Tôn giáo chính là chất men kích thích sự phát triển văn hoá, đồng thời cũng góp phần định hình bản sắc văn hoá từng khu vực, tự biến thành một yếu tố trong cấu trúc văn hoá của từng dân
Trang 1KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Hà Nội – 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN ** **************
HOÀNG THỊ HƯỜNG
PHẬT GIÁO TRONG VĂN HOÁ
VIỆT NAM
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học
GS TS NGUYỄN ĐỨC NINH
Hà Nội – 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện khóa luận với đề tài: “Phật giáo trong văn hoá Việt Nam”,
trước tiên tác giả khoá luận xin gửi lời biết ơn chân thành nhất tới GS.TS Nguyễn Đức Ninh - người hướng dẫn khoa học
Tác giả khoá luận xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành
nhất tới các thầy, cô giáo đã giúp tác giả hoàn thành khoá luận này
Hà Nội, ngày 17 tháng 4 năm 2010
Tác giả khóa luận
Hoàng Thị Hường
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của GS TS Nguyễn Đức Ninh
Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong
khóa luận này
Hà Nội, ngày 17 tháng 4 năm 2010
Tác giả khóa luận
Hoàng Thị Hường
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU trang
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của khóa luận 3
7 Bố cục khoá luận 3
NỘI DUNG Chương 1: NGUỒN GỐC PHẬT GIÁO VÀ SỰ TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM 4
1.1 Nguồn gốc của đạo Phật giáo 4
1.1.1 Giáo lý của đạo Phật 5
Trang 61.1.2 Hai trường phái chính trong Phật giáo 9
1.2 Sự truyền bá Phật giáo vào Việt Nam 10
1.2.1 Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam 10
1.2.2 Phật giáo Việt Nam phát triển qua các thời đại 10
Chương 2: VĂN HOÁ PHẬT GIÁO TRONG VĂN HOÁ VIỆT NAM 14
2.1 Kiến trúc, điêu khắc, bài trí tượng thờ, trang phục Phật giáo trong văn hoá Việt Nam 14
2.1.1 Kiến trúc chùa và tháp 14
2.1.2 Điêu khắc - hội hoạ 20
2.1.3 Bài trí tượng thờ 23
2.1.4 Trang phục Phật giáo 26
2.2 Lễ hội 30
Chương 3: PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP VỚI PHẬT GIÁO THẾ GIỚI - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 34
3.1 Phật giáo Việt Nam trong thế kỉ XXI 34
3.2 Phật giáo Việt Nam trên đường hội nhập với Phật giáo thế giới 36
3.3 Những vấn đề đặt ra đối với Phật giáo Việt Nam 40
3.4 Một số giải pháp cụ thể 41
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình phát triển nhân loại, tôn giáo có vai trò lớn quy định bộ mặt văn hoá dân tộc, tác động đến mọi mặt của đời sống con người Tôn giáo chính là chất men kích thích sự phát triển văn hoá, đồng thời cũng góp phần định hình bản sắc văn hoá từng khu vực, tự biến thành một yếu tố trong cấu trúc văn hoá của từng dân tộc và là một phương tiện giao tiếp văn hoá thuận lợi, hữu hiệu giữa các dân tộc Tôn giáo chính là nhu cầu tinh thần của con người
Marx đã từng nói: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, trước đó nhà triết học Đức Kant (1724 - 1804) cũng có một câu tương tự Rất nhiều người hiểu sai ý nghĩa câu nói của Marx, cho rằng tôn giáo ru ngủ nhân dân nhưng bấy giờ thuốc phiện được sử dụng như là thứ thuốc giảm đau chứ không bị coi là độc hại như ma tuý sau này Khi nhân loại còn đau khổ thì hiển nhiên còn cần đến thứ thuốc giảm đau là tôn giáo
Trong sự phát triển xã hội, tôn giáo luôn luôn đóng một vai trò quan trọng, lúc thì góp phần làm nhu hoà ổn định xã hội, lúc thì bị lợi dụng gây nên những trường ác khốc liệt Bao giờ tôn giáo cũng là một hiện thực xã hội, lúc
Trang 8bộc lộ lúc tiềm ẩn Cho nên các tầng lớp cầm quyền ở hầu hết các quốc gia đã
sử dụng tôn giáo vào mục đích chính trị của họ
Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới, đã được du nhập vào Việt Nam ngay từ những năm đầu công nguyên trải qua nhiều thời kỳ biến động lúc thịnh lúc suy, nhưng Phật giáo đã khẳng định như là thành tố ảnh hưởng tới văn hoá dân tộc
Phật giáo đã đi vào đời sống của người dân Việt Nam, góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam mang đậm chất Phật Vì vậy chúng ta cần có sự hiểu biết về Phật giáo một cách toàn diện phát huy những mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó trong việc xây dựng, phát triển đời sống con người Việt Nam Xuất phát từ những lý do trên, việc chọn đề tài “Phật giáo trong văn hóa Việt Nam” có ý nghĩa cần thiết và thiết thực
2 Lịch sử vấn đề
Đạo Phật xuất hiện trên thế giới có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm và phát triển ở Việt Nam cũng gần hai mươi thế kỷ Từ trước đến nay đã có rất nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu để lý giải, tìm hiểu sâu sắc về đạo Phật như:
Thích Đức Nghiệp (1995), Đạo Phật Việt Nam, Thành hội Phật giáo
thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Khắc Đức (2008), Vai trò của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay,
Nxb Nghiên cứu tôn giáo
Nguyễn Tài Thư (1991), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội
Trang 9Nguyễn Đức Lữ (2006), Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá, Tạp chí Triết học (số 1)
Những công trình đó đã giúp ích rất nhiều cho tác giả để thực hiện khoá luận này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Khoá luận tìm hiểu về Phật giáo và vai trò tác động của
Phật giáo đối với văn hoá Việt Nam Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong quá trình xây dựng nền văn hoá xã hội ở nước ta
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, khoá luận thực
hiện những nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu về Phật giáo, trên cơ sở đó đi sâu phân tích quá trình truyền
bá Phật giáo vào Việt Nam
Nghiên cứu những ảnh hưởng của Phật giáo trong văn hoá Việt Nam
Đưa ra các giải pháp
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu: Phật giáo
* Phạm vi nghiên cứu
Do vấn đề tôn giáo thì rộng lớn và phức tạp, trong khuôn khổ đề tài, khoá luận chỉ tìm hiểu khái quát những nét chung nhất về Phật giáo và từ đó thấy được ảnh hưởng của nó với văn hoá Việt Nam
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập tài liệu
- Phân tích, mô tả và tổng hợp vấn đề nghiên cứu
6 Đóng góp của khóa luận
Đề tài góp phần hoàn thành lí luận về việc nghiên cứu về Phật giáo nói chung và Phật giáo trong văn hóa Việt Nam nói riêng
Ngoài ra, khóa luận làm nguồn tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu của các ngành có liên quan
7 Kết cấu khoá luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo nội dung khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Nguồn gốc Phật giáo và sự truyền bá Phật giáo vào Việt Nam
Chương 2: Văn hoá Phật giáo trong văn hoá Việt Nam
