Phần hội tổ chức các trò thi đấu, những hoạt động tượng trưng cho tâm lý cộng đồng, văn hoá dân tộc và quan niệm của con người đối với lịch sử xã hội và thiên nhiên.. Lễ hội là loại hình
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI - 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học
Th S VŨ VĂN KÝ
HÀ NỘI – 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khoá luận, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam, khoa Ngữ văn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô, đặc biệt là thầy giáo ThS Vũ Văn Ký - người hướng dẫn trực tiếp đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thiện khoá luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2010
Tác giả khóa luận
Vũ Thanh Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khoá luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS Vũ Văn Ký
Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khoá luận này
Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2010
Tác giả khoá luận
Vũ Thanh Thủy
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khoá luận 4
7 Bố cục của khoá luận 4
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI 5
1.1 Khái niệm lễ hội 5
1.2 Nội dung chính của lễ hội 7
1.3 Đặc trưng của lễ hội 10
1.3.1 Lễ hội - Nhu cầu thiết yếu trong đời sống của người dân Việt 10
1.3.2 Lễ hội mang hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng và tạo nên tính cộng đồng 12
1.3.3 Lễ hội là hình ảnh thu hẹp của văn hóa dân gian 13
1.4 Một số chính sách của Đảng và Nhà nước với việc tổ chức và quản lý lễ hội 14
CHƯƠNG 2: LỄ HỘI ĐỀN THƯỢNG- THÀNH PHỐ LÀO CAI 17
2.1 Khái quát chung về thành phố Lào Cai 17
2.2 Lễ hội Đền Thượng- Thành phố Lào Cai 20
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển Đền Thượng 20
2.2.2 Cấu trúc khu di tích Đền Thượng 21
2.2.3 Lai lịch nhân vật được thờ 24
Trang 72.2.4.1 Công tác chuẩn bị 27
2.2.4.2 Phần lễ 28
2.2.4.3 Phần hội 31
2.3 Các giá trị của lễ hội Đền Thượng 36
2.3.1 Thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng và văn hóa của nhân dân 36
2.3.2 Giá trị giáo dục truyền thống 37
2.3.3 Giá trị cố kết cộng đồng 38
2.3.4 Giá trị kinh tế xã hội 41
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG LỄ HỘI ĐỀN THƯỢNG HIỆN NAY VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LỄ HỘI ĐỀN THƯỢNG 44
3.1 Thực trạng công tác tổ chức, quản lý lễ hội Đền Thượng 44
3.1.1 Điểm mạnh 44
3.1.2 Điểm yếu 47
3.2 Những giải pháp phát triển lễ hội Đền Thượng 50
3.2.1 Xây dựng kịch bản và chương trình lễ hội phong phú, đa dạng 51 3.2.2 Bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lý lễ hội 51
3.2.3 Xây dựng cơ sở vật chất, mở rộng không gian lễ hội 52
3.2.4 Giải pháp thu hút nguồn tài chính 53
3.2.5 Bài trừ hủ tục và các tệ nạn xã hội 53
3.2.6 Tăng cường công tác tuyên truyền vận động 54
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang 8Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử của quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, lịch sử của các cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại và những chiến công hào hùng oanh liệt, đồng thời cũng là lịch sử hàng ngàn năm văn hiến Quá trình lịch sử lâu dài ấy của dân tộc đã để lại cho chúng ta ngày nay một kho tàng văn hoá dân gian phong phú và đa dạng Trong kho tàng ấy, lễ hội là nơi thể hiện rõ nhất những giá trị văn hoá của dân tộc Các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian được giữ gìn, bảo lưu và phát triển với rất nhiều phong tục tập quán, những trò chơi dân gian thể hiện bản sắc văn hoá của người Việt Đến với Việt Nam ở bất kỳ vùng miền nào của Tổ quốc cũng đều thấy sự xuất hiện và tồn tại của các lễ hội cổ truyền, từ những hội làng của vùng đồng bằng Bắc Bộ đến những lễ hội của vùng văn hoá dân tộc thiểu số: lễ hội xuống đồng, lễ hội cầu mùa, lễ hội mừng năm mới
Từ xa xưa, lễ hội đã trở thành một sinh hoạt văn hoá quen thuộc đối với nhiều người Việt Nam và cho đến nay, lễ hội cổ truyền vẫn tồn tại như nó vốn có Lễ hội luôn là sinh hoạt văn hóa thiêng liêng, luôn là một nhu cầu của mỗi người dân, vì vậy nó có sức sống mạnh mẽ qua hàng ngàn năm lịch sử
Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng tất yếu nảy sinh đáp ứng nhu cầu giao lưu, hưởng thụ văn hoá cũng như đáp ứng nhu cầu của đời sống tâm linh
Ngày nay cùng với sự biến đổi mạnh mẽ của đời sống kinh tế xã hội theo hướng ngày càng hiện đại, các lễ hội dân gian vì thế cũng biến đổi theo Bên cạnh những tác động và biến đổi tích cực thì cũng có những tác động tiêu cực làm cho giá trị truyền thống của lễ hội phần nào bị ảnh hưởng Vì vậy để
lễ hội vừa tổ chức đáp ứng nhu cầu tâm linh vừa giữ được những giá trị văn hoá vốn có trở thành một yêu cầu cấp thiết
Thành phố Lào Cai được xem là vùng đất đặc sắc về văn hoá với nhiều
lễ hội đặc sắc, trong đó lễ hội Đền Thượng là lễ hội hàng năm được tổ chức
Trang 9hội mang nhiều nét văn hoá độc đáo, đặc trưng của một tỉnh miền quê của Tổ quốc Vì thế, chúng ta phải bảo tồn, phát triển lễ hội ngày càng tốt hơn, xứng đáng với tầm vóc vốn có
Là một sinh viên ngành Việt Nam học, đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực văn hoá, tôi rất mong muốn tìm hiểu những cái hay, cái đẹp của lễ hội Vì vậy
tôi chọn đề tài: “Lễ hội trong văn hoá Việt Nam và lễ hội Đền Thượng ở thành phố Lào Cai - tỉnh Lào Cai” để làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
2 Lịch sử vấn đề
Lễ hội giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Hiện nay, nghiên cứu về lễ hội nói chung và lễ hội Đền Thượng nói riêng có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Tác giả Nguyễn Trọng Báu trong cuốn “Truyện kể về phong tục các dân tộc Việt Nam”, NXB Giáo Dục, 2007, đề cập tới vấn đề nội dung chính của lễ hội Tác giả viết:“Biểu hiện mặt tâm linh của con người, một cách thể hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phần này trong cấu trúc lễ hội gọi là phần lễ Lễ hội còn là sinh hoạt văn hoá dân gian của cộng đồng làng xã, hay lớn hơn là liên làng, liên xã, tổng và cộng đồng của toàn vùng, của cả nước Phần sinh hoạt này trong cấu trúc lễ hội gọi là phần hội” [1, tr.158]
Tác giả Lê Trung Vũ trong cuốn “Lễ hội cổ truyền’’, NXB Khoa học
xã hội, 1992, đã đưa ra những trang viết về thời gian ra đời của lễ hội Tác giả viết: “Mặc dù bị đô hộ, người Việt giữ lại và phát triển các thần thoại, truyền thuyết, lịch sử có ý nghĩa củng cố bản lĩnh dân tộc” [17, tr.50-51]
Trong cuốn sách “Lễ hội cổ truyền Lào Cai”, NXB Văn hoá dân tộc
1999, tác giả Trần Hữu Sơn nghiên cứu loại hình lễ hội ở Lào Cai với 3 loại hình chính: lễ hội dân gian truyền thống, lễ hội đương đại kết hợp với truyền thống và lễ hội tôn giáo Tác giả cũng giới thiệu đến bạn đọc về những lễ hội
