cuả Hội đồng quản trị là Luật doanh nghiệp năm
2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và những văn bản có liên quan, cụ thể
là Nghị định 139/NĐ - CP ngày 5/9/2007 của Chính Phủ hướng dẫn thi hànhLuật doanh nghiệp 2005, Quyết định 12/2007/QĐ – BTC ngày 13/3/2007 vàQuyết định 15/2007/QĐ – BTC ngày 19/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.Những văn bản này được coi là cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho việc thànhlập và hoạt động của công ty cổ phần nói chung và Hội đồng quản trị nóiriêng Các công ty dựa vào các quy định cơ bản trong các văn bản đó để xâydựng quy chế pháp lý nội bộ riêng cho mình Luật doanh nghiệp năm 2005dành chương IV để quy định về công ty cổ phần, trong đó có 13 Điều luật trựctiếp điều chỉnh về Hội đồng quản trị Những quy định về Hội đồng quản trịtrong Luật doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản liên quan tương đối linhhoạt, được xây dựng theo mục tiêu là thiết kế một khung pháp lý cơ bản đểcác doanh nghiệp trên cơ sở đó xây dựng quy chế quản lý nội bộ cho riêngmình, chủ yếu là trao quyền định đoạt trong khuôn khổ pháp luật cho các cổđông của công ty Những quy định của Luật doanh nghiệp 2005 đã bao quát
Trang 30hầu hết các khía cạnh của Hội đồng quản trị như ứng cử, đề cử thành viên Hộiđồng quản trị, tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên Hội đồng quản trị; thànhphần, thẩm quyền của Hội đồng quản trị…Tuy nhiên, đó chỉ là “khung pháp
lý cơ sở” cho công ty, còn cụ thể như thế nào thì các cổ đông có quyền thoảthuận, quyết định nhưng không trái với quy định của pháp luật
Bên cạnh các văn bản pháp luật của nhà nước, hoạt động của Hộiđồng quản trị còn được điều chỉnh bởi các văn bản nội bộ của công ty Đây
là những văn bản riêng của mỗi công ty, do các cổ đông thoả thuận thôngqua hoặc do cơ quan quản lý, điều hành của công ty ban hành Những vănbản này nếu được ban hành theo đúng những thủ tục luật định, nội dungkhông trái với những quy định của pháp luật thì cũng là cơ sở pháp lý quantrọng để điều chỉnh các mối quan hệ trong nội bộ công ty, trong đó có quan
hệ giữa Hội đồng quản trị với các thiết chế khác Những văn bản nội bộ chủyếu để điều chỉnh hoạt động của Công ty cổ phần bao gồm: hợp đồng thànhlập công ty, Điều lệ công ty và các văn bản của các cơ quan quản lý, điềuhành trong công ty
Hợp đồng thành lập công ty được hiểu là thoả thuận giữa các cổ đông
sáng lập về việc thành lập công ty, có giá trị pháp lý ràng buộc các cổ đôngsáng lập với nhau để thành lập công ty Hợp đồng thành lập công ty có thểđược xem là luật của nhà đầu tư trong một công ty cụ thể Trong một chừngmực các quy định của hợp đồng này không vi phạm các điều cấm của phápluật, nó sẽ được sử dụng để giải quyết những tranh chấp nội bộ của công ty[15] Hợp đồng thành lập công ty cũng có thể được gọi là “thoả thuận thànhlập” hoặc “khế ước lập hội”
Trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam không nhắc đến hợpđồng thành lập mà chỉ quy định về Điều lệ công ty Tuy nhiên, pháp luật của
Trang 31nhiều nước trên thế giới, ví dụ như Philipine, Singapore…lại quy định trongquá trình thành lập công ty, hợp đồng thành lập công ty được hình thành trướcĐiều lệ công ty, Điều lệ công ty được xây dựng trên cơ sở hợp đồng thành lậpcông ty [38] Pháp luật của nhiều nước lại không có quy định về Điều lệ công
ty mà chỉ quy định về hợp đồng thành lập công ty, ví dụ ở Đức