Chương 3: Phật giáo Việt Nam trên đường hội nhập với Phật giáo quốc
tế - những vấn đề đặt ra và một số giải pháp
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1 NGUỒN GỐC PHẬT GIÁO VÀ SỰ TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO
VÀO VIỆT NAM 1.1 Nguồn gốc của Phật giáo
Đạo Phật là một hiện tượng tôn giáo, nó được khởi nguồn từ Ấn Độ vào thế kỷ V trước Công nguyên, do Thái tử Siddharta (Tất - đạt - đa) sáng lập Phật giáo là một tôn giáo với những giáo lý đầy tính nhân văn cao cả Đó
là chủ trương tinh thần vị tha, quan tâm đến nỗi khổ của người khác, có đặc điểm chăm lo làm điều thiện, nêu cao tinh thần dân chủ, bình đẳng, chống lại
sự phân biệt giai cấp, đề cao lao động, chống lười biếng Giúp nhân loại thoát khỏi khổ đau tìm đến an lạc tinh thần và cao hơn nữa là tới được cõi Niết Bàn phẳng lặng
Theo truyền thuyết kể lại của Đạo Phật rằng: Cách đây 2.500 năm, tại
Ấn Độ một đêm Hoàng hậu Nahamaia mơ thấy mình được đưa tới hồ thiêng Anavatapta ở Himmalaya Sau khi các thiên thần tắm rửa cho bà trong hồ thiêng, thì có một con voi trắng khổng lồ có đoá sen ở vòi bước tới chui vào sườn Hoàng hậu và bà có mang Khi Hoàng tử vừa ra đời đã đứng ngay dậy,
đi bẩy bước và nói: “Đây là kiếp cuối cùng của ta Từ nay ta không còn phải
Trang 12luân hồi một kiếp nào nữa” [1.tr1407] Hoàng tử đó mang dòng họ Thích ca
(Sakya) tên là Cồ - Đàm - Tất - Đạt - Đa (565 trước Công nguyên) Sau khi có
vợ con rồi, ông thấy cảnh khổ của cuộc đời và đến năm 29 tuổi, ông rời bỏ cung điện và vợ con đi tu khổ hạnh 6 năm trong rừng sâu Nhưng rồi ông cũng vỡ lẽ ra con đường khổ hạnh cũng tăm tối, vô nghĩa như con đường cung đình, ông ngồi thiền định 49 ngày dưới gốc cây Bồ đề (Bodhi) tại lăng Uruvela, yên tĩnh tìm ra sự bừng sáng của tâm hồn, trí tuệ, đến được với chân
lý, hiểu được bản chất của tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và con đường cứu vớt Ngài tự xưng là Phật (Buddha - có nghĩa là giác ngộ) Người đời gọi Ngài là bậc thánh nhân của dòng họ Sakya (phiên âm là Thích Ca Mâu Ni) Sau khi giác ngộ, Phật thu nạp và truyền cho mười đệ tử
1.1.1.Giáo lý của đạo Phật
Giáo lý cơ bản của đạo Phật được thể hiện qua: tứ diệu đế, bát chính đạo và thập nhị nhân duyên
* Tứ diệu đế
Tứ diệu đế theo tiếng Pali là Ariya Saccani (Thánh đế) Ariya có ý nghĩa là cao quý hay thánh Saccani có nghĩa là cái gì thực sự có
- Thánh đế đầu tiên (Khổ đế) Dukkha
Dukkha - một danh từ khó để phiên dịch chính xác một ngôn ngữ nào khác - mà người ta thường gọi là đau khổ hay phiền não Phật giáo cho rằng cuộc đời con người là một bể khổ, con người sinh ra đã mang sẵn cho mình nỗi khổ: sinh, lão, bệnh, tử là bốn cái khổ không ai tránh khỏi Năm mối quan
hệ gắn với năm giác quan (mắt, mũi, tai, lưỡi, da) với năm ngoại cảnh (màu
Trang 13khổ, đó là cái khổ thứ năm Cái khổ với ý thức mong muốn giàu sang mà không đạt được gọi là sở cầu bất đắc khổ (muốn mà không được) là cái khổ thứ sáu Trong cuộc sống hàng ngày muốn sum họp, yêu thương nhau lại cứ phải chia ly, lìa xa nhau là thụ biệt ly khổ, cái khổ thứ bảy Ngược lại, không muốn sống chung ghét nhau như muốn xúc đất đổ đi mà lại cứ bắt buộc ở gần nhau gọi là oán tăng hội khổ, cái khổ thứ tám
Tóm lại, Dukkha trong đạo Phật có một ý nghĩa rất rộng, vừa mang ý nghĩa của từ khổ thông thường, nhưng nó còn bao gồm cả những gì bất toàn, những gì không như ý, những gì thay đổi trong Kinh pháp luân, Phật dạy:
“Sự chấp lấy thân này là khổ” Dukkha không có gì khác ngoài việc không
thoả mãn những gì trong cuộc sống và tình cảm của chúng ta
ái dục không còn lo âu, càng ít sợ sệt”[16.tr47]
Ái dục là một năng lực tinh thần hết sức hùng mạnh, luôn ngủ ngầm trong tất cả mọi người, mọi chúng sinh và nguồn cội của bao khổ đau trong đời Chính ái dục dưới mọi hình thức tự nhiên và không do bất cứ ai hay bất
cứ một thế lực nào tạo ra cả Trong mọi thành phần và hình thức của năng lượng, sự va chạm, mâu thuẫn, mất cân đối, hay sự đổi thay đều liên tục xảy
ra, như khoa học đã khẳng định tất cả mọi vật thể hữu hình đều tồn tại do sự
Trang 14vận động, va chạm và điều đó sẽ đưa đến thay đổi, vậy nên thay đổi là đặc trưng của cuộc sống Khi tình trạng thay đổi liên tục này mà chúng ta trải nghiệm về mặt thể chất và tinh thần trong từng giây phút, có liên quan đến tình cảm và lòng khao khát của con người, thì chúng ta trải nghiệm sự không thoả mãn hay sự khổ
Nguyên nhân của sự khổ không phải là tội lỗi từ căn nguyên hay là do lời nguyền hay ảnh hưởng của bất cứ vị thần, quỷ hay ma nào như một vài tôn giáo đã tin như vậy, mà là do lòng khát khao muốn tồn tại và các thú vui về giác quan (lục giác) của chúng ta Con người thấy khổ khi họ không hiểu biết (vô minh) và cố gắng thoả mãn các đòi hỏi tham lam, vô hạn độ của ngũ quan
- Thánh đế thứ ba ( Diệt đế) Nirodha
Nirodha chính là mục tiêu mà con người hướng đến Ta phải biết là ta muốn gì Từ lúc mới sinh ra mọi người đều muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau Chúng ta là những sinh vật có ý thức đang hiện hữu trên quả địa cầu này, phải đương đầu với việc tạo ra một cuộc sống hạnh phúc cho mình Nhưng ta không nên nhầm hạnh phúc chân thật với những hình thái mới nhìn qua thì trông như hạnh phúc mà kì thực chỉ là nguyên nhân của khổ đau Hạnh phúc chân thật được diễn tả trong đạo Phật như là sự vắng mặt của những khổ đau, là sự giải phóng con người ra khỏi tham dục, hận thù và tối tăm, là sự đạt tới các đức vô uý, trầm tĩnh, đại hùng khiến cho ta không còn là nạn nhân của sự sợ hãi, của những thành bại đắc thất tầm thường
Hầu hết các tôn giáo, cảnh giới chí thiện (hết sức tốt đẹp hoàn thiện) chỉ có thể đạt tới sau khi người ta đã chết Trái lại, theo đạo Phật con người có thể đạt được hạnh phúc thật sự ngay trong cuộc đời này Những người đã
Trang 15chứng ngộ chân lý của đạo Phật là những người thật sự hạnh phúc Họ không còn bị trói buộc của bất cứ trạng thái tâm lý lo, buồn, khổ, não đã gây biết bao đau khổ cho con người Sự khỏe mạnh về tâm lý của họ là hoàn mỹ Họ sống một cuộc đời hiện tại một cách hồn nhiên phác thực Vì vậy họ có thể thưởng thức và hưởng thụ một đời sống vật chất không chút phiền muộn, ưu tư, tâm
tư yên tĩnh Người phật tử phải nhận thức rằng theo đuổi sự nghiệp giải thoát không phải là từ bỏ mọi hạnh phúc của cuộc đời, trái lại chính là để xây dựng một nền tảng vững chắc cho hạnh phúc Nếu không đạt tới căn bản giải thoát thì có mắt cũng không biết nhìn, có tai cũng không biết nghe, có cuộc đời cũng không biết sống, có những điều hạnh phúc cũng không biết hạnh phúc