Trang 10Mông ở Pha Long, Mường Khương, lễ hội Roóng Poọc của người Giáy ở Tả Van ( Sapa), lễ hội xuống đồng của người Tày Phú Nhuận, Đồng thời tác giả cũng đưa ra những trang viết về lễ hội Đền Thượng để khẳng định quy mô, tính chất của lễ hội này
Ban quản lý di tích thuộc Sở văn hoá - Thể thao - Du lịch Lào Cai cũng thành lập “Hồ sơ di tích Đền Thượng - Thành phố Lào Cai” Trong cuốn hồ
sơ, các tác giả tập trung nghiên cứu về vị trí di tích, lịch sử và niên đại xây dựng di tích, sự kiện thần và các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian diễn ra tại di tích, trong đó sinh hoạt lễ hội chứa đựng nhiều yếu tố hết sức đặc sắc Tác giả viết: “Lễ hội Đền Thượng trở thành một sân chơi văn hoá lớn thoả mãn nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa của nhân dân Đến với lễ hội Đền Thượng mỗi người dự hội như được đắm chìm trong vô vàn những sinh hoạt văn hoá dân gian, nó đủ sức làm hài lòng cả đối với những người khó tính nhất” [16, tr.57]
Ngoài ra, vấn đề lễ hội Đền Thượng còn được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của tác giả Ngô Đức Thịnh với cuốn “Những giá trị văn hoá của lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội hiện đại”, Tạp chí văn hoá nghệ thuật (3), 2002
Kết quả nghiên cứu của những người đi trước là cơ sở để tác giả khoá luận tiếp tục thực hiện đề tài nghiên cứu của mình Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về khu di tích Đền Thượng, lễ hội Đền Thượng và đề ra được những giải pháp cụ thể phát triển lễ hội Đền Thượng ở thành phố Lào Cai thì chưa được thực hiện nghiên cứu Do vậy đề tài khoá luận của tôi đã góp phần giải quyết những vấn đề đó
3 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận của lễ hội truyền thống nói chung
Trang 11Trên cơ sở tìm hiểu về khu di tích Đền Thượng, lễ hội Đền Thượng các giá trị do lễ hội mang lại, cùng với việc tìm hiểu công tác tổ chức lễ hội, thấy được nét đặc sắc của lễ hội Đền Thượng
Từ thực trạng lễ hội đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm phát triển lễ hội đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Lễ hội Đền Thượng
* Phạm vi nghiên cứu: Do khuôn khổ hạn chế, đề tài chỉ tập trung nghiên
cứu di tích Đền Thượng, lễ hội Đền Thượng, các giá trị của lễ hội Đền Thượng trên điạ bàn phường Lào Cai, thuộc thành phố Lào Cai
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp khảo sát thống kê
Phương pháp duy vật lịch sử
Phương pháp điền dã
6 Đóng góp của khoá luận
Đề tài góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết văn hoá lễ hội đặc sắc của tỉnh Lào Cai nói riêng và của cả nước nói chung
Đề xuất giải pháp phát triển lễ hội Đền Thượng Từ đó quảng bá hình ảnh lễ hội Đền Thượng tới bạn bè trong nước và quốc tế
7 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khoá luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về lễ hội
Chương 2: Lễ hội Đền Thượng - Thành phố Lào Cai
Chương 3: Thực trạng lễ hội Đền Thượng hiện nay và những giải pháp phát triển lễ hội Đền Thượng
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI
1.1 Khái niệm lễ hội
Đối với phần lớn các tộc người trên thế giới, đặc biệt là cư dân nông nghiệp, lễ hội giữ một vai trò quan trọng Lễ hội chứa đựng nhiều mặt của đời sống văn hoá, chính trị, xã hội, tâm lý, tôn giáo và tín ngưỡng của người dân lúa nước Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá tập thể, phản ánh các sinh hoạt của người dân lao động Ở Việt Nam lễ hội gắn bó với làng xã như một phần tất yếu của cuộc sống Nền văn hoá của nước ta đã trải qua nhiều thời kỳ thăng trầm của lịch sử và bị ảnh hưởng không ít của văn hoá phương Đông với hàng ngàn năm Bắc thuộc và chế độ thực dân phương Tây, song vẫn mang đậm phong thái của nền văn hoá lúa nước Bởi lẽ nói đến văn hoá dân gian, chúng ta nói tới phong tục, các lễ hội cổ truyền hết sức đa dạng và phong phú ở mỗi dân tộc, lễ hội có kiểu tồn tại và biểu hiện bản sắc văn hóa riêng
Từ bao đời nay trong đời sống tinh thần và tâm linh người Việt, lễ hội
là nơi thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” sâu sắc Dù ở phương trời nào, người Việt Nam luôn hướng tới điểm tựa văn hoá tinh thần, nhớ tới ngày hội của quê hương mình, hướng về vùng đất cội nguồn yêu thương Các
lễ hội cổ truyền có lịch sử phát triển lâu đời, có những lễ hội có nguồn gốc từ
xa xưa, từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, đáng chú ý là lễ hội về những danh nhân lịch sử, các anh hùng có công dựng nước và giữ nước từ thời khai sơn lập địa của các vua Hùng Từ lịch sử hình thành, mục đích, nghi thức lễ, không gian, thời gian lễ hội cho đến những nhu cầu tâm linh đều được thể hiện rõ nét trong lễ hội
Khái niệm lễ hội ở Việt Nam xuất hiện khoảng chục năm trở lại đây
Trang 13gắn hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng này với ít nhất hai yếu tố, cũng là hai đặc trưng đi liền với nhau: trước là tế lễ, sau là vui chơi
Theo “Từ điển Tiếng Việt”, “lễ” là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hay kỷ niệm một sự kiện, sự việc có ý nghĩa nào đó Theo “Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam”, “lễ” khái niệm đạo đức Khổng học có ý nghĩa
là hình thức cúng tế, cầu thần ban phúc, nghĩa rộng là chỉ những quy tắc của cuộc sống chung trong cộng đồng xã hội Lễ ở Việt Nam chủ yếu tập trung trong các nghi thức liên quan đến cầu mùa, người an, vật thịnh Có thể nói, lễ
là phần đạo, tâm linh của cộng đồng, nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và đảm bảo cho nề nếp xã hội được hoàn thiện hơn
Hội là phần sinh hoạt văn hoá dân gian của cộng đồng làng xã, hay lớn hơn là liên làng, xã, tổng và cộng đồng của toàn vùng, của cả nước
Hội là các hoạt động, các trò diễn có tính nghi lễ, có nhiệm vụ bổ sung, hoàn chỉnh ý nghĩa và nội dung cho ngày lễ Phần hội tổ chức các trò thi đấu, những hoạt động tượng trưng cho tâm lý cộng đồng, văn hoá dân tộc và quan niệm của con người đối với lịch sử xã hội và thiên nhiên
Từ xa xưa đến nay, lễ hội vẫn luôn đáp ứng được nhu cầu tư tưởng và cảm xúc của cộng đồng, nhưng để có thể đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh nhất về lễ hội thì cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề Mỗi một nhà nghiên cứu khi nhắc tới lễ hội đều đưa ra khái niệm riêng của mình
Theo Cao Đức Hải: “Lễ hội là một tổ hợp của những hoạt động văn hoá cộng đồng xoay xung quanh một trục ý nghĩa nào đó được diễn đạt bởi
hệ thống nghi thức giữ vai trò trung tâm”[4, tr.52]
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức phong phú và đa dạng, một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hay là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân hay chỉ
Trang 141.2 Nội dung chính của lễ hội
