Một trong những phương hướng đổi mới PPDH Sinh học ở trường phổ thông là nghiên cứu tổ chức quá trình DH theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ DH p
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Ths Nguyễn Thị Việt Nga Khoa Sinh - KTNN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã hướng dẫn và
động viên em rất nhiều trong quá trình làm khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Sinh - KTNN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường THPT Hoa Lư A - Tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thưc hiện khóa luận
Do kiến thức và kinh nghiệm của bản thân chưa nhiều, nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Hoàng Thị Thếp
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có sự giúp
đỡ của giáo viên hướng dẫn và tham khảo các tài liệu có liên quan
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của mình không trùng với kết quả
của tác giả khác
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Hoàng Thị Thếp
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng , khách thể nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp của đề tài 3
PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
Chương I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Lịch sử nghiên cứu DHDA 4
1.1.1 Trên thế giới 4
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 Cơ sở lí luận của dạy học dự án 7
1.2.1 Khái niệm DHDA 7
1.2.2 Bản chất của dạy học dự án 8
1.2.3 Các loại dự án học tập 11
1.2.4 Cấu trúc của quá trình DHDA 13
1.2.5 Vai trò của GV và HS trong DHDA 14
1.2.6 Một số kĩ năng cần hình thành cho HS trong DHDA 15
1.2.7 Lợi ích và hạn chế của DHDA 19
1.3 Thực trạng tổ chức dạy học dự án ở một số trường THPT 20
1.3.1 Mục đích điều tra 20
1.3.2 Phương pháp điều tra 21
1.3.3 Kết quả điều tra 21
Trang 5Chương II: TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN PHẦN 3:
“ SINH HỌC VI SINH VẬT” SINH HỌC 10 – BAN CƠ BẢN 24
2.1 Kiến thức và kĩ năng cần đạt được phần 3 “Sinh học vi sinh vật” 24
2.1.1 Kiến thức phần 3 “Sinh học vi sinh vật” Sinh học 10 ban cơ bản 24
2.1.2 Kĩ năng phần 3 “Sinh học vi sinh vật” Sinh học 10 ban cơ bản 24
2.2 Quy trình tổ chức dạy học dự án 25
2.2.1 Lí do tổ chức DHDA…… 25
2.2.2 Triển khai bài học thành dự án 25
2.2.3 Kế hoạch bài dạy của GV 25
2.2.4 Các bước thực hiện dự án …… 27
2.2.5 Các kế hoạch hỗ trợ…… 28
2 3 Tổ chức dạy học dự án bài 31 phần 3 “Sinh học vi sinh vật” 28
2.3.1 Trước khi thực hiện dự án 28
2.3.2 Trong khi tiến hành dự án……… 33
2.3.3 Sau khi tiến hành dự án…… .34
2.3.4 Giáo án…….……… 34
2.3.5 Sản phẩm của học sinh…….……… 38
Chương III : THAM VẤN CHUYÊN GIA 65
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
Tài liệu tham khảo 67
Trang 6Trước tình hình đó, nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho nền giáo dục là ngoài việc trang bị cho HS những kiến thức và kĩ năng cơ bản, cần phải tạo ra cho HS khả năng giải quyết vấn đề, khả năng tư duy và tự tìm ra những giải pháp mới để thích ứng với các yêu cầu của xã hội
PPDH truyền thống ở trường học, tuy đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng vẫn nặng về truyền thụ một chiều, GV giảng giải, minh họa, HS lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước nên không đáp ứng được yêu cầu đào tạo con
người trong thời kì công nghiệp hóa, toàn cầu hóa.“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều và rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học” Văn kiện Đại hội IX của Đảng
Cộng sản Việt Nam lại tiếp tục chỉ rõ phương hướng phát triển giáo dục và
đào tạo trong những năm tới: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung và phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lí giáo dục”
Mục đích của quá trình đổi mới PPDH là tích cực hóa hoạt động của
HS, tổ chức và hướng dẫn HS tự tìm hiểu, phát hiện, giải quyết vấn đề trên cơ
sở tự giác, tự do tranh luận, đề xuất giải pháp, được tạo mọi khả năng và điều kiện để tích cực, chủ động trong các hoạt động nhận thức GV đồng thời phải
là người tổ chức, người hướng dẫn, người thực hiện và là nhà nghiên cứu
Trang 7Một trong những phương hướng đổi mới PPDH Sinh học ở trường phổ thông là nghiên cứu tổ chức quá trình DH theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ DH phức hợp gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả trong đó kết quả là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được - hay nói cách khác đó là kiểu tổ chức DHDA Qua đó, ta thấy DHDA tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống; củng cố kiến thức và xây dựng các kỹ năng hợp tác, giao tiếp và học tập độc lập; chuẩn bị hành trang cho HS học tập suốt đời và đối mặt với các thử thách trong cuộc sống
Vì lí do trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tổ chức dạy học
dự án phần 3: Sinh học vi sinh vật – SH 10 cơ bản”
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học dự án
- Xác định nội dung kiến thức và kỹ năng cần đạt được trong phần 3 “Sinh học vi sinh vật” SH 10 ban cơ bản
- Điều tra thực tế về tổ chức dạy học dự án kiến thức phần 3 “Sinh học vi sinh vật” SH 10 ban cơ bản ở một số trường THPT
- Soạn thảo tiến trình dạy học dự án cho phần 3 “Sinh học vi sinh vật” lớp 10
ban cơ bản nhằm phát huy tính sáng tạo, tự lực, tích cực học tập, đồng thời phát triển các kỹ năng sống cho học sinh
Trang 84 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng: Nội dung kiến thức phần 3 “Sinh học vi sinh vật” lớp 10 cơ bản