Phải nhận thức rằng diệt khổ là một thực tế có thể đạt được Sự an lạc hạnh phúc mà chúng ta có thể đạt được do thực hiện những phương pháp Phật giáo là điều có thể kiểm chứng được Bất cứ một nhân nào gieo xuống đều đưa đến kết quả
- Thánh đế thứ tư (Đạo đế) Magga
Magga là con đường, là phương pháp hành động Để đạt tới một đời sống an lạc cho bản thân và xã hội, ta phải biết tìm đường, ta phải biết phương pháp hành đạo Đạo đế không phải là một số giáo điều hoặc giới luật
để có thể học thuộc lòng, trái lại là kết quả của những chiêm nghiệm sâu sắc
về khổ đế, tập đế và diệt đế cùng những kinh nghiệm sống của chúng ta và các thánh đế
Con đường dẫn đến dứt khổ đau, theo đạo Phật là Trung đạo Trung đạo “có khả năng năng sản sinh trí kiến, dẫn đến yên tĩnh, chứng ngộ bên trong Chính giác, Niết bàn” Trung đạo này, thường gọi là Bát chính đạo Bát chính đạo là con đường của tám nguyên tắc hành động chân chính Tám
Trang 16nguyên tắc hành động ấy có liên hệ nhân quả rất mật thiết với nhau: 1- Chính kiến: thấy đúng; 2- Chính tư duy; 3- Chính ngữ: nói đúng; 4- chính nghiệp: hành động đúng; 5- Chính mệnh: phương tiện mưu sinh chân chính; 6- Chính tịnh tiến: cần mẫn và nỗ lực chân chính; 7- Chính niệm: ý thức chân chính; 8- Chính định: thiền định chân chính
Tất cả các nguyên tắc trên đều liên hệ với nhau, bồi đắp cho nhau một cách thân thiết dẫn đến trong tám chi của bát chính đạo, mỗi chi đều bao gồm tám chi Chi nào cũng làm nhân và đồng thời làm quả cho bảy chi khác Chứng kiến không phải là bước đầu cũng như chính định không phải là bước cuối.v.v
Theo đạo Phật, một con người hoàn thiện cần phải có đủ hai phẩm tính:
Bi và Tuệ Bi đại diện cho ái, từ thiện và tình cảm cao thượng khác, cũng tức
là phẩm chất của tâm Còn Tuệ đại diện cho lý trí hoặc những phẩm chất về tư tưởng Chỉ phát triển tình cảm mà coi nhẹ lý trí thì sẽ trở thành kẻ ngu ngốc
mà có lòng tốt Nếu phát triển lý trí mà coi nhẹ tình cảm thì sẽ biến thành nhà
tư tưởng lòng dạ sắt đá, không có chút tình cảm nào đối với con người Do đó muốn trở thành con người hoàn thiện tất phải vun đắp cả hai phẩm tính Đó chính là mục đích phương thức sống của Phật giáo Bi và Tuệ làm cơ sở bao quát tám chi của Bát chính đạo
Giáo lý của đạo Phật tuy rất đơn giản nhưng có tác dụng rất lớn, nó giúp con người loại bỏ được những thói hư, tật xấu để đi đến một cuộc sống tốt đẹp, bình đẳng hơn Bertrand Russel nhà toán học kiêm triết học Anh nổi
tiếng đã nói: “Đạo Phật là một sự kết hợp của hai loại triết học là Tự biện và Khoa học, nó đề cao phương pháp khoa học và đeo đuổi một mục tiêu tối hậu,
có thể nói là với lý trí Nó thay thế cho khoa học ở những đoạn đường mà
Trang 17khoa học không đến được do tính không hoàn thiện của những công cụ khoa học Thành tựu của đạo Phật là những thành tựu của tinh thần Không có lý
do gì về giả thiết”[14.tr67]
* Thập nhị nhân duyên (duyên khởi)
Bao gồm: Vô minh - hành - thức - danh sắc - lục nhập - xúc - thụ - ái - thủ - hữu - sinh - tử Đây là quá trình sự sống phát sinh, tồn tại và tiếp diễn Nếu chấm dứt sự chết, thì quá trình sẽ chấm dứt: không còn vô minh, không còn phiền não vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, cho đến khi sinh diệt thì lão tử diệt Mỗi một duyên khởi vừa là quả, vừa là nhân, vừa bị định đoạt, vừa làm điều kiện Vì thế chúng đều
là tương đối, liên quan đến nhau, không có gì là tuyệt đối hay biệt lập Thập nhị nhân duyên, vì thế không phải là một chuỗi, mà là một vòng
1.1.2 Hai trường phái chính trong Phật giáo
Sau khi Đức Phật qua đời, các đệ tử của Người đã định kỳ họp lại Tại các cuộc họp càng về sau, sự bất đồng ý kiến giữa các chư tăng trong việc hiểu và giải thích kinh Phật càng ngày càng lớn Hàng ngũ Phật giáo do vậy chia ra làm hai phái: Tiểu thừa và Đại thừa Hai trường phái đều có tôn chỉ mục đích là phấn đấu cho Niết Bàn, cùng thừa nhận giáo lý cơ bản của Đức Phật chỉ khác nhau về phương pháp và phương tiện tu hành
Phật giáo Đại thừa (Mahayana) còn có tên là Phật giáo Bắc tông Chủ trương “không luận”, cho rằng vạn pháp tuy có nhưng thực ra là không Nghĩa
là nghiêm khắc với bản thân còn đối với mọi người phải từ bi, hỷ, xả, không chỉ giải thoát cho bản thân mình mà muốn giải thoát cho cả thế giới Phái Đại thừa tin rằng tôn giáo là mối quan tâm của mọi người; thừa nhận Phật là đấng
Trang 18cứu độ; họ có nhiều nghi thức đi kèm với cầu nguyện cá nhân
Phật giáo Tiểu thừa chủ trương tự giải thoát cho mình bằng nỗ lực cá nhân, nhấn mạnh sự tự giác; tôn chỉ là mối quan tâm của sư tăng, họ coi Đức Phật là một vị đại sư; tránh các nghi thức và cầu nguyện
1.2 Sự truyền bá Phật giáo vào Việt Nam
1.2.1 Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam
Đạo Phật truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm, nhất là từ cuối thế kỉ thứ
II, đầu thế kỉ thứ III qua hai con đường Hồ Tiêu và Đồng Cỏ
Con đường Hồ Tiêu, tức là đường biển, xuất phát từ các hải cảng vùng Nam Ấn, rồi qua Srilanka, Inđônêsia, Việt Nam, những thương nhân Ấn cùng với một số vị tăng đi để cầu nguyện cho thủy thủ đoàn và các vị tăng này nhờ
đó mà truyền bá đạo Phật vào các dân tộc ở Đông Nam Á Các nhà sư Ấn Độ theo đường biển đến Việt Nam Luy Lâu trở thành trung tâm Phật giáo từ đầu Công Nguyên
Con đường Đồng Cỏ, tức là đường bộ (còn gọi là đường tơ lụa) Con đường này xuất phát từ vùng Đông Bắc Ấn Độ, Assam hoặc phía Trung Á, một nhánh của đường tơ lụa đi từ Châu Âu qua các vùng thảo nguyên và vùng
sa mạc Trung Á tới Lạc Dương bằng phương tiện lạc đà Cũng có thể các thương nhân và tăng sĩ qua vùng Tây Tạng và các triền sông Mê Công, sông Hồng, sông Đà mà vào Việt Nam
Như vậy, đạo Phật đến với Việt Nam thông qua con đường hoà bình, mặt khác giáo lý của Phật giáo truyền tải tư tưởng bình đẳng, bắc ái, cứu khổ, cứu nạn gần gũi tín ngưỡng, văn hoá Việt Nam nên được cư dân Việt Nam
Trang 191.2.2 Phật giáo Việt Nam phát triển qua các thời đại
Lịch sử tồn tại của Phật giáo Việt Nam cho đến nay đã gần 2.000 năm,
có thể chia làm nhiều giai đoạn, gắn với các giai đoạn phát triển của lịch sử Việt Nam
Giai đoạn từ cuối thế kỉ I đến hết thế kỉ X:
Đây là giai đoạn Phật giáo du nhập vào Việt Nam
Từ cuối thế kỉ I đến hết thế kỉ V, sự truyền bá của Phật giáo vào Việt Nam được gắn với tên tuổi của một số nhà sư Ấn Độ là: Ma Ha Kì Vực, Khâu
Đà La, Khương Tăng Hội, Chi Lương Cương và một số nhà sư Trung Quốc là Mâu Bác (Mâu Tử), Du Pháp Lan, Du Đạo Toái, Đàm Hoằng
Trong đó:
Maha kì vực, Khâu đà la, Mâu Bác truyền giáo ở thế kỉ II
Khương Tăng Hội và Du Đạo Toái truyền giáo ở thế kỉ IV
Đàm Hoằng truyền giáo ở thế kỉ V