Lễ hội nước ta phong phú và đa dạng Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội lớn nhỏ trải rộng khắp đất nước Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng góp phần tạo nên màu sắc văn hoá đặc sắc, tổng hoà của 54 dân tộc
Lễ hội là cách gọi của dân gian và cũng là cách gọi của những nhà văn hoá, dù hiểu và gọi theo cách nào thì thuật ngữ này cũng biểu hiện hai mặt nội dung chính: phần lễ và phần hội
Các nghi lễ của lễ biểu hiện mặt tâm linh của con người, đồng thời cũng phản ánh những ước mơ tốt đẹp của cộng đồng, toát lên sự cầu mong thần linh phù hộ độ trì giúp con người được yên ổn, thịnh vượng Họ mong vị thần giúp đỡ cho dân làng được khoẻ mạnh, mùa màng bội thu, cây trái tốt tươi, vật nuôi không bị dịch bệnh
*Phần hội:
Hội là một phần không thể thiếu trong lễ hội, đó là cuộc chơi tưng bừng, hào hứng của mọi người trong cộng đồng với tâm thế thoát khỏi đời thường và trạng thái phấn khởi trước cuộc sống thực ở thôn làng
Hội tạo ra niềm cộng cảm bao trùm lên hết thảy mọi người, đồng thời củng cố tính cố kết cộng đồng của toàn thể người dự hội, trong hội con người hầu như gần gũi nhau hơn, sự phân biệt giàu nghèo, địa vị, giai cấp, lứa tuổi dường như không tồn tại Tất cả những người đến dự hội đều được tham gia
Trang 15vào các trò chơi mà họ muốn như: đánh đu, chọi gà, cờ tướng, bịt mắt bắt dê, kéo co… tạo ra niềm tin vào cuộc sống tươi đẹp cho mỗi người đến dự hội
Phần hội luôn có những động thái, hành vi hội tụ các hoạt động văn nghệ dân gian đặc sắc nhất, riêng biệt nhất của làng mình, vùng mình Hoạt động văn nghệ này đáp ứng nhu cầu văn hoá của cộng đồng, nghĩa là nhân dân của làng xã, của vùng miền đó là người sáng tác, biểu diễn, vừa là người thưởng thức những giá trị nghệ thuật đó Phần hội là phần nảy sinh từ phần lễ
Từ xưa đến nay vẫn thế có lễ rồi mới có hội gọi là lễ hội Thế nhưng cuộc sống sinh động nơi thôn làng làm cho cái chính “lễ” ngày càng ngắn dần, cái phụ “hội” ngày càng dài ra Cho nên về sau, danh từ lễ hội dường như người
ta chỉ gọi bằng từ “hội” [1, tr.158 -160]
Khi nói tới lễ hội, người ta thường tách riêng hai yêu tố lễ và hội như hai bộ phận hợp thành trong một lễ hội Nhưng hai yếu tố này lại hòa quyện với nhau, chúng không thể tách rời nhau, nếu thiếu một trong hai yếu tố thì sẽ không trở thành một lễ hội hoàn chỉnh Trong một lễ hội nếu phần lễ là phần
“đạo” mà ở đó con người thoát ly khỏi những bụi trần để đi vào cõi tâm linh, con người trở nên thánh thiên hơn, nhân hậu hơn, trung thực hơn thì phần hội lại là phần “đời”, là khát vọng của mỗi thành viên trong cộng đồng muốn vươn tới những điều tốt đẹp, cao cả
Hai yếu tố lễ và hội luôn tồn tại hai mặt song song cùng nhau, chúng có mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau tạo ra sự thu hút và phấn khích với mỗi người đến dự Khi đến với lễ hội, con người được đến với một không gian thiêng mà ở đó mỗi người tạm quên đi những cái tầm thường để hướng tới những cái đẹp, cái thiện Người dự hội cũng được tham gia vào những trò chơi dân gian mang tính chất cộng đồng, để sau đó họ lại trở về với cuộc sống thường ngày và bắt đầu một chu kỳ sản xuất mới
Trong lễ hội, phần lễ bao giờ cũng có trước và có ý nghĩa thiêng liêng,
Trang 16giá trị triết học sâu sắc Nó là “hạt nhân” của lễ hội và là phần hấp dẫn, lôi cuốn chính yếu đối với du khách Phần hội mặc dù cũng hàm chứa yếu tố văn hoá truyền thống , nhưng phạm vi nội dung phần hội không khuôn cứng mà rất linh hoạt, luôn được bổ sung những yếu tố văn hoá mới Lễ hội nào về cấu trúc cũng thực hiện lễ trước, hội sau Sự khác nhau là ở các nghi thức lễ, hội, các diễn xướng, các tích trò, thời gian mở hội Những sự khác nhau về nội dung của hội trước hết là vị thần linh nào mà cả làng hay cả vùng thờ phụng thì chính vị thần linh được thờ đó sẽ quyết định cách thức hội diễn Thần linh
là thiên thần sẽ khác thần linh là nhân thần, anh hùng dân tộc khác tổ sư dạy nghề Ngoài ra như đã nói, sự khác nhau của lễ hội còn thể hiện ở phong tục tập quán và hoàn cảnh tự nhiên xã hội của làng, của vùng nơi tiến hành lễ hội Điều quan trọng nhất của lễ hội là trở về cội nguồn của cộng đồng, thể hiện tình cảm gắn bó mọi người Đó là những nét văn hoá đích thực về lễ hội của người Việt
Lễ hội diễn ra vào những khoảng thời gian khác nhau, song thường diễn ra vào thời điểm thiêng liêng, của sự chuyển giao các mùa, đánh dấu sự kết thúc của chu kỳ lao động cũ, chuẩn bị cho sự bắt đầu của chu kỳ lao động mới Ở nước ta phần lớn các lễ hội được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu - hai mùa đẹp nhất trong năm đồng thời cũng là lúc nhà nông nhàn rỗi, đó là thời gian nhà nông xong công việc cày bừa, cấy hái Hội hè, tế lễ, nghỉ ngơi, giải trí, vui vầy…các quá trình đó cho tất cả mọi người không khí rộn rã Cờ, quạt, tiếng chiêng trống, múa hát và các cuộc thi tài đẩy đến cao trào thăng hoa của cả cộng đồng làng xã: đi trẩy hội
Có thể nói, Việt Nam đã sáng tạo lễ hội như “cuộc sống thứ hai” lễ hội
là một bảo tàng sống động, là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá dân gian độc đáo, là nơi phản ánh tâm thức của con người Cái đẹp của cuộc sống được bộc
lộ trong sự hoà hợp giữa con người - con người, con người với tự nhiên, sự
Trang 17ngưỡng vọng đối với các lực lượng thần thánh siêu nhiên Bởi vậy lễ hội mang đậm tính nhân văn, là động lực sức sống của con người
1.3 Đặc trưng của lễ hội
1.3.1 Lễ hội - nhu cầu thiết yếu trong đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam xưa và nay
Như đã nói, lễ hội là bảo tàng sống về văn hóa và sinh hoạt của cộng đồng, là nơi phản ánh đời sống tinh thần, phong tục tập quán của nhân dân ta dưới nhiều hình thức Sở dĩ lễ hội có thể tồn tại và phát triển cho đến ngày nay chính vì nó là nhu cầu không thể thiếu trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam và đến chừng nào lễ hội vẫn còn đáp ứng được nhiều nhu cầu của người dân thì nó vẫn còn có lý do để tồn tại và phát triển Phổ biến trong các nghi lễ và phong tục dân tộc là lễ hội phồn thực, giao duyên, xuất phát từ quan niệm điều hòa âm dương Các lễ hội còn gắn với chu kỳ sản xuất, tái hiện các sinh hoạt kinh tế tiền nông nghiệp và các hoạt động sản xuất nông nghiệp Các trò diễn tái hiện lại lịch sử của cộng đồng, qua đó phản ánh sinh hoạt ngày thường của người dân lúa nước Chủ thể đích thực trong lễ hội là những người nông dân lúa nước, văn hoá dân gian là nơi gửi gắm những ước muốn của họ và họ mở hội chính là việc lập lại sự cân bằng trong quan hệ giữa người với người, với tự nhiên và thần linh
Đạo lý truyền thống của người Việt Nam từ bao đời nay là “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, điều này đã trở thành tâm thức dân gian của dân tộc Quan niệm dân gian: “Lễ hội được tổ chức trước hết là sự bày tỏ lòng biết ơn của nhân dân đối với các thần linh đã có công phù trợ, cứu giúp họ trong cuộc sống Cũng trong lễ hội, nhân dân, con cháu tưởng nhớ, tạ
