1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật trong tiểu thuyết milan kundera

70 267 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 616,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, nghiên cứu văn học từ góc độ nhân vật sẽ là một cách tiếp cận khả thủ để xâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm cũng như làm sáng tỏ nhiều điều về thể loại, quan niệm văn

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nếu coi tác phẩm văn học là một thực thể sống thì nhân vật chính

là linh hồn Nhân vật là phương diện quan trọng bậc nhất của một tác phẩm văn học Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Bản chất văn học là một quan hệ đối với đời sống, nó chỉ tái hiện được đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò như những tấm gương của cuộc đời Nội dung đời sống, nội dung tư tưởng cũng như ý đồ nghệ thuật của tác giả thể hiện qua nhân vật chính là điều cần được nhận ra khi tiếp cận tác phẩm văn học Do vậy, nghiên cứu văn học từ góc độ nhân vật sẽ là một cách tiếp cận khả thủ để xâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm cũng như làm sáng tỏ nhiều điều về thể loại, quan niệm văn học, phong cách sáng tạo của nhà văn

1.2 Milan Kundera (sinh ngày 1/4/1929 tại Brno - Tiệp Khắc) là nhà văn Pháp gốc Tiệp hiện nay được xem là một trong những nhà văn hàng đầu của văn học Hậu hiện đại phương Tây Ông học văn chương, mỹ học tại Đại học Karlova sau đó chuyển sang học biên kịch và đạo diễn tại Học viện biểu diễn nghệ thuật Praha Từ năm 1975, ông sang Pháp sống và viết, trở thành một chân dung “vạm vỡ” trong văn chương thế giới đương đại Kundera được Russell Banks đánh giá là “nhà văn uyên bác nhất hành tinh” Ngoài những giải thưởng văn chương quan trọng được trao tặng vào các năm 1985, 1987,

2000 và 2007, trong nhiều năm trở lại đây Milan Kundera đều có mặt trong bảng đề cử của giải Nobel văn học Tác phẩm của Kundera đã thu hút rất nhiều độc giả trên thế giới bởi nó kết tinh những vấn đề nóng bỏng của thời đại Kundera được ví như một người cuối thế kỉ nhìn lại hành trình dài mà loài người trải qua Kundera là một trong số những nhà văn hiếm hoi trên thế giới có được nhiều thành công nhờ sự gắn kết hài hoà giữa lí luận và thực

Trang 2

tiễn, và tiểu thuyết của ông trở thành vấn đề cần thiết với thời đại, chứa đựng sức hấp dẫn tạo ra một cái nhìn trọn vẹn về đời sống, xã hội Kundera là người nối tiếp truyền thống của những nhà văn lớn Trung Âu: Franz Kafka, Herman Broch, Robertvon, Musil, Vitold Gombrowic… Các tác phẩm của

Milan Kundera được dịch sang tiếng Việt tương đối nhiều: Bản nguyên, Sự bất tử, Chậm rãi (Ngân Xuyên dịch, 1999), Đời nhẹ khôn kham (Trịnh Y Thư

dịch, 2002), Cuộc sống không ở đây, Những mối tình nực cười, Điệu Valse giã từ (Cao Việt Dũng dịch), Những di chúc bị phản bội và tiểu luận Nghệ

thuật tiểu thuyết (Nguyên Ngọc dịch) Lý thuyết về tiểu thuyết của Milan

Kundera có ảnh hưởng lớn tới lí luận phê bình và sáng tác ở Việt Nam Do

đó, nghiên cứu nhân vật trong tiểu thuyết Milan Kundera sẽ góp thêm cơ sở vững chắc đối với việc đánh giá tài năng, phẩm chất nghệ thuật và vai trò của Kundera trong văn học Châu Âu hậu hiện đại nói chung và cho tiểu thuyết châu Âu nói riêng

1.3 Văn chương nghệ thuật là địa hạt của sự sáng tạo Có thể nói, ở phương diện này tác phẩm của Milan Kundera được xem như là một trong những hiện tượng độc đáo, đáng chú ý trong văn học Châu Âu hiện đại Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của ông khá phong phú và đa dạng Đây cũng chính là một trong những phương diện quan trọng làm nên nét độc đáo cho các sáng tác của nhà văn Tiếp cận tiểu thuyết Milan Kundera từ góc độ này

sẽ hứa hẹn mở ra những khám phá mới mẻ, sâu sắc Việc tìm hiểu thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Milan Kundera, theo chúng tôi có ý nghĩa lí luận và thực tiễn quan trọng

Trước hết, tiếp cận tiểu thuyết Milan Kundera từ góc độ này, người nghiên cứu sẽ có cơ hội củng cố vững chắc thêm kiến thức lí luận liên quan đến nhân vật – phương diện quan trọng nhất của tác phẩm văn học Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu một hiện tượng cụ thể nhưng mang tính điển hình

Trang 3

như Milan Kundera, tư duy nghiên cứu khoa học cũng sẽ được mài rũa, nâng tầm khi tác giả khóa luận biết nhìn nhận cái bộ phận trong mối quan hệ biện chứng với cái toàn thể từ đó vận dụng các phương pháp phân tích nội quan nhằm phát hiện đúng bản chất của đối tượng

Thứ hai, đối với người giáo viên Ngữ văn, việc tìm hiểu và phân tích yếu tố nhân vật trong tác phẩm văn học sẽ góp phần mang lại nhiều lợi ích tích cực cho công tác giảng dạy Quá trình nghiên cứu sẽ giúp cho thao tác phân tích tác phẩm, đặc biệt là phân tích nhân vật trong các bài giảng trở nên thuần thục và hiệu quả hơn, chất lượng giảng dạy cũng được nâng lên

Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài: Nhân vật trong tiểu thuyết Milan Kundera để nghiên cứu, khám phá, thâm nhập vào thế giới

thẩm mĩ của nhà văn và coi đây như một kiến giải về một trong những yếu tố làm nên thành công trong tiểu thuyết của Milan Kundera

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Với những tiểu thuyết làm “dậy sóng” văn đàn thế giới, tên tuổi Milan Kundera đã trở nên quen thuộc và là một trong những hiện tượng độc đáo trong văn học châu Âu hiện đại Những vấn đề lí luận về nghệ thuật tiểu thuyết cùng ý tưởng mĩ học mới mẻ của ông đã ảnh hưởng sâu rộng tới văn chương thế giới nói chung và văn học Việt Nam đương đại nói riêng Song, ở Việt Nam nghiên cứu về tác phẩm của Milan Kundera vẫn còn là vấn đề mới

mẻ Bởi vậy, các bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến Kundera và các tác phẩm của ông chưa thực sự dày dặn, mới chỉ dừng lại ở những lời giới thiệu tác phẩm, những bài điểm sách trên các trang web… Có thể thống kê một số bài viết tiêu biểu:

Trong lời bạt Đọc Milan Kundera in trong cuốn Milan Kundera - Tiểu

thuyết (Bản dịch Ngân Xuyên, Nxb Văn học và Trung tâm văn hoá ngôn ngữ

Đông Tây, Hà Nội, 1999), tác giả Nguyên Ngọc khẳng định: “Đọc Kundera,

Trang 4

thường nghe phảng phất một nỗi buồn sâu xa, một lo âu khó dứt Bởi như nhiều lần ông đã bày tỏ, ông căm ghét thứ trữ tình dễ dãi, cái cười thiên thần phụ hoạ, tán dương, dẫn đến cảm nhận sai lệch về thế giới Ông chủ trương một cái cười khác: cái cười mỉa mai của ác quỷ mang tính tra vấn, khiêu khích, do đó đưa tới nhận thức” [13; 765-766]

Nguyên Ngọc cũng chính là dịch giả đã dịch thành công cuốn tiểu luận

Nghệ thuật tiểu thuyết của Milan Kundera ra tiếng Việt Trong lời giới thiệu

tác phẩm này, ông đã đánh giá những kiến giải của Milan Kundera về nghệ thuật tiểu thuyết: “Trong những quan niệm của M Kundera về nghệ thuật tiểu thuyết (và từ đó về cả các vấn đề chính trị, xã hội) như bạn đọc thấy trong tập sách này, có thể có một số điều còn khó hoặc thậm chí xa lạ đối với một số trong chúng ta Song dẫu sao nó cũng đem lại những suy nghiệm thật sâu sắc, độc đáo, động chạm đến những vấn đề gốc rễ nhất của nghệ thuật tiểu thuyết, một nghệ thuật nói cho đúng đới với văn học ta chưa phải đã có truyền thống

và kinh nghiệm thật lâu dài” [14; 6]

Ngoài những lời giới thiệu, những lời bình ngắn về tiểu thuyết của Milan Kundera còn phải kể tới những bài viết được đăng tải trên các tạp chí

văn học Tác giả Trần Thanh Hà trong bài viết Sự bất tử của Milan Kundera - Một sắc diện mới cho tiểu thuyết in trên Tạp chí sông Hương số 215 ra tháng

1 năm 2007 đã vận dụng các quan điểm tiểu thuyết của Milan Kundera để khảo sát một tiểu thuyết độc đáo của chính nhà văn Tác giả bài viết khẳng