Pháp luật Việt Nam tuy không quy định về Hợp đồng thành lập công tynhưng không ngăn cấm việc các cổ đông sáng lập ký kết hợp đồng thành lậpcông ty, miễn là những thoả thuận trong hợp đồng không trái với những quyđịnh của pháp luật
Cùng với hợp đồng thành lập công ty, Điều lệ công ty cũng là cơ sở pháp
lý quan trọng điều chỉnh hoạt động của Hội đồng quản trị Điều lệ công ty là bảncam kết của tất cả các cổ đông về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt độngcủa công ty Pháp luật Việt Nam và pháp luật nhiều nước quy định Điều lệ công
ty là một trong những điều kiện tối cần thiết để nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh.Điều lệ công ty từng được ví như là “luật lệ riêng” [38], hay thậm chí là “Hiếnpháp” của công ty [41 ], điều chỉnh các quan hệ nội bộ công ty Tuy niên, nộidung Điều lệ không được trái với Luật doanh nghiệp và các văn bản quy phạmpháp luật có liên quan Theo quy định của Luật doanh nghiệp Việt Nam năm
2005, Điều lệ công ty nói chung phải có các nội dung cơ bản sau: Tên, địa chỉ trụ
sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện; ngành nghề kinh doanh; vốn điều lệ;quyền và nghĩa vụ của các cổ đông; cơ cấu tổ chức quản lý; căn cứ và phươngpháp xác định thù lao, lương và tiền thưởng cho người quản lý và thành viên Bankiểm soát…[32] Ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên mà pháp luật bắt buộcphải có trong Điều lệ công ty, các cổ đông có thể thoả thuận các nội dung khácnhưng không trái với quy định của pháp luật
Trang 32Ngoài hợp đồng thành lập công ty và Điều lệ công ty, chi phối hoạt
động của Hội đồng quản trị còn có văn bản của các cơ quan quản lý, điều hành của công ty cổ phần, như Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, Báo cáo
của Ban kiểm soát…cũng được coi là căn cứ pháp lý quan trọng điều chỉnhcác quan hệ nội bộ của công ty cổ phần, hoạt động của Hội đồng quản trị
1.3.2 Đặc điểm của pháp luật về Hội đồng quản trị
Pháp luật về Hội đồng quản trị của công ty cổ phần ở Việt Nam cónhững đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, mang tính mới: Luật công ty năm 1990 đã đặt nền tảng pháp
lý đầu tiên cho việc hình thành hệ thống các doanh nghiệp sở hữu tư nhântrong nước đồng thời đưa ra những mầm mống manh nha cho khung quản trịcông ty ở nước ta Có thể nói, luật Công ty mới định hình khung sơ lược củaquản lý nội bộ Cơ cấu tổ chức nội bộ của công ty cổ phần bao gồm: Đại hộiđồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Trong số 46 điều của Luậtcông ty năm 1990, chỉ có 10 điều liên quan đến quản trị công ty, 2 điều về Hộiđồng quản trị [30]
Chế độ quản trị công ty manh nha, giản đơn như vậy được áp dụngtrong suốt thời kỳ từ 1990 đến 1999 Trong giai đoạn 10 năm không hề cómột sáng kiến hay thay đổi nhằm hoàn thiện và nâng cao khung quan trị công
ty nói chung, Hội đồng quản trị nói riêng Việc kiểm soát công ty dựa nhiềuvào các cơ quan nhà nước hơn là thông qua các công cụ chỉ đạo điều hành vàkiểm soát nội bộ công ty (xem thêm [37], [39], [40])
Luật doanh nghiệp năm 1999 đã đánh dấu một bước tiến nhảy vọt trongquá trình hoàn thiện khung quản trị công ty ở nước ta Tuy nhiên, khung quảntrị này vẫn chỉ áp dụng cho các công ty thuộc sở hữu tư nhân Lần đầu tiên,khung quản trị công ty ở nước ta được hình thành với đầy đủ các yếu tố cấu
Trang 33thành Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của từng cơ quan trong cơcấu quản trị nội bộ của công ty đã được quy định tương đối rõ ràng và cụ thể.