- Khách thể nghiên cứu: HS lớp 10 tại một số trường THPT
5 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức dạy học dự án phần 3 Sinh học Vi sinh vật thành công, sẽ nâng cao chất lượng dạy học phần Vi sinh vật – chương trình SH10CB
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết
+ Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học, lý luận dạy học hiện đại, lý luận dạy hoc sinh học, tạp chí có liên quan làm cơ sở lý thuyết cho đề tài
+ Nghiên cứu nội dung trong phần 3 sinh học vi sinh vật trong chương trình Sinh học 10 để thiết kế bài dạy theo dự án
+ Nghiên cứu ứng dụng các kiến thức phần 3 sinh học vi sinh vật vào thực tế + Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc tích hợp công nghệ, sử dụng các phần mềm tin học hỗ trợ, nhằm phát huy tối đa hiệu quả của dạy học
- Quan sát và điều tra sư phạm
+ Khảo sát, dự giờ các tiết học môn Sinh học THPT
+ Trực tiếp trao đổi với GV và HS về phương pháp dạy học dự án
+ Sử dụng phiếu điều tra để đánh giá chất lượng dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật theo DHDA
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, xin ý kiến đóng góp bằng phiếu đánh giá của GV phổ thông về DHDA phần 3 Sinh học Vi sinh vật
7 Đóng góp của đề tài
Góp phần vào việc giảng dạy theo phương pháp dạy học mới, lấy người học
làm trung tâm, phát huy tối đa tính sáng tạo và chủ động của học sinh Lấy đó làm cơ sở cho việc giảng dạy toàn bộ kiến thức Sinh học 10 nói riêng và kiến thức Sinh học THPT nói chung
Trang 9PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử nghiên cứu DHDA
1.1.1 Trên thế giới
DHDA (hay còn gọi là DHTDA, DH tiếp cận dự án) không phải là một PPDH mới trên thế giới, việc đưa dự án vào trong chương trình DH không phải là một ý tưởng mới lạ mang tính cách mạng trong giáo dục, tuy nhiên trong gần một thập kỉ trở lại đây, việc triển khai dự án trong thực tế DH đã phát triển chính thức thành một chiến lược DH ở nước ta DHDA đã chiếm giữ vai trò là một PPDH nhiều ưu điểm vượt trội Theo các nhà nghiên cứu GD: HS sẽ có hứng thú hơn với việc học khi có cơ hội thâm nhập vào những vấn đề phức tạp, mang tính thách thức cao và đôi khi đầy rẫy những khó khăn nhưng rất sát với thực tế đời sống HS học tập theo dự án sẽ có nhiều cơ hội
đó
Ý đồ của GV tổ chức DH xung quanh một dự án kéo theo những ràng buộc bên trong của lớp học – hoạt động với tài liệu và sự hợp tác giữa các HS
đã xuất hiện từ đầu thế kỉ XIX Với nguồn gốc từ xu hướng tạo dựng, cho
rằng kiến thức không phải tuyệt đối mà được “tạo dựng” bởi người học dựa
trên những kiến thức sẵn có và thế giới quan của riêng họ, cách học dựa trên
dự án được xây dựng trên cơ sở các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tâm lí và các nhà giáo dục như Lev Vygotsky, Jerome – Bruner, Jean Piaget và John Dewey
Dewey (1859-1952) nhấn mạnh rằng thực tiễn quan trọng hơn lí thuyết Ông cho rằng HS có thể học cách tư duy thông qua hoạt động tư duy và tranh luận, và bằng cách giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế Quá trình
Trang 10này cho phép lớp học trở thành môi trường làm việc với HS là trung tâm thông qua mô hình học tập dựa trên dự án Tầm quan trọng của dự án là kinh nghiệm thu được trong quá trình thực hiện chứ không chỉ là kết quả cuối cùng
Năm 1918, nhà tâm lí học William H.Kilpatric (1871-1965) đã viết một bài báo với tiêu đề “Phương pháp dự án” gây một tiếng vang trong các cơ sở đào tạo giáo viên cũng như trong các trường học Ông và các nhà nghiên cứu của trường đại học Columbia đã đóng góp lớn để truyền bá phương pháp này qua các giờ học, các hội nghị và tác phẩm xuất bản năm 1925 Đối với Kilpatric, một dự án là một hoạt động có mục đích cụ thể, có cam kết với tất
cả những người thực hiện và diễn ra trong một môi trường XH Trong những giải thích mà họ đưa lại, quan trọng là tồn tại một mục đích
Celestin Fereinet (1896-1966) là người tiên phong ở châu Âu đối với DHDA Theo ông, lớp học trước hết là một nơi ở đó tất cả phải áp dụng các cách làm việc để nghiên cứu thông tin, trao đổi các ý kiến hoặc trả lời thu nhận được từ các lớp HS khác hoặc chuẩn bị các điều tra ngoài lớp học, phân tích các dữ kiện hoặc trình bày các bài báo tập hợp được… Trong môi trường như thế, sự hợp tác ở bên trong nhóm rất phong phú Khát vọng của Fereinet
là tạo nên một cá nhân có đầu óc phát triển tốt hơn là đầu óc được rót đầy kiến thức
Nhiều nhà sư phạm ở châu Âu cũng đã vận dụng “sư phạm bởi dự án”
Một nguyên tắc của PP này là niềm tin gần như không giới hạn vào quyền lực của giáo dục và khả năng phát triển của trẻ; sự cần thiết phải chịu trách nhiệm trước xã hội qua những công việc đảm nhận với những người khác; sự chịu trách nhiệm của cá nhân và tập thể ở bên trong nhóm trong đó mỗi người có một nét riêng Nhà sư phạm Macrenco (1888-1939)cho rằng cần đặt trẻ trước
Trang 11một chân trời mới không ngừng đòi hỏi nhưng không bao giờ là không đạt tới, giúp đỡ, hướng dẫn họ và làm cho họ tiếp cận với nó
Học tập thông qua dự án cũng tạo nên một chuyển động XH – giáo dục
từ đầu thế kỉ 20 ở Bắc Mĩ cũng như ở châu Âu nhằm tạo ra sự thay đổi mạnh
mẽ trong DH nhà trường Nền tảng của chuyển động này là đem lại ở mỗi HS
sự tiếp nhận hứng thú kiến thức, sự thay đổi PP làm việc của họ Trong trào lưu này người ta nhấn mạnh đến sự tham gia một cách có ý thức nhất, tích cực nhất về phía HS vào sự học tập của họ, vào việc thiết lập tri thức