định: “Tiểu thuyết Sự bất tử của Kundera đã tạo một phong cách, một dấu ấn

riêng của tác giả và cũng là điểm khởi đầu cho một tương lai phát triển của

tiểu thuyết Tác phẩm độc đáo mới mẻ khẳng định tầm cỡ của ông (…) Sự bất tử là một bản giao hưởng ngôn từ, là một trò chơi kì vĩ, là nơi hội tụ của

nhiều thể loại những quan niệm thẩm mĩ Kundera đã chứng minh cho mục

Trang 5

đích của ông cũng như mọi nghệ sĩ chân chính khao khát: “thứ nhất, chỉ nói

những gì chưa nói ra, thứ hai luôn luôn tìm kiếm một hình thức mới”

Trong các công trình nghiên cứu liên quan đến Milan Kundera, đặc biệt

cần phải kể đến luận án của tiến sĩ Thần Thanh Hà với đề tài: Quan niệm của Milan Kundera về tiểu thuyết qua lý luận và thực tiễn sáng tác Luận án đã

được bảo vệ trước Học viện khoa học xã hội vào ngày 2 tháng 3 năm 2011 Luận án được đánh giá là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu khá toàn diện và hệ thống về các quan niệm về tiểu thuyết của Kundera ở cả lí luận và thực tiễn sáng tác Trong sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam hiện nay thì công trình nghiên cứu này mang một ý nghĩa thiết thực, vận dụng những lí luận của Kundera về tiểu thuyết sẽ tạo ra cho chúng ta một cái nhìn mới về những hiện tượng văn học từ đó làm tiền đề cho những tiêu chí đánh giá nhìn nhận tác phẩm văn học hiện nay

Như vậy, có thể nhận thấy nguồn tư liệu và các công trình nghiên cứu

về tiểu thuyết Milan Kundera chưa nhiều Các bài viết dù tập trung vào một tác phẩm cụ thể hay nghiên cứu toàn bộ tiểu thuyết của Milan Kundera cũng đều chú trọng đi sâu tìm hiểu nghệ thuật tiểu thuyết và quan điểm về nghệ thuật tiểu thuyết của Milan Kundera, xét ở góc độ lí luận và phê bình văn học Chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình chuyên biệt nào tìm hiểu nhân vật trong tiểu thuyết Kundera một cách toàn diện và hệ thống Vì vậy, đây vẫn

là mảnh đất trống cho người viết tìm tòi, khám phá Qua đây, người viết muốn vận dụng những kiến thức lí luận để tiếp cận, soi chiếu vào một yếu tố trong quá trình thực tiễn sáng tác của nhà văn, đồng thời sẽ có những kiến giải mới

mẻ về những vấn đề có liên quan như thi pháp học hay phong cách sáng tạo của nhà văn, từ đó củng cố vững chắc thêm kiến thức lí luận

Trang 6

Từ kết quả nghiên cứu thu được, khoá luận góp phần làm sáng tỏ phong cách nghệ thuật của Milan Kundera

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ chính của khoá luận là nắm vững kiến thức lí luận về nhân vật, ứng dụng những lí thuyết đó để tìm hiểu yếu tố nhân vật trong tiểu thuyết Milan Kundera Qua đó, thấy được quan niệm nghệ thuật về con người, những kiểu loại nhân vật tiêu biểu và phát hiện những sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Milan Kundera

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được chúng tôi xác định ở đề tài khóa luận là nhân vật trong tiểu thuyết của Milan Kundera, bao gồm các phương diện cụ thể:

- Quan niệm nghệ thuật về con người

của nhà văn, đó là: Sự bất tử (Nesmrtelnost), Chậm rãi (La Lenteur) và Bản nguyên (L’ Identite’)

Trang 7

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống

Phương pháp này giúp chúng ta xem xét, nghiên cứu và tách đối tượng

ra thành nhiều yếu tố (mỗi yếu tố có chức năng, nhiệm vụ khác nhau) Phân chia như thế, phương pháp này giúp người nghiên cứu nhận ra được sự tác động chi phối là trực tiếp hay gián tiếp giữa các yếu tố trong cùng một hệ thống

6.2 Phương pháp xác định lịch sử phát sinh

Theo cách gọi của M.B Khrapchenko thì đây là phương pháp nghiên cứu phát sinh lịch sử Phương pháp này chủ trương nghiên cứu văn học cũng như các trường phái, nhà văn, tác phẩm, phương pháp sáng tác… từ nguồn gốc đời sống, xã hội Nó cũng chủ trương giải thích sự phát triển của văn học,

sự đấu tranh giữa các trào lưu, sự thay thế hiện tượng văn học này bằng một hiện tượng văn học khác, sự tương tác, mâu thuẫn hoặc kế thừa có đổi mới của từng hiện tượng, từng giai đoạn văn học từ những cội nguồn lịch sử xã hội

Từ mối quan hệ giữa văn học và đời sống, việc lí giải các hiện tượng văn học từ cơ sở lịch sử xã hội là quan điểm đúng đắn, mang lại nhiều chứng giải thuyết phục, khắc phục được những hạn chế của những khuynh hướng nghiên cứu nội quan quá thiên vào việc giải thích văn bản văn học và tính tự trị của nó

7 Đóng góp của khoá luận

Thứ nhất, tác giả khoá luận cố gắng xác lập tương đối hệ thống các khái niệm lí luận liên quan đến nhân vật văn học và vận dụng lí thuyết đó để nghiên cứu thế giới nhân vật trong những tiểu thuyết đã kể trên của Milan Kundera

Thứ hai, tác giả khoá luận đã phát hiện được các kiểu loại nhân vật tiêu biểu trong tiểu thuyết của Milan Kundera đồng thời chỉ ra những nét độc đáo của nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết ông Qua đây, người viết

Trang 8

góp phần làm sáng tỏ cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật của Milan Kundera đồng thời góp một tiếng nói khẳng định vị trí và những đóng góp quan trọng của ông đối với sự phát triển của thể loại tiểu thuyết

8 Bố cục khoá luận

Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận được triển khai thành 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan về nhân vật văn học

- Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người và loại hình nhân vật trong tiểu thuyết Milan Kundera

- Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Milan Kundera

Trang 9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC 1.1 Khái niệm về nhân vật văn học

1.1.1 Phương diện từ ngữ

Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm (tiếng Hilạp: persona, tiếng Anh: personage, tiếng Nga: personaj) Theo tiếng Hi Lạp cổ, “persona” lúc đầu có nghĩa là “cái mặt nạ” - một dụng cụ biểu diễn của diễn viên trên sân

khấu Về sau, từ này được dùng phổ biến hơn với tần số nhiều nhất, thường xuyên nhất để chỉ những đối tượng mà văn học miêu tả và thể hiện Nó trở thành thuật ngữ chỉ nhân vật văn học

Ngoài ra, nhân vật văn học còn được người ta gọi bằng các thuật ngữ

khác như: “vai” (actor) và “tính cách” (character) Tuy nhiên, các thuật ngữ này có nội hàm hẹp hơn so với thuật ngữ “nhân vật” (persona)

Thuật ngữ “vai” chủ yếu nhấn mạnh đến tính chất hành động của cá nhân, thích hợp với loại “nhân vật hành động” Còn thuật ngữ “tính cách” lại

thiên về những nhân vật có tính cách Trong thực tế sáng tác, không phải nhân vật nào cũng hành động, không phải nhân vật nào cũng có tính cách rõ rệt, có

nhiều nhân vật thiên về trạng thái “suy tư”, được tập trung khắc hoạ ở đời sống nội tâm hơn là hành động Bởi vậy, nếu sử dụng thuật ngữ “tính cách”

thì sẽ không thấy được mức độ thể hiện nhân vật khác nhau trong thực tế sáng

tác Từ đó, có thể thấy, cả thuật ngữ “vai” và “tính cách” đều không bao quát

hết những biểu hiện khác nhau của các loại nhân vật trong sáng tác văn học

“Nhân vật” là thuật ngữ có nội hàm phong phú, đặc biệt có sức khái

quát những hiện tượng phổ biến của tác phẩm văn học ở mọi bình diện và cấp

độ Như vậy, sử dụng thuật ngữ “nhân vật” là đúng đắn và đầy đủ nhất

Trang 10

Tuy nhiên, “nhân vật” là khái niệm không chỉ dùng trong tác phẩm văn chương mà còn được dùng trong nhiều lĩnh vực khác Theo bộ Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên) thì “nhân vật” là khái niệm hai nghĩa Thứ nhất,

đó là “đối tượng (thường là con người) được miêu tả thể hiện trong tác phẩm văn học nghệ thuật” Thứ hai, đó là “người có vai trò nhất định trong xã hội”

[19; 881] Tức là thuật ngữ “nhân vật” được dùng phổ biến ở nhiều mặt, trong

cả đời sống nghệ thuật, đời sống chính trị - xã hội lẫn đời sống sinh hoạt hàng ngày Song, trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi chỉ đề cập đến

“nhân vật” theo nghĩa thứ nhất mà bộ Từ điển tiếng Việt đã nêu ra, tức là

nhân vật trong tác phẩm văn chương

1.1.2 Một số quan niệm về nhân vật trong nghiên cứu lí luận văn học

Trong nghiên cứu lí luận văn học có nhiều quan niệm về nhân vật

Trong Từ điển Văn học (tập 2), các tác giả đã đưa ra quan niệm: “Nhân vật là

yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc hoạt Nhân vật do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học” [18; 86]