So với Luật Công ty năm 1990, thẩm quyền của Hội đồng quản trị, của Chủtịch Hội đồng quản trị được mở rộng; điều kiện tiến hành cuộc họp và thôngqua quyết định của Hội đồng quản trị được quy định cụ thể; và các trường hợpmiễn nhiệm, bãi nhiệm, bổ sung thành viên Hội đồng quản trị cũng đã đượcghi nhận.Trong thời gian này, ngoài Luật doanh nghiệp năm 1999, Văn phòngChính phủ còn ban hành bản Mẫu điều lệ được khuyến cáo áp dụng đối vớicác công ty niêm yết Khung quản trị được được hình thành trong bản Điều lệmẫu này đã vận dụng khá đầy đủ các nguyên tắc tốt của OECD về quản trịcông ty Ngoài nội dung được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 1999,bản điều lệ còn yêu cầu: trong số các thành viên của Hội đồng quản trị phải có
ít nhất 1/3 thành viên không điều hành, hàng năm bầu lại 1/3 số thành viên hộiđồng quản trị, công bố thù lao của Hội đồng quản trị, lập các tiểu ban hoặc cửthành viên Hội đồng quản trị chuyên trách về việc kiểm soát nội bộ…
Nhìn chung từ năm 2000, khung quản trị công ty ở nước ta đã có nhữngbước phát triển và biến đổi phù hợp với các thông lệ quản trị tốt đã được thừanhận Tuy nhiên, xét về khía cạnh pháp lý, khung quản trị đó còn bộc lộkhông ít những khiếm khuyết, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến Hộiđồng quản trị, cụ thể là:
- Các nghĩa vụ của người quản lý chưa được định hình cụ thể và quy định rõ, gồm nghĩa vụ cẩn trọng, nghĩa vụ trung thành;
- Chưa có các quy định về tiêu chuẩn của người quản lý, về các nguyêntắc xác định mức thù lao của họ gắn với hiệu quả hoạt động của công ty [40];
- Hầu như không có quy định về quyền của cá nhân thành viên Hộiđồng quản trị, ngoài Điều 83 quy định về việc thành viên Hội đồng quản trị có
Trang 34quyền yêu cầu Tổng giám đốc/Giám đốc cung cấp thông tin về hoạt động củacông ty Nhưng lại quy định thành viên Hội đồng quản trị phải có nghĩa vụ:khi công ty không thanh toán đủ nợ và nghĩa vụ đến hạn thì họ phải (i) thôngbáo cho chủ nợ biết, (ii) không được tăng tiền lương, trả thưởng cho người laođộng, (iii) chịu trách nhiệm cá nhân về thiệt hại xảy ra đối với chủ nợ khikhông thực hiện nghĩa vụ trên [31, Điều 81].
Có thể nói, Luật doanh nghiệp năm 2005 là một bước tiến lớn, tạo ra sựthay đổi căn bản trong quá trình hoàn thiện khung quản trị doanh nghiệp ởnước ta Luật đã quy định khá cụ thể và đầy đủ các nội dung, yếu tố cấu thànhkhung quản trị công ty, nhất là đối với công ty cổ phần Quản trị công ty nóichung, Hội đồng quản trị nói riêng được quy định hoàn thiện hơn không chỉtrong Luật doanh nghiệp mà còn được củng cố ở rất nhiều văn bản khác nhưLuật chứng khoán năm 2005 và các văn bản hướng dẫn, Quyết định12/2007/QĐ – BTC ngày 13/3/2007, Quyết định 15/2007/QĐ – BTC ngày19/3/2007
Thứ hai, liên quan đến khoa học quản trị: sự ra đời và hoàn thiện
những quy định của pháp luật về Hội đồng quản trị gắn liền với sự xuất hiện
và hoàn thiện khung quản trị công ty ở nước ta Quản trị công ty bao gồm việcthiết lập các mối quan hệ giữa cơ cấu quản lý công ty, hội đồng quản lý công
ty, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác Quản trị công ty cũngcung cấp cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của công ty được thực hiện
và những biện pháp để đạt được những mục tiêu và khả năng giám sát là đượcxác định [36, tr.11] Hội đồng quản trị là một thiết chế trong trong hàng loạtcác mối quan hệ thiết lập nên khung pháp luật về quản trị công ty
Sự thay đổi trong những quy định của pháp luật về Hội đồng quản trịhướng đến mục đích cải thiện hoạt động, nâng cao khả năng tiếp cận các
Trang 35nguồn vốn bên ngoài của công ty, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lànhmạnh Và đó cũng là mục đích của quản trị công ty.