Trong mô hình DHDA, việc sử dụng công nghệ thông tin là cách thức đáng tin cậy để tiếp nhận thông tin Đó là công cụ được sử dụng trong quá trình thu thập thông tin và giải quyết vấn đề Ở Canada cũng như ở Mĩ, khi tổ chức một dự án, máy tính nối mạng đã trở thành một phương tiện kích thích
HS, làm tăng sự hợp tác giữa họ và trên hết là đem lại lợi ích học tập ở nhà trường Mô hình học tập theo dự án được sửa đổi là WebQuest được Bernin Đoge và Tom March thuộc Đại học bang San Diego triển khai năm 1995 Một WebQuest là một hoạt động hướng tới yêu cầu mà trong đó một số hoặc tất cả thông tin mà các học viên tương tác đến từ nguồn trên Internet, được bổ sung một cách có chọn lọc bởi hội thảo hình ảnh WebQuest có thể ngắn hoặc dài,
có thể kéo dài từ một số tiết học cho đến một tháng hoặc lâu hơn nữa Các WebQuest thường hướng HS đến một hoặc nhiều câu trả lời cụ thể hoặc
“đúng” Phần lớn tập trung các kinh nghiệm thu được và thường được xây dựng xung quanh sự mong đợi về một câu trả lời đúng
1.1.2 Ở Việt Nam
Tại VN, khi bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập với cộng đồng thế giới trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt thì mục tiêu của
GD ở nước ta có nhiều đổi mới dẫn đến đòi hỏi phải có PPDH mới Từ năm
2003, DHDA được Bộ Giáo dục – Đào tạo kết hợp với tập đoàn Internet triển
Trang 12khai thí điểm tại 20 trường học thuộc 9 tỉnh thành trên cả nước trong chương
trình “Dạy học cho tương lai” Chương trình này nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục trong các lĩnh vực như toán học, khoa học và công nghệ, giúp HS, Sinh viên phát triển các kĩ năng tư duy ở cấp độ cao hơn Chương trình cũng hướng dẫn GV cách sử dụng Internet, thiết kế trang Web và triển khai các dự
án cho HS Mục tiêu đến năm 2009 sẽ có 30000 GV trên cả nước được tham gia chương trình này Ngoài ra tập đoàn Microsoft cũng rất quan tâm và ủng
hộ DHDA Họ đã triển khai chương trình PIL (Partners is learning) tập huấn cho các GV về một số PPDH thế kỉ 21 trong đó có PPDH dự án Và mới đây nhất, vào đầu năm 2009, để hỗ trợ các tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện tốt đổi mới PPDH theo hướng dạy và học tích cực, Dự án Việt – Bỉ đã triển khai nhiều hoạt động nhằm phát triển, nâng cao năng lực sư phạm, hình thành kĩ năng, kĩ xảo về dạy và học tích cực cho GV, và DHDA cũng được chú trọng
và giới thiệu chi tiết
1.2 Cơ sở lí luận của dạy học dự án
1.2.1 Khái niệm DHDA
Thuật ngữ “dự án” trong tiếng Anh là “project” có nghĩa là phác thảo,
dự thảo, thiết kế Khái niệm dự án ngày nay được hiểu như là một dự định, một kế hoạch trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện tài chính, điều kiện vật chất, nhân lực và cần đạt được mục tiêu đề ra
DHDA (Project Based – Learning) là một PPDH tích cực trong đó GV
hướng dẫn HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết và thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả
DHDA đặc biệt nhấn mạnh tới việc hướng dẫn HS thực hiện dự án học tập gắn liền với nội dung môn học Dự án học tập được thực hiện trong những điều kiện xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau
Trang 13Dự án học tập của HS thường được thực hiện theo các nhóm nhỏ HS trong lớp hoặc có khi cả một tập thể lớp Kết quả dự án là những sản phẩm có thể công bố, giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, sản phẩm thật hoặc chương trình hành động cụ thể
1.2.2 Bản chất của dạy học dự án
1.2.2.1 Mục tiêu của DHDA
- DHDA hướng tới phát triển các kĩ năng tư duy, nhận thức bậc cao như phân tích, tổng hợp, đánh giá, tư duy sáng tạo, tư duy tích cực, tinh thần học tập suốt đời
- DHDA hướng tới việc nâng cao kĩ năng chuyên môn và kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm
- DHDA hướng tới các vấn đề của thực tiễn nhằm gắn kết nội dung học với cuộc sống thực
- DHDA hướng tới phát triển kĩ năng làm việc và kĩ năng sống như kĩ năng lắng nghe và giao tiếp, trao đổi, tranh luận, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng làm việc tập thể, kĩ năng thu thập và xử lí thông tin, đưa ra và bảo vệ ý kiến
1.2.2.2 Quan điểm của DHDA
Quan điểm DH là những định hướng tổng thể cho các hoạt động DH, trong đó, có sự kết hợp giữa các nguyên tắc DH làm nền tảng, những cơ sở lí thuyết của lí luận DH, những điều kiện DH và tổ chức cũng như các định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình DH
Ba quan điểm của DHDA là:
- Quan điểm DH hướng vào người học: HS là trung tâm của quá trình
DH HS tự mình tìm ra kiến thức, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, tự kiểm tra đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhận thức
Trang 14- Quan điểm DH định hướng hành động: DH định hướng hành động
dựa trên lí thuyết hành động nhận thức, lí thuyết hoạt động Cơ sở của lí thuyết là trong quá trình nhận thức cần có sự kết hợp giữa tư duy và hành động, lí thuyết và thực tiễn Quan điểm DH này cũng dựa trên lí thuyết kiến tạo, thông qua hành động tự lực, HS tự lĩnh hội và kiến tạo tri thức Việc tổ chức quá trình DH được chi phối bởi những sản phẩm hành động đã được thỏa thuận giữa GV và HS
- Quan điểm DH tích hợp: Tích hợp (integration) có ý nghĩa là sự hợp
nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp Tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau là tính liên kết và tính toàn vẹn Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất
Như vậy, cũng như các PPDH tích cực khác, DH dự án thực chất là một quá trình:
- Biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục HS tự lực nghiên cứu, tự
tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, tức là cá nhân hóa việc học
- HS cộng tác với các HS khác trong nhóm, trong lớp làm cho kiến thức
mà cá nhân tự tìm ra mang tính XH, khách quan hơn, tức là XH hóa việc học
- GV là người hướng dẫn, tổ chức quá trình cá nhân hóa việc học và xã hội hóa việc học
1.2.2.3 Đặc điểm của DHDA
Đầu thế kỉ XX, khi xác lập cơ sở lí thuyết cho DHDA, các nhà sư phạm
Mĩ đã nêu ra ba đặc điểm cốt lõi: định hướng HS, định hướng thực tiễn, định hướng sản phẩm Có thể cụ thể hóa các đặc điểm của DHDA như sau:
Trang 15- Định hướng vào thực tiễn: DHDA tạo ra kinh nghiệm học tập, thu hút
HS vào những dự án học tập trong thế giới thực, gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống XH
- Định hướng người học: DHDA quan tâm đến hứng thú của HS do đó
phát huy được tính tự lực cao, thúc đẩy ham muốn học tập của HS, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng HS tham gia tích cực
và tự lực vào các giai đoạn của quá trình học
- Định hướng sản phẩm: Kết quả của dự án là những sản phẩm có thể
công bố, giới thiệu được Sản phẩm có thể là vật chất, hoặc phi vật chất, hoặc
là một bản thiết kế, hoặc chỉ có thể là một văn bản kế hoạch Tuy nhiên, sản phẩm dự án phải nghiêng về thực hiện một cái gì đó thực tế dựa trên các thông tin thu thập được chứ không phải chỉ đơn thuần là trình bày lại các thông tin thu thập được
- Mang tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều
lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp
- Cộng tác làm việc: Trong quá trình thực hiện dự án có sự cộng tác
làm việc giữa các thành viên trong nhóm, giữa HS với GV và có thể giữa HS với những người khác bên ngoài nhà trường có liên quan trong dự án Đặc
điểm này gọi là học tập mang tính XH
1.2.2.4 Phân biệt DHDA với các PPDH thông thường khác
- DHDA vượt ra ngoài khuôn khổ của giáo dục truyền thống và dạy học
truyền thống: Các hoạt động học tập được thiết kế một cách cẩn thận, mang
tính lâu dài, liên quan tới nhiều môn học, lấy HS làm trung tâm, tập trung vào vấn đề thực tế hàng ngày và dựa trên kinh nghiệm của người thực hiện HS được tham gia vào những hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm
vi lớp học
Trang 16- Kết thúc dự án phải có một sản phẩm cụ thể: Đây là một trong những
nét khác biệt rất cơ bản giữa DHDA với các PPDH thông thường khác Sản phẩm dự án không giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết mà tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành
- Công nghệ thông tin tham gia vào mọi quá trình học tập của HS và
quá trình dạy học của GV: HS không học các kĩ năng công nghệ thông tin
một cách riêng lẻ mà các kĩ năng công nghệ thông tin này được tích hợp trong quá trình học tập Như vậy, DHDA có thể xem như có tác dụng đổi mới PPDH đồng thời dạy HS các kĩ năng công nghệ thông tin một cách rất tự nhiên
- DHDA đặt trọng tâm đánh giá trên những hoạt động và kĩ năng mà
HS sẽ thu được khi thực hiện dự án: Đồng thời, việc đánh giá được thực hiện
trong suốt quá trình học tập chứ không chỉ đánh giá mỗi kết quả học tập của
HS
Trước đây, HS được đánh giá theo bài kiểm tra trên giấy, còn trong DHDA, chúng ta sẽ dùng rất nhiều công cụ đánh giá phối hợp kể cả quan sát
1.2.3 Các loại dự án học tập
Tùy theo các cơ sở phân loại mà ta có các loại dự án học tập sau:
- Phân loại theo chuyên môn:
+ Dự án trong môn học: Loại dự án chỉ giới hạn trong bộ phận một môn học cụ thể Ví dụ: dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học” chỉ gói gọn trong nội dung kiến thức của môn Sinh học
+ Dự án liên môn học: Khi thực hiện dự án HS phải kết hợp với kiến thức của một số môn học khác Ví dụ: thực hiện dự án “Nghiên cứu chế tạo máy phát điện vừa và nhỏ”, HS phải sử dụng kết hợp kiến thức môn Vật lí, Công nghệ, Toán học,… để hoàn thành sản phẩm
Trang 17+ Dự án ngoài môn học: dự án này không nằm trong nội dung các môn học trong nhà trường Ví dụ: dự án thiết kế một buổi trình diễn thời trang cho lứa tuổi học đường, xây dựng chương trình cho một buổi nói chuyện, gặp gỡ với các chuyên gia tư vấn…
- Phân loại theo quỹ thời gian:
+ Dự án nhỏ: thực hiện trong thời gian ngắn từ 2 đến 6 tiếng đồng hồ + Dự án trung bình: còn gọi là ngày dự án
+ Dự án lớn: còn gọi là tuần dự án lớn
- Phân loại theo hình thức tham gia:
+ Dự án cá nhân: Bản thân mỗi HS tiến hành làm dự án học tập cho riêng mình Thường thì những dự án như thế tương đối đơn giản và mất không nhiều thời gian
+ Dự án nhóm: Chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm thực hiện một
dự án học tập
+ Dự án toàn lớp: Cả lớp làm chung một dự án
+ Dự án toàn trường: Dự án được thực hiện trên qui mô lớn do toàn bộ các khối HS trong nhà trường thực hiện
- Phân loại theo nhiệm vụ:
+ Dự án tìm hiểu: Ví dụ: HS tiến hành một cuộc điều tra để tìm hiểu về
tỉ lệ HS bị cận thị trong nhà trường, dự án tìm hiểu về tình trạng ô nhiễm môi trường, dự án tìm hiểu về thực trạng an toàn giao thông ở Việt Nam hiện nay
+ Dự án nghiên cứu chế tạo: Ví dụ dự án nghiên cứu, chế tạo một máy phát điện, chế tạo một Rơle điện từ, chế tạo một kính thiên văn…
+ Dự án thực hành: Ví dụ dự án lắp ráp máy điện theo thiết kế có sẵn
và vận hành máy điện đó…
Trang 18+ Dự án hỗn hợp: Trong khi thực hiện dự án, HS phải tiến hành đồng thời nhiều hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu, thực hành.
Việc phân chia trên chỉ mang tính chất tương đối Trong nhà trường phổ thông hiện nay, GV thường cho các nhóm HS thực hiện các dự án tìm hiểu trong phạm vi môn học sau khi HS học xong một chương và tổ chức báo cáo sản phẩm dự án trong một buổi ngoại khóa
1.2.4 Cấu trúc của quá trình DHDA
Một dự án học tập mà HS thực hiện có thể được phân chia thành năm giai đoạn:
1) Quyết định chủ để
HS thảo luận, liệt kê những vấn đề thực tiễn từ nhiều nguồn thông tin khác nhau có liên quan đến nội dung bài học để lựa chọn dự án cho nhóm và xác định rõ mục đích của dự án
2) Xây dựng kế hoạch
HS làm việc theo nhóm lên kế hoạch thực hiện dự án, bao gồm: giải pháp thực hiện dự án; phương tiện cần thực hiện; địa điểm thực hiện; phương tiện cần thiết; dự trù kinh phí, dự kiến thời gian hoàn thành và kết quả cần đạt được; phân công lao động cụ thể giữa các thành viên trong nhóm
3) Thực hiện dự án
HS làm việc theo nhóm và cá nhân theo kế hoạch để tạo ra sản phẩm dự
án
4) Giới thiệu dự án
HS công bố giới thiệu dự án và sản phẩm dự án, thảo luận, tranh luận
về các vấn đề đã trình bày để làm rõ hơn vấn đề đã được nghiên cứu
5) Đánh giá dự án
GV cùng HS đánh giá quá trình học tập và kết quả học tập của HS
Trang 19Việc phân chia các giai đoạn nói trên chỉ mang tính tương đối Trong thực tế, các giai đoạn có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án, phù hợp cấu trúc, nhiệm vụ của các dự án khác nhau
1.2.5 Vai trò của GV và HS trong DHDA
1.2.5.1 Vai trò của GV
Trong lớp học truyền thống, GV nắm giữ mọi kiến thức rồi truyền tải đến
HS.Tuy nhiên, trong DHDA, vai trò của GV trên lớp học rất khác biệt, họ là
người tổ chức, hướng dẫn HS
- Bước lập kế hoạch: GV là người tổ chức, hướng dẫn HS:
Lựa chọn chủ đề theo sở thích
Xây dựng các vấn đề nghiên cứu cụ thể
Lập kế hoạch chi tiết về các nhiệm vụ học tập
Hoàn thiện kế hoạch dự án
- Bước thực hiện dự án: GV là người tổ chức, hướng dẫn HS:
Tìm thông tin có liên quan
Thiết kế phiếu khảo sát,câu hỏi phỏng vấn
Tổ chức khảo sát, phỏng vấn, làm thí nghiệm, quan sát
Làm việc với tinh thần hợp tác
Duy trì nhiệt huyết
Xác nhận mối liên hệ giữa các dữ liệu
Lựa chọn và phân tích dữ liệu
- Bước tổng hợp kết quả: GV là người tổ chức, hướng dẫn HS:
Tổng hợp thông tin
Viết báo cáo hoặc xây dựng kết quả dự án
Trang 20- HS tham gia một dự án có liên quan chặt chẽ với nội dung bài học
- HS tự lực triển khai dự án, quyết định cách tiếp cận vấn đề, tự hoạch định và tổ chức các hoạt động nhóm để giải quyết vấn đề
- HS thu thập và xử lí thông tin từ phần mà mình đảm nhận
- HS trình bày và bảo vệ sản phẩm có tích hợp công nghệ thông tin của mình
- HS tham gia vào việc tự đánh giá và đánh giá các HS khác
Như vậy, trong DHDA, HS với vai trò là trung tâm của quá trình DH
1.2.6 Một số kĩ năng cần hình thành cho HS trong DHDA
Trước khi thực hiện PP này, GV cần rèn cho HS những kĩ năng tối thiểu như kĩ năng thảo luận nhóm, làm việc độc lập, tìm đọc và chọn lọc tài liệu, kĩ năng đánh giá và tự đánh giá, kĩ năng trình bày…
1.2.6.1 Hướng dẫn HS tổ chức hoạt động trong nhóm DHDA
Đây là khâu rất quan trọng trong DHDA Hoạt động nhóm là một hình thức tổ chức DH, trong đó HS ở cùng một nhóm trao đổi ý kiến với nhau, hợp tác với nhau, giúp đỡ nhau trong học tập Cơ sở của DH theo nhóm xuất phát
từ những quan niệm mới về bản chất học tập nói chung và việc tổ chức học tập ở nhà trường hiện nay Nguyên tắc cốt lõi là sử dụng các mối quan hệ XH mang tính trực tiếp, đa chiều ở nhiều cấp độ ở các chủ thể để tổ chức DH
Mối quan hệ này thể hiện ở hai mặt:
Trang 21- Mặt nội dung nói lên tính chất của các quan hệ xã hội trong học đường, đó là tính hợp tác và tính cạnh tranh lành mạnh
- Mặt hình thức bao gồm tổng thể các mối quan hệ phong phú, đa đạng giữa các chủ thể trong học đường
DHDA đòi hỏi HS phải làm việc theo nhóm thì mới hoàn thành được nhiệm vụ học tập đã đề ra Làm việc theo nhóm thúc đẩy sự tham gia tích cực của các thành viên, tăng cường hiệu quả học tập, giúp cho sản phẩm có chất lượng hơn, ít thời gian hơn so với sản phẩm của một cá nhân HS, nhờ đó mà tăng cường trách nhiệm cá nhân và có thể áp dụng được nhiều năng lực khác nhau
Về cách chia nhóm:
Ngay từ khâu chia nhóm GV cũng nên để ý đến tính công bằng cho các nhóm Có nhiều cách chia nhóm khác nhau, mỗi cách có ưu và nhược điểm riêng Tùy theo điều kiện cụ thể mà GV áp dụng cách này hay cách khác cho phù hợp
Cách 1: Căn cứ vào vị trí chỗ ngồi trong lớp
Cách 2: Chia nhóm ngẫu nhiên theo danh sách lớp
Cách 3: Chia nhóm bạn thân
Cách 4: Chia nhóm thông qua điều tra về trình độ HS, tỉ lệ nam nữ, khả năng sử dụng công nghệ thông tin, đảm bảo trong mỗi nhóm HS có HS khá, giỏi, thành thạo vi tính và khai thác tốt thông tin trên mạng Internet
Về tổ chức thực hiện hoạt động nhóm:
Sau khi chia nhóm, GV yêu cầu mỗi nhóm tự bầu ra một nhóm trưởng có nhiệm vụ điều hành nhóm trong suốt quá trình làm việc và một thư ký để ghi chép lại những hoạt động và những ý kiến thống nhất của nhóm
Các bước tiến hành tổ chức học tập theo nhóm trên lớp có thể như sau: Bước 1: Làm việc chung cả lớp
Trang 22- GV nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Chia lớp thành các nhóm
- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn gợi ý cho mỗi nhóm các vấn đề cần lưu ý khi trả lời câu hỏi, hoàn thành bài tập
Bước 2: Làm việc theo nhóm
- Phân công trong nhóm (cử nhóm trưởng, thư kí, phân việc cho các thành viên trong nhóm)
- Từng cá nhân làm việc độc lập
- Thảo luận trong nhóm và cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ của nhóm
- Mỗi nhóm cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm (không nhất thiết phải là nhóm trưởng hay thư kí)
Bước 3: Làm việc chung cả lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Các nhóm nhận xét, đóng góp ý kiến và bổ sung cho nhau
- Thiết kế nhiệm vụ học tập nhóm
- Thiết kế nhóm học tập (bao gồm hình thành nhóm, các loại nhóm và cấu trúc nhóm, xác định qui mô nhóm)
- Thiết lập, duy trì, kiểm soát các mối quan hệ tương tác trong nhóm
- Tổ chức, hướng dẫn và quản lí, đánh giá hoạt động học theo nhóm
Tóm lại, tổ chức học nhóm đòi hỏi GV phải đầu tư thời gian, công sức Đứng sau các hoạt động của HS không có nghĩa là phó thác hoàn toàn cho HS mà
Trang 23ngược lại phải theo dõi sát sao, hướng dẫn và có biện pháp hỗ trợ kịp thời Nếu tổ chức hoạt động nhóm tốt, kết hợp với PP đánh giá công bằng, khách quan sẽ kích thích khả năng học tập của HS, ngược lại sẽ làm cho HS chán nản
1.2.6.2 Hướng dẫn HS lựa chọn chủ đề để thực hiện dự án
Đầu tiên, GV phải xác định:
- Dự án HS (hoặc GV) đưa ra phải có liên quan đến chương trình và phần kiến thức đang học
- HS thu được gì sau khi thực hiện dự án
- Nội dung dự án giúp ích được gì cho HS trong việc học
Sau đó, GV cần hướng dẫn HS lựa chọn dự án từ sách giáo khoa Cụ thể như sau:
- Tìm những nội dung mà có thể tích hợp các kiến thức và kĩ năng khác nhau
- Tìm những nội dung có tính thực tiễn, liên quan đến các vấn đề lớn mang tính XH cấp bách, thời sự như: vật liệu, năng lượng, ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật, công nghệ vào đời sống, lao động sản xuất…
- Xác lập được mối liên hệ giữa các tri thức và kĩ năng của các môn học
- Tự đặt ra những câu hỏi liên quan đến nội dung bài học, đến thực tiễn cuộc sống từ đó hình thành ý tưởng dự án
1.2.6.3 Hướng dẫn HS tạo bài trình chiếu, trang Web và ấn phẩm trong DHDA
Có nhiều chương trình giúp tạo trang web, ấn phẩm và bài trình chiếu trong DHDA Trong khuôn khổ luận văn tôi chỉ hướng dẫn HS tạo các sản phẩm này bằng chương trình Microsoft Powerpoint
Trang 241.2.6.4 Hướng dẫn HS đánh giá và tự đánh giá
Việc đánh giá và tự đánh giá của HS được thực hiện nhờ các bảng tiêu chí đánh giá và sổ theo dõi dự án Các bảng tiêu chí này được GV và HS cùng thảo luận và thống nhất
1.2.7 Lợi ích và hạn chế của DHDA
a Lợi ích
- Lợi ích về phía HS:
+ DHDA hình thành cho HS phương pháp làm việc khoa học Điều này tạo cơ sở vững chắc cho việc hình thành ở HS các phẩm chất và năng lực, kĩ năng và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học - yêu cầu bắt buộc đối với người tri thức thời đại kinh tế tri thức và XH
+ HS có cơ hội phát triển những kĩ năng phức hợp như tư duy bậc cao
(phân tích, tổng hợp, đánh giá), tự giải quyết vấn đề một cách đầy đủ, hợp tác
và giao tiếp
+ Nâng cao tính tự lực, phát triển khả năng sáng tạo và có trách nhiệm hơn trong học tập
+ Kiến thức mà HS thu được từ DHDA là tương đương hoặc nhiều hơn
so với các mô hình học tập khác do khi được tham gia vào dự án HS sẽ có trách nhiệm hơn
+ Đảm bảo tốt nhất yêu cầu cá biệt hóa DH, phù hợp với tốc độ, nhịp
độ học tập của từng HS Mỗi HS đặt ra và giải quyết các vấn đề trong khả năng của mình
- Lợi ích đối với GV:
+ Nâng cao tính chuyên nghiệp
+ Nâng cao sự hợp tác với đồng nghiệp, cơ hội xây dựng các mối quan
hệ với HS
Trang 25+ Tìm ra được mô hình cho phép tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn cho
- DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
- Để thực hiện được dự án HS phải có kiến thức về công nghệ thông tin
và biết khai thác thông tin từ mạng Internet
- GV và HS đã quen với PPDH truyền thống từ nhiều năm trước nên khi áp dụng DHDA, GV và HS sẽ gặp khá nhiều khó khắn
Trang 261.3.2 Phương pháp điều tra
Để đạt được mục đích nêu trên, chúng tôi đã sử dụng một số PP điều tra sau đây:
- Điều tra GV: trao đổi trực tiếp với GV, dùng phiếu điều tra và tham khảo giáo án của các GV
- Điều tra HS: trao đổi trực tiếp với HS
- Dự giờ một số tiết dạy
- Phân tích kết quả điều tra
1.3.3 Kết quả điều tra
Tháng 11 năm 2012 chúng tôi tiến hành điều tra ở một số trường THPT như trường Hoa –Lư A - Ninh Bình, trường Nguyễn Huệ - Yên Bái Qua tìm hiểu thực tế việc dạy và học phần ba sinh học vi sinh vật tại trường THPT Hoa Lư A chúng tôi rút ra một số kết luận sau đây:
1.3.3.1 Tình hình GV
- Các giờ học đều có kế hoạch dạy học theo PP đổi mới, thực hiện kế hoạch dạy học, tổ chức các hoạt động theo nhóm, cá nhân, HS hào hứng tham gia hoạt động học tập
- Một số GV thực hiện soạn giảng theo phương pháp học tích cực, tuy nhiên vai trò tổ chức, định hướng của GV thể hiện qua giáo án và trong giờ học chưa thực sự rõ ràng, ít có sự tương tác của GV và HS
- Việc tổ chức hoạt động đôi khi còn mang tính hình thức, chưa có kĩ năng hoạt động nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm chưa rõ ràng, chưa quan tâm đến tất cả HS trong nhóm, chưa động viên khích lệ HS, chưa tạo điều kiện cho những HS thụ động tham gia hoạt động