ơn tổ tiên đã có công lao to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nhân
đó hướng tới tổ tiên, cội nguồn giống nòi Đó là lễ hội dân gian tưởng nhớ, kỷ niệm các anh hùng, danh nhân văn hóa như: các vua Hùng, vua Thục, Thánh
Trang 18dạy dân cách làm ăn, cùng với sử thi anh hùng ca đã trở thành các sự tích, thần tích của lễ hội dân gian truyền thống đang được bảo lưu, kế thừa và phát huy Đó là quá trình lịch sử hoá các nhân vật huyền thoại trong lễ hội dân gian
để phản ánh một hiện thực trong quá khứ”[7, tr.78]
Những anh hùng dân tộc như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Trần Hưng Đạo…đã được dân gian huyền thoại hoá và trở thành thần tích của các
lễ hội dân gian suy tôn và tưởng niệm các nhân vật lịch sử Từ những con người hiện thực, nhờ công lao của họ mà trong tâm thức dân gian những con người đó thực sự trở thành các vị thần linh được nhân dân muôn đời tưởng niệm qua các lễ hội truyền thống Về sau, do nhu cầu tâm linh, cùng với sự phát triển giao lưu quốc tế, nhiều ngành nghề thủ công đã được ra đời ở các làng xã đã có thêm dạng lễ hội mới là suy tôn và tưởng niệm các vị tổ sư ngành nghề Họ được dân gian huyền thoại hoá và suy tôn làm thần linh để thờ cúng như các thần linh khác có sẵn trong tâm thức người Việt
Từ xưa tới nay, lễ hội vẫn luôn đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân Họ mở hội vừa thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” vừa thể hiện quốc thái dân an Thông qua lễ hội, con người dường như được giao cảm với thế giới siêu nhân, đó là các vị tổ tiên, thần linh, thành hoàng do nhân dân sáng tạo ra và cầu mong các vị bảo trợ, che chở cho vận mệnh của mình Chính nhờ có lễ hội mà các anh hùng sống mãi trong lòng con cháu bây giờ và mai sau Lễ hội chính là tấm gương phản chiếu văn hoá dân tộc Sự phản chiếu đó thông qua các nghi lễ, trò diễn thống nhất xung quanh một biểu hiện là các vị thần thờ, lắng đọng trong lễ và hội là tín ngưỡng bản địa của người dân được gửi gắm các nhân vật thờ Các nghi lễ, lễ thức trong lễ hội đều toát lên một niềm tin chung là cầu mong hạnh phúc và giải phóng con người
Trang 191.3.2 Lễ hội mang hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng tạo nên tính cộng đồng
Lễ hội là cuộc vui lớn của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, tín ngưỡng, thi thố tài năng, biểu dương sức mạnh, tái hiện cuộc sống của con người trong trường kỳ lịch sử Hầu như làng Việt nào cũng có lễ hội riêng của mình, các lễ hội vùng thường có nguồn gốc từ lễ hội làng, do lễ hội làng phát triển lên Đình, đền, miếu là các thiết chế văn hoá cổ truyền gắn bó lâu đời với làng Việt, là nơi diễn ra những sinh hoạt văn hoá, sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng, nơi dân làng thường xuyên tụ họp, gặp gỡ giao lưu trong dịp lễ hội Có nhiều lễ hội không còn trong phạm vi làng xã mà trong phạm vi của tổng, của
cả vùng như: hội Gióng, hội Lim Có những lễ hội lớn tới cả một vùng, một miền như: Hội Phủ Giầy, hội đền Kiếp Bạc, có lễ hội phạm vi cả nước như lễ hội đền Hùng
Lễ hội thể hiện sức mạnh cộng đồng, làng xã, địa phương, rộng hơn là quốc gia dân tộc Họ thờ chung một vị thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua khó khăn
Lễ hội gồm những nghi thức trang nghiêm, thiêng liêng của phần lễ và các hoạt động vui vẻ của phần hội trở thành một dòng chảy nối kết quá khứ với hiện tại, con người với con người và nối kết với cộng đồng làng xã Phần
lễ tạo ra cảm giác cộng mệnh của những người có cùng tín ngưỡng Mục đích của lễ là tế thần, cầu quốc thái dân an, xóm làng thịnh vượng, no ấm Lễ hội
là dịp để dân làng họp mặt, bàn chuyện gia đình yên ấm, vui chơi Nhìn chung qua nghi thức thời gian và cách thức tổ chức lễ của từng lễ hội có thể thấy sự hợp nhất các ý nghĩa lễ hội có tầm quan trọng trong hệ thống lễ hội cộng đồng của nhân dân Phần hội có nhiều trò chơi giải trí có tính cộng đồng cao, cuốn hút nhiều người tham gia Đến với hội là để vui, để say với tinh thần cởi mở, sảng khoái và tự nguyện
Trang 20Ngoài ra, đến với lễ hội, họ còn cảm thấy gì đó thuộc về thế giới tâm linh, đó là cái may, cái phúc, cái lộc Hội mang lại niềm vui và hi vọng, ai ai cũng chung mối quan hệ cộng cảm để thoát tục, để gần với thần thánh hơn Mối cộng cảm còn được thể hiện trong bữa ăn chung của cả ngày hội ngay giữa sân đình linh thiêng, mọi người quây quần bên những chén rượu, những mâm cỗ Đó không chỉ là bữa ăn thông thường mà còn là bữa ăn tinh thần, bữa tiệc của tình người, tình đoàn kết gắn bó keo sơn Ngày hội với sự tấp nập đông vui khiến cho người già, trẻ, gái trai, vui tươi phấn khởi trong không gian văn hóa độc đáo Qua đó họ cũng hiểu thêm về truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời của đất nước và con người từng vùng miền trên quê hương đất nước
Vì thế, lễ hội là sự kết hợp uyển chuyển giữa cái linh thiêng với cái đời thường, cuốn hút các cá nhân hoà nhập vào cộng đồng, tăng cường sự đoàn kết , gắn bó hòa đồng giữa những người dân làng Bằng cách đó, lễ hội là một trong những cơ sở củng cố tình cảm gắn bó cộng đồng làng xã Phải nói rằng tính cộng đồng trong lẽ hội là sợi dây liên kết mọi người với nhau Do vậy trải qua bao thăng trầm của lịch sử, lễ hội vẫn trường tồn từ đời nay sang đời khác
1.3.3 Lễ hội là hình ảnh thu hẹp của văn hoá dân gian
Theo tiến trình lịch sử, nền văn hoá Việt Nam được lưu truyền và phát triển trên cơ tầng của các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian Nền văn hoá dân gian theo nhận thức của chúng ta mang tính tổng hợp và đặc trưng cho bản sắc, truyền thống của văn hoá dân tộc, trong đó hàm chứa một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian tiêu biểu: lễ hội cổ truyền Có thể nói rằng, lễ hội
là hình ảnh thu hẹp của văn hoá dân gian bởi nó hàm chứa nhiều dạng thức của sinh hoạt văn hoá dân gian như: phong tục, nghệ thuật diễn xướng dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian
Trang 21Lễ hội mang những đặc trưng riêng của các dân tộc khác nhau trên đất nước Văn hoá dân gian Việt Nam là một nền văn hoá đa tộc, trong đó bao gồm văn hoá của 54 dân tộc anh em Chính vì vậy ở đây không có tôn giáo độc tôn không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Do đó văn hoá dân gian cổ truyền được lưu giữ rất tốt và cho đến nay còn tồn tại trên khắp đất nước Việt Nam Tìm hiểu bẳn sắc văn hoá dân tộc qua lễ hội truyền thống là chúng ta xem xét lễ hội trong tiến trình lịch sử văn hoá dân tộc nói chung và văn hoá dân gian nói riêng, đó cũng là việc xem xét các mối quan hệ giữa lễ hội và lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, tín ngưỡng