Đến thế kỉ thứ V, ở Việt Nam đã có những nhà sư người Việt nổi tiếng như: Huệ Thắng (440 - 479), Thích Đạo Thiền (457 - 483) được mời sang Trung Quốc để thuyết pháp
Đến thế kỉ thứ VI, thời hậu Lý Nam Đế, nhà sư Ấn Độ là chi là học trò của Tăng Xán (Tổ thứ ba của Thiền phái Trung Quốc) đến tu tại chùa Pháp Vân và trở thành Tổ thứ nhất của phái thiền ở Việt Nam Phái thiền
Trang 20Tỳ-ni-đa-lưu-này được truyền 18 đời với 29 vị Thiền sư, người đầu tiên là Pháp Hiền (626), người cuối cùng là Y Sơn (1216)
Khoảng năm 820, nhà sư Trung Quốc là Vô Ngôn Thông đến tu tại chùa Kiến Sơ (làng Phù Đổng - Bắc Ninh) và lập ra phái Thiền thứ hai ở Việt Nam Phái thiền này truyền được truyền 15 đời, với 40 vị thiền sư Cảm Thành (860) là người đầu tiên và Ứng Vương (1287) là người cuối cùng Phái thiền Vô Ngôn Thông chủ trương tìm chân lý ở ngay hiện tại, trong bản thân mỗi người Chân lý chỉ có thể tu chứng trực tiếp bằng niệm Phật chứ không thể nắm bắt được qua ngôn ngữ, văn tự Chỉ có niệm Phật mới có thể đạt tới tuệ giác
* Giai đoạn từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ thứ XV:
Sang thế kỉ thứ X, nhà nước phong kiến Việt Nam được xây dựng, củng cố và phát triển Các triều đại phong kiến từ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần đều
có những chính sách nhằm khuyến khích, nâng đỡ đạo Phật
Thời nhà Đinh, vua Đinh Tiên Hoàng triệu tập các cao tăng để định rõ phẩm chất cho tăng già, phong cho sư Ngô Chân Lưu (đời thứ IV của Phái thiền Vô Ngôn Thông) làm chức Tăng Thống (người đứng đầu hàng giáo phẩm) và ban hiệu là Khuông Việt đại sư (ngang hàng với “Tam Công” trong triều)
Thời nhà Lê, vua Lê Đại Hành trọng dụng những nhà sư có công giúp triều đình đánh giặc, mời sư Đỗ Thuận (đời thứ 10 của phái thiền Tỳ - ni - đa
Trang 21- lưu - chi) làm cố vấn triều chính và bang giao, hỏi ý kiến sư Vạn Hạnh trước khi xuất quân đánh Tống, cho phép các nhà sư Việt Nam sang Trung Quốc thỉnh kinh về truyền bá Phật pháp
Thời nhà Lý (1010 - 1025), Lý Công Uẩn nguyên là sa-di,là học trò của
sư Lý Khánh Vân, sau khi lên ngôi đã ban hành nhiều chính sách có lợi cho Phật giáo như: độ dân làm sư, xây dựng nhiều chùa chiền khắp nơi, cho sư sang Trung Quốc thỉnh kinh.v.v
Các vua nhà Lý như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông đều tôn sùng đạo Phật Lý Thái Tông (1028 - 1054) thuộc thế hệ thứ 7 của phái Thiền Vô Ngôn Thông Lý Thánh Tông (1054 - 1071) thuộc thế hệ thứ nhất của Thiền phái Thảo Đường Đây là Thiền phái kết hợp giữa Thiền Tông và Tịnh Độ Tông, chú ý sự giải thoát bằng tự lực kết hợp với tha lực (sự cứu vớt của các vị Bồ Tát, đặc biệt là Quan Thế Âm Bồ Tát)
Trong xã hội, các tầng lớp quan lại và bình dân đều mộ Phật Ở nông thôn, chùa Phật trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hoá tinh thần, cùng tồn tại song song bên cạnh ngôi đình của Nho giáo Các lễ hội chùa Phật trở thành một đặc điểm văn hoá của thời Lý
Dưới thời Trần, Phật giáo tiếp tục có những bước phát triển mới với những đại biểu xuất sắc như: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Thái Tông là một nhà Phật học lỗi lạc
Nhìn chung, Phật giáo thời Lý - Trần đã có những bước phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Nó là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng của xã hội Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV, được giai cấp phong kiến Việt Nam
Trang 22sử dụng trong quá trình xây dựng và củng cố địa vị thống trị của mình và đã ảnh hưởng sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
* Giai đoạn từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XIX:
Từ thế kỉ thứ XV, giai cấp phong kiến Việt Nam suy tôn Nho giáo, lấy
đó làm chỗ dựa về tư tưởng, chính trị và đạo đức Phật giáo cung đình suy tàn dần Phật giáo dân gian mang yếu tố thần bí Người Việt đã sáng tạo ra hình ảnh Phật bà nghìn mắt, nghìn tay thể hiện ước vọng được cứu vớt
* Giai đoạn từ thế kỉ XX cho tới nay:
Từ những năm 30 của thế kỉ XX, phong trào “Chấn hưng đạo Phật” do một số nhà sư cùng với một số nhân sĩ trí thức có tinh thần dân tộc và mộ đạo khởi xướng đã làm cho Phật giáo dần dần được khởi sắc Một số tổ chức Phật giáo có cơ sở đào tạo tăng ni chuyên nghiệp được hình thành
Từ năm 1954 đến 1975 Phật giáo ở hai miền tuy có những nét khác biệt, nhưng nhìn chung đều có những đóng góp quan trọng trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Sau khi đất nước thống nhất, theo nguyện vọng và yêu cầu của đa số tăng ni, phật tử, đặc biệt là các chức sắc của các hệ phái Phật giáo, năm 1981
“Giáo hội Phật giáo Việt Nam” đã ra đời Đây là tổ chức Phật giáo thống nhất trong cả nước, gồm có hai hội đồng là Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị
sự
Trang 23Chương 2 VĂN HOÁ PHẬT GIÁO TRONG VĂN HOÁ VIỆT NAM
2.1 Kiến trúc, điêu khắc, sự bài trí tượng thờ, trang phục phật giáo trong văn hoá Việt Nam
2.1.1 Kiến trúc chùa và tháp
* Kiến trúc chùa
Từ sau khi du nhập, Phật giáo luôn là một tôn giáo chiếm vị trí quan trọng trong tâm linh người Việt Nam Suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc Vai trò của Phật giáo lúc nổi trội được coi là quốc giáo và lúc chìm lắng sống trong lòng người dân nhưng chưa bao giờ gián đoạn Người Việt Nam gắn bó chặt chẽ với ngôi chùa Phật giáo Từ ngàn xưa, trẻ con Việt Nam lớn lên với những câu chuyện mẹ kể cho nghe về ông Bụt hiền từ và giúp đỡ người lành Gắn liền với hình ảnh của các vị Phật cứu thế
độ nhân là ngôi chùa Phật giáo Chùa Phật có mặt ở khắp làng quê Việt Nam
từ mấy nghìn năm nay, đâu chỉ có vẻ đẹp đơn thuần,nó là một bộ phận quan
trọng trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam Theo số liệu thống kê của giáo hội Phật giáo Việt Nam, hiện nay nước ta có 13.775 tự viện, bao gồm: 11,432 của Phật giáo Bắc Tông, 517 của Phật giáo Nam Tông, 361 tịnh
xá, 467 tịnh thất, 998 Niệm Phật đường [6.tr46]
Chùa chiền ở Việt Nam do nhiều hoàn cảnh lịch sử và xã hội chi phối nên mỗi thời kỳ lịch sử có dáng vẻ kiến trúc khác nhau, phân bố không đồng đều, thường phía Nam nhiều hơn phía Bắc, mỗi miền có phong cách riêng biệt nhau Trong tất cả cái riêng đó, người ta vẫn thấy được cái chung rất đáng quý, đáng trân trọng, xuyên suốt cho mọi thời kỳ, cho tất cả mọi miền đó là
Trang 24chức năng và vị trí văn hoá của ngôi chùa đối với người dân Việt Nam Khi tìm hiểu về kiến trúc của các ngôi chùa ta có thể thấy rõ điều này
Theo tục ngữ Việt Nam “đất vua, chùa làng”, các ngôi chùa đa số là thuộc về cộng đồng làng xã Xây chùa bao giờ cũng là một việc trọng đại đối với làng quê Việt Nam Việc chọn đất xây chùa thường bị chi phối bởi quan niệm phong thuỷ “Xây dựng chùa, phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt”