Thứ ba, nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, đặc biệt là các cổ đông nhỏ: Hội đồng quản trị là một thiết chế trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ
phần, đại diện cho cổ đông, cho các nhà đầu tư quản lý phần vốn đầu tư của
họ trong công ty (nghĩa vụ uỷ thác) Hội đồng quản trị hoạt động trước hết vìlợi ích của các nhà đầu tư, lợi ích tối cao của công ty Với tư cách là ngườinhận uỷ thác, thành viên Hội đồng quản trị phải làm thực hiện công việc mộtcách trung thành, mẫn cán bảo vệ tốt nhất lợi ích của người uỷ thác
Thực tế đa số các thành viên Hội đồng quản trị là các cổ đông lớn vì thế
họ sẽ ưu tiên cho quyền lợi của họ hơn là lợi ích của các nhà đầu tư khác, đặcbiệt các cổ đông nhỏ Sự sụp đổ của những tập đoàn lớn trên thế giới (Enron,WorldCom ở Mỹ, Vivendi ở Pháp, Parmalat ở Ý…), những rắc rối xảy ra ởcác ở công ty trong nước (công ty cổ phần bông Bạch Tuyết, công ty cổ phầnDầu thực vật Tường An…), và sự giảm lòng tin của nhà đầu tư (công ty cổphần viễn thông FPT) đã chỉ ra rằng trong cơ cấu Hội đồng quản trị phải cóthành viên độc lập không điều hành Bởi nếu một cơ cấu Hội đồng quản trịtoàn thành viên Hội đồng tham gia điều hành thì có thể họ chỉ lo cho quyềnlợi của cá nhân hơn là lợi ích của các cổ đông, nhà đầu tư Ngược lại, nếu Hộiđồng toàn thành viên độc lập thì đó là hội đồng kỷ luật nhiều hơn là hội đồng
cố vấn hay có tiếng nói quan trong trong việc hoạch định chiến lược của công
ty [35, tr 237] Lợi ích của nhà đầu tư gắn liền với lợi ích của công ty, bởi vậymột cơ cấu có tỷ lệ thích hợp giữa thành viên điều hành và thành viên độc là
xu hướng thắng thế hiện nay Như ThS Nguyễn Ngọc Bích nhận định: mộttrong những khuynh hướng chung mà luật công ty của nhiều nước đều hướngđến là sự độc lập của các thành viên Hội đồng quản trị và việc giám sát hữuhiệu của họ [3] Việc xây dựng và hoàn thiện những quy định của pháp luật về
Trang 36Hội đồng quản trị trước hết nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa nhà đầu tư.
Thứ tư, phòng ngừa rủi ro: nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn
phát triển với những thay đổi chưa từng có: trong thương mại quốc tế, trongcông nghệ, trong lành mạnh hoá môi trường và xã hội… Các doanh nghiệpViệt Nam đang phải cạnh tranh trong điều kiện các rủi ro chưa rõ ràng hoặcchưa được phân tích rõ ràng Nhận diện và phòng ngừa rủi ro là vấn đề sốngcòn của mỗi doanh nghiệp Trong nội bộ công ty, vấn đề này trước hết thuộc
về trách nhiệm của Hội đồng quản trị, những người nhận sự uỷ thác của các
cổ đông Bởi một trong những vai trò của Hội đồng quản trị là định hướng vàgiám sát hoạt động điều hành của ban giám đốc, kịp thời đưa ra những quyếtsách hỗ trợ hoạt động của ban giám đốc Hội đồng quản trị phải nhận diện vàxem xét các rủi ro mà doanh nghiệp đang phải đối mặt một cách tổng quan đểđưa ra quyết sách về quản lý nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh củacông ty Hội đồng quản trị theo dõi các chỉ tiêu hoạt động cơ bản, kiểm traxem các chính sách có được thực hiện đúng phương án đã đưa ra hay không
và kiểm tra thường xuyên hệ thống quản lý trong toàn bộ doanh nghiệp.Những quy định của pháp luật về Hội đồng quản trị sẽ góp phần phòng ngừa
và hạn chế rủi ro, hướng đến mục đích của quản trị công ty tốt
1.3.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật về Hội đồng quản trị
Luận văn nghiên cứu, xem xét Hội đồng quản trị gắn với việc quản trị,công ty Cụ thể, gồm các vấn đề cơ bản sau:
Cơ cấu tổ chức của Hội đồng quản trị: đảm bảo số lượng thành viên và
tỷ lệ thích hợp giữa thành viên độc lập và thành viên điều hành
Trang 37Thành viên Hội đồng quản trị: tuân thủ tiêu chuẩn và điều kiện do
pháp luật và điều lệ công ty quy định; đảm bảo có năng lực, đạo đức; xứngđáng là “khối óc điều khiển của doanh nghiệp” [21, tr 58]
Thẩm quyền của Hội đồng quản trị: vừa có quyền kiến nghị vừa có
quyền quyết định các vấn đề của công ty, trừ vấn đề thuộc thẩm quyền củaĐại hội đồng cổ đông Để Hội đồng quản trị thực hiện tốt thẩm quyền củamình, pháp luật và Điều lệ công ty phải có những quy định rõ ràng, quyềnphải tương xứng với nghĩa vụ
Vai trò, trách nhiệm của Hội đồng quản trị: Là người đại điện cho cổ
đông, cầu nối giữa cổ đông và ban giám đốc, Hội đồng quản trị có hai chứcnăng cơ bản là hoạch định chiến lược và giám sát hoạt động kinh doanh củacông ty
Cuộc họp của Hội đồng quản trị: Các cuộc họp của Hội đồng quản trị
là hết sức quan trong bởi vai trò của Hội đồng quản trị là vai trò tập thể Đểcuộc họp đạt hiệu quả cần thiết phải: biết cách sắp xếp chương trình cuộc họp
và quản lý chương trình đó; bảo đảm là các thành viên Hội đồng quản trị hiểu
về mục đích cuộc họp; chuẩn bị kỹ các tài liệu cuộc họp; các ý tưởng cầnđược chuẩn bị trước [21 tr 73]
Những vấn đề này sẽ được làm rõ trong chương 2 của Luận văn
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 thảo luận các vấn đề khái luận chung liên quan đến Hội đồngquản trị; vai trò, trách nhiệm của Hội đồng quản trị theo quan điểm của cáchọc giả và các tổ chức quốc tế Các quy định này sẽ là căn cứ cho việc phântích và bình luận khung pháp luật cụ thể của Việt Nam về Hội đồng quản trị sẽđược trình bày tại chương 2
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY
HOÁ CHẤT VIỆT TRÌ
Ở Việt Nam, chỉ trong những năm gần đây loại hình công ty cổ phầnmới bắt đầu phát triển Luật công ty năm 1990 và tiếp đó là Luật doanh
nghiệp năm 1999 bước đầu đã tạo được khung pháp lí cho các loại hình công
ty, đặc biệt là công ty cổ phần Sau nhiều năm áp dụng, những quy định vềcông ty cổ phần trong Luật doanh nghiệp1999 dần không còn đáp ứng đượcyêu cầu thực tế và không phù hợp với thông lệ quốc tế Để hội nhập quốc tế -gia nhập WTO - Việt Nam đã cho ra đời Luật doanh nghiệp năm 2005 vànhiều văn bản hướng dẫn Những quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005
về công ty cổ phần nói chung, Hội đồng quản trị nói riêng đã phần nào phùhợp đòi hỏi thực tế, tạo nền tảng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên,
do còn mới mẻ cả về lí luận và thực tiễn, nên trong quá trình áp dụng, phápluật về công ty cổ phần nói chung, những quy định của pháp luật về Hội đồngquản trị của công ty cổ phần nói riêng còn bộc lộ những bất cập, hạn chế phầnnào hiệu quả hoạt động của công ty Tìm hiểu vấn đề này, chương 2 của luậnvăn đi vào nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về Hội đồngquản trị và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam, cụ thể tại công ty hoá chất Việt Trì
- nghiên cứu vấn đề Hội đồng quản trị từ lý luận đến thực tiễn
2.1 Những vấn đề chung
2.1.1 Ứng cử, đề cử thành viên Hội đồng quản trị
Thông tin liên quan đến các ứng viên Hội đồng quản trị (trong trường hợp đã được xác định trước các ứng viên) được công bố trước ngày triệu tập
Trang 39Đại hội đồng cổ đông một khoảng thời gian hợp lý để các cổ đông có thể tìmhiểu các ứng viên này trước khi bỏ phiếu.