Lễ hội truyền thống không chỉ là hiện tượng văn hoá mà còn là hiện tượng xã hội vì văn hoá là sản phẩm tinh thần của xã hội do nhân dân lao động sáng tạo ra Bởi vậy, những yếu tố và khía cạnh thuộc về bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam vốn rất sâu sắc, lưu truyền từ đời này qua đời khác,
đã trở thành truyền thống và niềm tự hào của dân tộc, được bảo tồn chính trong dạng thức sinh hoạt văn hoá dân gian Những dấu ấn của lịch sử, những diễn biến của trào lưu tư tưởng xã hội như tín ngưỡng, tôn giáo, các mối giao lưu về văn hoá, kinh tế, chính trị, các nhân vật lịch sử cùng với những sự kiện lịch sử hào hùng trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đều để lại vết tích trong văn hóa dân tộc đồng thời cũng được bảo lưu, giữ gìn và phát huy trong lễ hội truyền thống [Xem TLTK 7]
Tóm lại, nét đặc sắc của lễ hội dân gian truyền thống Việt Nam vừa phản ánh một cách sinh động và rõ nét bản sắc văn hoá với những nét đặc trưng cơ bản nhất là thể hiện nhu cầu tâm linh, phản ánh tính cộng đồng, tinh thần thượng võ của dân tộc trong các sinh hoạt văn hoá dân gian Vì thế, lễ hội tạo nên sự phong phú sự phong phú nền văn hoá truyền thống làm cho văn hoá Việt Nam ngày càng đa dạng, độc đáo, mang bản sắc riêng, trường tồn cùng thời gian
Trang 221.4 Một số chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc quản lý tổ chức
lễ hội
Quản lý lễ hội được xem là việc nghiên cứu xây dựng, củng cố hoàn thiện hệ thống chính sách và luật pháp có liên quan với các can thiệp bằng hệ thống cơ bản của các cơ quan hữu quan nhằm các mục tiêu phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời đảm bảo lợi ích văn hoá của cộng đồng và quốc gia dân tộc Quản lý xã hội nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển, nhằm tôn vinh và phát triển các giá trị vốn có trong lễ hội dân gian cổ truyền lên một tầm vóc mới phù hợp với các nhu cầu văn hoá, kinh tế
xã hội của cộng đồng
Lễ hội ở Việt Nam đã hình thành và phát triển từ lâu đời và duy trì cho đến ngày nay Ở giai đoạn trước trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, Chính phủ Việt Nam không khuyến khích phục hồi hội làng truyền thống, trừ những hội lớn như: hội đền Hùng, hội chùa Hương Trong thời kỳ mở cửa đổi mới với các cơ chế chính sách mới và sự nâng lên
rõ rệt của đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân mà các hoạt động lễ hội cũng đã được quan tâm, tổ chức phục hồi Trong bối cảnh đó Đảng và Nhà nước đã xếp hạng và công nhận di tích lịch sử văn hoá đối với các đền, đình, miếu
Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã được ban hành
và thực hiện làm cho các lễ hội khi diễn ra vừa đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng nhân dân đồng thời cũng đảm bảo việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Những chính sách và quy định, quy chế liên quan đến lễ hội được ban hành là:
* Quy chế lễ hội được Bộ văn hoá thông tin và truyền thông ban hành ngày 7 tháng 5 năm 1994 kèm theo quyết định số 636/QĐ - QC ngày 21 tháng
Trang 234 năm 1994 của bộ trưởng Bộ văn hoá - Thông tin, trong đó đã chỉ rõ mục đích của việc tổ chức lễ hội nhằm:
+ Giáo dục truyền thống của dân tộc về lịch sử văn hóa trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc
+ Tưởng nhớ công đức của các danh nhân lịch sử văn hoá những người
có công với dân với nước (nhân thần)
+ Tìm hiểu thưởng ngoạn các giá trị văn hoá thông qua các di tích lịch
sử văn hoá, các danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc nghệ thuật, giữ gìn phát huy vốn văn hóa truyền thống và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc
Đồng thời quy chế này cũng nghiêm cấm lợi dụng lễ hội để thực hiện các hoạt động phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan
Quy chế lễ hội này cũng quy định việc tổ chức, thực hiện lễ hội và quy định trong việc tổ chức thực hiện quy chế lễ hội
* Quyết định số 39/2001/ QĐ - BVHTT của bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin ngày 23 tháng 8 năm 2001 về việc ban hành quy chế lễ hội ban hành kèm theo quy chế tổ chức lễ hội Trong quy chế này đã nêu ra đối tượng điều chỉnh của quy chế, mục đích tổ chức lễ hội, việc quản lý và tổ chức lễ hội, , trong đó quy định việc quản lý và tổ chức đối với các loaị hình lễ hội
* Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành 18 tháng 1 năm 2006, kèm theo quyết định số 11/2006/NĐ-
CP của Chính phủ trong đó có những quy định về việc tổ chức lễ hội
Các văn bản pháp lý của Nhà nước góp phần đảm bảo cho lễ hội được
tổ chức đúng với quy chế và đáp ứng nhu cầu của nhân dân, đồng thời để các
lễ hội được diễn ra lành mạnh, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội
Trang 24CHƯƠNG 2
LỄ HỘI ĐỀN THƯỢNG - THÀNH PHỐ LÀO CAI
2.1 Khái quát chung về thành phố Lào Cai
Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm phía tây bắc Việt Nam, cách
Hà Nội 296km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ Nơi đây thiên nhiên
kỳ vĩ, con người hiếu khách tạo nên bức cảnh toàn cảnh của tỉnh vùng cao năng động đang từng ngày phát triển và hội nhập, là điểm đến hấp dẫn của du khách trong hành trình du lịch
Năm 1991, tỉnh Lào Cai được tái lập và thị xã Lào Cai được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Thành phố Lào Cai được Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải ký quyết định thành lập vào ngày 30/11/2004 trên cơ sở sáp nhập 2 thị
xã Lào Cai và thị xã Cam Đường với :
Diện tích là : 22 150ha
Dân số là : 100 225 người [Xem TLTK 2]
Thành phố bao gồm 17 đơn vị hành chính trực thuộc, đó là 12 phường: Lào Cai, Phố Mới, Duyên Hải, Cốc Lếu, Kim Tân, Pom Hán, Bắc Lệnh, Thống Nhất, Xuân Tăng, Bắc Cường, Nam Cường, Bình Minh và 5 xã: Vạn Hòa, Đồng Tuyển, Cam Đường, Tả Phời và Hợp Thành, với vị trí tiếp giáp như sau:
Phía Bắc tiếp giáp với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Phía Tây Bắc tiếp giáp với huyện Bát Xát
Phía Nam và Tây Nam tiếp giáp với huyện SaPa
Phía Đông tiếp giáp với huyện Bảo Thắng [15 tr 37]
Từ thành phố lên thị trấn du lịch Sa Pa theo quốc lộ 4D chỉ chừng 40
km Có hai con sông chảy qua, sông Nậm Thi chạy quanh phía bắc tỉnh, đồng thời là ranh giới tự nhiên với Trung Quốc Thành phố Lào Cai nằm hai bên bờ sông Hồng, các cây cầu Cốc Lếu, Phố Mới bắc qua sông nối hai phần của
Trang 25Về dân tộc:
Thành phố Lào Cai có nhiều anh em dân tộc sinh sống: Việt, H’Mông, Tày, Thái, mỗi dân tộc có vốn văn hóa truyền thống phong phú đa dạng Cùng với xu thế giao lưu và hội nhập, các dân tộc Lào Cai luôn chú trọng giữ gìn và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc
Về giao thông:
Thành phố Lào Cai là một thành phố trong số ít thành phố của các tỉnh miền núi có mạng lưới giao thông vận tải đa dạng bao gồm đường bộ, đường sắt, đường không, giai đoạn 2006-2010 triển khai dự án sân bay Lào Cai Đường sắt Hà Nội - Lào Cai dài 296 km, đoạn qua Lào Cai dài 62 km được nối với đường sắt Trung Quốc Mạng lưới giao thông đường bộ phân bố rộng khắp trên địa bàn thành phố với quốc lộ 4D nối thành phố với các huyện bên cạnh là Mường Khương, Bát Xát, Sapa, với tỉnh Lai Châu và với quốc lộ 32 đảm bảo giao thông thuận lợi
Về kinh tế xã hội:
Thành phố Lào Cai là thành phố nằm ở biên giới duy nhất của nước ta hiện nay, đây là một điều kiện hết sức thuận lợi cho Lào Cai trong việc phát triển kinh tế xã hội Trong những năm qua với đặc thù riêng là một thành phố nằm ở biên giới có cửa khẩu quốc tế đi qua, Lào Cai đã có những chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của riêng mình Tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể vừa nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân địa phương góp phần phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng cho khu vực phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung Đảng bộ và nhân dân Lào Cai đã đạt được những bước tiến quan trọng, đó là :
Kinh tế: Qua 20 năm đổi mới mở cửa nền kinh tế đặc biệt là sau gần 20 năm tái lập tỉnh đến nay, tình hình kinh tế của thành phố đã có những bước tiến đáng kể trên tất cả các mặt sản xuất Lào Cai xây dựng và thực hiện nhiều
Trang 26tại các xã, vùng ven thành phố, hay phát triển kinh tế dịch vụ tại các điểm du lịch Qua đó các mục tiêu về kinh tế của thành phố luôn được hoàn thành ở mức cao, giá trị các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh tế rừng không ngừng được nâng lên, mức sống của người dân được cải thiện rõ rệt Đặc biệt với thế mạnh của mình về vị trí của một thành phố cửa khẩu, nơi thông thương với Trung Quốc đã tạo cho Lào Cai điều kiện thuận lợi trong việc phát triển các ngành kinh tế dịch vụ và du lịch, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế Từ năm 1991 tới nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố đạt 13%/năm, chương trình xóa đói giảm nghèo được thực hiện có hiệu quả cao Đây là những tiền đề để thành phố thực hiện những mục tiêu kinh tế mới trong thời gian sắp tới
Văn hóa xã hội: Nhờ sự phát triển về kinh tế nên thành phố đã có điều kiện quan tâm phát triển sự nghiệp văn hóa xã hội Các hoạt động văn hóa, văn nghệ luôn được quan tâm đúng mức Nhiều chương trình văn hóa được triển khai có hiệu quả Các trung tâm văn hóa của các xã, phường được xây mới và trang bị nhiều thiết bị phục vụ cho công tác văn hóa tư tưởng, qua đó đời sống tinh thần của nhân dân đã được nâng lên Các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân trong thành phố Năm 2009 toàn thành phố có 75% số hộ gia đình đạt danh hiệu: “Gia đình văn hóa” [Xem TLTK 15]
Y tế giáo dục: Các trường học và cơ sở y tế được trang bị mới phục vụ cho nhu cầu của nhân dân Số trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường đạt 99% Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm đúng mức
An ninh quốc phòng được giữ vững, các tệ nạn xã hội được hạn chế góp phần ổn định tình hình chính trị địa phương
Như vậy, với những thuận lợi và khó khăn riêng của mình, Đảng bộ và nhân dân thành phố Lào Cai đã biết phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn
Trang 27để hoàn thành các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo ra khả năng nâng cao hơn nữa đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân
2.2 Lễ hội Đền Thượng - Thành phố Lào Cai
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển Đền Thượng
Khu di tích Đền Thượng nằm trên địa bàn phường Lào Cai thuộc thành phố Lào Cai, cách cửa khẩu quốc tế Lào Cai 500m, là nơi hợp lưu của 2 con sông: sông Hồng và sông Nậm Thi
“Đền Thượng được xây dựng vào thời vua Lê Trung Hưng, hiệu Chính Hòa (1680- 1705) Giai đoạn sau, vào năm 1836, nhân dân làng Lão Nhai đã họp bàn góp tiền của công sức xây dựng ngôi đình ở dưới chân đồi Đến thời vua Khải Định vào tháng 4 năm 1923, các vị tiên chỉ chức sắc Lão Nhiêu đứng đầu là tiên chỉ Hoàng Đinh Ninh (người nhiều tuổi và danh vọng nhất)
đã họp hội đồng tâm chung sức xây dựng đền, chuyển từ chân đồi lên đỉnh đồi Sau này, để tôn thêm quy mô các bô lão ở Lão Nhai và các vùng lân cận
đã tổ chức quyên góp và xây dựng lại đền rồi phối vào đền thờ vọng tướng quân Trần Hưng Đạo cùng các tướng lĩnh của ông”[16, tr.13] Hình ảnh vị tướng lừng danh được thờ một cách tôn nghiêm ngay giữa mảnh đất địa đầu biên giới Tổ quốc góp phần tăng thêm ý nghĩa về tinh thần tự lập, tự cường, bảo vệ nền độc lập của dân tộc
Theo dân gian truyền lại: “Năm 1257 Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn khi đó 26 tuổi đã được vua Trần Thánh Tông phong chức Quốc Công Tiết Chế đem quân lên phòng giữ ở Lào Cai và nơi đặt Đền Thượng chính là trên ngọn đồi mà xưa kia Trần Hưng Đạo khi nhận trọng trách phòng thủ biên cương Ông đã chọn nơi đây làm đài hỏa hiệu báo động bằng cách đốt lửa làm hiệu khi thấy quân địch tràn sang giúp cho quân ta chủ động chiến đấu tránh tổn thất”[16, tr.13] Sau này trong 3 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược, ông cũng là người có công rất lớn cùng quân dân nhà Trần
Trang 28các vị tướng lĩnh của ông, nhân dân Lão Nhai đã lập đền thờ ông ngay tại nơi này Hiện nay ở rất nhiều địa phương trên cả nước cũng có đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - vị Quốc Công Tiết Chế của nhà Trần
Khu di tích Đền Thượng sau nhiều lần trùng tu, tôn tạo, đến năm 1996 được Bộ văn hóa - Thông tin quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Hàng năm, nhân dân địa phương và các vùng lân cận cũng đều tổ chức lễ hội Đền Thượng vào dịp đầu xuân với quy mô lớn
2.2.2 Cấu trúc khu di tích Đền Thượng
Đền Thượng được xây dựng và tồn tại là sản phẩm văn hóa truyền thống của nhân dân các dân tộc Lào Cai nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung Trải qua những thăng trầm của lịch sử, Đền Thượng được xác định như cột mốc biên giới và lịch sử văn hóa vùng biên Ngày nay, Đền Thượng vẫn phát huy được truyền thống đó, tiếp tục khẳng định và củng cố vững chắc cột mốc lãnh thổ quốc gia, nơi biên cương của Tổ quốc
Về Đền Thượng là dịp để khách hành hương hiểu rõ khu di tích Đền Thượng và truyền thuyết Trần Hưng Đạo, người được suy tôn là bậc
“Thánh” Hình ảnh người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo cũng như bao anh hùng khác đã khắc sâu trong tiềm thức của nhân dân Việt Nam
Đền được xây dựng trên đồi thuộc dãy núi Mai Lĩnh với độ cao 120m
so với mực nước biển Phía Đông giáp với xã Bản Phiệt (huyện Bảo Thắng), phía Tây giáp với phường Lào Cai, phía Bắc giáp với sông Nậm Thi, phía Nam giáp với phường Phố Mới
Đứng từ trên nhìn xuống, trước mắt là thành phố Lào Cai sầm uất tươi đẹp, Đền Thượng như một bức tranh sơn thủy hữu tình theo thuyết phong thủy vừa trang nghiêm lại rất thi vị, trái có Long, phải có Hổ Sự kết hợp này khiến cho khu di tích Đền Thượng có bề dày lịch sử, có sức hấp dẫn lôi cuốn khách hành hương từ mọi miền đất nước về trẩy hội Tổng thể kiến trúc gồm
Trang 29nhà hành lễ, sân, vườn, hệ thống đường bậc Đường từ chân núi đến cửa đền gồm gần năm trăm bậc đá Đền được xây dựng theo kiến trúc truyền thống với cột, trụ, sườn mái, vách ngăn bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, tường xây bằng gạch Bát Tràng
Trong khuôn viên đền có Tam quan ngoại, có là Không quan, Trung quan, Giả quan - ba cách nhìn về cuộc đời và vạn vật Ở trên có dòng chữ ghi :Thành Trần Từ (Đền Thánh Trần), hai bên cổng có hai câu đối:
“Quy Phượng triều tồn khai thịnh thế Long Lân nghi giá hiện thiên đài”
Câu đối phía bên ngoài của Không quan, Giả quan:
“Tầm nguyên hà cổ khách tài hạnh Lam thủy đăng sơn cảnh hữu tình”[16, tr.14]
vệ bờ cõi, từ đó nhân dân lập miếu thờ phụng Bà
Nhà Đại Điện của Đền Thượng được lợp bằng mái ngói vẩy rồng, đầu hồi hai bên có mái cong, ở giữa là hình ảnh Hổ phù miệng ngậm chữ “Thọ”
Trang 30cột của đền có hình tượng con Quỳ với ý nghĩa dùng để trấn yểm các đồ vật trong đền, miếu Tương truyền con Quỳ là con vật huyền thoại, sống trên núi cao, đi một chân, ma quỷ cũng đều phải tránh xa
Khi thắp nhang chiêm bái trong đền, du khách sẽ nhìn thấy hình ảnh một đôi Hạc đứng trên lưng Rùa tạo nên sự đối xứng, biểu hiện sự hài hòa âm dương, mong ước cho sự phát triển bền vững của đất nước
Vào bên trong là ban thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo với hai câu đối:
“Trần Triều dục tán trung hưng tướng Nam Quốc bao phong thưọng đẳng thần”[16, tr.16]
Tiếp đến là hai dãy nhà Tả Vu, Hữu Vu, vào bên trong ta thấy ban chính giữa thờ Chúa Bà Đệ nhị sơn trang và Thập nhị tiên cô Hệ thống bao gồm: “1.Thánh Mẫu thượng thiên ; 2 Thánh Mẫu thượng ngàn ; 3 Mẫu Thoải ; 4 Khâm sai tứ phủ ; 5 Chầu Ngũ, thờ ở suối Lan - Lạng Sơn ; 6 Chầu Lục - Thần Tản Viên ; 7 Chầu Bẩy mẫu ; 8 Chầu Bát, thờ ở Thái Bình
; 9 Chầu Cửu - Cửu Thiên huyền nữ ở Thanh Hóa ; 10 Chầu Mười ở Lạng Sơn ; 11 Chầu ở Lào Cai ; 12 Chầu ở Bắc Lệ - Lạng Sơn” [16, tr.20]
Hướng lên bậc đá du khách sẽ tới Phương Đình, tại đây có một ngôi đình vuông với 4 cửa có 8 rồng chầu, giữa Phương Đình có một Kim Quy lưng đội bia đá khắc tích thờ Đức Thánh Trần, mặt trước bia khắc bằng chữ Hán cổ, mặt sau khắc bằng chữ quốc ngữ Trước kia, Phương Đình là nơi dừng chân của các quan quân đi tuần, ngày nay nơi đây được dành cho khách
Trang 31tham quan nghỉ chân để thưởng thức khí hậu trong lành nơi núi rừng mà quên
đi những lo toan, nhọc nhằn của cuộc sống đời thường
Di tích lịch sử văn hóa Đền Thượng có cảnh quan kiến trúc vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng Đến thăm viếng Đền Thượng, mọi người như đến cõi thần tiên, như được trở về với quá khứ lịch sử, đó là tâm linh, ý niệm, tư tưởng yêu nước trong tôn giáo, truyền thống “phóng Thánh” cho những người
có công với nước, với xóm làng xuyên suốt lịch sử
2.2.3 Lai lịch nhân vật được thờ
Lễ hội Đền Thượng gắn với di tích lịch sử văn hóa quốc gia nơi thờ Trần Hưng Đạo, vị anh hùng dân tộc đã có công lãnh đạo nhân dân Đại Việt đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ thứ 13 Trong ý niệm dân gian, danh tiếng của người lan rộng khắp các lũy tre xanh, trong lời hay ý đẹp của các câu đối, các bài văn, thơ ca, truyền thuyết, trong những hoạt động tín ngưỡng Trần Hưng Đạo được coi như một tấm gương sáng, được người đời
ca ngợi, kính cẩn và lập đền thờ ở nhiều nơi
Trần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn sinh ngày 10/12/1228 (Mậu Tý), là con An Sinh Vương Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông - Trần Cảnh), quê ở huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Truyền thuyết kể lại:“Ngày xưa, về đời nhà Trần ở đất Nam Định có An Sinh Vương phu nhân, một đêm bà nằm mơ thấy có một vị thiên thần tinh vàng tướng ngọc tự xưng là Thanh Tiên Đồng
Tử, theo lệnh Ngọc Hoàng xuống đầu thai Sau đó bà thụ thai, đến lúc lâm bồn có hào quang tỏa sáng rực rỡ, cả nhà mùi hương thơm ngào ngạt Bà hạ sinh được một cậu bé khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Trần Quốc Tuấn”[16, tr.20]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Lúc mới sinh ra có một thấy tướng xem cho và bảo người này ngày sau có thể cứu nước giúp đời” Khi lớn lên, Trần Quốc Tuấn có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc nhiều hiểu rộng có tài văn võ Năm 4 đến 5 tuổi Trần Quốc Tuấn thay cha là Khâm Minh
Trang 32thương anh cả vô tội bị đầy, bèn năn nỉ anh là Thái Tông xin nhận Trần Quốc Tuấn làm con đem về Thăng Long nuôi dạy Để tránh sự soi mói, ghẻ lạnh của triều đình, Trần Quốc Tuấn được công chúa Thụy Bà gửi tại chùa ở Thanh Oai - Hà Nội nhờ trụ trì dạy dỗ cho tới năm lên 10 tuổi
Trần Hưng Đạo là một đệ nhất danh tướng không những của Việt Nam
mà của cả thế giới Với trí thông minh tuyệt vời, tài điều binh khiển tướng vô song và tấm lòng tận trung báo quốc, người đã 3 lần đánh bại quân Mông Cổ, giữ vẹn bờ cõi nước Nam
Cuộc xâm lăng lần thứ nhất của quân Mông Cổ diễn ra năm 1257 khi chúng còn chưa chiếm xong nước Tàu Trần Quốc Tuấn được phong Quốc Công Tiết Chế trực tiếp chỉ huy quân ta Trước thế mạnh của giặc, vua Trần
lo ngại có bàn với Trần Hưng Đạo: “Hay ta tạm hàng để cứu muôn dân”, ông
đã khảng khái nói: “Nếu bệ hạ muốn hàng, trước hết hãy chém đầu tôi đi đã” Quân ta lúc đầu thế yếu phải lui binh, đợi lúc quân Mông Cổ mệt mỏi thì tổng phản công khiến chúng phải tháo chạy về Tàu
Năm 1284 Nguyên chủ sai con là Thoát Hoan dẫn 50 vạn quân tràn vào nước ta lấy cớ mượn đường sang đánh Chiêm Thành Thế giặc quá mạnh, nhiều đại thần trong triều muốn hàng giặc nhưng Trần Hưng Đạo cương quyết xin đem quân đi chống giặc Quân ta dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo đã phản công thắng lợi, phá tan đạo quân của Toa Đô ở Hàm Tử Quan, phá tan thủy quân giặc ở trận Chương Dương rồi tiến lên đánh đuổi Thoát Hoan làm cho quân giặc thất bại hoàn toàn
Năm 1288 Nguyên chủ lại sai Thoát Hoan đem quân sang báo thù, Trần Hưng Đạo thống lãnh đại quân chống giặc Ông cùng các tướng lãnh phản công, cướp toàn bộ đoàn tàu chở lương thực và khí giới của quân Nguyên ở trận Vân Đồn Thoát Hoan lệnh cho Ô Mã Nhi dẫn thủy quân theo sông Bạch Đằng rút trước Biết tin, Trần Hưng Đạo bèn sai quân lấy cọc vót nhọn, bịt
Trang 33chiến, nhử cho thuyền quân Nguyên đi qua khúc sông đóng cọc, đến khi nước rút, đại quân ta do chính Trần Hưng Đạo chỉ huy đổ ra đánh Quân Nguyên thua, rút chạy ra sông, chiến thuyền bị cọc đâm thủng, quân giặc chết như ngả rạ Thoát Hoan nghe tin thủy quân tan vỡ bèn đem quân tháo chạy, phải chui vào ống đồng
Trần Quốc Tuấn không chỉ là vị thống soái lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến mà còn là một nhà lý luận, một nhà quân sự nổi tiếng Từ “Hịch tướng sĩ” đầy khí phách hiên ngang đến bản “Di chúc lịch sử”, những nội dung tư tưởng tiên tiến ấy đã được khẳng định
Sau khi kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 3 thành công, đất nước thái bình, Hưng Đạo Đại Vương lui về sống ở Vạn Kiếp Mùa thu năm Canh Tý 1300 ông qua đời, vua Trần Anh Tông truy tặng Người: “Thái sư Thượng phụ Quốc Công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương”[16, tr.34] Nhân dân ngưỡng mộ tài đức của ông, tôn ông là Đức Thánh Trần và lập đền thờ ở khắp các địa phương trong cả nước Hàng năm, cứ đến ngày 20/8 âm lịch được coi là ngày giỗ của ông
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất năm 1257 đích thân vị tướng trẻ 25 tuổi được phong Quốc Công Tiết Chế trực tiếp chỉ huy quân đội Đại Việt phòng thủ ở vùng đất Lào Cai ngày nay, khi đó được coi là cửa ngõ xung yếu quan trọng nhất của nước ta trong trận chiến chống quân thù Tưởng nhớ công lao to lớn của ông, nhân dân Lào Cai lập Đền Thượng thờ phụng vị anh hùng dân tộc vĩ đại đã đi vào lịch sử Từ Trần Hưng Đạo - Đức Thánh Trần - Đức Thánh Cha, một nhân vật lịch sử bằng xương bằng thịt đã trở thành vị Thánh thiêng liêng được thờ phổ biến nhất ở Việt Nam
2.2.4 Diễn trình lễ hội
Lễ hội Đền Thượng được tổ chức trong 3 ngày từ ngày 14 đến ngày 16
Trang 34TLTK 14] Lúc đầu, lễ hội Đền Thượng chỉ là một lễ hội làng với quy mô nhỏ, song đã thu hút được đông đảo nhân dân địa phương và các vùng lân cận, bao gồm cả đồng bào dân tộc thiểu số tham gia nên quy mô của nó ngày càng lớn Đến nay, nó đã trở thành một lễ hội lớn của thành phố Lào Cai nói riêng và cả tỉnh Lào Cai nói chung Diễn trình lễ hội Đền Thượng ở thành phố Lào Cai diễn ra như sau:
2.2.4.1 Công tác chuẩn bị
Hàng năm để lễ hội diễn ra tốt đẹp, đúng với nghi lễ và chuẩn mực của tập quán cổ truyền, người ta phải chuẩn bị chu đáo từ cuối năm trước Khi gần đến ngày cử hành lễ hội, toàn thể dân làng họp bàn để hoàn tất công tác chuẩn
bị Công tác chuẩn bị cho lễ hội bao gồm chuẩn bị về nhân sự cử người phục
vụ cho lễ hội và chuẩn bị về vật chất như các đồ dùng để cúng tế
Việc chuẩn bị về nhân sự là một công việc quan trọng đảm bảo thành công cho lễ hội, bao gồm :
Người trông coi chung cho lễ hội, điều kiện phải là những người trên
55 tuổi, đức cao vọng trọng, có phẩm hàm và uy tín cao trong làng Người này phải là người có đạo đức, có sức khỏe, gia cảnh êm ấm khá giả, đặc biệt
là gia đình không có tang
Ban khánh tiết (ban tế lễ): Gồm có chủ tế là người giữ vai trò quan trọng trong hội, phải đảm bảo những tiêu chuẩn sức khỏe, đạo đức Những người trong ban tế lễ là những người trực tiếp giúp việc cho chủ tế, cùng chủ
tế điều hành việc hội do làng chọn ra
Các chân kiệu là những người khiêng kiệu trong đám rước, phải là những trai đinh khỏe mạnh, có đạo đức và thân hình lành lặn
Những người cầm cờ lọng là những thiếu niên còn trong trắng
Phường nhạc là những người có nghề, biết sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ
Trang 35Theo lệ, những ngày cuối tháng chạp hàng năm, những người làm công tác chuẩn bị cho lễ hội có nhiệm vụ đi mua sắm lọng giấy, dây gai, dầu hỏa thắp sáng, pháo và những vật dụng khác để sử dụng trong những ngày lễ hội Đồng thời, từ tháng 11 âm lịch năm trước, sau khi đã định ra chương trình, quy mô của lễ hội, người ta bắt tay vào chuẩn bị chọn lợn lễ làm đồ cúng tế gọi là dẵm lễ Ngoài ra, vễ lễ nghi trong lễ hội phải chuẩn bị cỗ chay, xôi chè, hoa quả
Tất cả những người được chọn phục vụ trong lễ hội đều phải có ý thức trách nhiệm tham gia, đây vừa là quyền lợi đồng thời cũng là nghĩa vụ của mọi người Mỗi người được chọn đều có vinh dự lớn nên tất cả đều cố gắng
để hoàn thành công việc được giao
2.2.4.2 Phần lễ
* Lễ mộc dục
Ngày 13 tháng Giêng, những người có trách nhiệm trong đền cắt cử 2 người vào thay áo và tắm cho thần, gọi là lễ mộc dục Họ phải là những người
có đức độ, có uy tín trong làng, thường là cụ Thủ từ và ông chủ tế
Mộc dục có nghĩa là tắm gội, lễ mộc dục có nghĩa là tắm tượng Tắm ở đây không phải là tắm theo nghĩa thông thường mà là dùng khăn sạch bằng vóc đỏ nhúng nước tinh khiết, lau sạch bụi bặm rồi sau đó lau lại bằng nước thơm
* Lễ tế gia quan
Lễ tế gia quan được tổ chức vào ngày 14 tháng Giêng âm lịch Gia quan nghĩa là đội mũ mão, chúc phước cho con trai 20 tuổi với tư cách là một người đã trưởng thành, đủ tư cách đội mũ Đối với thần linh thì lễ gia quan có nghĩa là lễ hóa áo mão cho tượng thần bài vị, đến ngày làm lễ những mũ áo này được gói gém cẩn thận cho lên kiệu rước về nơi thần đang ngự Những người làm việc này phải sống chay tịnh hàng tuần lễ trước đó Sau lễ gia quan
Trang 36* Lễ rước
Lễ rước được diễn ra vào buổi sáng ngày 15 tháng Giêng, khắp các nơi của quần thể di tích Đền Thượng đã rực rỡ cờ quạt nhiều màu, ánh đèn, ánh lửa đã rạng lên một vùng khá rộng Từ sáng sớm tất cả mọi người đều tập trung lại với trang phục và dụng cụ đầy đủ để thực hiện đám rước Phía trong đền, hai ông quan viên lúc này đang đưa bài vị của Thánh vào trong kiệu chính Bài vị của Thánh khi rước ra ngoài kiệu được lọng che kín với mục đích để không ai có thể nhìn thấy
Sau một hồi trống báo lệnh, đoàn rước được khởi hành Đây là đoàn rước Thánh do đó đoàn đi trong trật tự, hàng lối, song cũng rất đông vui và náo nhiệt Tâm trí mọi người dường như bị cuốn theo tiếng trống, tiếng chiêng, sáo nhị, tiếng thanh la và điệu nhạc lưu thủy của phường bát âm Đoàn rước lúc đi nhanh, đi chậm theo nhịp trống chiêng
Đi đầu đám rước là những lá cờ Tiết và cờ Mao, cờ Tiết là cờ vua trao
để tượng trưng cho sự chỉ huy, cờ Mao tượng trưng cho mệnh lệnh của vua Sau cờ Tiết và cờ Mao là năm lá cờ đuôi nheo (theo ngũ hành), mỗi lá cờ có một màu tượng trưng cho một thức vật chất : cờ trắng (kim), cờ xanh (mộc),
cờ đen (thủy), cờ đỏ (hỏa), cờ vàng (thổ) Đầu đoàn rước là xa giá chiêng trống, hai ông thủ hiệu mặc áo thụng thâm, quần trắng, đầu đội khăn xếp, tay cầm trống khẩu và thanh la đi kế tiếp nhau, bốn tráng đinh đi bên cạnh đẩy xe giá Tiếp đến là cờ tứ linh, bốn lá cờ tượng trưng cho bốn con vật linh là: Long (Rồng), Ly (Sư tử), Quy (Rùa) ,Phượng (chim Phượng Hoàng) Sau cờ
tứ linh là các chân cờ đầu đội nón dấu, áo lính đỏ, thắt lưng bó que Tiếp đến
là trống cái, sau trống là chiêng, hiệu trống và hiệu chiêng điểm nhịp từng tiếng một trống trước, chiêng sau Hai người cầm tàu đi hai bên, sau đó là đoàn chấp kích với hai quả chuông đồng, thanh long đạo và bốn biển đề chữ
“Tĩnh Túc” và “Hồi Tỵ” Biển “Tĩnh Túc” tức là im lặng, biển “Hồi Ty” tức