Chùa Việt Nam thường xây dựng không phải là một công trình mà là một quần thể kiến trúc, gồm những ngôi nhà sắp xếp cạnh nhau hoặc nối vào nhau
Bố cục mặt bằng của các ngôi chùa đa số là:
+ Chữ Đinh
+ Chữ Công
+ Chữ Tam
+ Kiểu Nội công ngoại quốc
Chùa chữ Đinh, có nhà chính điện hay còn gọi là Thượng điện, là nhà đặt các bàn thờ Phật, được nối thẳng góc với nhà Bái đường hay nhà Tiền đường phía trước
Chùa chữ Công là chùa có Chính điện và nhà Bái đường song song với nhau và được nối với nhau bằng một ngôi nhà gọi là nhà Thiêu hương, nơi sư làm lễ
Trang 25Chùa chữ Tam là kiểu chùa có ba nếp nhà song song với nhau, thường được gọi là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng
Chùa kiểu nội công ngoại quốc là kiểu chùa có hai hành lang nối dài liền nhà Tiền đường ở phía trước với hậu đường (có thể là nhà Tổ hay nhà Tăng) ở phía sau làm thành một khung hình chữ nhật bao quanh lấy nhà Thiêu hương, nhà Thượng điện hay các công trình kiến trúc khác ở giữa Bố cục mặt bằng chùa có dạng phía trong hình chữ công, còn phía ngoài có khung bao quanh như chữ khẩu hay chữ quốc
Trong chùa chủ yếu gồm các cấu trúc đơn lẻ:
+ Tam quan là bộ phận không thiếu trong thành phần chùa Việt Nam,
là cổng vào chùa, thường là một ngôi nhà với ba cửa vào Có nhiều chùa có hai Tam quan, một Tam quan nội và một Tam quan ngoại Tầng trên có thể dùng làm gác chuông
+ Sân chùa: Qua Tam quan là đến sân chùa Sân chùa có nhiều chùa thường được bày đặt chậu cảnh, hòn non bộ với mục đích làm tăng thêm cảnh sắc thiên nhiên cho ngôi chùa Diện tích sân chùa phụ thuộc vào những điều kiện và đặc điểm riêng của từng chùa
+ Bái đường: Từ dưới sân chùa lớp kiến trúc đầu tiên của ngôi chùa là nhà Bái đường ( hay còn gọi là Tiền đường, nhà Thiêu hương) Để đi được đến đây thường phải đi lên một số bậc thềm Ở nhà Bái đường có thể đặt một
số tượng, bia đá ghi sự tích của ngôi chùa, có thể đặt cả gác chuông, khánh
Trang 26nếu như ngoài cửa Tam quan không xây gác chuông Giữa Bái đường là hương án, nơi thắp hương chính
+ Chính điện: Qua nhà Bái đường là nhà Chính điện Giữa Bái đường
và chính điện có một khoảng trống không rộng lắm, để cho ánh sáng tự nhiên chiếu sáng Nhà Chính điện là phần quan trọng nhất của ngôi chùa vì nơi đây bày những pho tượng Phật chủ yếu của điện thờ Phật
+ Hành lang: Chạy song song với Chính điện, nối Chính điện với Hậu đường là hai gian hành lang, tao thành một nhà ba gian
+ Hậu đường: Qua nhà Chính điện, theo đường hành lang ta đến nhà Tăng đường (còn gọi là Hậu đường), cũng còn gọi là nhà Tổ
Tiêu biểu cho kiến trúc chùa Việt là Chùa Một Cột (Hà Nội) Chùa có kiến trúc độc đáo, được tạo dáng như một bông sen cách điệu từ dưới nước vươn lên Đây là một tác phẩm nghệ thuật, một công trình kiến trúc phản ánh triết lý tổng hợp của Phật giáo Việt Nam Chùa chính dựng trên một cột đá cao vọt lên, nhìn từ đằng xa chúng ta có thể mường tượng ra một bông hoá sen vĩ đại nổi lên trên mặt nước
Cũng như cây thông, cây trúc, hoa sen đã được các dân tộc Á Đông như
ở Ấn Độ và Việt Nam coi là phù hiệu tượng trưng cho một ý nghĩa siêu hình:
“thực sen thì chẳng sợ bùn” Cái lý tưởng ngụ ở hoa sen là một đời sống tâm linh phấn đấu với hoàn cảnh thực tế, không bị hoàn cảnh tiêm nhiễm, xuất tự trong bùn hôi tanh mà vượt được lên trên để nở ra thơm đẹp, thanh tục tự do giải thoát Đó là đặc trưng của Đức Phật Thích Ca từ trong mê vọng đi vào thực hiện giác ngộ, Niết bàn Phật giáo trong tất cả các nước Á Đông đã coi cái ý nghĩa tượng trưng hoa sen làm tượng trưng cho tinh thần Phật giáo
Trang 27Chùa Một Cột được xây dựng lên nhân giấc mộng của nhà vua Lý Thái Tông thấy Phật bà Quan Thế Âm hiện trên đài hoa sen vẫy vua lên ban cho đồng tử nối dõi tông đường, kế thừa nghiệp đế lâu dài Giấc mộng ấy được thanh tao hoá đi cho hợp với lễ giáo được nghệ thuật hoá đi kèm theo con mắt giới trí thức đương thời và hoa sen đã trở thành một tượng trưng tinh thần cho toàn dân Việt Nam đã được văn chương ca vịnh:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
Đây là một công trình kiến trúc sáng tạo kết hợp không gian kiến trúc
có nhịp điệu cao thấp gồm điêu khắc đá, hội hoạ, chạm vẽ hành lang, mặt nước là biểu tượng văn hoá, nghệ thuật cao, tính dân tộc đậm nét
Ngoài ra, còn có chùa Keo (Thái Bình) là một công trình kiến trúc quy
mô, phức tạp nhiều khối kiến trúc đa dạng nhất trong tất cả các kiến trúc Phật giáo ở đồng bằng Bắc Bộ Chùa không chỉ là một bức tranh sinh động cho lịch sử văn hoá nước ta trong bốn thế kỉ, từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XX, mà còn là nơi gặp gỡ giữa kiến trúc Trung Hoa và kiến trúc Việt Nam
Chùa xây dựng trên một vùng đất rộng 100.000m2, dài từ chân đê tới con ngòi của thôn Bồng Tiên, gồm nhiều cụm kiến trúc xếp theo một trục dài cao thấp khác nhau Đáng kể và tiêu biểu nhất ở đây là kiến trúc gác chuông Chùa Keo Gác chuông Chùa Keo là một kiến trúc đẹp, cao 11,04m có ba tầng mái, kết cấu bằng những con sơn chồng lên nhau Bộ khung gác chuông
Trang 28làm bằng gỗ liên kết với nhau bằng mộng, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng Gác chuông được xây dựng trên một nền gạch xây vuông vắn Ở tầng một có treo một khánh đá cao 1,2m Tầng hai có quả chuông đồng lớn đúc cao 1,3m, đường kính 1m Hai quả chuông nhỏ treo ở tâng ba và tầng thượng cao 0,62m, đường kính 0,69m đều được đúc năm 1796 Trải qua gần 400 năm tu bổ, tôn tạo, Chùa Keo vẫn giữ nguyên bản sắc kiến trúc độc đáo của mình Gác chuông với bộ mái kết cấu gần một trăm đàn đầu voi là viên ngọc quý trong gia tài kiến trúc Phật giáo Việt Nam
Trên khắp đất nước ta gần như ở nơi nào cũng có chùa Nhìn chung kích thước kiến trúc không xây dựng quá to Đó cũng là thấm nhuần đạo lý của nhà Phật: mỗi chúng sinh đều bình đẳng, Phật không muốn đứng trên các sinh linh cùng với mọi người chia sẻ những đau khổ trên thế gian này
Qua thời gian, qua nhiều biến động xã hội và mặc dù chịu ảnh hưởng của Phật giáo bên ngoài khá mạnh, nhưng kiến trúc chùa Việt Nam vẫn thể hiện tính địa phương, tính dân tộc Việt
* Kiến trúc tháp
Trong mỗi chùa đều có tháp chuông vượt lên cao, với quan niệm của nhà Phật: tiếng chuông chùa càng ngân xa bao nhiêu thì đức từ bi của Đức Phật càng thấm sâu vào chúng sinh bấy nhiêu Sự thiêng liêng của mỗi gác chuông là cứ chiều chiều 108 tiếng chuông thong thả ngân vang Đó là những giây phút thiêng liêng xua đi 108 điều phiền não ở mỗi con người
