Nên mục đích khi làm đề tài này của tôi là nêu lên tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, qua đó thấy được đặc điểm của Phật giáo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI - 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
**********
BÙI CẨM PHƯỢNG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO
TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ 1945
ĐẾN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học ThS.GVC Vũ Ngọc Doanh
HÀ NỘI - 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài: “Ảnh hởng của Phật giáo trong xã hội Việt Nam từ 1945 đến nay”, tác giả khóa luận đã thờng xuyên nhận đợc sự
giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn và đặc biệt là
của ThS GVC Vũ Ngọc Doanh - ngời hớng dẫn trực tiếp
Tác giả khóa luận xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy, cô giáo đã giúp tác giả hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2010
Tác giả khóa luận
Bùi Cẩm Phợng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận này là kết
quả nghiên cứu của bản thân tôi dới sự hớng dẫn của ThS.GVC Vũ Ngọc Doanh Kết quả thu đợc là hoàn toàn trung thực và không trùng với kết quả
nghiên cứu của những tác giả khác
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2010
Tác giả khóa luận
Bùi Cẩm Phợng
Trang 6WTO World Trade Organization: Tổ
chức thơng mại thế giới
HIV/AIDS
Acquired Immunode Ficiency Syndrome: Hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang 1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phơng pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của khóa luận 3
7 Bố cục 3
NỘI DUNG CHƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 4
1.1 Khái niệm tôn giáo 4
1.2 Khái niệm đạo Phật 6
1.3 Khái niệm Phật giáo 7
1.4 T tởng Hồ Chí Minh về tôn giáo 9
1.4.1 Các giai đoạn hình thành t tởng về tôn giáo, tín ngỡng của Hồ Chí Minh 9
1.4.2 Nội dung cơ bản của Hồ Chí Minh về tín ngỡng, tôn giáo 11
Trang 81.5 Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nớc ta hiện nay 16
1.5.1 Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nớc ta hiện nay 17
1.5.2 Một số chính sách cụ thể đối với các tôn giáo 18
CHƠNG 2: ẢNH HỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG XÃ HỘI
VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY 21
2.1 Lợc sử Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập đến năm 1945 21
2.1.1 Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ II đến thế kỷ V:
Thời kỳ Du nhập và hình thành Phật giáo Việt Nam 22
2.1.2 Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ VI đến hết thế kỷ IX:
Thời kỳ Phát triển 23
2.1.3 Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIII:
Thời kỳ Cực thịnh 25
2.1.4 Phật giáo Việt Nam từ thời Lê sơ đến nhà Nguyễn
(thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX) Thời kỳ Suy tàn 26
2.1.5 Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ XX: Thời kỳ phục hng 27
2.2 Đặc điểm và ảnh hởng của Phật giáo trong xã hội Việt Nam
từ 1945 đến nay 28
2.2.1 Đặc điểm 28
2.2.2 Ảnh hởng của Phật giáo trong xã hội Việt Nam
Trang 9từ 1945 đến nay 33
CHƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VÀ GIẢI PHÁP 41
3.1 Trong quan hệ Phật giáo với chính trị 41
3.2 Thế tục hóa Phật giáo 42
3.3 Đạo đức Phật giáo và vai trò của Phật giáo đối với văn hóa dân tộc 42
3.4 Đất đai và cơ sở thờ tự của Phật giáo 43
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phật giáo là một tôn giáo ra đời ở Ấn Độ vào thế kỷ VI (Tr.CN) Và được du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên Từ khi du nhập cho đến nay, Phật giáo đã tồn tại gần 2.000 năm ở nước ta
Cũng như các tôn giáo khác, Phật giáo khi truyền bá vào Việt Nam cũng phải chịu ảnh hưởng từ những biến cố trong lịch sử Đã có thời kỳ Phật giáo hưng thịnh và trở thành quốc đạo (dưới triều Lý - Trần) nhưng cũng có thời kỳ suy tàn (từ thời hậu Lê đến thời Nguyễn) Tuy nhiên, với truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc cùng với những giáo lý, chủ trương gần gũi với nhân dân Phật giáo vẫn duy trì được những ảnh hưởng của mình trong lòng dân tộc
Năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, với những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề tôn giáo đã mở ra một thời
kỳ mới cho Phật giáo Việt Nam Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng với nhân dân các tăng ni, phật tử cũng đã tham gia vào phong trào cách mạng, đấu tranh sôi nổi, quyết liệt để giành lại độc lập cho dân tộc Năm 1975, đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất đã tạo cơ duyên rất thuận lợi cho giới Phật giáo thực hiện một Phật sự lớn đã đặt ra từ rất lâu, đó là việc thống nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo trong một tổ chức chung Tháng
11 năm 1981 Giáo hội Phật giáo Việt Nam được xây dựng với đường hướng hoạt động: “Đạo Pháp - Dân Tộc - Xã hội chủ nghĩa” Kể từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời cho đến nay (2009) đã 28 năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam vẫn phát huy truyền thống gắn bó với dân tộc và trở thành một ban trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phật giáo từ năm 1945 đến nay có nhiều ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội Việt Nam từ tư tưởng chính trị, phong tục, đạo đức, lối sống đến văn hóa, nghệ thuật tất cả điều đó để “Hộ trì hoằng dương Phật pháp, phục vụ tổ quốc xã hội chủ nghĩa góp phần đem lại hòa bình, an lạc cho thế giới”
Trang 11Với tổ chức thống nhất, chặt chẽ cùng với những hoạt động thiết thực của Phật giáo trong thời đại ngày nay đã khiến tôi quan tâm, tìm hiểu, nghiên
cứu và chọn cho mình đề tài “Ảnh hưởng của Phật giáo trong xã hội Việt Nam
từ 1945 đến nay” để làm khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử vấn đề
Phật giáo là một đề tài lớn nên thu hút rất nhiều học giả, tác giả quan tâm tìm hiểu và có nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo như:
Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam
Nguyễn Lang (1992), Lịch sử Phật giáo Việt Nam (tập 1, 2, 3)
Nguyễn Khắc Thuần (2005, tái bản), Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam (tập 2)
Thích Mật Thể (1960), Việt Nam Phật giáo sử lược
Và còn nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác Nhưng
nghiên cứu về “Ảnh hưởng của Phật giáo trong xã hội Việt Nam từ 1945 đến nay” thì chưa có hoặc nếu có thì cũng chỉ đề cập đến một khía cạnh rất nhỏ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Như đã nói ở trên, Phật giáo là một tôn giáo lớn và tồn tại ở nước ta từ lâu đời Từ năm 1945 đến nay là thời kỳ Phật giáo phục hưng trong xã hội Việt Nam lại cũng là thời kỳ mà đất nước ta có nhiều đổi thay Vì vậy, Phật giáo có rất nhiều ảnh hưởng trong lòng dân tộc Nên mục đích khi làm đề tài này của tôi là nêu lên tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, qua đó thấy được đặc điểm của Phật giáo
và những ảnh hưởng của nó trong lòng dân tộc Việt Nam từ 1945 đến nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định cơ sở lý luận và thực trạng của việc nghiên cứu
Phân tích đặc điểm, ảnh hưởng của Phật giáo trong xã hội Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Trang 12 Đề xuất các giải pháp để Phật giáo ngày càng đóng góp tích cực
cho xã hội Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Phật giáo Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phật giáo Từ năm 1945 đến nay ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Hệ thống hóa lý thuyết
Tổng hợp và phân tích các tư liệu
Điền dã
6 Đóng góp của khóa luận
Bổ sung nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo trong xã hội Việt
Nam từ 1945 đến nay
Đề xuất các giải pháp để Phật giáo Việt Nam ngày càng đóng góp
tích cực cho xã hội Việt Nam
Trang 13NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái niệm tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống
xã hội Trên thế giới có tới hàng ngàn các loại hình tôn giáo khác nhau Do cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau nên các cách hiểu về tôn giáo rất khác nhau:
Chủ nghĩa duy tâm khách quan: Với các đại biểu như Platôn (427 - 347 Tr.CN), Ph.Hêghen (1770 - 1831) cho rằng tôn giáo là một sức mạnh kỳ bí thuộc “tinh thần” tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu đem lại sinh khí cho con người
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan với các đại biểu như: G.Béccơli (1685 1753), Đ.Hium (1711 - 1776) lại cho rằng tôn giáo là thuộc tính vốn có trong ý thức của con người, tồn tại không lệ thuộc vào hiện thực khách quan
-Một số nhà thần học như: Tômát Đacanh (1225 - 1274), Phôntilích (1886 - 1965)… Xem tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng liêng, huyền bí, ở đó
ẩn chứa sức mạnh siêu nhiên có thể giúp con người thoát khỏi khổ đau và có được hạnh phúc Niềm tin vào cái thiêng liêng, cái siêu nhiên ở đây chính là niềm tin vào thượng đế Như vậy niềm tin vào cái “tối thượng” (thượng đế) chính là tôn giáo
Triết học duy vật trước Mác: L.Phoiơbắc (1804 - 1872) cho rằng không phải thượng đế sáng tạo ra con người mà ngược lại chính con người là người sáng tạo ra thượng đế theo mẫu hình của mình Theo quan điểm này của L.Phoiơbắc thì có nghĩa là con người sinh ra tôn giáo chứ tôn giáo không sinh
ra con người, tôn giáo chỉ là sự phản ánh sai lầm của ý thức con người về thế giới bên ngoài, bằng sự phổ biến tri thức đúng đắn cho nhân dân và vạch trần
Trang 14sự lừa dối của tôn giáo con người hoàn toàn có thể thoát khỏi sự lệ thuộc vào các tín điều tôn giáo… Tuy nhiên, L.Phoiơbắc do chưa được soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng nên quan niệm về tôn giáo của ông còn có hạn chế bởi nhiều khía cạnh về bản chất, chức năng và nguồn gốc của tôn giáo còn chưa được nhận thức đúng đắn, con đường khắc phục tôn giáo chưa được chỉ ra một cách khoa học
Nhà xã hội học tư sản M.Weber (1864 -1920) xem tôn giáo như là cách nhìn của con người về thế giới, hơn nữa còn là thái độ ứng xử của các cá nhân
và các nhóm xã hội, đặc biệt là thái độ đối với kinh tế Tôn giáo là “một dạng đặc biệt của hoạt động trong cộng đồng” gắn với “các thế lực siêu nhiên”
Nhà văn hoá học Christopher Đawson (1889 - 1970) xem tôn giáo không phải là một hình thái ý thức trừu tượng mà là một truyền thống văn hoá hay tập tục văn hoá
Chủ nghĩa Mác - Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một hình thái ý thức
xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan Qua sự phản ánh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trở thành thần bí Theo quan điểm của Mác - Lênin thì tôn giáo chẳng qua là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội Tôn giáo không có lịch sử riêng, không có nội dung riêng, mà chẳng qua chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội một cách hư ảo, hoang đường Nội dung của tôn giáo có nguồn gốc là đời sống hiện thực của con người và lịch sử của tôn giáo phản ánh lịch sử của đời sống xã hội con người Vì vậy, mà tôn giáo trở nên là một hình thái đặc biệt của ý thức Trên cơ
sở nhận thức khoa học về bản chất và nguồn gốc của tôn giáo, C.Mác và Ph.Ănghen luôn gắn liền với việc chỉ ra những thuộc tính bản chất và những quy luật vận động của tôn giáo với việc chỉ ra con đường khắc phục những biểu hiện tiêu cực của tôn giáo và con đường hình thành thế giới quan khoa học Trong thời đại ngày nay, chúng ta vừa có những thuận lợi cơ bản, vừa có những khó khăn to lớn Khoa học kỹ thuật phát triển, trình độ dân trí nâng cao, đời sống của người dân được cải thiện… là những thuận lợi cơ bản Nhưng bên
Trang 15cạnh đó những khó khăn cũng vô cùng to lớn, những điều kiện làm nảy sinh tôn giáo vẫn chưa được khắc phục Sự áp bức, bóc lột, sự bất công, sự đe dọa của thiên tai, bệnh tật, chiến tranh… vẫn đang khiến con người đau khổ về vật chất, hụt hẫng về tinh thần tất cả những điều đó là nguyên nhân mở đường cho niềm tin tôn giáo Vì vậy, những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo cũng như những quan niệm cơ bản của Đảng và chính sách của Nhà nước về tôn giáo đã và sẽ luôn luôn là cơ
sở lí luận và thực tiễn cho tôn giáo học Mác - Xít
1.2 Khái niệm Đạo Phật
Theo Bhikkhu Shravasiti Dhammika: Danh từ Đạo Phật (Buddhism) xuất phát từ chữ “Budhi” nghĩa là “Thức tỉnh” và như vậy Đạo Phật là triết học của sự tỉnh thức Nền triết học này khởi nguyên là một kinh nghiệm thực chứng của ngài Sĩ-Đạt-Đa Cồ-Đàm, được biết như một vị Phật, đã tự mình giác ngộ ở tuổi 36 Đến nay Đạo Phật đã có mặt trên 2.500 năm và có khoảng 30 triệu tín
đồ trên khắp thế giới Hàng trăm năm về trước, đạo Phật đã chính thức là nền triết học của Á châu, tuy nhiên ngày nay đã phát triển và có tín đồ ở khắp châu
Âu và châu Mỹ
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam 1 - 1995: Đạo Phật là tôn giáo ra đời vào cuối thế kỷ VI (Tr.CN) ở Ấn Độ Phát triển thành một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới (đạo KiTô và đạo Hồi) Người sáng lập là Thích Ca Mâu Ni Đạo Phật xuất hiện với tư cách là một tôn giáo đề cao nếp sống đạo đức trong sáng, coi nhẹ hình thức nghi lễ, đặc biệt là nghi lễ của đạo Bà La Môn, bác bỏ quyền uy, thần khải của sách Vê Đa là thánh kinh của đạo Bà La Môn xem như
là một thiết chế thiêng liêng
Giáo lí của Thích Ca Mâu Ni vốn là một triết lí không thừa nhận Brahman và Atman thế giới tự nó tồn tại, không do ai tạo ra cả Vạn vật vô thường, luôn luôn biến đổi theo luật nhân quả, sinh ra (thành sắc) diệt đi (thành không) tuần hoàn không ngừng Bốn chân lý lớn: 1, cuộc sống là bể khổ ( sinh, lão, bệnh, tử) 2, nguyên nhân của khổ là lòng tham, sự tức giận, sự ngu si (vô
Trang 16minh) 3, diệt khổ tức là diệt những nguyên nhân ấy, chấm dứt vòng luân hồi, đến cõi Niết Bàn 4, con đường giải thoát là tu luyện theo bát chính đạo, xa lánh cuộc đời trần tục Đạo Phật đặt vấn đề số phận con người là do bản thân con người tạo ra và tự mình chịu trách nhiệm, không do thần thánh định đoạt Chủ trương bình đẳng (ai cũng có khổ và đều có thể được giải thoát) đề cao lòng từ bi (yêu thương mọi loài, chống lại điều ác, làm mọi điều lành)
Sau khi Phật tịch diệt, Đạo Phật trở thành một tôn giáo Thế kỷ III (Tr.CN), là quốc giáo của Ấn Độ Thế kỷ II, xuất hiện hai giáo phái: 1, Phái Tiểu thừa, phát triển ở phía Nam (Nam tông, ở XrilanCa, MyanMa, Lào) theo sát chữ nghĩa kinh điển (viết bằng chữ Pali) chủ trương chủ yếu tu cho bản thân giác ngộ thành La Hán, chỉ tôn sùng Thích Ca Mâu Ni 2, phái Đại thừa, phát triển ở phía Bắc (Bắc tông, ở Trung Quốc, Mông Cổ, Nhật Bản) không cố chấp kinh điển (viết chữ Sanskrit) chủ trương tu hạnh Bồ Tát, tự giác ngộ và giác ngộ chúng sinh Tôn sùng nhiều Phật và Bồ Tát (Phật Thích Ca, Phật ADiĐà, Quan Âm Bồ Tát) Đạo Phật phát triển ra ngoài Ấn Độ, Nê Pan, Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản (theo phái Đại thừa) còn ở Ấn Độ thì bị đạo Hồi, đạo Hinđu lấn át và mất dần vị trí vào thế kỷ VIII, IX Tín đồ trên thế giới hiện nay gần 300 triệu người (Việt Nam có khoảng 10 triệu)
1.3 Khái niệm Phật giáo
Theo từ điển Các nền văn minh tôn giáo: Phật giáo một trong ba tôn giáo phổ biến nhất trên thế giới Xuất hiện tại Ấn Độ vào thiên niên kỷ thứ nhất (Tr CN), sau đó truyền sang các nước Đông Nam Á, Trung Á và vùng Viễn Đông Những tín đồ của Phật giáo theo giáo lý của đức Thích Ca Mâu Ni Thực ra, đạo Phật xuất hiện do các thay đổi quan trọng bên trong xã hội Ấn Độ, do sự sụp đổ của các quan hệ và tập tục bộ lạc, ách áp bức của xã hội có giai cấp tăng lên và sự xuất hiện một chế độ chiếm hữu nô lệ Các tôn giáo bộ lạc trước đó không đáp ứng được các nhu cầu xã hội Nhiều nhóm tôn giáo tách khỏi đạo Bà
La Môn và tìm con đường riêng để cứu độ vào thế kỷ III (Tr.CN) đã thống nhất
và hợp thành tổ chức Phật giáo, giáo lý của nó được giới cầm quyền ủng hộ
Trang 17(như vua AshoKa) Phật giáo cho rằng mọi sinh vật, mọi cuộc đời trong các hình thức thể hiện của nó đều có tội lỗi, mang lại khổ đau cho quảng đại chúng sinh Nguồn gốc của tội lỗi, và khổ đau mà con người và chúng sinh chịu đựng trên thế gian này đều bắt nguồn từ những nhận thức về thế giới qua các giác quan, thực tế là chu kỳ luân hồi Mọi xúc cảm, dục vọng của con người đều đem đến khổ đau Nhằm thoát khỏi vòng luân hồi, con người phải vượt qua ngu muội, hiểu rõ bản thân của thế giới, từ bỏ mọi dục vọng trong cuộc đời này, mọi ham muốn, quyền lực, của cải vật chất thì mới đi vào được con đường cứu
độ chúng sinh, con đường này mà thực chất của nó là từ bỏ và đoạn tuyệt mọi dục vọng cá nhân, không có hạnh phúc và cực lạc trên con đường này Con đường cứu độ trải qua từ Samsara đến Niết Bàn (cõi cực lạc và hư vô) Thời kỳ
sơ khởi chỉ có các nhà tu hành khổ hạnh theo con đường này, phải tránh xa tội lỗi, không làm điều ác, không nói dối, không ăn cắp, bỏ dục vọng, không uống rượu Giáo lý của đạo Phật tạo thuận lợi cho giai cấp cầm quyền vì nó giải thích mọi tội lỗi trên thế giới kể cả áp bức bóc lột và tội lỗi của cá nhân gây ra,
họ phải chịu các tội lỗi do kiếp trước để lại, nó đưa đến một ảo tưởng là các đức hạnh quan trọng nhất của con người đều nhằm đưa họ thoát khỏi khổ đau trong thế giới thực tại Dưới triều vua KuShan (Thế kỷ thứ nhất) Phật giáo thịnh hành tại Ấn Độ, nhưng sau đó yếu dần và nhường chỗ cho đạo Hinđu, đến thế kỷ XII hầu như mất khỏi Ấn Độ, trong khi đó nó lại hình thành tại các nước khác Trong nội tại, Phật giáo có rất nhiều mâu thuẫn giữa các dòng và các trường phái khác nhau Phật giáo Tiểu thừa được coi là Phật giáo nguyên thuỷ, còn Phật giáo Đại thừa phát triển mạnh bên ngoài biên giới Ấn Độ Từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI đạo Lạt Ma thịnh hành tại Tây Tạng Lúc đầu Phật giáo xuất hiện tại Trung Quốc vào thế kỷ thứ V dưới hình thức thiền Hiện nay các tổ chức Phật giáo tại các nước châu Á đang giữ một vai trò xã hội đáng kể, nhiều tổ chức Phật giáo đã được thành lập
Trang 181.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho thế hệ sau những di sản tư tưởng quý báu, trong đó có tư tưởng về tín ngưỡng, tôn giáo Những lời di huấn, các bài viết, những cử chỉ, hành động cũng như phong cách ứng xử của Người đối với các tôn giáo nói chung và đối với các tín đồ, giáo sĩ, nhà tu hành nói riêng
là những bài học quí báu Tư tưởng đoàn kết tôn giáo, hoà hợp dân tộc và tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng là nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
1.4.1 Các giai đoạn hình thành tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Hồ Chí Minh
Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo chia thành hai giai đoạn trước và sau năm 1945
Trước năm 1945, Hồ Chí Minh với tư cách là nhà cách mạng chuyên nghiệp Ở giai đoạn này, Hồ Chí Minh chủ yếu viết các bài báo và một số tác phẩm vạch trần bản chất bóc lột của liên minh chủ nghĩa thực dân và giáo hội như: “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Tình cảnh giai cấp nông dân Việt Nam”… Đồng thời người tiến hành chắt lọc, kế thừa những yếu tố hợp lý trong tín ngưỡng, tôn giáo nội sinh và tôn giáo du nhập vào Việt Nam
Trước tiên, Hồ Chí Minh lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân và giáo hội đối với người Việt Nam “Các nhà truyền giáo đã dùng nhiều thủ đoạn để cưỡng đoạt ruộng đất của người nông dân bản xứ như cho vay nặng lãi, buộc
họ cầm cố ruộng đất, đến hạn không trả được, ăn cắp những văn bản chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất của nông dân biến thành của nhà thờ, lừa đảo những người “tứ cố vô thân” đi khai khẩn đất mới, hứa rằng khai khẩn xong sẽ chia họ để rồi chiếm đoạt…” [1, tr.180]
Tuy nhiên, bên cạnh việc lên án tội ác chủ nghĩa thực dân và giáo hội đối với người Việt Nam, giai đoạn này Hồ Chí Minh còn chú ý đến những yếu tố hợp lí trong tín ngưỡng, tôn giáo Xuất thân từ một gia đình nhà Nho ở một nước mà hàng ngàn năm có sự dung hợp giữa Nho - Phật - Đạo trong cả tư
Trang 19tưởng và thực tiễn, Hồ Chí Minh vừa chịu ảnh hưởng nhiều của tư tưởng, nề nếp gia phong Nho giáo vừa chịu ảnh hưởng của các tôn giáo khác như Phật giáo… Điều đặc biệt, Hồ Chí Minh đã nhận thấy cái chung là tính hướng thiện, một giá trị đích thực của các tôn giáo Người nói:
“Phật Thích Ca dạy đạo đức là từ bi Khổng Tử dạy đạo đức là nhân nghĩa”
[3, tr.225]
Chính vì nhận thức trên mà Hồ Chí Minh đã đưa ra chủ trương hết sức quan trọng Đó là liên kết toàn dân, không phân biệt trẻ, già, tôn giáo, giàu, nghèo cùng đoàn kết, chung sức, chung lòng đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc và thực hiện quyền bình đẳng, tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Những bài viết của Hồ Chí Minh trước 1945 về tín ngưỡng, tôn giáo tuy chưa nhiều, song là những phác thảo quan trọng, tạo điều kiện cơ cở cho quan điểm của Người về tín ngưỡng, tôn giáo ở giai đoạn sau cách mạng tháng Tám năm 1945
Giai đoạn sau 1945, Hồ chí Minh với tư cách là người đứng đầu Đảng, Nhà nước Ngay sau khi giành được chính quyền, trong phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời (3/9/1945) Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương - Giáo đoàn kết Trong hiến pháp năm 1946 đã thể hiện rõ tư tưởng của Người về tự do tín ngưỡng là: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”
Ngày 14 tháng 6 năm 1955, Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 234/SL về tôn giáo gồm 5 chương và 16 điều nhằm cụ thể hoá quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, theo đó công dân có thể tự theo hoặc không theo một tôn giáo nào, có quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, Đảng và Chính phủ phải có chủ trương, chính sách nhằm đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng, đảm bảo các hoạt động tôn giáo hợp pháp của nhân dân
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh luôn nhận thức Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, có lịch sử hình thành, phát triển và có bản sắc riêng Song
Trang 20Người nhận rõ đồng bào các tôn giáo, các dân tộc ở Việt Nam đều là công dân Việt Nam, do đó mà lợi ích các tôn giáo thường gắn liền với lợi ích của cả quốc gia, dân tộc Cho nên Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác tôn giáo là công tác quần chúng góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Người thường xuyên thăm hỏi, động viên đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo, hướng hoạt động của họ theo phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”, “sống phúc âm trong lòng dân tộc”, “Dân tộc - Đạo pháp và Chủ nghĩa xã hội”
Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo song Hồ Chí Minh luôn có thái độ kiên quyết vạch trần và đấu tranh với những âm mưu của kẻ xấu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đi ngược lại lợi ích của nhân dân
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng được hình thành qua hai giai đoạn Chủ yếu là từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 Tư tưởng về tín ngưỡng, tôn giáo của Người được thể hiện ở đường lối, chính sách
về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà Nước
1.4.2 Nội dung cơ bản của Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết Lương Giáo, hoà hợp dân tộc: Tư tưởng này nằm trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Người Năm 1955, phát biểu trong hội nghị mặt trận Liên Việt, Người khẳng định: “Đoàn kết của
ta không những rộng rãi, mà còn đoàn kết lâu dài Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà
Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta phải đoàn kết với họ" [4, tr.438].Đoàn kết là một tư tưởng lớn, bao trùm của
Hồ Chí Minh, chính nhờ vậy mà Người đã quy tụ, tập hợp được toàn dân tham gia kháng chiến và kiến quốc thắng lợi Trong đó, đoàn kết giữa những người cộng sản với những người có tín ngưỡng tôn giáo, giữa những người có tôn giáo, tín ngưỡng khác với nhau và giữa những người có tôn giáo và không có tôn giáo là một bộ phận quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Trang 21Tư tưởng đoàn kết lương giáo của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ
sở sau:
Một là, kế thừa phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc Lịch sử dân
tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước Trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta luôn phải đối mặt với thiên tai, địch hoạ, chiến đấu chống giặc ngoại xâm Chính điều đó đã cố kết mọi người lại với nhau, hun đúc thành một truyền thống quý báu Truyền thống quý báu đó đã thấm sâu và kết tinh trong mỗi con người Việt Nam mà Hồ Chí Minh là hiện thân tiêu biểu
Hai là, vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng trong đó chủ
nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng cho chiến lược đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc của Hồ Chí Minh
Ba là, nhiệm vụ nặng nề của sự nghiệp cách mạng Việt Nam là cơ sở
thực tiễn hình thành tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc ở Hồ Chí Minh Để giành độc lập dân tộc đã khó nhưng xây dựng chủ nghĩa xã hội còn khó khăn hơn bởi xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh lịch sử nước ta lúc bấy giờ là sự nghiệp vĩ đại chưa hề có tiền lệ trong nước và quốc tế Vì vậy,
để hoàn thành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ, trách nhiệm chung của nhân dân cả nước và chỉ hoàn thành khi hội tụ được sức mạnh của toàn dân Chính vì vậy, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng vừa là cơ sở là điều kiện tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết nói chung và đoàn kết lương giáo nói riêng
Bốn là, chống âm mưu chia rẽ lương giáo của kẻ thù
Chia để trị vốn là âm mưu của thế lực thực dân, đế quốc Thực dân, phong kiến âm mưu chia rẽ, phá vỡ khối đoàn kết dân tộc để dễ bề thôn tính và
nô dịch dân tộc Việt Nam Vì vậy, đoàn kết lương giáo cũng nhằm chống lại
âm mưu thâm độc đó
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ đoàn kết giữa người có đạo và không có đạo mà còn cần đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau vì mục tiêu chung của dân tộc Đây là một nội
Trang 22dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược đại đoàn kết dân tộc Người cho rằng dưới chế độ thực dân phong kiến, đồng bào các tôn giáo đều bị áp bức, bóc lột nặng nề, khi tổ quốc bị ngoại bang đô hộ thì các tôn giáo cũng không được tự do Vì vậy, đồng bào các tôn giáo cần đoàn kết lại và đoàn kết với toàn dân đấu tranh giành lại độc lập cho tổ quốc và tự do cho tôn giáo Quan điểm đó đã được Hồ Chí Minh nêu lên đầu những năm 20 của thế kỷ XX
Ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, ngày 13 tháng 9 năm
1945, Hồ Chí Minh đã có cuộc họp đại biểu tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Cao Đài tại thủ đô Hà Nội, Người nói: “ Dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng Lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam và có nhiệm vụ chiến đấu cho
nền độc lập hoàn toàn của tổ quốc” [6, tr.15] Người kêu gọi các tôn giáo hãy
dẹp bỏ hiềm khích, đoàn kết cùng toàn dân lo cho nền độc lập của nước nhà
Sau khi ký hiệp định Giơ - ne - vơ, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn thể đồng bào cả nước hãy đoàn kết Người nói: “Tôi tha thiết kêu gọi tất cả những người thật thà yêu nước không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào, chính kiến nào và trước đây đã đứng về phe nào, chúng ta thật thà cộng tác, vì dân, vì nước mà phấn đấu để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong nước Việt Nam yêu quý của chúng ta” [4, tr.323]
Năm 1965, khi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc ngày càng ác liệt Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Đồng bào các dân tộc, các tôn giáo hãy đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, cùng nhau ra sức chống Mỹ, cứu nước” [5, tr.471]
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Công giáo hay không Công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo đều phải nên nỗ lực đấu tranh cho nền độc lập của nước nhà Nhiệm vụ của toàn thể chúng ta là phải giữ vững nền độc lập Trong Công giáo
có câu: “Tam vị nhất thể”, nhà Phật có câu: “Vạn chúng nhất linh” nên chúng
ta phải hi sinh cho nhân loại và chúng sinh” [20]
Trang 23Nhờ nêu cao tinh thần đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc nên Hồ Chí Minh đã tập hợp xung quanh mình nhiều giáo sĩ, giáo dân hết lòng cho sự nghiệp cứu quốc, kiến quốc, từ đó xoá dần những định kiến, mặc cảm do lịch
sử để lại và âm mưu chia rẽ của kẻ thù
Để đoàn kết lương giáo, Người còn luôn nhắc nhở đồng bào chiến sĩ cả nước phải quan tâm, chăm sóc cho cuộc sống và tinh thần của đồng bào các tôn giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo Đồng thời chống âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quan điểm quan trọng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về tôn giáo Tư tưởng đó được thể hiện nhất quán cả trong lý luận và hoạt động thực tiễn của Người và đã trở thành nguyên tắc nền tảng xuyên suốt trong chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta Tư tưởng đó đã thâm nhập sâu rộng vào quần chúng nhân dân nói chung, cán bộ, đảng viên nói riêng
Cơ sở xuất phát của tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
là tôn trọng đức tin của mỗi người Hồ Chí Minh nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa Riêng tôi, tôi chỉ nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin Cách đây 2.000 năm, đức chúa GiêSu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta Điều đó đến bây giờ ta vẫn chưa thực hiện được” [2, tr.272] Người nhấn mạnh: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia Tô tin ở đức chúa trời cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng” [2, tr.148]
Người đã chỉ ra rằng mặc dù thế giới quan của người cách mạng khác với thế giới quan tôn giáo, song không vì vậy mà đối đầu, nghi kị nhau, ngược lại phải tôn trọng đức tin của mỗi người
Trang 24Dù với tư cách chủ tịch Đảng, người đứng đầu Chính phủ, hay với tư
cách là một công dân, Hồ Chí Minh luôn thể hiện là một con người mẫu mực
trong việc tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng nhân dân
Năm 1945, chỉ sau một ngày đọc tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp
đầu tiên của chính phủ lâm thời (3/9/1945), Hồ Chủ Tịch đã phát biểu: “Tôi đề
nghị chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương - Giáo đoàn kết” [8, tr.123]
Trong buổi ra mắt Đảng Lao Động Việt Nam năm 1951, trước luận điệu
xuyên tạc của kẻ địch, Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Chúng tôi xin nói rõ để
tránh sự hiểu lầm: Vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao Động Việt Nam hoàn toàn tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người” [25]
Khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, ngày 8 tháng 3 năm 1955, một lần nữa
Người khẳng định chính sách nhất quán lâu dài của Đảng, Nhà nước: “Hiến
pháp đã ghi rõ chính sách tự do tín ngưỡng Chính phủ nhất định làm đúng như
vậy Phải vạch trần những luận điệu xuyên tạc của đế quốc và bè lũ tay sai
hòng lừa dối, chia rẽ đồng bào như chúng thường nói chính phủ cấm đạo và
nhiều điều vô lý khác”
Ngày 14 tháng 6 năm 1955 Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 234/SL về vấn
đề tôn giáo gồm 5 chương và 16 điều rất chi tiết và cụ thể về quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Sắc lệnh này được đồng bào có đạo hoan
nghênh ủng hộ
Hồ Chí Minh là người Mác - Xít chân chính theo quan điểm duy vật,
nhưng không ai tìm được dù một biểu tượng rất nhỏ của sự bài xích, chế diễu
bất kỳ một tôn giáo nào Thái độ đối với tôn giáo của Hồ Chí Minh đã được
Sainteny, một quan chức cao cấp của Pháp nhận xét: “Về phần tôi, phải nói
rằng, chưa bao giờ tôi nhận thấy nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một
dấu vết nào, dù rất nhỏ của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu đối với một tôn
giáo bất kỳ nào” [7, tr.15] Ngược lại, Hồ Chí Minh đã tiếp cận tôn giáo, coi nó
như một di sản văn hoá của loài người và tìm thấy ở đây những mặt tích cực
Trang 25nhất dịnh, những nhân tố hợp lý để kế thừa, tiếp thu những giá trị nhân bản, nhân văn của tôn giáo
Trên đây là tư tưởng cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí Minh
Có thể rút ra: “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo ở Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, văn hoá và đáp ứng với yêu cầu thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội” [14, tr.197]
1.5 Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Đảng và Nhà Nước ta đã dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và tình hình tôn giáo ở nước ta, Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng Pháp luật Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo Chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, nâng cao đời sống của đồng bảo cả nước Chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” [26]
1.5.1 Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
Theo tinh thần trên, trong giai đoạn hiện nay chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta bao gồm:
Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không theo đạo cũng như giữa các tôn giáo khác nhau
Đoàn kết gắn bó đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân
Trang 26Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp và Pháp luật, có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, gìn giữ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia
Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện vọng
và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được bảo đảm Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy
Mọi hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm mất trật tự an toàn xã hội, phương hại nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đoàn kết toàn dân, chống lại Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây tổn hại các giá trị đạo đức, lối sống, văn hoá của dân tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân… đều bị xử lý theo pháp luật Hoạt động mê tín phải bị phê phán và loại bỏ
Các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, các tổ chức xã hội và các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm làm tốt công tác vận động quần chúng và thực hiện đúng đắn chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
1.5.2 Một số chính sách cụ thể đối với các tôn giáo
Đối với tín đồ các tôn giáo:
Đồng bào có đạo được sinh hoạt tôn giáo bình thường, nghĩa là có nơi thờ tự và thực hiện nghi lễ tôn giáo, có kinh sách, đồ dùng việc đạo và có chức sắc hướng dẫn việc đạo, làm cho đồng bào hiểu rõ chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, làm cho mọi người phân biệt được tự do tín ngưỡng và lợi dụng tín ngưỡng để họ tự giác đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của những thế lực phản động
Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi công dân, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng trong những hoạt động xã hội Củng cố tình đoàn kết giữa đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo, giữa tín đồ và các tôn giáo với nhau
Đối với chức sắc các tôn giáo:
Trang 27Mọi chức sắc tôn giáo được pháp luật thừa nhận đều có quyền bình đẳng trước pháp luật và được đối xử tương xứng với vị trí, trách nhiệm của họ trong tôn giáo Các chức sắc tôn giáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung, phạm vi hoạt động của mình Hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật tại nơi mình phụ trách, các giáo hội được đào tạo, phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc và nhà tu hành theo quy định của pháp luật và sự quản
lý của Nhà nước, được hoạt động vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân Những chức sắc, nhà tu hành có hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật
Đối với các tổ chức tôn giáo:
Các tổ chức tôn giáo có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chỉ, mục đích, điều lệ phù hợp với luật pháp Nhà nước, có cơ cấu tổ chức hợp lý và bộ máy nhân sự đảm bảo tốt về hai mặt đạo và đời thì được xem xét từng trường hợp cụ thể để được hoạt động
Đối với các cơ sở hoạt động kinh tế, xã hội, từ thiện của tôn giáo:
Khuyến khích những chức sắc, nhà tu hành và tín đồ tham gia vào việc thực hiện chương trình kinh tế - xã hội, các phong trào của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, các tổ chức xã hội hoạt động từ thiện, nhân đạo trong khuôn khổ chủ trương chung nhưng không lập tổ chức riêng mà gia nhập
hệ thống phúc lợi xã hội công cộng
Giải quyết vấn đề cơ sở vật chất của tôn giáo trên tinh thần vừa đảm bảo nhu cầu chính đáng của tín đồ vừa đảm bảo lợi ích chung của toàn dân, phù hợp với việc quy hoạch về kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương
Đối với quan hệ quốc tế của tôn giáo:
Quán triệt đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá theo tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước vì hoà bình và tiến bộ xã hội trong quan hệ quốc tế của các tôn giáo Quan hệ quốc tế và đối ngoại về tôn giáo hoặc có liên quan đến tôn giáo phải tuân thủ chế độ của Đảng, Nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích Tổ quốc, giữ vững độc lập và chủ quyền quốc gia