Theo định nghĩa này, các tác giả đã nhìn nhận nhân vật từ khía cạnh vai trò, chức năng của nó đối với tác phẩm văn học và quan hệ của nó đối với các yếu tố hình thức tác phẩm văn học Có thể nói, đây là định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về nhân vật văn học

Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học lại quan niệm nhân vật có

phần thu hẹp hơn: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, Chị Dậu, Anh Pha…) cũng có thể không có tên riêng… Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm… Nhân vật văn học là một

Trang 11

đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [9; 235]

Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân đề xuất một

cách nhìn khác Ông xem xét nhân vật trong mối tương quan chặt chẽ với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn, trường phái văn học: “Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [1; 241]

Như vậy, theo Lại Nguyên Ân, nhân vật văn học là một trong những yếu tố tạo nên phong cách sáng tạo của nhà văn và diện mạo riêng của một trường phái văn học Đồng thời, tác giả còn quan tâm chỉ ra những đối tượng tiềm tàng khả năng trở thành nhân vật văn học

Cuốn Lí luận Văn học (tập 2) do Phương Lựu (chủ biên) định nghĩa khá

kĩ về nhân vật văn học: “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được

miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh… Đó là những nhân vật không tên như thằng bán tơ, một mụ nào đó trong “Truyện Kiều”… Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại bao gồm cả thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa con người Khái niệm “nhân vật”

có khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng cụ thể trong tác phẩm Nhưng chủ yếu vẫn là hình tượng con người trong tác phẩm… Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu để nhận ra” [17; 277 - 278]

Trang 12

Một quan niệm khác về nhân vật văn học được đưa ra trong cuốn Lí luận Văn học do GS Hà Minh Đức (chủ biên), đó là: “Nhân vật văn học là

một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách… Và cần chú ý thêm một điều: thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm có một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc hoạ sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm mà còn có thể là những sinh vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người… Cũng có khi đó không phải là những con người

hoặc có liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [5;

126]

Trong Giáo trình lí luận văn học dành cho các trường Cao đẳng Sư

phạm (tập 2), các tác giả có xu hướng nghiên cứu nhân vật với tư cách là đối tượng để nhà văn khái quát, phân tích đời sống và tái hiện đời sống bằng các phương tiện đặc trưng của văn chương: “Nhân vật văn học là khái niệm là dùng để chỉ hiện tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức và tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [26; 73]

Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về nhân vật văn học Tuy vậy,

dù nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác của nhân văn văn học, các nhà nghiên cứu Lí luận văn học vẫn gặp nhau ở nội dung cơ bản của khái niệm này: Thứ nhất, nhân vật văn học phải là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng các phương tiện nghệ thuật Thứ hai, đó là những con người, hoặc con vật, đồ vật, sự vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh

ẩn dụ của con người Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ, là phương tiện phản ánh hiện thực đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn

Trang 13

1.1.3 Khái niệm về nhân vật và thế giới nhân vật

Trên cơ sở khái quát, kế thừa những điểm khả thủ từ các quan niệm về nhân vật kể trên, chúng tôi đi đến xác lập một cách hiểu tương đối thống nhất

về nhân vật như sau:

Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học Nó là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người (hoặc con vật, cây cỏ, sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người) được miêu tả tập trung trong tác phẩm bằng các phương tiện văn học, là nơi kết tinh các giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học

Theo đó khái niệm “thế giới nhân vật” được hiểu như sau:

Thế giới nhân vật là khái niệm dùng để biểu thị tập hợp đa dạng phức tạp những hình tượng con người (hoặc các con vật, cây cỏ, sinh thể học đường được gán cho những đặc điểm giống con người) được miêu tả tập trung trong tác phẩm bằng các phương tiện văn học và là nơi kết tinh các giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học

1.2 Vai trò của nhân vật văn học

Nhân vật là yếu tố vừa thuộc nội dung lại vừa thuộc về hình thức của tác phẩm Nhân vật có vai trò và vị trí hết sức quan trọng trong tác phẩm văn học Điều này thể hiện cụ thể qua những phương diện sau:

Trước hết, nhân vật là phương tiện thiết yếu để nhà văn khái quát hiện thực Bức tranh hiện thực rộng lớn thông qua sự tìm tòi trải nghiệm của nhà văn được tái hiện qua nhân vật và hệ thống nhân vật trong tác phẩm Từ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, từng mảng hiện thực đời sống hiện ra theo bước đi của nhân vật Theo đó, nhân vật được xem như chìa khoá để nhà văn

mở rộng các mảng đề tài, chủ đề mới mẻ Nhà văn có thể tái hiện nhiều môi trường khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau qua nhân vật Nói khác đi, nhân vật là người dẫn dắt bạn đọc vào thế giới khác nhau của đời sống

Trang 14

Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những quan niệm về con người của nhà văn Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về cá nhân đó Nói cách khác, nhân vật là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng

Tính cách là sự thể hiện các phẩm chất xã hội lịch sử của con người qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh lí của họ Tính cách có vai trò hết sức quan trọng đối với cả nội dung và hình thức của tác phẩm văn học Đối với nội dung, tính cách có nhiệm vụ cụ thể hoá sự thực hiện của chủ

đề, tư tưởng tác phẩm, hay nói cụ thể hơn thông qua sự hoạt động và mối liên

hệ giữa các tính cách, người đọc sẽ đi đến một sự khái quát hoá về mặt nhận thức, tư tưởng Tính cách cũng là nhân tố chủ yếu tạo nên diễn biến của các

sự kiện trong quá trình phát triển cốt truyện Cũng qua hệ thống tính cách, người đọc có thể đánh giá khả năng biểu hiện nội dung của các yếu tố hình thức như ngôn ngữ, kết cấu, những quy luật loại thể, các biện pháp thể hiện Như vậy, có thể nói tính cách là yếu tố hạt nhân trong nhân vật ở phương diện này Thành công của nhà văn là xây dựng những nhân vật có khả năng khái quát nổi bật những tính cách có ý nghĩa phổ biến sâu xa, tức là những nhân

vật điển hình Đôxtôiepxki đã nhấn mạnh: “Đối với nhà văn, toàn bộ vấn đề

là ở tính cách” Tuy nhiên, có một điều đáng lưu ý là: tính cách nhân vật

mang tính lịch sử Điều này có nghĩa là ở mỗi thời đại lịch sử khác nhau các tính cách được tôn vinh hay coi nhẹ, được khái quát nổi bật hay mờ nhạt là khác nhau

Cùng với việc thể hiện tính cách, nhân vật còn thể hiện chức năng khái quát các quy luật đời sống và số phận con người Thông qua nhân vật, nhà văn khái quát các quy luật mang tính tất yếu của cuộc sống, những trạng

Trang 15

huống cảm xúc khác nhau của con người Qua số phận nhân vật, ta hiểu được bản chất chế độ xã hội mà nó đang sống

Không những vậy, xét về phương diện nội dung, nhân vật còn là phương tiện tất yếu và quan trọng nhất thể hiện tư tưởng tác phẩm Qua nhân vật nhà văn xây dựng lên những hình tượng nghệ thuật để chuyển tải nội dung

tư tưởng nào đó Nội dung tư tưởng làm nên sức nặng của tác phẩm song tư tưởng tác phẩm không giản đơn nằm trong lời phát biểu của tác giả mà chan

hoà vào thế giới hình tượng “như ánh sáng chan hoà từng tinh thể pha lê”

(Bêlinxki) Như vậy, để hiểu được tư tưởng tác phẩm cần phải đi sâu khám phá thế giới nhân vật

Bên cạnh đó, nhân vật là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm, quyết định phần lớn đến cốt truyện, sự lựa chọn chi tiết nghệ thuật, ngôn ngữ và kết cấu tác phẩm Nhân vật có vai trò chi phối cũng như gắn kết các yếu tố khác thuộc về hình thức tác phẩm, qua đó thể hiện sáng tạo nghệ thuật của nhà văn

Có thể nói, văn học bắt rễ từ cuộc sống và cần trở về phục vụ cuộc sống Hay nói cách khác văn học phải từ cuộc đời mà đi, vì cuộc đời mà đến Vẫn biết cuộc sống không dừng lại ở những trang văn song việc nhà văn tái hiện bức tranh hiện thực và thể hiện quan niệm thẩm mĩ của mình về con người qua nhân vật trong tác phẩm đã giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn cuộc sống này Như vậy, có thể nói nhân vật có một vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm của mỗi nhà văn

1.3 Phân loại nhân vật văn học

Nhân vật văn học là một hiện tượng đa dạng về mặt kiểu loại Dựa vào thực tiễn sáng tác văn học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số tiêu chí phân loại nhân vật cơ bản như sau:

Trang 16

1.3.1 Xét về cấu trúc tác phẩm

Dựa trên vai trò của nhân vật trong kết cấu và cốt truyện của tác phẩm,

nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm

Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ

vị trí then chốt của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện và là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của mình Nhân vật chính là nhân vật được khắc hoạ đều đặn hơn, có tiểu sử, có nhiều tính tiết, nhưng cái chính là thể hiện tập trung đề

tài của tác phẩm Nhân vật trung tâm là nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối tác

phẩm, có mối liên hệ với tất cả những nhân vật khác trong tác phẩm Đó là nơi quy tụ các mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm

của tác phẩm Ngoài nhân vật chính còn có nhân vật phụ Nhân vật phụ là

nhân vật thứ yếu trong diễn biến của cốt truyện, trong quá trình triển khai đề tài, thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm Mỗi nhân vật phụ giống như một ô cửa để bạn đọc nhìn vào nhân vật chính từ nhiều chiều kích khác nhau Nhân vật phụ góp phần tạo nên bức tranh đời sống sinh động, làm sáng tỏ tư tưởng tác phẩm

thuẫn đối kháng trong đời sống xã hội, hình thành trên cơ sở đối lập giai cấp

và quan điểm tư tưởng Nhân vật chính diện là nhân vật thể hiện những giá trị

tinh thần, phẩm chất đẹp đẽ, hành vi cao cả của con người được miêu tả, khẳng định và đề cao trong tác phẩm theo một quan điểm, một lí tưởng xã hội thẩm mĩ nhất định Khi nhân vật chính diện có ý nghĩa mẫu mực cao độ cho

Trang 17

lối sống của một tầng lớp, giai cấp, dân tộc thì nó được xem là nhân vật lí

tưởng Nhân vật phản diện là nhân vật có bản chất xấu xa trái với đạo lí, lí

tưởng của con người được tác giả miêu tả trong tác phẩm với thái độ lên án, chế giễu, phủ định Như vậy, hai loại nhân vật này luôn luôn đối kháng với nhau

1.3.3 Dựa vào cấu trúc hình tượng

Theo tiêu chí này, người ta chia nhân vật thành nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng

Nhân vật chức năng xuất hiện trong văn học cổ đại và trung đại Đó là

loại nhân vật không có đời sống nội tâm, các phẩm chất và đặc điểm nhân vật

cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối, hơn nữa, sự tồn tại và hoạt động của

nó chỉ nhằm một chức năng nhất định Hạt nhân của loại nhân vật chức năng

là các vai trò và chức năng mà chúng thực hiện trong truyện và trong việc phản ánh đời sống

Nhân vật loại hình là loại nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã

hội, đạo đức của một loại người ở một thời nhất định Đó là nhân vật nhằm khái quát cái chung về loại của các tính cách và nhờ vậy mà được gọi là điển hình Hạt nhân của loại nhân vật này là bao giờ cũng có một số phẩm chất loại biệt về mặt xã hội nổi bật hơn hẳn các tính chất khác Nhân vật tính cách là một kiểu nhân vật phức tạp Tính cách trong nghĩa rộng nhất được xem xét như là đối tượng chủ yếu của nhận thức văn học Nhưng không phải mọi nhân vật văn học đều phản ánh được cấu trúc của tính cách Do đó trong nghĩa hẹp, tính cách là loại nhân vật được mô tả như một nhân cách, một cá nhân có cá tính nổi bật Nhân vật tính cách thường có những mâu thuẫn nội tại, những nghịch lí, những chuyển hoá Chính vì vậy, tính cách thường có một quá trình

tự phát triển và nhân vật không đồng nhất giản đơn vào chính nó Nếu ở nhân

Trang 18

vật loại hình, khái niệm “loại” là hạt nhân của nhânvật, thì ở nhân vật tính cách hạt nhân cấu trúc của nó là cá tính

Trong văn học có những nhân vật mà hạt nhân cấu trúc của nó không phải cá tính, cũng không phải là các phẩm chất loại hình mà là một tư tưởng,

một ý thức Đó là các nhân vật tư tưởng Chẳng hạn các nhân vật “quỷ sứ”

như Manfơrết, Cain, Luxife của Bairơn, Giăng Vangiăng, Giave của Huygô, Anđrây Bôncônxki của L Tônxtôi, Raxcônnicôp của Đôxtôiepxki Xây dựng loại nhân vật này, nhà văn nhằm tới việc phát biểu hoặc tuyên truyền cho một tư tưởng nào đó về đời sống Chú trọng đến mục đích này đôi khi dẫn tới việc biến nhân vật trở thành “loa” phát ngôn tư tưởng của tác giả

Trên đây là các kiểu loại nhân vật thường gặp Trong văn học cũng còn

có thể gặp một số kiểu nhân vật khác nữa Sự phân loại nhân vật trên đây còn mang tính chất tương đối, loại này bao hàm yếu tố của loại kia nhưng cần thấy được nét ưu trội trong cấu trúc từng loại Các nhân vật thành công là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại Bởi vậy, khi đánh giá cần ý thức hết sức đa dạng của cấu trúc nhân vật và các khả năng phản ánh hiện thực của chúng

Trang 19

CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ LOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MILAN KUNDERA

2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người

2.1.1 Khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người”

Theo Từ điển tiếng Việt , “Quan niệm là cách nhận thức, đánh giá về

một vấn đề, một sự kiện” [19; 990]

Như vậy, “Quan niệm” là cách nhận thức, lí giải, đánh giá về một vấn

đề, nào đó chứ không phải là khái niệm về vấn đề đó

Về thuật ngữ “Quan niệm nghệ thuật”, Từ điển thuật ngữ Văn học định

nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó [ ] Quan niệm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối

đa trong cách biểu hiện thế giới và con người của một hệ thống nghệ thuật thể hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó” [9; 273]

Trong cuốn Lí luận và phê bình văn học, tác giả Trần Đình Sử nêu ra cách hiểu: “Quan niệm nghệ thuật là giới hạn thực tế của tư duy nghệ thuật,

nó là thể thống nhất giữa hiện thực được phản ánh và năng lực cắt nghĩa, lí giải của con người [ ] trong nghệ thuật, thế giới được “quan niệm hoá” trên

cơ sở thụ cảm cá nhân về một thế giới, ứng với một quan niệm nghệ thuật là một thế giới nghệ thuật” [23; 99-100]

Tóm lại, quan niệm nghệ thuật là hệ thống quan điểm chỉ đạo hoạt động sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ Nó chính là phông nền tư tưởng để từ

đó người nghệ sĩ sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật Thấy được quan niệm nghệ thuật của người nghệ sĩ là đã soi chiếu vào thực chất sáng tạo tư tưởng của người nghệ sĩ đó

Trang 20

Văn học là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người, nói như M.Gorki:

“Văn học là nhân học” Đối tượng thẩm mĩ của văn học là con người Dù

miêu tả đối tượng nào, văn học đều thể hiện con người Hai chữ “nhân học”

có một hàm nghĩa hết sức phong phú Tất cả những gì liên quan tới con người, thuộc về con người đều nằm trong phạm vi biểu hiện của văn học Sự phong phú đó là cội nguồn cho quan niệm đa dạng về con người trong văn học Mặt khác, xét về mặt sáng tác, người ta không thể miêu tả về con người, nếu như không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp biểu hiện nhất định Mặt thứ hai này tạo thành chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học

“Quan niệm nghệ thuật về con người” là khái niệm trung tâm của thi

pháp học, nó phản ánh một cách sâu sắc và toàn diện bản chất nhân học của

văn học Ở một phương diện nào đó, khái niệm “quan niệm nghệ thuật về con người” có giá trị tương đương với khái niệm “tính tư tưởng” trong tác phẩm

văn học Nếu tư tưởng là linh hồn của tác phẩm thì quan niệm nghệ thuật về con người là cốt lõi tư tưởng, chiều sâu nhân bản của tác phẩm đó đồng thời

là thước đo sự tiến bộ của nhà văn Khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người” trở thành một tiêu điểm của nghiên cứu Lí luận Xô Viết từ những năm

1970 trở đi Trên thực tế, khái niệm này được nghiên cứu ở nhiều phương diện với những cách hiểu rất phong phú

Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm gắn bó chặt chẽ, mật thiết với chủ thể sáng tạo Nói một cách ngắn gọn, quan niệm nghệ thuật về con người chính là sự khám phá con người bằng nghệ thuật Quan niệm nghệ thuật về con người tất nhiên cũng mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn đầy tính phát hiện độc đáo của người nghệ sĩ Bởi mỗi nhà văn là một cá tính sáng tạo không thể trộn lẫn nên quan niệm nghệ thuật

về con người của họ cũng hết sức phong phú, đa dạng

Trang 21

Cần phải phân biệt hai khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người” và khái niệm “Quan niệm về nghệ thuật” Nếu khái niệm “Quan niệm nghệ thuật

về con người” được hiểu như đã trình bày ở trên thì “Quan niệm về nghệ thuật” lại thuộc phạm trù ý thức tự giác về nghệ thuật của người nghệ sĩ - tức

cách nhìn nhận đánh giá của người nghệ sĩ về chính lĩnh vực nghệ thuật chứ không phải con người Quan niệm nghệ thuật là hình thức đặc thù thể hiện con người trong văn học Đó là các nguyên tắc cảm thấy, hiểu biết và miêu tả con người trong văn học Các nguyên tắc này có cơ sở sâu xa từ thực tiễn lịch

sử, là sản phẩm của lịch sử cho dù ở mỗi thời đại có thể có một số quan niệm nghệ thuật về con người mang tính ý thức hệ Quan niệm nghệ thuật về con người cũng là sản phẩm của văn hoá tư tưởng thời đại và mang dấu ấn sáng tạo của cá nhân nghệ sĩ

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của Milan Kundera

Thế kỉ XX với lịch sử phương Tây là thế kỉ đầy biến động Đây là thế

kỉ phát triển vượt bậc về văn minh vật chất nhưng cũng còn biết bao điều xấu

xa đáng lên án Người ta gọi đây là “thời kì kì quặc”, “thời kì dùng thuốc an thần”; “thời kì chiến tranh nguyên tử” Nền kinh tế giàu mạnh là niềm tự hào

của phương Tây tiên tiến song nó cũng đem lại những mặt trái với những nguy cơ nghiêm trọng ảnh hưởng tới cuộc sống của con người Thế kỉ XX ở phương Tây nói riêng và thế giới nói chung trở thành thế kỉ chất chứa những biến cố dữ dội, ảnh hưởng tới toàn nhân loại

Bối cảnh thời đại đó đã có ảnh hưởng sâu sắc và làm thay đổi diện mạo văn học phương Tây thế kỉ XX Giáo sư Đỗ Đức Hiểu đã nhận xét: “Từ đại chiến thứ nhất đến nay, trong thời gian hơn nửa thế kỉ, trên mặt trận văn học phương Tây diễn ra cuộc đấu tranh liên tục và quyết liệt chưa từng thấy trong lịch sử văn học 3000 năm của nó và cũng chưa bao giờ như trong hơn nửa thế

kỉ qua trong lĩnh vực văn học diễn ra những công cuộc lớn lao, đạt được

Trang 22

những thành tựu nhất định về con người, những mẫu mực khoa học và phong phú về lí luận, nghiên cứu, phê bình văn học… Đồng thời phương Tây trải qua khủng hoảng sâu sắc, toàn diện chưa từng thấy, những bế tắc sa đoạ chưa từng thấy”

Trong những đổi mới lớn lao về mặt thể loại, phải kể đến sự cách tân của tiểu thuyết phương Tây hiện đại Vào những năm 50, 60 trong giới phê

bình, người ta đã nói tới “lễ cầu hồn của tiểu thuyết”, “cái chết của tiểu

thuyết”và một loạt trường phái cấp cứu ồn ào và tuyệt vọng thi nhau ra đời : “

phản tiểu thuyết”, “phi tiểu thuyết” Trong bối cảnh đó, một loạt nhà văn

của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của Mĩ Latinh xuất hiện rực rỡ, vừa cổ xưa vừa mới mẻ, kì lạ, tạo nên một vụ bùng nổ như pháo hoa của tiểu thuyết Song, phải đến khi Milan Kundera xuất hiện và trở thành hiện tượng đáng chú

ý như một ngọn gió cứu rỗi tươi mát đến từ Cựu lục địa - từ Châu Âu, lời lý giải cho tiểu thuyết mới thực sự hoàn thiện

Tác phẩm của Milan Kundera lôi cuốn người đọc không chỉ bởi nghệ thuật tiểu thuyết mới lạ mà còn bởi ý tưởng uyên bác, độc đáo của tác giả trong cuộc truy xét đời sống con người Mỗi cuốn tiểu thuyết cô đọng của nhà văn mang lại cho độc giả một cái nhìn độc đáo về thế giới hiện đại và vị trí con người trong đó, chứa đựng một thứ triết học riêng về cuộc sống và mối quan hệ liên cá nhân Trong tác phẩm của ông, các chủ đề sắc sảo và các tính cách con người sinh động được kết hợp với những suy tư về các đề tài triết học và hiện sinh mang tính toàn cầu Tất cả sức nặng tư tưởng trong tác phẩm của Milan Kundera được quy tụ trong quan niệm nghệ thuật về con người rất mới mẻ nhưng sâu sắc và hết sức nhân bản, khiến những ai đã đọc tác phẩm của Kundera đều ngỡ ngàng về tầm vóc và ý nghĩa lớn lao của nó

Quan niệm nghệ thuật về con người của Milan Kundera trước hết bắt nguồn từ quan niệm của ông về tiểu thuyết: “Tiểu thuyết nhịp bước cùng con

Trang 23

người thường xuyên và trung thành từ buổi đầu tiên của thời hiện đại Cuốn tiểu thuyết mà không khám phá thêm được một mẫu sự sống trước nay chưa từng biết là một cuốn tiểu thuyết vô đạo đức Hiểu biết là đạo đức duy nhất của tiểu thuyết” [14; 10] Điều này giải thích tạo sao Milan Kundera thích tiểu thuyết “hiện sinh” vốn rọi ánh sáng vào thân phận con người hơn là tiểu

thuyết “tâm lí” vốn khám phá những tính cách và môtip cho hành động

Trong các tác phẩm của Kundera có một vấn đề trở đi trở lại như một nỗi quan hoài thường trực, một câu hỏi đầy ám ảnh, đó là: thân phận con người trong thời hiện đại Trong quan niệm nghệ thuật về con người của các

nhà văn phương Tây thế kỉ XX đã xuất hiện khái niệm “thân phận con người”

với ý nghĩa: con người nhỏ bé, khắc khoải, lo âu, không có khả năng giải phóng bản thân, không có khả năng cải tạo thế giới Song với Kundera, ông còn thừa nhận vấn đề thân phận con người sâu sắc hơn trong tương quan với thời đại Trong các tiểu thuyết của Kundera còn có một khái niệm khác thường được nhắc đến và nhấn mạnh là: thời hiện đại Milan Kunera đã phát hiện ra con người sống trong thời hiện đại - thời đại kì lạ vừa phát hiện ra con người, tôn vinh con người là cơ sở của tất cả, vừa liên tục và ráo riết triệt tiêu con người với tư cách là cá nhân bằng tất cả các thiết chế dữ tợn của nó Sự phát triển của khoa học kĩ thuật mở ra cho con người những hiểu biết mới Song càng đi tới trong sự hiểu biết của mình, con người ngày càng mất đi cái nhìn tổng thể về thế giới và cả cái nhìn về chính mình, nói như Heidegger là

“sự quên mất con người” Con người nay trở thành một vật thể đơn giản đối

với các lực lượng (lực lượng kĩ thuật, chính trị, lịch sử) vượt qua nó, vượt lên trên nó, chiếm lĩnh nó Đối với lực lượng ấy, cái tồn tại cụ thể của con người

đã trở nên vô giá trị, nó đã bị che khuất, bị lãng quên từng bước

Đọc tiểu thuyết của Kundera thường nghe phảng phất một nỗi buồn, một nỗi lo âu trăn trở khó dứt về sự biến mất của con người trong thế giới

Trang 24

hiện đại Con người không giống thật mà là vấn đề hiện sinh kì lạ Con người biến mất đằng sau hình ảnh của nó song cũng luôn nỗ lực chống lại hình ảnh, phá vỡ hình ảnh để mong tìm ra mình Hình ảnh và sự tha hoá của con người

là một chủ đề lớn của tiểu thuyết Sự bất tử Hình ảnh không phải để xác định

con người mà là để che lấp, xoá bỏ, làm nhoè mờ và tha hoá con người Những Goethe, Beethoven, Heminway mang hình ảnh khác lạ so với bản thể của mình Những Agnes, Laura là những con người bị mất tích giữa thế

giới hiện đại Nếu ở Sự bất tử tác giả đã chỉ ra: thói háo danh đeo đẳng và giết chết con người, thì ở tiểu thuyết Chậm rãi tác giả đã khẳng định sự tàn phá

của tốc độ trong thế giới hiện đại đối với cá nhân Có thể nói, dù được thể hiện dưới những hình thức khác nhau, những ám thị khác nhau nhưng nhức nhối và dai dẳng trong các tiểu thuyết của Kundera là chủ đề con người bị mất tích giữa thời đại và công cuộc tìm lại chính bản nguyên của mình Nhân vật

Santal, Jan Mark (Bản nguyên) cuống quýt đi tìm mình như càng chứng tỏ sự

hư vô, mong manh của con người trước cuộc sống hiện đại Trong cuốn Nhẹ bồng cái kiếp nhân sinh, Tereza nhìn vào gương, cô tự nhủ nếu mỗi ngày cái

mũi cô ta cứ dài thêm một milimet nữa thì sẽ làm sao nhỉ, đến bao lâu khuôn mặt của cô ta mới không thể nhận ra nữa? Và nếu khuôn mặt của cô không còn giống Tereza nữa thì Tereza có còn là Tereza không? Hay như trong một

truyện ngắn khác, truyện Trò chơi đón xe đi nhờ, cô gái trong những đoạn

cuối truyện, thấy rối loạn về mối hoài nghi về bản sắc của mình đến nỗi cô cứ

thổn thức nhắc đi nhắc lại mãi: “Tôi là tôi mà, tôi là tôi mà, tôi là tôi mà ”

Như vậy, dường như con người luôn thường trực sự kinh ngạc trước nỗi bấp bênh về cái tôi và bản sắc của mình

Tác phẩm của Kundera đưa đến cho người đọc cái nhìn tinh tế, đa chiều, đa diện về cuộc sống con người trong thời hiện đại Song, toàn bộ ý nghĩa tác phẩm của Kundera lại là ở cuộc đấu tranh kiên trì, dũng cảm để giữ

Trang 25

cho con người còn là con người toàn vẹn, đấu tranh chống sự thoái hoá, kiên trì bảo vệ bản chất người cho con người trong tình cảnh bế tắc của thế giới ngày nay, cho dù cuộc đấu tranh đó chưa hẳn đã tất thắng đâu Có thể nói, trong các tiểu thuyết của mình, Kundera mệt mỏi nhưng không ngừng cay đắng nói về sự nỗ lực ấy của con người Đặc biệt khi nhấn mạnh đến cuộc đấu tranh của con người trước cái xấu, cái ác, Kundera thực chất tin tưởng mãnh liệt vào thiên chức xã hội, nhân văn cao cả của văn chương nghệ thuật Khi đưa lại cho con người sự nhận thức phù hợp nhất về ý nghĩa của sinh tồn, nó đối lập với các phương diện thông tin đại chúng, những cái không để cho con người được đối diện với chính mình và bị đè nén cá tính của con người Kundera viết: “Cuộc sống thường xuyên bị ngốn nuốt bởi các “sức mạnh thoái hoá”, và công việc của nhà văn- đó là những nỗ lực của Đông Kisốt bảo

vệ con người khỏi sự thoái hoá, là khát vọng tạo ra một thế giới tưởng tượng nhỏ bé có sự tươi mới của một câu hỏi bất ngờ” Vào một thời kì khủng hoảng, bất lợi cho nghệ thuật hiện nay, Kundera với tất cả sức mạnh logic, tầm học vấn rộng lớn và tài năng văn chương – kiên trì tư tưởng về vai trò đang tăng lên của văn học: “Nếu quả thật những biến cố lớn lao đang tới gần, tôi không biết có gì cần thiết cấp bách hơn việc kéo dài cuộc sống của văn học

và sự độc lập hoàn toàn của nó Trong trường hợp ngược lại, chúng ta sẽ bị nghiến nát bởi cỗ máy của sự tầm thường về chính trị và tư tưởng, cỗ máy này vào những thời kì “biến cố lớn lao” thường quay nhanh đáng sợ” Ở Milan Kundera vừa có sự sắc sảo khi soi chiếu sự hiện hữu của con người, vừa có sự nhạy cảm khi phát hiện ra con người ở mặt khuất lấp Đặc biệt, ông có niềm tin vào cuộc đấu tranh của con người để giành lấy những gì tốt đẹp đáng thuộc về thế giới nhân sinh Guy Scarpetta - một trong những nhà phê bình lớn nhất ở Pháp hiện nay đã rất đúng khi viết rằng: “Kundera ngày nay là một trong những người hiếm có, dám trực diện nhìn cái ác, không chút nhân

Trang 26

nhượng – nhưng lại đủ hài hước để không rơi vào sáo rỗng của niềm tuyệt vọng triệt để”

Có thể nói, đọc Milan Kundera không chỉ thấy tinh thần nhân văn lấp lánh trên những trang văn của ông mà còn cho người đọc niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của nghệ thuật, vào việc văn học cho đến nay vẫn mang lại rất

nhiều đổi thay cho “gương mặt tâm hồn” của con người Văn học mãi mãi “

là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ tính người cho con người” (Nguyễn

Khải) Với quan niệm nghệ thuật về con người hết sức nhân bản, tác phẩm của Kundera đã góp thêm tiếng nói nhân văn sâu sắc về thân phận con người trong thời hiện đại Từ điểm nhìn có tính nghệ thuật này sẽ soi chiếu giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tiểu thuyết Kundera và hình thành nên một thế giới nhân vật sinh động, phong phú - thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Milan Kundera

2.2 Loại hình nhân vật trong tiểu thuyết Milan Kundera

Tiểu thuyết Milan Kundera nằm trong dòng chảy của tiểu thuyết phương Tây hiện đại với sự cách tân mạnh mẽ Những tên tuổi đã góp phần làm nên diện mạo mới của tiểu thuyết phương Tây phải kể đến như: Franz Kafka, Herman Brock, Camuy, Gabriel Garcia Marquez Cùng với sự cách tân nghệ thuật, các nghệ sĩ đã thể hiện trong tiểu thuyết những cảm quan sâu sắc, mới mẻ về con người Con người được khám phá thường mang nỗi lo âu, khắc khoải trước thế giới về sự nhỏ bé, yếu thế và khủng hoảng của chính mình Dù phản ánh con người ở mặt hiện hữu hay khuất lấp, các nhà văn đều phá vỡ cái nhìn một phía, tĩnh tại, đơn phiến để tạo ra cái nhìn phức tạp, sinh động và sâu sắc hơn

Với Kundera, tiểu thuyết phải thể hiện trong mình “tinh thần của phức tạp”, “hiền minh của hoài nghi” Nó nghiên cứu không phải hiện thực mà là

“hiện sinh”, nghiên cứu chính ngay bản chất sự tồn tại của con người Bởi vậy

Trang 27

trong các tác phẩm của mình, Kundera có xu hướng tiếp cận con người ở nhiều góc độ Con người trong tiểu thuyết của ông mang tính đa trị, lưỡng cực, là những con người không toàn vẹn Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Kundera như được sắp xếp vào trò chơi “rubic” gồm các nhân vật ở nhiều thời đại, nhiều tuyến đối lập Các nhân vật như những mảng màu khác nhau được đặt gần nhau Ở góc độ thời đại lịch sử có hai tuyến chính: các nhân vật lịch sử như Goethe, Hemingway, Komain Rolland, Rubens, Napoléon những nhân vật thời hiện đại như: Agnès, Laura, Paul, Vincent, Jan-Mark, Santal Ở góc độ tư tưởng cũng có thể chia thành nhiều tuyến như nhà văn, nhà báo, nhà quân sự, chính trị Các nhân vật tuy xuất hiện ở từng thời đại khác nhau, mang những tư tưởng khác nhau song cùng bước vào một sân khấu lớn: Châu Âu thời hiện đại Có thể thấy, sự đa dạng, phức tạp của loại hình nhân vật tiểu thuyết đã diễn tả được vũ điệu quay cuồng của những con người thời hiện đại đang tất bật, hoảng hốt đi tìm cái bản nguyên của mình Đọc tiểu thuyết Milan Kundera, thấy nhân vật trong tác phẩm của ông có sự cách tân rõ rệt Chính vì vậy, những tiêu chí phân loại nhân vật theo lí luận truyền thống đã tỏ ra không còn đủ sức bao quát những kiểu loại nhân vật trong tiểu thuyết của ông Sự phân định của chúng tôi về các loại nhân vật trong tiểu thuyết Milan Kundera chủ yếu dựa trên đặc điểm nổi bật về tâm lí, tính cách, số phận của các nhân vật Qua khảo sát ba tiểu thuyết của Kundera

(Sự bất tử, Chậm rãi, Bản nguyên), chúng tôi phát hiện ra một số kiểu nhân

vật tiêu biểu mà nhà văn thường xây dựng trong các sáng tác của mình, đó là: nhân vật tư tưởng; nhân vật lo âu, sợ hãi, hoài nghi; nhân vật tha hoá; nhân vật mang “âm bản” và nhân vật tự phân thân

2.2.1 Nhân vật tư tưởng

Nhân vật tư tưởng là “loại nhân vật tập trung thể hiện một tư tưởng, một ý thức tồn tại trong đời sống tinh thần xã hội” [10; 201]

Trang 28

Đọc tiểu thuyết Kundera, chúng ta sẽ bắt gặp tư tưởng triết học của ông thấm đẫm trong từng nhân vật Đây cũng là điều thường gặp ở các nhà tiểu thuyết lớn trong lịch sử văn học phương Tây Họ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ triết học Kant, Husserl, Freul và triết học hiện sinh Tuy nhiên, ở bất kì nghệ

sĩ vĩ đại nào, nhà sáng tạo luôn xuất hiện trước nhà lí luận Kundera cũng vậy Tác phẩm của ông là sự tổng hợp trí tuệ lớn Trong đó, chúng ta có thể nhận

ra những đúc kết, suy nghiệm mang tầm phổ quát, đặc biệt, là sự suy nghiệm của nhà văn về giá trị của nghệ thuật đối với con người

Tất cả tư tưởng triết học của Kundera được thể hiện tập trung qua hình

tượng nhân vật Rubens (Sự bất tử), người hoạ sĩ nổi tiếng của thế kỉ XVII

được khắc hoạ trong những câu chuyện tình triền miên Rubens đã trải qua nhiều cuộc phiêu lưu tình ái với nhiều người phụ nữ Anh chẳng thể nào nhớ được tên tuổi của họ Họ được gọi bằng những cái tên như: cô A, cô B, cô D,

cô E nhiều khi còn được gọi bằng biệt danh như: “cô tàn hương”, “cô dạy học”, “cô bác sĩ”, “cô Đàn Luthiste” Phụ nữ đối với Rubens là “bản thân cuộc sống” Mỗi cuộc tình với anh không chỉ dừng lại ở việc chung đụng xác thịt mà Rubens còn luôn khao khát khám phá cái đẹp tiềm ẩn của cuộc sống, tình yêu và bản thân phụ nữ Những người phụ nữ đi qua cuộc đời anh đã mang lại cho anh niềm vui, kinh nghiệm và cả những nỗi buồn, sự thất vọng Song tất cả những điều đó “không hề làm anh dao động niềm tin rằng tình yêu đứng cao hơn tất cả mọi khoái lạc xác thịt, đó là một tình yêu lớn lao, một giá trị cuộc sống không gì so sánh được mà anh đã nhiều lần nghe thấy, đọc thấy,

đã từng bao lâu mơ ước nhưng chưa một lần được biết đến Anh không nghi ngờ gì rằng: tình yêu là vòng hoa cho cuộc sống, do vậy phải giang vòng tay đón nhận nó và không được nhân nhượng một chút nào” [13; 382] Sau hàng loạt những cuộc tình chóng vánh, đặc biệt là sau cuộc hôn nhân tan vỡ với người vợ trẻ xinh đẹp, Rubens đã không thực hiện được khát khao, mơ ước đó

Trang 29

của mình “Trải qua tình cảm yêu đương được thổi phồng lên và sự tan vỡ không đớn đau, bi luỵ của nó, anh chóng vánh nhận ra một điều: anh đã vĩnh viễn ở ngoài giới hạn của tình yêu” [13; 388] Rubens cảm thấy một nỗi buồn nặng nề xâm chiếm lòng anh Anh đã để tuột mất những người phụ nữ dù đó

là những người anh thương yêu, thích thú hay thờ ơ Trong kí ức của Rubens, những người phụ nữ đã trải qua cuộc phiêu lưu tình ái với anh chỉ hiện lên qua những chi tiết vụn vặt, nhỏ nhặt, những hình ảnh mờ nhoè Rubens thầm ghen tị khi nghĩ về Casanova với trí nhớ phi thường của ông ta Khoảng một trăm ba mươi người phụ nữ đầy đủ họ tên, cử chỉ, lời nói, ông ta đều nhớ hết Sau khi từ bỏ hội hoạ, Rubens đã tự an ủi rằng sự hiểu biết về cuộc sống của anh có ý nghĩa lớn hơn cuộc tranh giành một địa vị vững chắc Nhưng cuối cùng, sau khi đã trải qua nhiều cuộc tình không đầu không cuối, Rubens hiểu rằng mình đã nhầm Anh nhận ra một điều: “Bất chấp mọi cuộc phiêu lưu tình

ái, sự hiểu biết của anh về con người vẫn y nguyên như hồi anh mới mười lăm tuổi Suốt cả thời gian qua anh cứ ôm ấp trong lòng niềm tin rằng sau lưng anh đã có một cuộc sống phong phú; nhưng mấy tiếng “cuộc sống phong phú” chỉ là một sự khẳng định trừu tượng, khi anh thử khám phá xem cái gì là cụ thể chứa đựng trong sự phong phú đó, thì anh chỉ cảm thấy một hoang mạc gió thổi” [13; 427] Chính sự hư vô của tình ái đã làm lụi tắt khát khao của Rubens về việc khám phá cuộc sống và con người Sau đó Rubens tiếp tục gặp gỡ những người phụ nữ khác song họ đối với anh không còn ý nghĩa gì nữa Cuối cùng anh quyết đinh tạm dừng các cuộc gặp gỡ đó Nhưng sự tạm dừng đó kéo dài hết tuần này sang tuần khác, hết tháng này sang tháng kia

Đọc Sự bất tử chúng ta sẽ thấy bên cạnh việc khắc hoạ hình tượng nhân vật

Rubens, Kundera đã lồng vào đó tư tưởng triết học sâu sắc về nghệ thuật của

mình Đan cài trong các câu chuyện tình của Rubens là hình ảnh “mặt số đồng hồ” “Mặt số đồng hồ” chính là thời gian của châu Âu, thời gian lịch sử, là

Trang 30

tiếng gọi của thời gian trong sáng tạo nghệ thuật của Rubens Những câu chuyện tình liên miên của người nghệ sĩ không hẳn là cuộc phiêu lưu tình ái

mà thực chất đó là hành trình chinh phục và khám phá trong thời gian dài, là cuộc kiếm tìm giá trị đích thực của cái đẹp để người nghệ sĩ trải nghiệm và

“lột xác”

Ở Sự bất tử, bên cạnh Rubens, các nhân vật lịch sử như: Goethe,

Rolland, Hemingway, Beethoven là những nhân vật thể hiện những góc nhìn khác nhau về nghệ thuật của Kundera Bên cạnh Rubens phóng túng là Goethe trong khuôn khổ, Rolland với chủ nghĩa tình cảm, Hemingway tự do, Beethoven nổi loạn

Trước tình yêu của Bettina và việc Bettina muốn gắn cuộc đời mình với Goethe để tìm kiếm sự bất tử, Goethe luôn thể hiện một sự e dè, giữ một khoảng cách chừng mực Khác với Goethe, Beethoven lại có tính cách nổi loạn Kundera đã đề cập đến một giai thoại thú vị về Goethe và Beethoven cho thấy hai tính cách trái chiều này Đó là vào năm 1982, Beethoven đến nghỉ tại Teplit và ông đã gặp Goethe lần đầu tiên Một hôm, hai người cùng nhau đi dạo thì bất ngờ phía trước hiện ra hoàng hậu Pháp Marie – Luise cùng gia đình và đoàn tuỳ tùng Beethoven và Goethe đã có phản ứng trái ngược nhau Goethe lánh sang vệ đường và ngả mũ chào còn Beethoven kéo sụp chiếc mũ của mình xuống tận trán, mặt mày cau có và tiếp tục rảo bước Kundera dã chỉ ra hai góc nhìn khác nhau về hai nhân vật lịch sử này – hai nhân vật đại diện cho hai lĩnh vực nghệ thuật khác nhau: “Trong khi Beethoven là người nổi loạn, người đi lên trước với chiếc mũ sụp trước trán

và chắp tay sau lưng thì Goethe là kẻ nô bộc, nhẫn nhục lánh sang vệ đường”

[13; 109] Còn Hemingway trong cuộc luận bàn với Goethe về sự bất tử đã thể hiện vẻ phóng khoáng, tự do trong con người mình : “Tôi hoàn toàn không chống lại việc để những cuốn sách của tôi trở thành bất tử Tôi đã viết

Trang 31

chúng theo cách không ai có thể bỏ đi một chữ nào trong đó Để chúng tồn tại trong bất kì hoàn cảnh nào Nhưng bản thân tôi, với tư cách là một con người, Ernest Hemingway, tôi muốn phỉ nhổ vào sự bất tử!” [13; 113]

Như vậy có thể nói, nhân vật trong tiểu thuyết của Kundera đã thể hiện

sự phong phú, đa dạng về tư tưởng của ông Tư tưởng của Kundera trong tiểu thuyết xuất phát từ quan niệm: “Không có cái gì có thể đưa ra suy luận mà lại

bị loại ra khỏi nghệ thuật tiểu thuyết” Kiểu nhân vật tư tưởng trong tiểu thuyết Milan Kundera được xây dựng trên tinh thần tổng hợp tư duy tối cao, thể hiện một tư duy triết học sâu sắc và mang tầm khái quát sâu rộng Nó không chỉ thể hiện được tư tưởng triết học riêng của Milan Kundera mà dường như đã thâu tóm được toàn bộ tư tưởng triết học nhân sinh qua nhiều thế kỉ Chính điều này đã làm cho các tác phẩm của Kundera thêm sức nặng

và để lại nhiều suy tư sâu sắc trong lòng người đọc

2.2.2 Nhân vật lo âu, sợ hãi, hoài nghi

Lo âu, sợ hãi, hoài nghi là trạng thái tinh thần tiêu cực của con người

Nó nảy sinh và biểu lộ mạnh mẽ khi con người không được cảm thông chia

sẻ, không tìm thấy tiếng nói chung trong cộng đồng khi con người cảm thấy lạc loài, lạc thời

Các triết gia hiện sinh phương Tây đã nhìn nhận trạng thái lo âu, sợ hãi, hoài nghi như một trạng thái tồn tại tất yếu của mỗi hữu thể người Triết học hiện sinh của Soren Kierkegaard và Martine Heideger quan niệm rằng cuộc đời này là phi lí, con người sinh ra đã mang sẵn hai đặc điểm là lo âu và thất vọng S Kierkegaard cho rằng: “Bản chất của sự sinh tồn chính là nỗi bất an,

nó đeo đẳng con người như là định mệnh không thể nào thoát được” Martine Heideger cũng có cái nhìn bi quan trước thân phận con người Ông quan niệm: “Con người chẳng qua chỉ là một tập hồ sơ, tên cũng không ra tên, trở thành bóng ma hư vô trong cuộc sống Nó tồn tại để chết đi, hơn nữa đó là

Trang 32

một hữu thể đang chết Cái chết đang treo lơ lửng trên đầu, giống như một cái

án treo cho bất cứ ai cho nên con người vừa sinh ra đã đủ tuổi già để chết” [16; 114] Cảm quan này về con người in dấu ấn đậm nét trong các sáng tác của Kafka - bậc thầy về nghệ thuật huyền thoại Con người trong sáng tác của Kafka là kiểu con người nhỏ bé, cô đơn, bất lực, con người hoàn toàn đơn độc, bị gạt sang bên lề xã hội Nhân vật ngay từ đầu đã biết trước kết cục bi đát của mình nhưng không đấu tranh, không lẩn trốn, chờ đợi kết cục ấy như

một điều tất yếu Nhân vật Giodep K trong Vụ án, Grego Xamxa trong Biến dạng, K trong Lâu đài là hình tượng về con người nhỏ bé, yếm thế, cô đơn

trước cuộc đời đầy bất công và phi lí Văn học càng về sau càng quan tâm đến

số phận con người với tư cách con người cá nhân, khám phá sâu sắc những chiều kích khác nhau trong tâm hồn con người Kundera là một trong số những nhà văn quan tâm đặc biệt tới trạng thái tâm lí lo âu, sợ hãi, hoài nghi của con người Song điều khác lạ, độc đáo trong những sáng tác của Kundera khi khai thác khía cạnh này là: con người không chỉ cảm thấy lo âu, hoài nghi trước cuộc sống đang quay cuồng mà còn luôn thường trực nỗi lo âu, sợ hãi, hoài nghi ngay cả sự hiện diện của chính mình, bởi bản nguyên của con người ngày càng che lấp và chìm vào quên lãng Nhức nhối và dai dẳng trong sáng tác của Kundera là vấn đề hiện sinh Điều đó lí giải tại sao nhân vật của ông mang nỗi lo lâu, sợ hãi, hoài nghi như một trạng thái tâm lí tự thân

Stantal – nhân vật chính trong tiểu thuyết Bản nguyên là hình ảnh về

một con người luôn mang trong mình nỗi lo âu, sợ hãi, hoài nghi Nàng bị cuốn vào trò chơi của người tình Jan Mark để tìm kiếm bản nguyên của mình Trong hành trình tìm kiếm ấy, nàng đã rơi vào một cơn ác mộng với nỗi lo âu,

sợ hãi và hoài nghi luôn đeo đẳng Trong tâm trí của Santal luôn thường trực nỗi lo âu về sự biến mất của con người Nàng không sao thoát khỏi ý nghĩ:

“Làm sao lại có thể xảy ra chuyện là trong cái thế giới này, nơi mỗi bước

Trang 33

chân của chúng ta đều bị theo dõi và ghi chép, nơi mọi người cứ liên hồi kì trận va đụng vào nhau, nơi trong các siêu thị luôn có các camera quay phim dõi theo chúng ta […] Trong một thế giới như vậy làm sao lại có thể xảy ra chuyện là một người thoát ra khỏi sự theo dõi và mất tích không dấu vết?” [13; 610 - 611] Santal hình dung đến một ngày nàng bị mất Jan Mark - người

tình của mình Khi đó, “nàng phải buộc sống trọn đời trong nỗi khiếp sợ

không ngừng” [13; 611] Toàn bộ ý nghĩa cuộc sống của Santal gắn bó với hiện tại Chính vì vậy, ngay cả trong giấc mơ nàng cũng đem theo cả sự lo âu,

sợ hãi về sự biến mất của cuộc sống ấy “Điều làm nàng bối rối nhất, nàng nghĩ, đây là sự biến mất hoàn toàn của thời hiện tại diễn ra trong mơ Nàng vốn gắn với hiện tại của mình mang đến mức có đem cho kho báu nào nàng

cũng không bao giờ đánh đổi nó lấy quá khứ hay tương lai” [14; 612] Hơn

lúc nào hết, Santal ước mong sống trong một thế giới thực, trong một cuộc sống có thể nhận diện được Một buổi sáng, Santal đi dạo trên bãi biển nàng nhận ra một sự thật: “Đúng, cánh đàn ông không bao giờ quay lại nhìn mình

nữa” [13; 620] Điều đó có nghĩa sự hiện diện của nàng không được nhìn

nhận, bản nguyên của nàng đã mất hay bị quên lãng bởi mọi người xung quanh Từ đây tâm trạng của nàng đi từ buồn sầu lo âu đến sợ hãi Jan Mark là người đã nhận thấy điều này và anh bắt đầu tạo một trò chơi để giúp người yêu tự nhận ra mình Những ngay sau đó Santal liên tục nhận được những bức thư do người lạ mặt gửi Lúc đầu nàng không mấy để ý đến nhưng càng về sau những bức thư càng trở thành nỗi ám ảnh đối với nàng Nó làm nàng thay đổi thói quen trang phục, làm cho nàng sôi nổi, trẻ trung và tự tin vào cuộc sống Santal luôn bị ám ảnh bởi sự hiện diện của người thứ ba trong cuộc sống của mình “Nàng đột nhiên cảm thấy trong phòng ngủ có một ai đó nữa, người ấy đang chăm chú nhìn họ làm tình […] Nàng vẫn tiếp tục thao thức với hình ảnh người cứ theo dõi nàng hết ngày này sang ngày khác” [13; 669 -

Trang 34

670] Santal từ chỗ lo âu, sợ hãi đã buộc lòng phải hoài nghi và đặt ra câu hỏi:

Ai là kẻ đã gửi thư cho mình? Sau mọi nỗ lực, nghi vấn, Santal đã phát hiện

kẻ dõi theo nàng bấy lâu, kẻ đứng đằng sau những lá thư chính là Jan Mark - người tình của mình Việc phát hiện ra sự thật này lại đẩy Santal đến một nỗi

sợ hãi khác Nàng cho rằng việc Jan Mark làm như vậy là “muốn dụ nàng vào tròng” để thoát khỏi nàng “Hãy đừng lẩn tránh sự thật: anh ta trẻ hơn nàng, còn nàng bắt đầu già Dù nàng có cố gắng che đậy những cơn đỏ mặt của mình đến mấy đi nữa, nàng đã già điều đó không trốn đâu được […] Nhưng chỉ cần anh ta biết chắc rằng nàng đang phản bội mình, rằng nàng có thể phản bội mình, lập tức anh ta sẽ vứt bỏ mình một cách nhẹ nhàng, lạnh lùng như đã vứt bỏ anh bạn cũ F ra khỏi cuộc đời mình Cái tính lạnh lùng của anh ta, ẩn dưới sự vui vẻ thái quá bao giờ cũng khiến nàng khiếp sợ Bây giờ thì nàng hiểu rõ nỗi sợ của mình quả là có tính tiên tri” [13; 688] Santal đã trải qua nỗi

lo âu, sợ hãi triền miên như lạc vào mê cung không lối thoát Khi đi London, rời xa Jan Mark sau khi phát hiện ra sự thật, Santal đã rơi vào tuyệt vọng và hoảng loạn Chính lúc này nàng nhận thấy bản nguyên của mình bị xoá sạch

Ở nơi xa lạ này, người ta không biết nàng là ai, ngay cả đến một cái tên:

“- Thế sao cô không ở lại đây với tôi, Anna? - đến lượt ông lão hỏi lại bằng giọng trách móc

- Anna? - Nàng lạnh cứng người vì sợ hãi - Sao ông gọi tôi là Anna?

- Đó chẳng phải là tên cô sao?

- Tôi không bao giờ là Anna cả

- Đối với tôi bao giờ cũng là Anna!” [13; 745]

Điều nhỏ nhoi mà Santal ước muốn lúc này là được gọi đúng tên của mình, ít nhất nàng cũng được định danh đúng là mình “Nàng cần phải bắt đầu

từ cái nhỏ nhất – đó là tên nàng Nàng muốn cái nhỏ nhoi nhất, thiết yếu nhất – làm sao cho con người đứng đối diện ngôi nhà gọi tên nàng lên, hô lên đúng

Trang 35

tên nàng Đó là điều đầu tiên nàng cầu xin anh ta” [13; 746] Santal đã trải qua cuộc hành trình tìm kiếm bản nguyên của mình – hành trình đầy sợ hãi, tuyệt vọng và đớn đau May thay đó chỉ là một cơn ác mộng, một giấc mơ Cuối tiểu thuyết, nhân vật nữ Santal nói với Jan Mark: “Em sợ chớp mắt kinh khủng […] Em sẽ để đèn sáng suốt đêm Để suốt đêm” [13; 749] Nhưng rồi chắc chắn nàng sẽ chợp mắt, không chỉ là buồn ngủ mà vì nàng lại muốn đi tìm mình trong những giấc mơ khác

Có thể nói tâm trạng lo âu, sợ hãi, hoài nghi của nhân vật Santal trong hành trình đi tìm bản nguyên của mình thực chất là một dấu hỏi lớn về bản sắc của con người trong thế giới hiện đại Thời đại càng ráo riết triệt diệt con người thì cuộc kiếm tìm bản nguyên càng trở thành một hành trình nhọc nhằn, quyết liệt

Bên cạnh Santal, nhân vật Agnes trong tiểu thuyết Sự bất tử cũng là sự

hiện diện của một con người luôn ám ảnh nỗi lo âu, sợ hãi và hoài nghi Agnes xuất hiện ngay từ phần một của cuốn tiểu thuyết với tựa đề “Khuôn mặt” Ở phần này, người đọc sẽ bắt gặp một Agnes loay hoay, hoảng sợ khi thấy mình chỉ là phiên bản của thế hệ trước và giống hệt mọi người xung quanh Cái mà Agnes kiếm tìm chính là “ khuôn mặt” của riêng mình Nàng

có suy nghĩ rằng: “Thiếu sự tin chắc rằng khuôn mặt của chúng ta thể hiện

“cái tôi” của chúng ta, thiếu cái ảo tưởng cơ bản, ảo tưởng ban đầu này, chúng

ta không thể sống được, hoặc chỉ ít không thể cảm nhận cuộc sống một cách nghiêm túc” [13; 20] Thế nhưng Agnes lại truy xét ra một điều rằng chính khuôn mặt cũng không phản ánh được tính cách tâm hồn, không phản ánh được cái tôi của mỗi người “Khuôn mặt chỉ là số hiệu của các phiên bản” [13; 19] Trong suy nghĩ của Agnes luôn có sự ám ảnh bởi không tìm thấy sự khác biệt nào giữa cá thể người đang sinh tồn Điều này thể hiện qua triết lí của nàng khi nói chuyện với chồng mình – Paul: “Nếu anh đặt cạnh nhau hai

Ngày đăng: 30/11/2015, 21:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w