Trang 29Các tháp thường gắn liền với chùa, cao vút lên như một biểu tượng của quần thể kiến trúc chùa Tháp thường có bình diện vuông bắt nguồn từ triết lý hài hoà của các tu viện Phật giáo Ấn Độ được gọi là Vihada
Phần lớn các tháp được xây dựng trên nền đất vững chắc, lại được gia
cố rất cẩn thận, từ chất liệu bằng đá gạch là chủ yếu Những người thợ kiến trúc đã xây dựng lên những cây tháp cao sừng sững Tháp thường được dựng lên ở giữa hoặc trước chùa, được phủ hoá văn khắp mặt ngoài trông giống như từ đất mọc lên Những ngôi tháp cổ Phật giáo tiêu biểu nhất như: Tháp Bình Sơn (Vĩnh Phúc), Tháp Phổ Minh (Nam Định), Tháp Bồ Đề (Chùa Từ Hiếu - Huế), Tháp Hoà Phong (Chùa Pháp Vân - Bắc Ninh)
Tháp Bình Sơn được xây ngay ở trước chùa Vĩnh Khánh, xã Tam Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc toàn bằng gạch nung, màu đỏ pha sắc đen Tháp có chiều cao vào khoảng 15m, gần 11 tầng Nền của tháp được xây theo hình hoa sen, gồm
có ba lớp cánh chìa lên trên, còn tám cánh kia thì vươn ra phía ngoài
Tháp Phổ Minh (hay còn gọi là Chùa Tháp) ở thôn Tức Mạc, xã Lộc Vượng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định: tháp được xây trên một sân nhỏ hình vuông, mỗi chiều khoảng 8,7m, ăn sâu xuống đất khoảng 0,5m Chung quanh sân tháp có tường hoa bao bọc, các góc sân có xây cây cột, mà đỉnh cột là hộp đèn lồng Mỗi mặt tường đều có trổ một cửa ra vào chính giữa Phía ngoài các cửa sân tháp có hai thành bậc, có chạm tường rồng bằng đá Phía trong có bậc tam cấp, đi sâu xuống sân Riêng chỗ tam cấp của mặt cửa bên trong, có xây chắn lăm xuống, thành một kiểu bể thiêu hương nhỏ Tháp có chiều cao 20,7m, gồm 14 tầng Chân đế tháp hình vuông, cạnh dài khoảng 5,2m Nền tháp và tầng thứ nhất thì được xây bằng đá Tầng nào cũng trổ bốn cửa vòm cuốn, giữa các tầng là gờ mái Tầng tháp thứ nhất đặt trên bệ đá, có hai lớp
Trang 30cánh sen, lớp dưới thì chúc xuống; lớp trên ngửa lên, đỡ lấy đáy tháp hình vuông; mỗi cạnh rộng khoảng 5m Bệ và tầng thứ nhất có những hình chạm nông trên mặt đá: hoa lá, sóng nước, mây cuốn Mặt ngoài của những viên gạch tầng trên ngôi tháp được trang trí hình rồng
Tóm lại, mặc dù có tiếp thu nghệ thuật kiến trúc tháp Phật của Ấn Độ
và của các nước láng giềng nhưng kiến trúc tháp chùa Việt Nam vẫn thể hiện
rõ hồn dân tộc trong mỗi ngọn tháp
2.1.2 Điêu khắc - hội hoạ
Nằm trong quỹ đạo chung của nghệ thuật Phật giáo nguyên thuỷ khu vực Đông Nam Á lục địa, nghệ thuật Phật giáo Việt Nam dần dần được định hình và phát triển Với tài trí sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo của các người thợ Việt Nam đã tạo nên những kiệt tác trác tuyệt, đa dạng và phong phú mang đặc trưng riêng của dân tộc
Trong các chùa ở Việt Nam có rất nhiều các pho tượng, Chùa Giác Lâm (quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) có tới 113 pho tượng, Chùa Trăm Gian (huyện Hoài Đức - Hà Tây) có tới 153 pho tượng, Chùa Mía (Ba Vì - Hà Tây) có tới 287 pho tượng
Trong các pho tượng đó thì tượng Phật Thích Ca ở Chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh được tạc bằng đá là tác phẩm nghệ thuật quý hiếm, quan trọng ở nước ta Pho tượng cao 1,87m, tính chung cả bệ tượng là 2,77m Đức Bổn Sư ngồi kiết già hai bàn chân để ngửa Bên ngoài mặc áo pháp ba lớp Trên tượng thể hiện đủ ba mươi hai tướng tốt: u trên đầu, tóc cuốn khu ốc, trái tai dài, cổ cao ba ngấn tượng này tương đối khá cao; toàn nét rạng rỡ, điềm đạm, thanh tú đã toát ra vẻ đẹp thoát tục Tượng được xây
Trang 31bằng đá, chiều cao đến 1,8m, tính cả bệ đá lên đến 3m Đây là một trong những tượng Phật nổi tiếng của chùa chiền miền Bắc được bảo lưu kĩ càng cho đến nay
Ngoài ra, còn có tượng Phật A Di Đà ở Chùa Phật Tích mở đầu cho nền nghệ thuật Phật giáo trong thế kỉ XI Tượng được cấu tạo bằng đá xanh, nguyên khối cao khoảng 1,8m, tính cả bệ tượng vào khoảng 2,77m Phật ngồi trong tư thế thiền định, hai tay đặt lòng trên khối bệ bát giác theo cấp nhỏ dần, rồi lại nở ra ở bệ đài sen Tác phẩm thể hiện tính tôn giáo đã được Việt Nam hoá trong hình dáng một người đàn bà thế tục với biểu hiện nội tâm sâu sắc Trang phục, đường nét trên tượng đạt hiệu quả thẩm mỹ cao, góp phần tạo nên vẻ đẹp dịu dàng của bậc tu hành
Mang một biểu tượng tôn giáo Việt Nam sâu đậm hơn đó là tượng Quan Âm Ở Việt Nam có rất nhiều tượng Quan Âm có giá trị nghệ thuật cao Tượng Quan Thế Âm ở Chùa Bút Tháp là một trong những pho tượng đẹp nhất của nền nghệ thuật Việt Nam truyền thống Tượng cao khoảng 3,7m, chỗ phình rộng nhất là 2,1m và bệ dày vào khoảng 1,15m Nhìn tổng quan thì pho tượng được phân chia làm hai phần rõ rệt và kết dính với nhau bằng nòng sắt
từ bên trong Tượng được tạc hiện lên với 11 đầu, 994 tay và 994 mắt Hai bên má còn có thêm hai khuôn mặt khác nữa Tuy trông khác thường nhưng không vì thế mà giảm phần uy nghi Trên đầu đội mũ theo hình hoa sen nở, lại còn có thêm tám đầu nhỏ nữa, xếp thành ba tầng cao vút lên như ngọn tháp Trên đỉnh nhọn của tháp người ấy lại thêm một pho tượng nhỏ nữa, ngồi trong tư thế tĩnh tọa Tất cả gần nghìn tay nghìn mắt được xếp thành một vòng hào quang, mà trên đỉnh lại còn gắn thêm một đôi chim đầu người, trông như đang dang cánh rộng để bay xà xuống dưới Tất cả các đường nét, hình khối, cách thể hiện toát lên ý tưởng sâu xa đó là sự giải thoát của đức Phật Có thể
Trang 32nói đây là pho tượng rất đặc trưng ở Việt Nam Bồ Tát Quan Âm đã được biến thành Phật Bà Quan Âm Vị thần hộ mệnh của cư dân nông nghiệp vùng sông nước
Tất cả các pho tượng đều rất đẹp, mang giá trị thẩm mỹ cao Mỗi tượng tuy có khác nhau về tư thế, đường nét, hình khối nhưng tất cả đều nói lên sự trong sáng của tâm hồn, sự thành khiết của trí tuệ, sự trầm ngâm suy nghĩ về nỗi đau của chúng sinh
Mỗi pho tượng đều biểu hiện một tâm trạng, một tính cách, một hơi thở của thời đại và nỗi niềm nhân sinh Trải qua bao thăng trầm của lịch sử nhưng tất cả vẫn là các công trình nghệ thuật, những thành tựu xuất sắc của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam Nhà thơ Huy Cận đã có bài thơ “Các vị La Hán Chùa Tây Phương”:
“Mỗi người một vẻ một con người
Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời
Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã
Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi”
Nhìn chung các tượng thờ đều mang một sự thiêng liêng và thể hiện chiều sâu cuộc sống Tất cả các tượng đều biểu hiện hoặc là một thứ đạo đức hoặc là tình cảm tôn giáo Điêu khắc Phật giáo đã đạt đến sự hoà nhã tĩnh mặc, ung dung tự đắc, viên mãn đầy đặn, đều biểu hiện một cách xác đáng, một trạng thái tôn giáo Phật giáo đại triệt, đại ngộ