Các ứng viên Hội đồng quản trị phải cam kết bằng văn bản về tính trungthực, chính xác của các thông tin cá nhân được công bố và phải cam kết thựchiện nhiệm vụ của thành viên Hội đồng quản trị một cách trung thực nếuđược bầu làm thành viên Hội đồng quản trị
Thành viên của Hội đồng quản trị do các cổ đông sáng lập đề cử theo tỷ
lệ sở hữu cổ phần của từng cổ đông sáng lập Các cổ đông sáng lập đượcquyền gộp tỷ lệ sở hữu cổ phần vào với nhau để bỏ phiếu đề cử các thành viênHội đồng quản trị
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm giữ đến dưới 10% cổ phần có quyềnbiểu quyết trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng được đề cử một thành viên;
từ 10% đến dưới 30% được đề cử 2 thành viên; từ 30% đến dưới 50% được
đề cử ba thành viên; từ 50% đến dưới 65% được đề cử bốn thành viên và nếu
từ 65% trở lên thì được đề cử đủ ứng viên Đối với công ty niêm yết, Điều lệmẫu còn cho phép các cổ đông nắm giữ tối thiểu 5% số cổ phần có quyền biểuquyết trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng, hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn 10% quyđịnh tại Điều lệ, có quyền gộp số quyền biểu quyết của từng người lại vớinhau để cử các ứng viên Hội đồng quản trị [6]
Trường hợp số lượng các ứng viên Hội đồng quản trị thông qua đề cử
và ứng cử vẫn không đủ số lượng cần thiết, Hội đồng quản trị đương nhiệm cóthể đề cử thêm ứng viên hoặc tổ chức đề cử theo một cơ chế do công ty quyđịnh Cơ chế đề cử hay cách thức Hội đồng quản trị đương nhiệm đề cử ứng
cử viên Hội đồng quản trị được công bố rõ ràng và được Đại hội đồng cổđông thông qua trước khi tiến hành đề cử
Trang 40Hội đồng quản trị có thể bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị mới đểthay thế chỗ trống phát sinh và thành viên mới này phải được chấp thuận tạiĐại hội đồng cổ đông ngay tiếp sau đó Sau khi được Đại hội đồng cổ đôngchấp thuận, việc bổ nhiệm thành viên mới đó sẽ được coi là có hiệu lực vàongày được Hội đồng quản trị bổ nhiệm.
Công ty niêm yết quy định và hướng dẫn cụ thể cho cổ đông việc bỏphiếu bầu thành viên Hội đồng quản trị theo phương thức dồn phiếu
Đối với Công ty Hoá chất Việt Trì (tên đầy đủ là Công ty cổ phần Hoáchất Việt trì - VIET TRI CHEMICAL JOINT-STOCK COMPANY), việc đề
cử, ứng cử thành viên Hội đồng quản trị được thực hiện đúng trình tự đượcquy định trong Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty [12] Tuy nhiên, Nhànước là cổ đông nắm giữ 68% cổ phần trong công ty, nên họ được đề cử đủ sốứng viên cần thiết Mọi trường hợp ứng cử, đề cử khác đều vô nghĩa bởi vềhình thức là Đại hội đồng cổ đông bầu thành viên Hội đồng quản trị nhưngthực chất quyền quyết định trong Đại hội đồng cổ đông lại thuộc về các cổđông lớn – Nhà nước Nếu nhóm cổ đông nào đó trong công ty muốn đề cử ai
đó vào Hội đồng quản trị nhưng không được sự đồng ý của Nhà nước thìngười này cũng không thể trúng cử thành viên Hội đồng quản trị Tình huốngtương tự cũng xảy ra đối với hầu hết các công ty cổ phần ở Việt Nam được rađời từ công cuộc cổ phần hoá
2.1.2 Tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị
Thành viên Hội đồng quản trị là những người mà pháp luật và Điều lệcông ty không cấm làm thành viên Hội đồng quản trị Thành viên của Hộiđồng quản trị không nhất thiết phải là người nắm giữ cổ phần của công ty
Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005, thành viên Hội đồng quảntrị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây: