Một sự việc xảy ra, ñể biết ñược nó có phải là một vụ án mang tính chất hình sự hay không, thì trước hết phải trãi qua những hoạt ñộng tiếp nhận; kiểm tra, xác minh tố giác của công dân
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
LỚP: LUẬT TƯ PHÁP – K30
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang
LỜI NÓI ðẦU 0
1 Lý do chọn ñề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của luận văn 2
CHƯƠNG1: NHỮNG VẤN ðỀ CHUNG VỀ KHỞI TỐVỤ ÁN HÌNH SỰ 3
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 3
1.1.1 Tố tụng hình sự 3
1.1.2 Giai ñoạn tố tụng 3
1.1.3 Hoạt ñộng giải quyết vụ án hình sự 5
1.2 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUY ðỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 5
1.3 NHỮNG VẤN ðỀ CHUNG VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 10
1.3.1 Khái niệm về khởi tố vụ án hình sự 10
1.3.2 ðặc ñiểm của giai ñoạn khởi tố vụ án hình sự 11
1.3.2.1 Chủ thể tiến hành các hoạt ñộng trong giai ñoạn khởi tố vụ án hình sự 11
1.3.2.3 Văn bản tố tụng ñặc trưng 13
1.3.3 Nhiệm vụ và ý nghĩa của giai ñoạn khởi tố vụ án hình sự 14
1.4 MỘT SỐ QUAN ðIỂM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ 15
1.4.1 Những quốc gia theo truyền thống Luật Án lệ “Ăng-lô-xắc-xông 15
1.4.2.Các quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu âu lục ñịa 16
CHƯƠNG 2: QUY ðỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG 18
2.1 CĂN CỨ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ CĂN CỨ KHÔNG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 18
2.1.1 Căn cứ khởi tố vụ án hình sự 18
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1.1.2 Tin báo của cơ quan, tổ chức 24
2.1.1.3 Tin báo trên các phương tiện thông tin ựại chúng 25
2.1.1.4 Cơ quan ựiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ ựội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân ựội nhân dân ựược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt ựộng ựiều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm 28
2.1.1.5 Người phạm tội tự thú 29
2.1.2 Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự 33
2.1.2.1 Không có sự việc phạm tội 34
2.1.2.2 Hành vi không cấu thành tội phạm 35
2.1.2.3 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa ựến tuổi chịu trách nhiệm hình sự 38
2.1.2.4 Người mà hành vi phạm tội của họ ựã có bản án hoặc quyết ựịnh ựình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật 40
2.1.2.5 đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự 40
2.1.2.6 Tội phạm ựã ựược ựại xá 41
2.1.2.7 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội ựã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm ựối với người khác 43
2.2 KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 45
2.2.1 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình 45
2.2.1.1 Cơ quan ựiều tra 45
2.2.1.1.1 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan ựiều tra trong Công an nhân dân 45
2.2.1.1.2 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan ựiều tra trong Quân dội nhân dân 46
2.2.1.1.3 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan ựiều tra của Viện kiểm sát 47
2.2.1.2 Viện kiểm sát 48
2.2.1.3 Hội ựồng xét xử 49
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
khác thuộc Công an nhân dân và Quân ñội nhân dân 52
2.2.2.1 Thời hạn giải quyết việc khởi tố 54
2.2.2.2 Trình tự khởi tố vụ án hình sự 55
2.2.2.2.1 Tiếp nhận các nguồn tin về tội phạm 55
2.2.2.2.2 Kiểm tra, xác minh tin báo về tội phạm 58
2.2.2.2.3 Quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự và quyết ñịnh không khởi tố vụ án hình sự 66
2.2.2.3 Thủ tục giải quyết việc khởi tố 67
2.2.3 Thay ñổi hoặc bổ sung quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự 68
2.3 KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 72
CHƯƠNG 3: THỰC TIẾN GIẢI QUYẾT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 74
3.1 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG GIAI ðOẠN KHỞI TỐ74 3.1.1 Một số vấn ñề liên quan ñến việc áp dụng pháp luật về khởi tố vụ án của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố 74
3.1.2 Một số vấn ñề liên quan ñến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong khởi tố vụ án hình sự 79
3.1.3 Một số vấn ñề liên quan ñến tố giác, tin báo về tội phạm, và kiến nghị khởi tố 81
3.1.3.1 Từ phía người tố giác; cơ quan, tổ chức có tin báo về tội phạm 81
3.1.3.2 Từ phía cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 82
3.1.4 Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong việc khởi tố vụ án hình sự 84
3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 90
3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật 90
3.2.2 Kiến nghị về tổ chức 91
2.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ KHÁC 92
KẾT LUẬN 94
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI NÓI ðẦU
vi diễn ra ñều có mở ñầu và kết thúc Một sự việc xảy ra, ñể biết ñược nó có phải là một
vụ án mang tính chất hình sự hay không, thì trước hết phải trãi qua những hoạt ñộng tiếp nhận; kiểm tra, xác minh tố giác của công dân hay tin báo về tội phạm của cơ quan, tổ chức của các chủ thể ñược luật trao cho quyền tiếp nhận, kiểm tra, xác minh sự việc có dấu hiệu tội phạm Có thể thấy những hoạt ñộng ban ñầu này có tầm quan trọng quyết
ñịnh ñến diễn biến của sự việc tiếp sau Trên ñây là những lý giải một cách khái quát về
những hoạt ñộng khởi tố vụ án hình sự Nội dung cũng như sự quan trọng của giai ñoạn khởi tố là lý do mà tôi chọn làm ñề tài luận văn của mình, tôi muốn tìm hiểu và phân tích sâu sát những quy ñịnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự (giai ñoạn ñầu tiên của quá trình giải quyết vụ án hình sự) Một câu hỏi ñược ñặt ra là tại sao không chọn một trong các giai ñoạn khác như: ñiều tra, truy tố, xét xử… mà lại chọn giai ñoạn khởi tố, như tôi ñã nêu một sự việc, một hoạt ñộng, hay một hành vi … nào ñó ñều có ñiểm mở
ñầu Chính vì lý do ñó nên tôi chọn giải quyết và phân tích giai ñoạn khởi tố vụ án hình
sự, ñể có một sự khởi ñầu tốt, chính xác, góp phần giải quyết vụ án hình sự một cách nhanh chóng và kịp thời Từ lý do trên, tôi muốn tạo ra một nền tảng căn bản về cơ sở lý luận, một phần thực tiễn phục vụ công việc của mình sau này
2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của ñề tài: “Khởi tố vụ án hình sự” là rất rộng, vì vậy tôi chỉ tập trung nghiên cứu những vấn ñề ñược quy ñịnh trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, và ở phần Chương hai của bài viết tôi xin trình bày song song những quy
ñịnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự, nêu lên thực trạng áp dụng những quy ñịnh ñó
và giải quyết vấn ñề một cách trực tiếp Cuối cùng tại Chương ba, tôi một lần nữa trình bài khái quát những vấn ñề ñã ñề cập ở Chương hai và nhấn mạnh nhưng vấn ñề trọng tâm, nhằm giúp người ñọc có thể nhắm bắt vấn ñề một cách ngắn gọn và hiểu quả
3 Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu ñề tài không nhằm mục ñích cải cách hệ thống tư pháp Mà qua ñó, tôi muốn nghiên cứu sâu sát những quy ñịnh của pháp luật về khởi tố vụ án hình sự Từ ñó ñề xuất ý kiến của cá nhân về những bất cập của luật nhằm gợi mở hướng ñến hoàn thiện vấn ñề trong phạm vi mà tôi nghiên cứu
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu ñược sử dụng trong luận văn này bao gồm: Phương pháp phân tích luật viết, liệt kê, thu thập tài liệu, so sánh, thống kê và xử lý tài liệu
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài mục lục, lời nói ñầu, tài liệu tham khảo, nội dung chính gồm có
3 chương:
Chương 1: Những vấn ñề chung về khởi tố vụ án hình sự
Chương 2: Quy ñịnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự và thực trạng áp dụng Chương 3: Thực tiễn giải quyết và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về
khởi tố vụ án hình sự
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ðỀ CHUNG VỀ KHỞI TỐ
1.1.2 Giai ñoạn tố tụng
Giai ñoạn là khoảng thời gian xác ñịnh ñiểm ñầu và ñiểm kết thúc của một vấn ñề Giai ñoạn tố tụng là khoảng thời gian tính từ khi bắt ñầu ñến khi kết thúc một nhiệm vụ tố tụng
Quá trình giải quyết vụ án hình sự gồm rất nhiều hoạt ñộng khác nhau, có quan
hệ chặt chẽ với nhau ðể xây dựng và hoàn thiện các quy phạm pháp luật cũng như áp dụng ñúng ñắn pháp luật vào thực tiễn thì cần thiết phải chia quá trình tố tụng hình sự thành các giai ñoạn khác nhau Các giai ñọan tố tụng hình sự là những bước ñi của quá trình tố tụng hình sự do các chủ thể ñặc trưng nhất ñịnh tiến hành ñể thực hiện những nhiệm vụ cụ thể ðể phân chia các hoạt ñộng tố tụng hình sự thành các giai ñoạn khác nhau, người ta căn cứ vào quy ñịnh của Bộ luật tố tụng hình sự, nhiệm vụ, mục tiêu của nhóm các hoạt ñộng tố tụng hình sự, phạm vi chủ thể tiến hành các hoạt ñộng ñó Các giai ñoạn tố tụng diễn ra liên tục kế tiếp nhau, có mối quan hệ nội tại khắng khít với nhau tạo thành một thể thống nhất gọi là quá trình tố tụng
Quá trình tố tụng hình sự bao gồm các giai ñoạn sau: Khởi tố, ñiều tra, truy tố, xét xử, thi hành bản án, quyết ñịnh của Tòa án ñã có hiệu lực pháp luật và thủ tục giám
ñốc thẩm và tái thẩm
(1) Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng – NXB Giáo dục năm 1996, tr.374
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
SƠ ðỒ QUÁ TRÌNH TỐ TỤNG
Tuy nhiên một vụ án hình sự ñôi khi không ñược diễn ra theo một trình tự ñầy ñủ các giai ñoạn của quá trình tố tụng Nhưng giai ñoạn khởi tố là giai ñoạn phải có ñể bắt
ñầu một quá trình tố tụng Các giai ñoạn trước là cơ sở cho giai ñoạn sau, ñồng thời
giai ñoạn sau kiểm tra lại hoạt ñộng của giai ñoạn trước Kết thúc mỗi giai ñoạn ñều
ñược thể hiện bằng một văn bản tố tụng hình sự và tất cả các giai ñoạn ñều phải tiến
hành theo những quy ñịnh của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành
ðiều tra VAHS
Truy tố
Xét xử sơ thẩm VAHS
Bản án, quyết ñịnh của Tòa án
bị kháng cáo , kháng nghị
Bản án, quyết ñịnh của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị
Khởi tố VAHS
Xét xử phúc thẩm VAHS
Thi hành án bản án, quyết ñịnh
ñã có hiệu lực pháp luật
(Nếu phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết mới trong bản án, quyết ñịnh
ñã có hiệu lực pháp luật nhưng
bị kháng nghị)
Giám ñốc thẩm, tái thẩm VAHS
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.1.3 Hoạt ñộng giải quyết vụ án hình sự
Hoạt ñộng giải quyết vụ án hình sự có thể ñược hiểu là tổng thể các hành vi pháp
lý do những chủ thể có trách nhiệm thực hiện trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự ñối với người phạm tội
Hiểu theo nghĩa hẹp, ñó là quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ của mình ñể truy cứu trách nhiệm hình sự ñối với người phạm tội Quá trình này gồm nhiều hoạt ñộng phức tạp, gồm nhiều nhóm hành
vi khác nhau, từ xác minh sự kiện có dấu hiệu tội phạm, ñến thu thập, kiểm tra, ñánh giá, củng cố chứng cứ, chứng minh tội phạm và người phạm tội, áp dụng pháp luật ñể truy cứu trách nhiệm hình sự ñúng người, ñúng tội Quá trình này bao gồm cả việc minh oan ðể giải quyết các vụ án hình sự, pháp luật quy ñịnh rất nhiều chủ thể có thẩm quyền Tương ứng với mỗi giai ñoạn, mỗi nhóm hành vi, có nhóm chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt ñộng giải quyết vụ án theo ñúng thẩm quyền và ñúng trình tự, thủ tục Các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát và Tòa án; những người tiến hành tố tụng gồm: ðiều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký phiên tòa Các chủ thể trên sẽ thực hiện các hành vi trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn theo quy ñịnh của pháp luật tố tụng hình sự ñể cùng giải quyết vụ án, làm rõ sự thật vụ án và truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội Hiểu theo nghĩa rộng, hoạt ñộng giải quyết vụ án hình sự sẽ có sự góp mặt của những người tham gia tố tụng, cụ thể như: người bị bắt, người bị tạm giữ, bi can, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên ñơn dân sự, bị ñơn dân sự, người ñại diện hợp pháp của ñương sự, người làm chứng, người bảo vệ quyền lợi của ñương sự, người phiên dịch, người giám ñịnh,…những người này có nghĩa vụ và trách nhiệm tương ứng với tư cách tham gia của họ trọng việc giúp cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra
sự thật vụ án, giải quyết vụ án Tuy tham gia vào quá trình tố tụng với những vị trí, tư cách và vai trò khác nhau nhưng sự tham gia của mỗi chủ thể ñều luôn có ảnh hưởng nhất ñịnh ñến kết quả giải quyết vụ án
1.2 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUY ðỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Nhìn lại lịch sử lập pháp nước nhà có thể nhận thấy những quy ñịnh pháp luật
về khởi tố vụ án hình sự trong thủ tục tố tụng nói chung ít nhiều ñã xuất hiện từ rất sớm và thực tế ngay từ thời kỳ ñầu của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Ngay từ tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ñã ban hành Sắc lệnh ngày 10 tháng 10 năm 1945 về việc giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung,
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nam bộ cho ựến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn quốc Trong Sắc lệnh ngày 10 tháng 10 năm 1945 có quy ựịnh rõ, tại Chương thứ V: Tố tụng thủ tục
ỘTrước các Tòa án ở Nam bộ và thành phố Hà Nội, Hải Phòng và đà Nẵng sẽ
áp dụng thủ tục ấn ựịnh trong nghị ựịnh ngày 16 tháng 3 năm 1910 của nguyên Toàn quyền đông Dương và những nghị ựịnh sửa ựổi nghị ựịnh ấy Bộ luật Dân sự tố tụng thủ tục Pháp không thi hành nữaỢ đây là tiền ựề cho việc ban hành hàng loạt các văn