Trang 33Ngoài ra, phải kể đến hình tượng Rồng là chủ đề quan trọng trong thể loại kiến trúc Đó cũng là nét đặc trưng trong những công trình kiến trúc, hội hoạ và điêu khắc, trang trí chùa chiền Khởi đầu từ trong tư duy thần thoại Việt Nam, con rồng luôn luôn là biểu tượng tốt đẹp của sự cao cả, oai nghi
Do ảnh hưởng của triết lý âm dương cho nên ở những mái đình chùa có đắp hình tượng những dạng thức ước lệ về lưỡng long tranh châu và rồng khác nhau Như trong thời đại Hùng vương, thì con rồng trong trang trí trông như hình cá sấu hay cá sấu nguyên mẫu Cho đến thời Lý thì rồng lại có dáng vóc của một con rắn được biến thành rồng, với thân hình thon dài, với những lối lượn lách nhịp nhàng, biểu trưng cho sự thanh bình, an lạc Con rồng này trên đầu có lông nổi hẳn lên, chòm lông rộng và dài; trong miệng có ngậm viên ngọc xanh biểu thị cho tính chất quý phái Đến đời Trần thì rồng lại uốn lượn uyển chuyển nhưng lại dịu dàng, thanh nhàn hơn, biểu trưng cho sự an lành
và phát triển Đến đời Hồ, hình rồng cũng dài nhưng lại to lớn, mập mạp hơn như biểu tượng của những xung lực Đến đời Trịnh Nguyễn, thì rồng có những móng vuốt nhọn hoắc, nanh lớn, sừng to, biểu thị cho một xã hội có nhiều biến động lớn lao Sau cùng đến đời nhà Nguyễn thì rồng trở thành một tổng hợp đầy đủ cho quyền uy, nghệ thuật và sự sùng kính, thoát tục hẳn
Đó là những nét cơ bản về nghệ thuật điêu khắc - hội hoạ Phật giáo Việt Nam nói chung và nghệ thuật điêu khắc Phật giáo Việt Nam nói riêng Đạo Phật vào nước ta đã thổi một luồng gió mới đầy sinh khí cho nghệ thuật điêu khắc Việt Nam Ở hầu hết các tác phẩm điêu khắc đều mang màu sắc Phật giáo Cho đến nay, điêu khắc - hội hoạ Phật giáo vẫn là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của người Việt Đó là những thành quả của lòng yêu đạo, tinh thần say mê và tài trí sáng tạo của mọi người
để tô điểm cho ngôi chùa ngày thêm nguy nga, tráng lệ
Trang 342.1.3 Bài trí tượng thờ
Do lịch sử truyền nhập Phật giáo ở Việt Nam, phần lớn các chùa Việt Nam là chùa Đại thừa Do đó, ở nhà chính điện cũng như các toà nhà khác trong chùa, chúng ta thấy có nhiều tượng Phật Bồ Tát cùng với các tượng thuộc những hệ Phật giáo khác Không gian trong chùa chia làm bốn nhóm kiến trúc:
Tượng bày trong chính điện: Chính điện bao giờ cũng là nơi trung tâm của sự thờ cúng trong chùa Ở đây có nhiều lớp bàn thờ làm thành bậc từ cao xuống thấp Vị trí các chùa có rất nhiều tượng: Chùa Mía (Hà Tây) có tới 278 pho tượng, Chùa Trăm Gian (Hà Tây) có 153 pho tượng Các lớp bàn thờ được sắp xếp theo nguyên tắc sau: lớp ban thờ cao nhất ở sâu trên cùng giáp mái chùa, sau đó các lớp ban thờ đặt tượng cứ thấp dần, tiếp sau lớp bệ thờ cuối cùng bao giờ cũng là hương án Nguyên tắc bài trí khá uyển chuyển và linh hoạt với mỗi chùa Tuy vậy, có một số nét chung thường thấy:
+ Tầng cao nhất của ban thờ ở chính điện, sát vách, thường có ba pho tượng gọi là “Tam thế Phật”, tức là các vị Phật của ba thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai
+ Phía dưới ba pho tượng trên thường xếp ba pho tượng gọi là “A Di
Đà tam tôn” gồm tượng Phật A Di Đà ở giữa, tượng Bồ Tát Quan Thế Âm ở bên trái và tượng Bồ Tát Đại Thế Chí ở bên phải Tượng Phật A Di Đà thường có kích thước lớn hơn các tượng khác Tượng A Di Đà ở chùa Phật Tích cao 1,82m, trong tư thế ngoài tọa thiền, không kể bệ và đài sen Hai tượng còn lại là hai vị thị giả giúp việc cứu thế cho Phật A Di Đà nên thường tạc kiểu đứng chầu cạnh Bộ “Di Đà tam tôn” được đặt ở tầng thứ hai để tỏ ý
Trang 35là mặc dù các Ngài ở cõi cực lạc nhưng vẫn có duyên và gần gũi với cõi Sa bà này, gần gũi với chúng sinh
+ Dưới ba pho tượng “A Di Đà tam tôn”, thường là tượng Phật Thích
Ca Mâu Ni ngồi giữa với tượng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ở bên trái và tượng
Bồ Tát Phổ Hiền ở bên phải
+ Ở lớp ban thờ thứ tư, chiếm vị trí ở giữa là tượng Cửu Long Hai bên
là tượng Đế Thích và Phạm Thiên
Trên ban thờ chính ở nhà thượng điện, ngoài tượng Phât A Di Đà, Phật Thích Ca, ở một số chùa còn có tượng Phật Di Lặc Tượng được tạc với bộ mặt cười, áo phanh, để hở cái bụng to Thường bên tượng này, người ta còn đặt ở bên trái tượng Pháp hoa lâm Bồ Tát, bên phải là Đại diệu tướng Bồ Tát
Tượng Phật Bà nghìn mắt, nghìn tay cũng được bày vào chính điện
Tượng bày trong bái đường: Trong nhà tiền đường (gian bên cạnh nhà bái đường) thường có hai tượng Hộ Pháp là những vị thần bảo vệ Phật pháp, mặc giáp trụ, cầm vũ khí, đứng hoặc ngồi trên lưng sấu, một loại sư tử huyền thoại Kích thước của tượng rất lớn, đắp bằng đất thó Dân gian vẫn nói “to như ông Hộ pháp” Phía đông nhà bái đường có ban thờ tượng Thổ địa thần,
có một số chùa đưa tượng này ra thờ riêng ở một miếu bên cạnh chùa Phía Tây nhà bái đường thường có pho tượng Thánh tăng Tượng này được bày nhiều nhất ở nhà tăng đường (nhà Tổ) Ở nhà bái đường, đôi khi còn có các bàn thờ mười vị Diêm Vương được gọi là Thập điện Diêm Vương, tức mười
vị cai quản mười tầng địa ngục
Tượng bày ở nhà hành lang: Nhà hành lang có thể là hai dãy nhà chạy song song ở hai bên nhà chính điện Cũng có thể là hai dãy như vậy mà chung
Trang 36mái với nhà chính điện và mang đúng nghĩa là hành lang, theo hai lối hành lang này có thể đi tiếp vào hậu đường Người ta thường bày tượng mười tám
vị La Hán, mỗi bên chín tượng Có chùa như Chùa Keo (Thái Bình) các tượng
La Hán được bày ngay ở tiền đường
Tượng bày ở nhà tăng đường: Nhà tăng đường còn gọi là nhà hậu đường vì nằm sau chính điện, có thể được xây tách rời hoặc liền sát với chính điện Cách bố trí tượng thờ ở nhà hậu đường như sau: gian giữa của nhà tăng đường thường có bày tượng Thánh tăng (còn gọi là A - nan - đà) và tượng Đức Tổ Tây Đức Tổ Tây có pháp danh là Bồ - đề - đạt - ma Ngoài ra một số chùa còn bày tượng Quan Âm Tống Tử và Quan Âm Tọa Sơn Hai bên tượng Quan Âm Tống Tử thường có hai tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ, hay hai tượng Thiện tài và Long nữ
Chùa Việt Nam còn có một điều đặc biệt đó là các bàn thờ chư vị tức là các vị thánh của Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian Đó là bàn thờ Mẫu, tức nữ thần mẹ Có nhiều mẫu như: Mẫu thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa Phủ, Mẫu Liễu, Tứ Pháp
Trong một số chùa, đằng sau điện thờ Phật là hậu cung thờ một vị thần Các vị thần được thờ đều là những “thân nhân”, có nghĩa là những con người được coi là có thực, nhưng về sau nhờ có học tập, tu luyện, đã có tài thần thông biến hoá, nghĩa là có những khả năng của một vị thần Nhờ những khả năng đó, họ cứu dân giúp nước và vì vậy, họ được nhân dân một vùng hay nhiều vùng thờ phụng
Ngoài ra, các nhân vật lịch sử thực sự cũng được thờ tại chùa, họ là những ông quan, những danh sĩ hay những vị tướng đã có công với nước hay với dân
Trang 37Một hình thức thờ tự khác gắn với các chùa Việt Nam là thờ
“hậu”.Hình thức này có mối liên hệ với tập tục thờ cúng tổ tiên đã hình thành lâu đời ở Việt Nam.Trong chùa, bàn thờ “hậu” thường là một hành lang với những bát hương, đặt trước những tấm bia đá, gọi là bia “hậu”, trên đó có khắc rõ tên tuổi quê quán
Tóm lại, phong cách bài trí tượng thờ trong chùaViệt vẫn tiếp nối truyền thống Phật giáo, với lối thờ theo kiểu “tiền Phật hậu thần” đã cho thấy
sự sáng tạo của nhân dân ta trong quá trình tiếp nhận văn hoá ngoại nhập Đây là nét đặc trưng riêng của phong cách bài trí tượng thờ trong chùa Việt
2.1.4 Trang phục
Có nhiều danh từ Phật giáo để gọi chung áo của tu sĩ mặc: cà sa(xuất phát từ tiếng Phạn là Kasaya, có nghĩa là hoại sắc), phước điền y, pháp phục, pháp y, giải thoát y,.v.v Mặt khác, trang phục Phật giáo còn có nét khác biệt giữa hai hệ phái Nam tông và Bắc tông
Phật giáo ở nước ta chia làm hai tông phái: Bắc tông và Nam tông Vì vậy trang phục của các tu sĩ cũng có sự khác nhau:
+ Các nhà sư Bắc tông (ở các chùa miền Bắc) mặc loại vải thô màu nâu (nhuộm bằng củ nâu) Về sau này đã dùng loại vải tốt, mịn hơn và có thể nhuộm bằng thuốc nhuộm
Ở trong nhà, mặc áo cánh ngắn nâu, quần nâu, nam cũng như nữ (gần đây sư nam mặc cả sơ - mi nâu) Ra đường khi có việc chùa, mặc áo dài tương đối rộng, không căng ngực, cổ tròn đứng, mềm, cài khuy kín cổ, khuy tết bằng vải nâu
Trang 38Lúc làm lễ các sư bậc thấp mặc áo tràng vạt nâu, tay rộng, cổ chéo có nẹp rộng khoảng 5cm Các sư bậc cao mặc áo tràng vạt màu vàng (loại sắc) Bên ngoài khoác một tấm vải gọi là áo cà sa màu nâu hoặc màu vàng (hoại sắc) tuy theo các cấp bậc Ngoài ra còn loại áo cà sa nhiều màu để dùng khi chạy đàn
Áo cà sa là một miếng vải gần như hình vuông, mỗi chiều rộng khoảng
từ hai mét đến ba mét Đây không phải là một tấm vải liền mà là do nhiều miếng ghép lại theo quy cách nhất định Trong khi kinh Phật gọi là Y pháp, gồm có các loại: Y ngũ điều, y thất điều, y cửu điều, Y ngũ điều do năm mảnh điều ghép lại, y thất điều do bảy mảnh điều ghép lại mỗi loại dành cho từng trường hợp sử dụng
Một tấm y ngũ điều, ta thấy như sau: Tuỳ theo chiều cao của người mặc
y ngũ điều có thể dài từ 1,6m đến 1,9m Chiều ngang là năm miếng vải - tức
là “điều” - mỗi “điều” có bề ngang là 40cm Nhưng năm “điều” không nối liền nhau mà giữa hai “điều” lại có một dải vải bề ngang 5cm ngăn cách Trên từng “điều” theo chiều dọc xuống, còn chia ra làm hai phần khồng đều nhau
do miếng cách ngăn ra Phần dài hơn gọi là “trường”, phần ngắn gọi là
“đoản” Ở “điều” thứ nhất: “đoản” ở trên, “trường” ở dưới thì ở “điều” thứ hai: “trường” ở trên “đoản” ở dưới , tức là có sự sắp xếp so le “trường” và
“đoản” giữa các điều
Ở y thất điều lại được bố trí nhất “đoản”, nhị “trường” viền quanh y là một nẹp rộng 10cm gọi là riệp Ở mép vải phía trên của bất cứ y nào, ở khoảng 2/3 chiều ngang từ trái sang phải, cũng có một cúc tết bằng vải khâu trên một miếng vải hình nửa cánh quạt dài 9cm Cúc này được cài vào một khuyết ở đoạn chiều dọc bên trái tấm áo, cách mép vải trên khoảng 20cm
Trang 39Cách mặc này là khi nhà sư khoác chéo áo, hở một cánh tay Khi cúc cài vào khuyết, hai hình nửa cách quạt chập vào nhau, cạnh đó lại có một dải vải trang trí nữa, rất đẹp Miếng vải nhỏ trên đó có cúc, có khuyết được gọi là bàn
đà
Khi choàng áo này, người mặc cần buộc vào nhau hai dây vải trên hai bàn đà khác hình vuông đặt ở gần khoảng giữa tấm áo, dưới mép vải trên Choàng và buộc dây xong, hai tay sẽ thường xuyên nâng hai bên tấm vải, coi như hai ống tay rộng
Theo truyền thuyết trong đạo Phật, chiếc áo cà sa hình thành là do từ những miếng vải lẻ của nhân dân tứ phương lòng thành góp lại cho người tu hành Khi có nhiều mảnh vài rồi các nhà sư thỉnh xin đức Phật cho biết nên may áo theo kiểu cách nào Nhân đi qua một cánh đồng đức Phật liền chỉ tay
và truyền may theo hình thức các thửa ruộng Cũng vì lẽ đó mà tấm áo cà sa còn tên gọi là tấm Pháp phúc điền, ý cầu mong lúa gạo nhiều, chúng sinh no
ấm
Các nhà sư Nam tông, trang phục không may thành quần, áo như phái Bắc tông mà chỉ dùng vải vàng hoặc nâu quấn, vắt trên người với các kiểu khác nhau Có các hình thức sau đây:
Y nội (Y an đà hội) có tác dụng như quần áo lót gồm hai miếng vải Miếng thứ nhất rộng 40cm, dài từ 1-1,5m vắt từ trước ngực qua vai trái, qua lưng, chéo xuống sườn phải Miếng thứ hai để nguyên khổ vải, rộng từ 70-90cm, chiều dài 1,5m, quấn quanh bụng, đầu vải dắt vào mép vải cho chặt
Y vai trái (Y uất đà la tăng) Mặc y vai trái cần theo một trình tự như sau: khoắc tấm vải ra sau lưng, tay phải cầm mép vải (bên phải) luồn từ sau
Trang 40nách ra trước ngực rồi vắt phần vải còn lại qua vai trái Còn đoạn vải bên trái vắt trùm lên phần vải trước, qua vai, buông xuống ngực
Ra đường áo không được để hở vai và tay mà mặc theo trình tự như sau: Quàng phần vải từ sau lưng ra phía trước, hai mép vải luồn dưới hai nách, chụm hai mép vải ở trước ngực Cho tay trái vào trong giữ ở đoạn vải cách ngực khoảng 40cm tạo một khoảng trống trước ngực Xong lại kéo đoạn vải ấy tì vào ngực và dùng tay phải cuộn tròn từ hai mép đầu tấm vải vào dần cho đến đoạn tay trái đang giữ, thành một cuộn tròn dài thẳng đứng Sau đó, nhờ có khoảng trống ở phần trước ngực, người mặc kéo mép vải lên trên đầu với mục đích cho mép vải phía dưới dài đến mắt cá chân Tiếp tục vắt cuộn vải lên vai trái, đưa luồn dưới nách từ sau ra trước, cánh tay trái cặp chặt lại là xong Như vậy cánh tay trái sẽ không được tự do cử động bình thường
Về đồ đội, xưa kia có loại nón riêng cho nhà sư gọi là nón tu lờ Nón làm bằng lá gồi, gần như chiếc mũ rộng vành Ngày nay không phân biệt, đi nắng, các sư ông đội mũ lá, mũ cát, có thời gian đội kiểu mũ hướng đạo nâu Trời rét đội mũ len màu nâu, hình tròn ống, trên chiết khít lại, hay đan kiểu nổi múi nhỏ như hình bụt cốc trên đầu các tượng Phật Các sư bà đội nón bình thường Các nhà sư Nam tông không đội mũ, khi ra đường, nếu cần dùng ô màu vàng hoặc màu đen
Nhất thiết các nhà sư nam nữ đều cạo trọc đầu Riêng nữ có khăn chít đầu Đây là miếng vải dài 80cm đến 60cm, màu nâu như màu quần áo Khi đội khăn xếp gấp mép khăn (từ 5-10cm) theo chiều dài, trùm khăn len đầu, mép chỗ gấp để trước trán, hai đầu khăn đưa ra phía sau rồi vắt chéo nhau ở gáy, hết phần vải hai bên đầu khăn vào trong ở ngay sau hai tai