- Khi tổ chức tình huống học tập: chưa đưa ra được những định hướng phù hợp, chưa tạo điều kiện để HS tích cực tìm tòi, xây dựng kiến thức
Trang 27- Những câu hỏi mà GV đưa ra chỉ mang tính chất tái hiện các kiến thức đã học Các câu hỏi chưa kích thích được tính chủ động học tập của HS, chưa khai thác được những hiện tượng gần gũi với đời sống để tạo hứng thú học tập cho HS
- Đa số bài học ít sử dụng thí nghiệm và dụng cụ trực quan GV chưa phát huy được vai trò của đồ dùng DH vào việc phát triển nhận thức của HS
- Chưa có nhiều giờ dạy tích hợp công nghệ thông tin vào trong DH
- GV thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS qua kiểm tra miệng, mười lăm phút, một tiết Việc thực hiện thường thực hiện theo qui định của kế hoạch DH để lấy đủ số điểm qui định do đó chưa phát huy được vai trò của kiểm tra đánh giá đối với việc DH
- Đối với DHDA, các GV đều chưa biết đến Một số GV khi được hỏi,
còn nhầm tưởng “DHDA” là DH theo một dự án tài trợ của một tổ chức nào
đó
1.3.3.2 Tình hình HS
- HS ít có khả năng liên hệ những kiến thức sinh học đã được học với thực tế cuộc sống cũng như hạn chế trong việc vận dụng kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng xảy ra trên thực tế
- Kiến thức mà HS tiếp thu được do GV truyền thụ rất nhanh quên khi
Trang 281.3.3.3 Nguyên nhân của thực trạng trên
- Hầu hết GV đều đã được tập huấn về các PPDH tích cực, tuy nhiên
GV chưa nhận thức đầy đủ và toàn diện về đổi mới PPDH Một phần do tâm
lí ngại thay đổi của GV khi chuyển sang các PPDH mới
- HS chưa quen với lối học chủ động, tích cực
- Phần lớn HS không có máy tính và nối mạng Internet ở nhà Ở trường thì việc sử dụng máy tính và Internet còn hạn chế, không thuận tiện
- Việc kiểm tra, thi cử hiện nay chưa khuyến khích cách học thông minh, sáng tạo của HS
- Việc đánh giá giờ dạy của GV còn nhiều bất cập làm GV ngại thay đổi GV dạy theo tinh thần mới nhưng lại đánh giá GV theo kiểu cũ
1.3.3.4 Đề xuất biện pháp khắc phục khó khăn, hạn chế thực trạng trên
Để có thể khắc phục những hạn chế nói chung, theo tôi cần có những điều kiện cơ bản sau:
- Đảm bảo cơ sở vật chất và thiết bị DH Thiết bị DH cần được trang bị đầy đủ, giảm sĩ số HS trong mỗi lớp
- Đổi mới hoạt động của người GV về quan điểm sư phạm, quan hệ thầy trò, trách nhiệm của GV trong quá trình GD
- Đổi mới qui chế cho điểm, kiểm tra, đánh giá hiện nay cho phù hợp với mục tiêu DH mới Cần đánh giá cả quá trình học tập của HS chứ không chỉ riêng đánh giá kết quả học tập của HS Đồng thời cần phát huy vai trò tự đánh giá của HS và đánh giá bạn học
- Đổi mới đánh giá giờ dạy của GV
Trong đó đổi mới hoạt động của người GV là quan trọng nhất vì đó là hoạt động trực tiếp quyết định đến kết quả của quá trình DH
Trang 29Chương II: TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN PHẦN 3: “SINH HỌC VI
SINH VẬT” SINH HỌC 10 – BAN CƠ BẢN
2.1 Kiến thức và kĩ năng cần đạt được phần 3 “Sinh học vi sinh vật”
2.1.1 Kiến thức phần 3 “Sinh học vi sinh vật” Sinh học 10 ban cơ bản
- Nêu và khái quát được các kiểu dinh dưỡng của vi sinh vật thấy được tính đa dạng về dinh dưỡng của chúng
- Nêu tính đa dạng về kiểu chuyển hóa vật chất ở vi sinh vật, từ đó thấy được tính thích nghi cao của sinh vật trong điều kiện môi trường khác nhau
- Trình bày được sự sinh trưởng của vi sinh vật diễn ra rất nhanh chóng được đặc trưng bởi 2 chỉ số cơ bản M và g Từ đó chỉ ra được tính ứng dụng của nguyên tắc nuôi cấy liên tục trong công nghệ sinh học
- Nêu được sự sinh sản của vi khuẩn bằng các hình thức ngoại bào, bào tử đốt và nảy chồi
- Chỉ ra các tác nhân hóa học ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của vi sinh vật, ứng dụng của tác nhân này để kiểm soát sự sinh trưởng của vi sinh vật
- Trình bày được 3 loại cấu trúc cơ bản của virut: xoắn, khối và phagơ Hoạt động tan của virut Miễn dịch của cơ thể
- Lấy được ví dụ minh họa cho từng khái niệm, những ví dụ rất phong phú,
đa dạng xung quanh học sinh hay trong sản xuất và đời sống
2.1.2 Kĩ năng phần 3 “Sinh học vi sinh vật” Sinh học 10 ban cơ bản
- Kĩ năng quan sát, mô tả, tổng hợp, tu duy, so sánh
- Kĩ năng thực hành sinh học
- Kĩ năng vận dụng vào thực tiễn
- Kĩ năng hoạt động nhóm, làm việc cá nhân, biết thu thập, xử lý thông tin, lập bảng biểu, vẽ đồ thị, làm báo cáo nhỏ
Trang 302.2 Quy trình tổ chức dạy học dự án
2.2.1 Lí do tổ chức DHDA
- Nội dung phần 3 sinh học vi sinh vật có rất nhiều kiến thức ứng dụng trong thực tiễn, nếu sử dụng phương pháp truyền thống không kích thích được khả năng chủ động sáng tạo của HS nên chúng tôi đã lựa chọn hình thức DHDA
- DHDA làm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở HS Vì thế, muốn giúp HS hiểu sâu sắc kiến thức đã học và vận dụng thành thạo các kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống
2.2.2 Triển khai bài học thành dự án
Việc thiết kế dự án đòi hỏi phải có sự định hướng của GV để giúp HS hình dung ra kiểu dự án cho phép, các đề tài đề cập đến, thúc đẩy sự học tập
và tạo mối liên hệ sâu sắc của HS với kiến thức
Dựa trên bộ câu hỏi định hướng, GV sẽ gợi ý một số dự án có thể thực hiện, sau đó hướng dẫn HS lựa chọn hoặc giao cho từng nhóm HS thực hiện các dự
+ Công việc chính cần thực hiện (thực hiện giải pháp)
+ Địa điểm thực hiện dự án
+ Sản phẩm dự kiến của dự án
Trang 312.2.3 Kế hoạch bài dạy của GV
Tổng quan bài dạy
Ý tưởng dự án
Bộ câu hỏi định hướng
- Câu hỏi nội dung
- Câu hỏi mở rộng
Mục tiêu dự án
- Về kiến thức:
- Về kĩ năng: Góp phần hình thành cho HS những kĩ năng:
+ Thu thập và xử lí thông tin
+ Tìm kiếm thông tin trên mạng
+ Tư liệu in: SGK, tài liệu về sử dụng ppt, tài liệu hướng dẫn lập bản
đồ tư duy, một số dự án tham khảo
+ Hỗ trợ hình ảnh
Trang 32- Đánh giá của GV dành cho mỗi nhóm
Các đánh giá đều được thực hiện theo tiêu chí và hướng dẫn cho điểm đã soạn thảo và công bố trước Ngoài ra việc đánh giá còn được tiến hành trong suốt quá trình thực hiện dự án thông qua phỏng vấn, quan sát, sổ dự án
2.2.4 Các bước thực hiện DHDA
2.2.4.1 Trước khi thực hiện dự án
* Kiểm tra điều kiện vật chất, chuẩn bị mọi tư liệu cho GV, HS
* GV giới thiệu thời gian dự án, hạn định về thời gian cho mỗi giai đoạn tiến hành của HS
* Chia lớp thành … nhóm: Phát phiếu khảo sát, chia nhóm, cử nhóm trưởng, thư kí, đặt tên nhóm
* GV giới thiệu về DHDA, vai trò của GV và HS
* GV phát tài liệu dưới dạng giấy in hoặc chép các file và giới thiệu cho mỗi nhóm về: kế hoạch dự án, phiếu hướng dẫn nghiên cứu, thang điểm đánh giá bài trình diễn đa phương tiện trên powerpoint, mẫu phiếu đánh giá đồng đẳng,
sổ theo dõi dự án
* GV cung cấp cho HS các tài liệu hỗ trợ thêm (nếu có) và hướng dẫn cách tìm kiếm, xử lí các thông tin
Trang 332.2.4.2 Trong khi tiến hành dự án
* GV đặt vấn đề, gợi ý dự án cho HS
* Cung cấp kiến thức qua bài dạy trên lớp và tài liệu tham khảo
* GV định hướng và trợ giúp HS thực hiện những nhiệm vụ trong kế hoạch
2.2.4.3 Sau khi kết thúc dự án
* Các nhóm góp ý và chấm điểm cho nhau
* GV nhận xét, góp ý và chỉnh sửa (HS ghi chép để hoàn thiện kiến thức)
* GV cho điểm từng nhóm và tính điểm cho từng cá nhân theo tiêu chí (tuyên dương, khen thưởng nếu có)
* GV yêu cầu các nhóm về hoàn chỉnh lại sản phẩm trên (nếu có sai sót) và nộp lại cho GV để làm tài liệu tham khảo cho cả lớp và cho các khóa sau
* GV gợi ý cho HS triển khai các dự án mới
Trang 342.3 Tổ chức dạy học dự án bài 31 phần 3 “Sinh học vi sinh vật”
2.3.1 Trước khi thực hiện dự án
- Tìm hiểu kiến thức xuất phát của HS
+ Kiến thức ở bậc THCS:
Sinh học lớp8: Bài 65 Đại dịch AIDS- thảm họa của loài người
+ Kiến thức ở lớp 10:
* Cấu trúc các loại virut
* Sự nhân lên của virut trong tế bào chủ
- Phác thảo ý tưởng dự án :
+ Tên của dự án: Virut gây bệnh Ứng dụng của virut trong thực tiễn
+ Mục tiêu của dự án: Kiến thức, kĩ năng, thái độ
+ Điều kiện thực hiện dự án: Đầy đủ vật chất cho dự án (địa điểm, phòng học, máy tính có mạng internet , máy chiếu, …)
+ Giải pháp thực hiện dự án:
* Đóng vai Nhà sinh vật học
* Đóng vai Nhà khoa học
* Đóng vai là bác sĩ
+ Công việc chính cần thực hiện (thực hiện giải pháp)
* Nêu được tác hại gây bệnh của virut trên các vật chủ
* Cơ sở khoa học của việc ứng dụng virut trong thực tiễn
* Tìm hiểu một số dịch bệnh nguy hiểm cho người và động vật do virut gây ra và xây dựng các biện pháp phòng chống
+ Địa điểm thực hiện dự án: Lớp học, phòng máy, thư viện
+ Sản phẩm dự kiến của dự án: Bài word hoặc powerpoint với nội dung:
* Nêu được tác hại gây bệnh và con đường lây truyền của virut qua các vật chủ
Trang 35* Nêu được ứng dụng của virut trong: Bảo vệ đời sống con người và môi trường, bảo vệ thực vật và sản xuất dược phẩm
* Biện pháp phòng tránh một số bệnh dịch nguy hiểm ở người
- Liên hệ nhà trường, GV chủ nhiệm, GV dạy tin học, phòng máy để việc thực hiện dự án được thuận lợi
- Chia nhóm và thiết lập hoạt động nhóm: Tiến hành chia HS thành 3 nhóm:
+ Nhóm 1(12 HS): Đóng vai Nhà sinh vật học có nhiệm vụ nghiên cứu tác hại của virut trên các vật chủ
+ Nhóm 2 (12 HS): Đóng vai Nhà khoa học có nhiệm vụ tìm hiểu cơ sở khoa học của việc ứng dụng virut trong thực tiễn
+ Nhóm 3(13 HS): Đóng vai là bác sĩ có nhiệm vụ tìm hiểu một số dịch bệnh nguy hiểm cho người và động vật do virut gây ra và xây dựng các biện pháp phòng chống
- Hướng dẫn HS cách làm việc theo nhóm: HS đặt tên gọi cho nhóm của mình, phân công nhóm trưởng, thư kí, kết hợp giữa làm việc cá nhân, làm việc nhóm và giữa các nhóm với nhau
- Hỗ trợ các kĩ năng công nghệ thông tin cần thiết cho HS : Kĩ năng làm Microsoft Office PowerPoint, Microsoft Office Word
- Viết kế hoạch bài dạy
- GV soạn thảo công cụ đánh giá: Tôi sử dụng các phương pháp đánh giá:
+ HS đánh giá quá trình và kết quả thực hiện dự án của các thành viên trong nhóm (kể cả bản thân) (Đánh giá đồng đẳng)
+ GV đánh giá quá trình thực hiện và sản phẩm của các nhóm
Trang 36
Sau đây tôi xin giới thiệu bản tiêu chí và các mẫu đánh giá dự án:
Bảng 1: Đánh giá đồng đẳng – dành cho các thành viên trong nhóm thực hiện (Phát cho học sinh)
PHIẾU ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
Họ và tên người đánh giá:
1 = Không tốt bằng các thành viên khác trong nhóm
0 = Không giúp ích gì cho nhóm
Tổng điểm đối với mỗi thành viên nằm trong khoảng 0 – 18
Tham gia tổ chức quản lí nhóm
Đưa ta
ý kiến
có giá trị
Đóng góp trong việc hoàn thành sản phẩm
Hiệu quả công việc
Tổng