bản quy phạm pháp luật quy ựịnh về thủ tục giải quyết vụ án hình sự sau này
* Giai ựoạn từ năm 1945 ựến trước năm 1954
Trong giai ựoạn từ năm 1945 ựến trước năm 1954, bên cạnh việc ban hành Sắc lệnh ngày 10 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Chắnh phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành một số sắc lệnh quy ựịnh hình thức xử phạt ựối với một số hành vi (hành vi phạm tội), như có Sắc lệnh số 6-SL ngày 15/1/1946, quy ựịnh rõ những người can tội ăn trộm, ăn cắp, tự ý phá hủy, cắt dây ựiện thoại và ựây ựiện tắn sẽ bị truy tố trước các Tòa án tỉnh (điều 1 Sắc lệnh số 6-SL) Sắc lệnh số 42-SL ngày 3/4/1946, về việc ấn ựịnh thủ tục truy tố các khinh tội hay trọng tội khi phạm nhân là Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban hành chắnh Kỳ hay tỉnh và đại biểu Quốc hội, có nội
dung: ỘNếu cơ quan hành chắnh hay tư pháp nào khác nhận ựược ựơn kiện hay cáo
giác thì phải gửi thẳng ựơn ấy lên Chủ tịch Chắnh phủ Việt Nam, Bộ trưởng Bộ nội vụ,
Bộ trưởng Bộ tư pháp hay Ban thường trực Quốc hội tùy trường hợpỢ (điều 2 Sắc
lệnh số 42-SL), ỘChủ tịch Chắnh phủ Việt nam, Bộ trưởng Bộ nội vụ và Bộ tư pháp và
Ban thường trực Quốc hội có thể giao cho ông Chưởng lý tòa Thượng thẩm hay một Thẩm phán cao cấp trong Công tố viện ựi ựiều tra trước rồi sẽ ựịnh ựoạt có nên hay không nên truy tố trước tòa án.Ợ (điều 3 Sắc lệnh số 42-SL)
Sắc lệnh số 190-SL ngày 1/10/1046 của Chủ tịch Chắnh phủ Việt Nam dân chủ
cộng hòa, về thẩm quyền truy tố của Tòa án, quy ựịnh: ỘTòa án có quyền truy tố một
việc tiểu hình hoặc ựại hình là Tòa án tỉnh tại nơi ựã xảy ra trọng tội hoặc khinh tội hoặc Tòa án tại nơi cư trú của người can phạm hoặc Tòa án tại nơi mà người can phạm ấy bị bắtỢ (điều 1 Sắc lệnh số 190-SL)
Trên ựây là một số Sắc lệnh ựiển hình trong giai ựoạn ựất nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra ựời Mặc dù ựứng trước những khó khăn và thách thức cần phải vượt qua, nhưng những vấn ựề về thủ tục tố tụng nói chung không bị bỏ qua mà vẫn ựược quan tâm trong giới hạn nhất ựịnh Tuy nhiên, có thể nhận thấy trong giai ựoạn này thủ tục tố tụng về lĩnh vực hình sự chưa ựược quy ựịnh một cách có hệ thống và chặt chẽ, những quy ựịnh nằm rãi rác ở nhiều văn bản, chỉ quy ựịnh về một số vấn ựề cụ thể và trong giai ựoạn này chưa xuất hiện giải pháp một cách hệ thống về việc giải quyết các
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
vụ phạm tội, ñặc biệt chưa ñề cập ñến thủ tục khởi tố vụ án là giai ñoạn mở ñầu cho một quá trình giải quyết vụ án mang tính chất hình sự
* Giai ñoạn từ năm 1954 ñến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Trong giai ñoạn từ năm 1954 ñến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 các cơ quan chức năng ñã ban hành nhiều văn bản luật, dưới luật quy ñịnh về trình tự
tố tụng hình sự ðiển hình là các văn bản: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960; Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960; Thông tư liên tịch 427/TT-LB ngày 28/6/1963 của
Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc quy ñịnh tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ công tác giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an; Thông tư
số 139-TTg ngày 28/5/1974 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn về thủ tục ñiều tra, truy tố, xét xử các vụ án phạm pháp quả tang; Chỉ thị số 954-CP ngày 17/8/1974 của
Bộ công an hướng dẫn về việc áp dụng thủ tục rút ngắn ñối với vụ án hình sự ít nghiêm trọng, phạm pháp quả tang, ñơn giản rõ ràng;…
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, quy ñịnh về Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân
ñịa phương có quyền: “Khởi tố về hình sự và giữ quyền công tố trước Tòa án nhân
dân cùng cấp” (ðiều 3, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân); “Các Toà án nhân dân
là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.” (ðiều 1, Luật tổ chức
Tòa án nhân dân)
Thông tư liên tịch 427/TT-LB ngày 28/6/1963 của Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc quy ñịnh tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ công tác giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ công an quy ñịnh: Về mặt trình tự tố tụng hình
sự, Cơ quan công an vừa có trách nhiệm khởi tố vụ án, bước ñầu thu thập chứng cớ và khởi tố ñối với bị can trong các vụ án phản cách mạng và các vụ phạm pháp về hình sự khác ñã ñược phát hiện, vừa có trách nhiệm tiếp tục hoàn thành việc ñiều tra lập hồ sơ; Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc ñiều tra của Cơ quan ñiều tra, ñồng thời cũng
có nhiệm vụ khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ñiều tra lập hồ sơ những vụ phạm pháp hình sự Tuy nhiên hoạt ñộng khởi tố trong giai ñoạn này chưa ñược quan tâm và quy
ñịnh một cách rõ ràng, chỉ ñơn giản là mỗi khi Cơ quan công an thấy có việc phạm
pháp xảy ra, thì sẽ khởi tố vụ án và bước ñầu tiến hành thu thập chứng cớ, như khám nghiệm hiện trường, tạm giữ tan vật, lấy lời khai ñầu tiên của nhân chứng có mặt, tạm giữ và hỏi cung sơ bộ bị can… theo luật ñịnh Và thẩm quyền khởi tố hoặc ñình chỉ khởi tố ñược trao cho: Trưởng hoặc phó công an huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Trưởng hoặc phó khu công an thành phố; Trưởng hoặc phó ñồn công an biên phòng; Giám thị trại cải tạo; Trưởng hoặc phó ban ty công an; Trưởng hoặc phó ty công an: Trưởng hoặc phó phòng ở Sở công an khu và thành phố; Giám ñốc hoặc phó giám ñốc
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Sở, khu công an; Cục trưởng hoặc cục phó ở Bộ công an; Kiểm sát viên từ cấp huyện, thị xã, khu phố hoặc thành phố trực thuộc Trung ương trở lên có quyền khởi tố vụ án hoặc ñình chỉ khởi tố Trong thông tư này có quy ñịnh về việc khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc khởi tố của Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát cấp tương ñương trở lên có quyền hủy bỏ quyết ñịnh khởi tố hoặc ra quyết ñịnh khởi tố vụ án khi thấy quyết ñịnh khởi tố hoặc ñình chỉ khởi tố của cán bộ công an là không ñúng
Thông tư số 139-TTg ngày 28/5/1974 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn về thủ tục ñiều tra, truy tố, xét xử các vụ án phạm pháp quả tang, quy ñịnh: ðối với những tội trực tiếp xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa; cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế ñộ, thể lệ gây thiệt hại ñến tài sản xã hội chủ nghĩa; vi phạm chế ñộ tem, phiếu phân phối vật tư, hàng hóa, làm ăn phi pháp; thiếu tinh thần trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng ñến tài sản xã hội chủ nghĩa; bao che cho những kẻ xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa; trù ép những người phát hiện và tố giác… thì phải báo ngay cho Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan ñược giao quyền công tố biết ñể cơ quan này khởi tố vụ án, ñưa sang cơ quan công an tiến hành ñiều tra
Chỉ thị số 954-CP ngày 17/8/1974 của Bộ công an hướng dẫn về việc áp dụng thủ tục rút ngắn ñối với vụ án hình sự ít nghiêm trọng, phạm pháp quả tang, ñơn giản
rõ ràng, quy ñịnh: ðối với các vụ án phạm pháp quả tang, nếu biên bản phạm pháp quả tang ñã ñược lập ñầy ñủ, ñúng pháp luật thì hồ sơ vụ án chỉ bao bao gồm: Biên bản phạm pháp quả tang, lý lịch bị can, bản trích lục tiền án, tiền sự của bị can (nếu có) và Công văn chuyên hồ sơ sang cho Viện kiểm sát nhân dân Cơ quan ñiều tra không phải
ra quyết ñịnh khởi tố vụ án, khởi tố bị can và không phải làm bản kết luận ñiều tra
Qua việc trích dẫn những nội dung từ các văn bản luật và văn bản dưới pháp luật trong giai ñoạn từ năm 1954 ñến trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra
ñời, có thể nhận thấy những quy ñịnh về một trình tự thủ tụng tố tụng hình sự ñã xuất
hiện từ rất sớm và các vụ phạm pháp ñược giải quyết một cách có hệ thống với mục tiêu ñấu tranh chống bọn phản cách mạng và các bọn phạm tội khác, giữ gìn trật tự an ninh, giữ gìn pháp chế, bảo vệ ðảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên cũng giống như giai ñoạn từ trước năm 1954, hoạt ñộng khởi tố vẫn chưa ñược quy ñịnh một cách rõ ràng và sâu sát, có thể nói ñấy chỉ là một hoạt ñộng bổ trợ cho hoạt ñộng ñiều tra Mặc dù khởi tố chưa ñược những nhà làm luật lúc bấy giờ quan tâm nhưng nó cũng ñã nói lên ñược phần nào sự kế thừa
và phát triển của quy ñịnh pháp luật về thủ tục tố tụng hình, ñược thể hiện rõ trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự ñầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
* Giai ñoạn từ năm 1988 cho ñến nay
Từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ñược ban hành, hoạt ñộng ñiều tra khởi
tố, ñiều tra, truy tố, xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng ñã thực sự ñi vào nề nếp, mọi thủ tục và hành vi tố tụng của các cơ quan tư pháp ñều ñược thực hiện theo một quy trình chặt chẽ trên cơ sở luật ñịnh, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy ñịnh một cách
cụ thể về trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết vụ án, quy ñịnh quá trình tố tụng gồm có năm giai ñoạn: Khởi tố, ñiều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, và quy ñịnh một cách chặt chẽ về việc trao quyền khởi tố cho các chủ thể nhất ñịnh… Việc ban hành Bộ luật
tố tụng hình sự năm 1988 và những lần sửa ñổi, bổ sung sau này (tháng 7/1990, 12/1992
và 6/2000) ñã góp phần hoàn thiện hệ thống luật hình thức một cách ñơn giản, dễ hiểu
và hạn chế ñến mức thấp nhất những hành vi phạm pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thị truờng ñã kéo theo sự phát triển rất nhanh của các quan hệ dân sự, kinh tế, lao ñộng… các quan hên xã hội này không ñơn nhất và ổn ñịnh, thường xuyên xuất hiện nhiều loại quan hệ xã hội mới, ña dạng, phức tạp…nhiều ĩnh vực, ngành nghề, hoạt ñộng kinh tế xã hội mới, ñồng thời các tranh chấp
về dân sự, kinh tế, lao ñộng cũng có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp tình hình tái phạm xảy ra trong xã hội cũng phổ biến hơn, ñặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế với những thủ ñoạn ngày càng tinh vi và tính chất phức tạp, mang tính tổ chức cao… Trước tình trạng ñó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 mặc dù ñã ñược sửa
ñổi, bổ sung nhưng vẫn không ñáp ứng ñược thực tiễn ñấu tranh phòng, chống tội phạm
trong thời gian gần ñây Mặt khác, thực tế áp dụng luật của các cơ quan tiến hành tố tụng ñã bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất ñịnh, ñặc biệt trong giai ñoạn khởi tố, các cơ quan tiến hành tố tụng ñã không thực hiện ñúng những quy ñịnh của pháp luật về khởi tố
vụ án hình sự dẫn ñến bỏ lọt tội phạm, và gây khó khăn cho hoạt ñộng giải quyết vụ án hình sự Trong khi ñó, tình trạng tồn ñọng án còn nhiều, không kịp thời giải quyết những
tố giác của công dân, tin báo của cơ quan, tổ chức, còn nhiều sai sót trong việc ra quyết
ñịnh khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự
ðể tiếp tục thực hiện, ñẩy mạnh hơn công cuộc cải cách tư pháp, ngày 2 tháng 1
năm 2002, Bộ Chính trị ñã ra Nghị quyết số 08- NQ/TƯ về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Trong Nghị quyết này ñã chỉ rõ nhiều vấn ñề
cụ thể của tố tụng hình sự ñòi hỏi phải ñược nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện
ñể thể chế hóa thành những quy ñịnh của Bộ luật tố tụng hình sự, tạo cơ sở pháp lý
nâng cao chất lượng công tác ñiều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự
Vì vậy, việc sửa ñổi toàn diện Bộ luật tố tụng hình sự nhằm ñáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, ñấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân Và sự ra ñời của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là một hệ quả tất yếu, bổ sung
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
và ựiều chình những bất cập trong những quy ựịnh pháp luật tố tụng về công tác tố tụng, trong ựó không thể thiếu giai ựoạn khởi tố
1.3 NHỮNG VẤN đỀ CHUNG VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.3.1 Khái niệm về khởi tố vụ án hình sự
Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai ựoạn khác nhau như: Khởi tố vụ án hình sự, ựiều tra vụ án hình sự, truy tố, xét xử vụ án hình sự, thi hành bản án, quyết ựịnh của Tòa án ựã có hiệu lực và giai ựoạn thủ tục ựặc biệt là thủ tục giám ựốc thẩm và tái thẩm Trong ựó, giai ựoạn khởi tố là giai ựoạn buộc phải có ựể bắt ựầu các giai ựoạn tiếp theo Khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì hành vi này luôn xâm hại ựến các khách thể ựược luật hình sự bảo vệ để xác ựịnh hành vi ựó có phải là tội phạm hay không, chỉ cần xác ựịnh hành vi ựó ựã thỏa mãn hết tất cả các yếu tố cấu thành tội phạm (về mặt khách quan của tội phạm, về mặt khách thể của tội phạm, về mặt chủ quan của tội phạm, về mặt chủ thể của tội phạm) Nếu một trong số các dấu hiệu ựó không thỏa mãn thì hành vi ựó không phải là hành vi phạm tội Ngoài ra, có một số yếu tố khác nằm trong cấu thành tội phạm không bắt buộc như: hậu quả của tội phạm, ựộng cơ, mục ựắch của tội phạm Tóm lại, các yếu tố cấu thành tội phạm là bắt buộc khi xác ựịnh tội phạm điều này là cần thiết ựể bảo
ựảm nguyên tắc pháp chế đó chắnh là những cơ sở pháp lý vững chắc ựể xác ựịnh một
cách khách quan về các hành vi phạm tội Từ vấn ựề thực thi pháp luật một cách khách quan, chắnh xác không những dẫn ựến việc áp dụng chế tài một cách phù hợp, ựúng
ựắn ựối với người thực hiện hành vi phạm tội, mà còn thể hiện tinh thần chủ ựộng
phòng, ngừa, kiên quyết ựấu tranh chống tội phạm và thông qua hình phạt ựể răn ựe, giáo dục, cảm hóa, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện Qua ựó, bồi dưỡng cho công dân tinh thần ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ
ựộng tham gia phòng ngừa và chóng tội phạm Không giống như vụ kiện dân sự, ựương sự phải tự mình chứng minh những vấn ựề ựặt ra trước các cơ quan có thẩm
quyền Mà trong vụ án hình sự thì nghĩa vụ ựó sẽ thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Và ựể thực hiện nghĩa vụ ựó thì tất cả nội dung về vụ
án hình sự, trước hết là sự kiện khách quan về hành vị nguy hiểm cho xã hội ựó phải
ựược ựi vào quá trình tố tụng mà mở ựầu là giai ựoạn khởi tố với nhiệm vụ cụ thể này
Vắ dụ: Cơ quan cảnh sát trật tự an toàn xã hội nhận ựược tin báo ựối tượng A có hành vi sản xuất băng, ựĩa lậu Cơ quan này tiến hành khám xét và thu giữ ựược một
số lượng lớn ựĩa không có nhãn mác và không rõ xuất xứ Họ chuyển hồ sơ cho cơ quan ựiều tra tiến hành khởi tố vụ án
để xác ựịnh sự kiện ựã xảy ra mang dấu hiệu của một vụ án hình sự cần phải
ựược chắnh thức giải quyết bằng con ựường tố tụng hình sự theo quy ựịnh của pháp
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
luật, các cơ quan có thẩm quyền phải xác ựịnh có hay không có dấu hiệu của tội phạm Việc xác ựịnh dấu hiệu tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền phải dựa vào những cơ
sở thông tin ban ựầu (là nơi dấu hiệu tội phạm ựược phản ánh) Sau khi ựã kiểm tra xác minh ựể ựi ựến kết luận rằng có dấu hiệu tội phạm trong sự việc ựã xảy ra mới ựược quyết ựịnh khởi tố vụ án hình sự theo ựiều 100 ỜBộ luật tố tụng hình sự 2003 Và ựó là
cơ sở pháp lý chắnh thức ựưa vụ án ựi vào giai ựoạn ựiều tra làm rõ, chúng ta cần phân biệt hoạt ựộng xác minh ban ựầu với các hoạt ựộng ựiều tra làm rõ Những hoạt ựộng
ựược phân tắch trên chắnh là những hoạt ựộng cần thiết dẫn ựến quyết ựịnh khởi tố vụ
án hình sự, nếu xác ựịnh là có dấu hiệu tội phạm và không rơi vào các căn cứ không
ựược khởi tố, quy ựịnh tại ựiều 107 Ờ Bộ luật tố tụng hình sự 2003 Một cách khái quát ựấy là những hoạt ựộng tố tụng ban ựầu ựược thực hiện trong giai ựoạn mở ựầu của
quá trình tố tụng là giai ựoạn khởi tố vụ án hình sự
Tóm lại, khởi tố vụ án hình sự là giai ựoạn ựầu tiên của quá trình tố tụng hình
sự, trong giai ựoạn này cơ quan tiến hành tố tụng xác ựịnh dấu hiệu tội phạm và ra quyết ựịnh khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết ựịnh không khởi tố vụ án hình sự
Giai ựoạn khởi tố vụ án hình sự ựược bắt ựầu từ khi các cơ quan có thẩm quyền nhận ựược tin báo về tội phạm và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra ựược một trong hai quyết ựịnh là khởi tố vụ án hình sự hay không khởi tố vụ án hình sự Kết quả của giai ựoạn này làm cơ sở cho việc mở ra các hoạt ựộng tố tụng hình sự tiếp theo hoặc có thể chấm dứt mọi hoạt ựộng tố tụng hình sự ựối với tin báo về tội phạm
1.3.2 đặc ựiểm của giai ựoạn khởi tố vụ án hình sự
1.3.2.1 Chủ thể tiến hành các hoạt ựộng trong giai ựoạn khởi tố vụ án hình sự
Trong khởi tố vụ án hình sự thì số lượng cơ quan có thẩm quyền ra quyết ựịnh khởi tố ựược quy ựịnh trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 nhiều hơn và khác với các giai ựoạn tố tụng khác như: Giai ựoạn truy tố chỉ do Viện kiểm sát tiến hành, xét xử thuộc thẩm quyền của Toà án Ở giai ựoạn này ngoài cơ quan tiến hành tố tụng, còn
có các cơ quan khác ựược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt ựộng ựiều tra, ựược
quyền tiến hành các hoạt ựộng khác trong giai ựoạn này
Vậy, các cơ quan có quyền khởi tố bao gồm: Cơ quan ựiều tra, Viện kiểm sát, Toà án, đơn vị Bộ ựội biên phòng, Cơ quan Hải quan, Cơ quan Kiểm lâm, Cảnh sát biển và một số cơ quan khác thuộc Công an nhân dân, Quân ựội nhân dân
1.3.2.2 Hành vi tố tụng ựặc trưng
Trong giai ựoạn này, các hành vi ựược chủ thể có thẩm quyền tiến hành đó là, kiểm tra xác minh nguồn tin tiếp nhận ựược về tội phạm dưới các hình thức như lấy lời khai của người bị tạm giữ, xem xét dấu vết trên thân thể của người bị tạm giữ theo quy ựịnh của pháp luật, khám nghiệm hiện trường, ghi nhận và xác minh một cách
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
khách quan về tin báo hay tố giác của công dân Những hành vi tố tụng trên có thể
ñược lặp lại tại giai ñoạn ñiều tra Vì thế, có ý kiến cho rằng khởi tố vụ án hình sự chỉ
là một hành vi tố tụng mở ñầu cho giai ñoạn ñiều tra chứ không phải là một giai ñoạn
tố tụng ñộc lập Có thể những người có ý kiến trên, họ dựa vào những căn cứ và lập luận riêng ñể bảo vệ ý kiến của chính mình ðối với ý kiến trên, tôi không ñồng tình Với những lý do sau ñây: Trước tiên, xét về nhiệm vụ của hai giai ñoạn khởi tố và giai
ñoạn ñiều tra Tuy có cùng mục tiêu là là phải giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời
góp phần vào mục tiêu chung của của Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng nhiệm vụ cụ thể của từng giai ñoạn là khác nhau Ở giai ñoạn khởi tố, nhiệm vụ trọng tâm là xác ñịnh dấu hiệu tội phạm, xác ñịnh sơ bộ sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không Còn giai ñoạn ñiều tra là xác ñịnh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội là nhiệm
vụ trọng tâm của giai ñoạn Có thể hình dung, khi có tin báo về sự việc xảy ra, chưa xác ñịnh ñược có tội phạm xảy ra hay không, nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền
sẽ ñi ñến hiện trường vụ việc ñể xác minh xem, thứ nhất tin báo có thật hay không, sự việc ñó có dấu hiện tội phạm hay không Mà muốn xác ñịnh có dấu hiệu tội phạm, thì phải tiến hành một số hành vi tố tụng sơ bộ như: Lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường… Tuy nhiên, hoạt ñộng chỉ dừng lại khi ñạt ñến mục tiêu, xác ñịnh ñược sự việc ñó có dấu hiệu tội phạm, tức là ñã có dấu hiệu tội phạm ðối với giai ñoạn ñiều tra, ñòi hỏi các chủ thể tiến hành ñiều tra phải xác ñịnh ñược tội phạm một cách cụ thể hơn và quan trọng nhất và cũng là sự khác biệt ñặc trưng giữa hai nhiệm vụ của hai giai ñoạn, ñó là tại giai ñoạn ñiều tra phải xác ñịnh ñược người ñã thực hiện hành vi phạm tội (trừ những trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc quả tang, quy ñịnh tại, ñiều 82 – Bộ luật tố tụng hình sự 2003, khám nghiệm hiện trường, quy
ñịnh tại ñiều 150 khoản 2 – Bộ luật tố tụng hình sự 2003) Trên nguyên tắc, chỉ sau khi
ra quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự thì mới ñược thực hiện các hành vi tố tụng khác trong giai ñoạn ñiều tra (bắt người, khám xét…), ñể ñưa ra bản kết luận ñiều tra và ñề nghị truy tố Tiếp vấn ñề, xem xét về chủ thể tiến hành thì ở giai ñoạn khởi tố thẩm quyền giao cho không chỉ cơ quan tiến hành tố tụng mà giao cho các cơ quan ñiều tra ban ñầu (Hải quan, Kiểm lâm, Bộ ñội biên phòng, Cảnh sát biển và các cơ quan khác thuộc Công an nhân dân và Quân ñội nhân dân) Riêng giai ñoạn ñiều tra thẩm quyền
ñiều tra chỉ có cơ quan ñiều tra mới có quyền, trừ những trường hợp phạm tội quả
tang, chứng cứ rõ ràng ít nghiêm trọng ñược cơ quan hữu quan hoàn thành hồ sơ và chuyển cho Viện kiểm sát Một hành vi tố tụng cơ bản có thể giúp chúng ta phân biệt
ñược giai ñoạn khởi tố và giai ñoạn ñiều tra, ñó là quyết ñịnh khởi tố bị can, ñây là
hành vi tố tụng ñặc trưng trong giai ñoạn ñiều tra khi ñã có căn cứ rõ ràng và chính xác Khác với những thông tin sơ bộ ban ñầu về tội phạm là chỉ xác ñịnh có vụ án hình
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
sự xảy ra hay không Một vấn ñề mấu chốt và ñó cũng là căn cứ ñể tôi bảo vệ ý kiến của mình Như tôi ñã phân tích về sự khác nhau cơ bản về chủ thể, về nhiệm vụ của hai giai ñoạn khởi tố và giai ñoạn ñiều tra Bên cạnh những sự khác nhau ñó, giai ñoạn khởi tố vụ án hình sự, thời ñiểm bắt ñầu của giai ñoạn ñược tính từ khi cơ quan tiến hành tố tụng nhận ñược tin tức về tội phạm và kết thúc khi cơ quan tiến hành tố tụng ra một trong hai quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết không khởi tố vụ án hình
sự Tất nhiên, giai ñoạn ñiều tra ñược mở ñầu từ khi có quyết ñịnh khởi tố và kết thúc khi cơ quan ñiều tra hoàn thành bản kết luận ñiều tra và quyết ñịnh ñề nghị truy tố người phạm tội ra trước Tòa án hoặc ra quyết ñịnh ñình chỉ ñiều tra Nếu như xem khởi tố vụ án hình sự là một hành vi tố tụng mở ñầu của giai ñoạn ñiều tra thì thời
ñiểm bắt ñầu và thời ñiểm kết thúc phải ñược xác ñịnh theo giai ñoạn ñiều tra Bởi lẽ,
khởi tố vụ án hình sự hành vi tố tụng cho nên không thể xác ñịnh thời ñiểm bắt ñầu và thời ñiểm kết thúc Hai giai ñoạn với hai nhiệm vụ, với các chủ thể tiến hành khác nhau, với những ñặc thù riêng biệt Tuy mhiên, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Giai ñoạn khởi tố vụ án hình sự quan trọng ở chổ nó không ñược ñể lọt bất
cứ dấu hiệu tội phạm nào mà không xem xét và ñã là tội phạm thì bất cứ ai phạm tội cũng bị xử lý Về mặt ñiều tra thì sơ bộ những tài liệu thu thập ban ñầu rất quan trọng,
ñó là căn cứ giúp hoạt ñộng ñiều tra theo hướng chính xác
1.3.2.3 Văn bản tố tụng ñặc trưng
Trong giai ñoạn khởi tố vụ án hình sự thì văn bản tố tụng ñặc trưng là quyết ñịnh khởi tố hoặc quyết ñịnh không khởi tố vụ án hình sự Mọi hoạt ñộng ñược tiến hành trong giai ñoạn khởi tố nhằm mục ñích xác ñịnh dấu hiệu tội phạm và hoạt ñộng ñiều tra, xác minh ñó ñược thực hiện bằng quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết ñịnh không khởi tố vụ án hình sự Trong ñó:
Quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự là một hành vi tố tụng hình sự của cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự biểu hiện bằng một văn bản tố tụng hình sự xác ñịnh một sự kiện pháp lý có dấu hiệu của tội phạm cụ thể ñược quy ñịnh tại bộ luật hình sự
1999 Quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý ñầu tiên ñể thực hiện việc ñiều tra Quyết ñịnh này làm phát sinh quan hệ luật tố tụng hình sự giữa cơ quan có thẩm quyền và những người tham gia tố tụng Các hoạt ñộng ñiều tra và việc áp dụng biện pháp ngăn chặn chỉ ñược tiến hành sau khi có quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết phải làm sáng tỏ những tài liệu ñầu tiên, xác ñịnh hoàn cảnh, ñịa ñiểm xảy ra tội phạm, thu thập những vật chứng và tình tiết có giá trị cho việc phát hiện tội phạm thì tiến hành khám nghiệm hiện trường, trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì bắt người trước khi khởi tố vụ án hình sự
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Quyết ựịnh không khởi tố vụ án hình sự là hành vi pháp lý của người có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự biểu hiện bằng một văn bản quyết ựịnh không tiến hành hoặc chấm dứt mọi hoạt ựộng tố tụng hình sự ựã hoặc ựang tiến hành ựối với hành vi
ựã bị cho là tội phạm khi có những chứng cứ nhất ựịnh
Khi một trong hai quyết ựịnh ựược ựưa ra ựều có nghĩa chung là văn bản pháp lý nhằm kết thúc giai ựoạn khởi tố vụ án hình sự Nhưng quyết ựịnh khởi tố vụ án hình sự
là mốc thời gian mở ựầu cho giai ựoạn ựiều tra làm rõ, còn quyết ựịnh không khởi tố
vụ án hình sự là mốc thời gian không tiến hành hoặc chấm dứt mọi hoạt ựộng tố tụng hình sự ựã hoặc ựang tiến hành ựối với hành vi ựã bị cho là tội phạm khi có những chứng cứ nhất ựịnh Sự khác biệt rất rõ ràng giữa hai quyết ựịnh trong cùng một giai
ựoạn ựược thể hiện một cách ựầy ựủ trong nội dung của quyết ựịnh Như vậy quyết ựịnh khởi tố vụ án hình sự và quyết ựịnh không khởi tố là hoàn toàn khác nhau Quyết ựịnh khởi tố là hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, nó mở ra các hoạt ựộng
tố tụng tiếp theo, và ựược ựưa ra ở giai ựoạn phát hiện dấu hiệu tội phạm.Còn quyết
ựịnh không khởi tố chỉ là hành vi pháp lý, nó làm chấm dứt các hoạt ựộng tố tụng ựã
hoặc ựang diễn ra.Nghĩa là nó có thể xuất hiện ở giai ựoạn phát hiện dấu hiệu tội phạm, hoặc các giai ựoạn khác như ựiều tra, truy tố
1.3.3 Nhiệm vụ và ý nghĩa của giai ựoạn khởi tố vụ án hình sự
Quá trình tố tụng hình sự ựược chia ra nhiều giai ựoạn khác nhau Tuy khác nhau nhưng các giai ựoạn tố tụng ựều có mối liên hệ mật thiết, mỗi giai ựoạn ựều có nhiệm
vụ riêng và mang những nét ựặc thù Nhiệm vụ của giai ựoạn khởi tố vụ án hình sự là nhằm xác ựịnh dấu hiệu tội phạm, tức là xác ựịnh xem việc xảy ra có dấu hiệu của một tội phạm cụ thể hay không, và muốn xác ựịnh ựược có hay không có dấu hiệu của một tội phạm thì căn cứ vào quy ựịnh của luật (cụ thể tại điều 100 - Bộ luật tố tụng hình sự 2003) Khi nhận ựược sự tố giác hay tin báo về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền khởi
tố phải kiểm tra nhằm xác ựịnh có dấu hiệu tội phạm không và có những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự không để từ ựó ra quyết ựịnh khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Những vấn ựề ựặt ra, chắnh là nhiệm vụ cụ thể và ựặc thù trong giai ựoạn khởi
tố vụ án hình sự Ngoài những nhiệm vụ riêng thì giai ựoạn khởi tố cần phải ựạt mục tiêu là: Ộphát hiện chắnh xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không ựể lọt tội phạm, không làm oan người vô tội (điều 1- Bộ luật tố tụng hình sự 2003) đó không chỉ là mục tiêu riêng của giai ựoạn khởi tố mà là mục tiêu chung ựược ựặt ra, ựòi hỏi trong các giai ựoạn của quá trình tố tụng ựều phải thực thi nghiêm chỉnh, nếu như không tổ chức tốt các hoạt ựộng trong giai ựoạn này ( vắ dụ: tiếp nhận tin báo không ựầy ựủ, kiểm tra xác minh bổ sung thiếu khách quan,Ầ), thì
có thể dẫn ựến không phát hiện ựược tội phạm hoặc phát hiện chậm trễ gây khó khăn
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
cho quá trình giải quyết vụ án hình sự, quá trình tố tụng hình sự không ñược tiến hành theo ñúng hướng và ñúng mục tiêu
Ở giai ñoạn khởi tố, các cơ quan có thẩm quyền chỉ xác ñịnh sơ bộ sự việc xảy ra có
dấu hiệu tội phạm hay không Chỉ khởi tố vụ án hình sự khi ñã xác ñịnh có dấu` hiệu tội phạm ðây là những tài liệu về sự kiện phạm tội nói chung chứ không phải tài liệu
về người có hành vi phạm tội vì trong thực tế có những trường hợp lúc ñầu chỉ mới biết cótội phạm xảy ra còn ai là người có hành vi phạm tội thì chưa khẳng ñịnh ngay
ñược Vì vậy, khi ñã xác ñịnh có dấu hiệu tội phạm thì phải khởi tố vụ án hình sự ngay
chứ không ñược ñợi ñến khi phát hiện ra người phạm tội thì mới quyết ñịnh khởi tố vụ
án hình sự và quyết ñịnh khởi tố bị can cùng một lúc Có thể nói giai ñoạn khởi tố là giai ñoạn bàn ñạp, nếu nền tảng, căn bản có vững chắc thì giai ñoạn ñiều tra tiếp theo
sẽ thuân lợi và nhanh chóng hơn Một lần nữa cần nhấn mạnh giai ñoạn khởi tố là giai
ñoạn có ý nghĩa rất quan trọng ñối với toàn bộ hoạt ñộng tố tụng tiếp theo Cuộc ñiều
tra có ñạt ñược kế quả khách quan, toàn diện và ñầy ñủ hay không Tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản và quyềt tự do dân chủ khác của công dân ñược pháp luật thừa nhận có ñược sự tôn trọng hay không, phụ thuôc rất nhiều vào việc thực hiện ñúng ñắn và nghiêm chỉnh những quy ñịnh về khởi tố vụ án hình sự Một giai
ñoạn với nhiệm vụ tưởng chừng như ñơn giản nhưng ñòi hỏi phải ñược các cơ quan có
thẩm quyền chấp hành với tinh thần trách nhiệm cao, ñể hoàn thành tốt nhiệm vụ và
ñạt ñược mục tiêu chung của Bộ luật tố tụng hình sự 2003
1.4 MỘT SỐ QUAN ðIỂM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.4.1 Những quốc gia theo truyền thống Luật Án lệ “Ăng-lô-xắc-xông
Các quốc gia ñiển hình như: Anh, Mỹ, Canada…
Với quan niệm tố tụng hình sự chỉ gồm có giai ñoạn xét xử vụ án tại phiên tòa(2), các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử chỉ thực sự bắt ñầu tại phiên tòa xét xử sơ thẩm Tại ñây, với sự tham gia của các chủ thể bên buộc tội (Công tố viên, người bị hại), bên bào chữa (người bào chữa, bị cáo) và các chủ thể khác dưới sự ñiều khiển của Tòa án (Thẩm phán) và dưới sự giám sát của Hội ñồng xét xử, ba chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử ñều ñược thực hiện công khai Còn giai ñoạn trước khi mở phiên tòa xét xử ñược xem là giai ñoạn tiền tố tụng, do các bên tiến hành một số hoạt ñộng
ñể chuẩn bị cho cuộc tranh tụng tại phiên tòa Vì vậy, có một ñiều thú vị là trong kiểu
tố tụng này chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật ñược giao cho Tòa án.Với tư cách là trung tâm của cơ quan tư pháp, của hoạt ñộng tố tụng, Tòa án có quyền và có
(2) Nguyễn ðức Mai, Vấn ñề tranh tụng hình sự, Kỷ yếu ñề tài khoa học cấp bộ của VKSNDTC, Hà Nội 1995,
trang 100
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trách nhiệm ñảm bảo cho các bên nghiêm chỉnh chấp hành các quy ñịnh của pháp luật
ðiều này khác với những nước có tổ chức VKS như Liên Xô, Trung Quốc, Việt
Nam… Mặc dù có những ưu ñiểm, song kiểu Tố tụng mang tính “ñối trọng” này
cũng bị phê phán là xa rời thực tế, “việc con người bị phán xét như thế nào dường như quan trọng hơn việc xem họ ñã làm gì trên thực tế”
ðiển hình ở Mỹ, tố tụng hình sự bắt ñầu khi một ñạo luật bị vi phạm và trải qua
các giai ñoạn bắt giữ, cáo trạng, xử sơ thẩm và phúc thẩm Ở Mỹ không có một trình
tự thủ tục hình sự thống nhất Thay vào ñó, hệ thống liên bang có một trình tự tố tụng
ở cấp ñộ quốc gia, và mỗi bang và lãnh thổ có những quy tắc và quy ñịnh riêng tác ñộng lên thủ tục tố tụng Những chuẩn mực và sự tương ñồng tồn tại giữa tất cả các
thực thể chính quyền, và ở ñây chỉ tập trung trao ñổi về các chuẩn mực và tương ñồng
ñó, mặc dù thực tế không có hai bang nào có hệ thống Tòa án hoàn toàn giống với hệ
thống Tòa án của chính quyền quốc gia
Những thủ tục trước khi xét xử sơ thẩm, trước khi một phiên tòa sơ thẩm hình
sự ñược tiến hành, luật pháp của liên bang và bang yêu cầu rất nhiều thủ tục và sự kiện Một số bước do Hiến pháp Mỹ và hiến pháp bang ủy quyền, một số do phán quyết của Tòa án, và số khác do những ñạo luật lập pháp Phần còn lại thường là tập tục và truyền thống Mặc dù bản chất chính xác của những sự kiện mang tính thủ tục này thay ñổi theo thực tiễn của liên bang và bang – và giữa các bang với nhau – nhưng vẫn có những ñiểm tương ñồng trên toàn ñất nước Tuy nhiên, những thủ tục này không mang tính tự ñộng hay lệ thường mà ñúng hơn là những người ra phán quyết của hệ thống pháp lý thực thi quyền tự quyết tại mọi bước tùy theo giá trị, thái ñộ và thế giới quan của họ
1.4.2.Các quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu âu lục ñịa
Các quốc gia ñiển hình như: Pháp, Italia, ðức,…
Tố tụng pha trộn là kiểu tố tụng hỗn hợp giữa tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng Chúng ta biết rằng kiểu tố tụng thẩm vấn và kiểu tố tụng tranh tụng ñều có những ưu ñiểm, ñồng thời cũng có những hạn chế nhất ñịnh Vì vậy quá trình tiếp nhận các kiểu tố tụng, các quốc gia ñều có sự lựa chọn Tất nhiên là họ sẽ lựa chọn những ưu ñiểm, tích cực của cả hai hệ thống (và phù hợp với quốc gia của họ) Và ñó chính là một trong những nguyên nhân ra ñời kiểu tố tụng pha trộn
Trong kiểu tố tụng này, ở giai ñoạn trước khi xét xử (khởi tố và ñiều tra) các hoạt ñộng tố tụng hầu như ñược tiến hành bí mật, hạn chế sự tham gia của những người có liên quan, bị can hầu như bị tách khỏi quá trình tố tụng… Tuy nhiên, ở giai
ñoạn xét xử, phiên tòa ñược tiến hành công khai, quyền bình ñẳng trước phiên tòa và
quyền bào chữa của bị cáo ñược ñảm bảo, các bên buộc tội và bào chữa có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc ñưa ra những chứng cứ và những yêu cầu, lúc này Tòa
án ñóng vai trò là người trọng tài ñảm bảo cho các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
của mình… Hình thức này xuất hiện lần ñầu tiên trong pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp 1808, sau ñó ñược phát triển mạnh mẽ trong pháp luật trách nhiệm hình sự của các nước theo truyền thống luật lục ñịa: ðức , Áo, Italia, Bỉ…(3)
Ở Việt Nam, qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy Tố tụng hình sự Việt Nam
chịu ảnh hưởng nhiều của kiểu tố tụng hỗn hợp (pha trộn) tức là ñã tiếp thu lựa chọn những ưu ñiểm, những yếu tố hợp lý của cả hai kiểu tố tụng thẩm vấn và tranh tụng
Tố tụng hình bao gồm năm giai ñoạn: Khởi tố, ñiều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
Vì vậy, qua hơn 50 năm tồn tại và phát triển, mô hình Tố tụng hình sự của Việt Nam
ñã ñem lại những kết quả rất ñáng tự hào, góp phần quan trọng trong cuộc ñấu tranh
phòng chống tội phạm Tuy nhiên, so với yêu cầu và nhiệm vụ mới thì: “Chất lượng
công tác tư pháp nói chung (trong ñó vai trò của pháp luật trách nhiệm hình sự-nhiệm
vụ) chưa ngang tầm với yêu cầu và ñòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt
tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm
ñể góp phần quan trọng vào cuộc ñấu tranh chống tội phạm trong ñiều kiện mới, yêu
cầu ñặt ra là phải tiếp tục cải cách tư pháp Chúng ta không thể chấp nhận những thủ tục rườm rà, nhiều tầng nấc, quan liêu và bất lợi cho các bên tham gia tố tụng
Tại Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị ñã xác ñịnh yêu
cầu là phải: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại Phiên tòa, bảo ñảm
tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… Khi xét xử Toà án phải ñảm bảo cho mọi công dân ñều bình ñẳng trước Pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ñộc lập và chỉ tuân theo Pháp luật; việc xét xử của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét ñầy ñủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo…”
Từ nội dung ñịnh hướng trên ñây, có thể nhận thức rằng tố tụng hình sự Việt
Nam cần tăng cường các yếu tố tranh tụng, như Mác ñã nói”sự thật chỉ có thể ñược tìm
ra thông qua tranh luận và bút chiến…”
Muốn vậy trong quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, theo chúng tôi cần phải phân ñịnh rõ ràng các chức năng của tố tụng, xác ñịnh rõ phạm vi quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng hình sự Qua ñó cần có cơ chế pháp lý (hoàn thiện qui ñịnh pháp luật ñảm bảo sự công bằng trong tranh tụng, trả lại ñúng chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng…) và tổ chức (nâng cao trình ñộ, số lượng ñội ngũ thực hiện chức năng tố tụng, cải cách bộ máy, nâng cao nhận thức cán bộ…) ñể thực hiện tốt các chức năng tố tụng
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 2 QUY ðỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH
SỰ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
2.1 CĂN CỨ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ CĂN CỨ KHÔNG KHỞI TỐ VỤ
ÁN HÌNH SỰ
2.1.1 Căn cứ khởi tố vụ án hình sự
ðiều 100 – Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy ñịnh: “chỉ ñược khởi tố vụ án hình
sự khi ñã xác ñịnh có dấu hiệu tội phạm…” ðây là khả năng duy nhất cho phép khởi
tố vụ án, cần phải xác ñịnh là có sự việc xảy ra và sự việc ñó có dấu hiệu tội phạm
Dấu hiệu tội phạm theo quy ñịnh tại ðiều 8 – Bộ luật hình sự 1999: “tội phạm là hành
vi nguy hiểm cho xã hội ñược quy ñịnh trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm ñộc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế ñộ chính trị, chế ñộ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” Có thể nhận thấy việc ñịnh nghĩa về tội phạm là mục tiêu mà
căn cứ khởi tố vụ án hình sự cần ñạt ñược, xác ñịnh những thông tin cơ bản ban ñầu về
sự việc phạm tội nói chung
Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A ñi tập thể dục buổi sáng, vào lúc 6h trên ñường về anh phát hiện có một thanh niên nằm bất ñộng Sau khi quan sát thì anh A xác ñịnh là thanh niên ñó ñã chết, anh A ñến báo cho công an
Trong trường hợp này Công an nơi mà anh A báo tin phải xuống hiện trường xác
ñịnh xem có sự việc xảy ra như lời anh A nói không? Và sự việc nếu có thì tiếp tục
xem xét nguyên nhân dẫn ñến cái chết của người thanh niên Trên thân thể của anh A
có vết ñâm, vết chém hay những dấu hiệu cho thấy do tại nạn giao thông gây ra, xung quanh ñó có dao, mã tấu…hay những vết xe có máu… và khi xác ñịnh ñược sự việc mang dấu hiệu tội phạm thì cơ quan Công an phải ra quyết ñịnh khởi tố ngay
Xác ñịnh dấu hiệu tội phạm ở giai ñoạn này là xác ñịnh những dấu hiệu về hành
vi và sự kiện phạm tội Chứ không thể hiện trong việc xác ñịnh người phạm tội.Luật chưa yêu cầu xác ñịnh người phạm tội.Thông thường ñể xác ñịnh người phạm tội thì phải trải qua một loạt các hoạt ñộng ñiều tra ñược tiến hành sau khi ñã khởi tố Khi ra quyết ñịnh khởi tố chỉ cần xác ñịnh sự việc ñã xảy ra là do hành vi phạm tội cụ thể (Chỉ ra một tội danh) ñược quy ñịnh trong Bộ luật hình sự Bởi trong nhiều trường
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hợp, ban ñầu chỉ mới xác ñịnh một sự việc nào ñó có dấu hiệu tội phạm mà chưa thể biết ñược người phạm tội cụ thể, nhưng vẫn phải khởi tố vụ án hình sự ñể tiến hành
ñiều tra nhằm tìm ra người phạm tội và làm rõ nội dung vụ án Vì vậy, việc khởi tố vụ
án hình sự phải tiến hành khẩn trương khi ñã xác ñịnh ñược dấu hiệu tội phạm Tuy nhiên, ñể xác ñịnh ñược dấu hiệu tội phạm thì phải dựa vào các cơ sở do Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy ñịnh bao gồm 5 cơ sở cụ thể: Tố giác của công dân; tin báo của
cơ quan, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin ñại chúng; cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ ñội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân ñội nhân dân ñược giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt ñộng ñiều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; người phạm tội tự thú Rất dễ có sự nhằm lẫn giữa dấu hiệu tội phạm là căn cứ ra quyết ñịnh khởi tố với những cơ sở mà dựa vào ñó dấu hiệu tội phạm ñược phản ánh
Ví dụ: Một công dân A ñến báo tin con trai của mình bị mất tích
ðể có ñược quyết ñịnh khởi tố vụ án thì cơ quan ñiều tra phải xác ñịnh có dấu
hiệu tội phạm trong một sự việc Mà ñể xác ñịnh ñược sự việc thì phải dựa vào những thông tin ban ñầu do công dân A cung cấp Khi ñã xác ñịnh là có sự việc con trai của
A mất tích, thì dựa vào yếu tố ñó không thể ra quyết ñịnh khởi tố vụ án Mặc dù ñã xác
ñịnh ñược có bé trai mất tích nhưng phải xác ñịnh ñược vì sao mất tích Qua ñiều tra
ban ñầu cho thấy bé trai không có mặt hay ñi cùng những người mà cha mẹ bé thường biết, loại trừ khả năng bé ñi lạc bởi bé rất quen thuộc nơi này Cơ quan ñiều tra phát hiện có một lá thư ñe dọa gửi ñến cha mẹ bé trai ðây mới là yếu tố quan trọng và là
ñiều kiện cần và ñủ ñể khởi tố vụ án Thông tin mà công dân A cung cấp ñó là nguồn,
là cơ sở hàm chứa dấu hiệu tội phạm cho phép ñi ñến kết luận có hay không có căn cứ
ñể khởi vụ án bắt cóc Tùy từng loại tội phạm cụ thể mà có dấu hiệu tội phạm khác
Chẳng hạn như: ðối với tội trộm cắp thì dấu hiệu có thể là vết cại cửa, ñập chìa khoá; Tội tham ô tài sản: Ngân quỹ bị thâm hụt, giấy tờ sổ sách kế toán không rõ ràng; Tội
cố ý gây thương tích: Vết thương, hung khí
Tôi sẽ lần lượt phân tích ñể thấy rõ yếu tố quan trọng của các cơ sở trong việc xác
ñịnh dấu hiệu tội phạm Nói cách khác, cơ sở khởi tố vụ án là những nguồn tin mà dựa
vào ñó cơ quan có thẩm quyền xác ñịnh dấu hiệu tội phạm
2.1.1.1 Tố giác của công dân
Tại Hội nghị tình báo (tháng 4 – 1949), cách ñây hơn nữa thế kỷ, Bác ñã nhắc
nhở: “…tai mắt của người tình báo có hạn Nhân dân có hàng chục triệu tai mắt Việc
gì cũng có thể nghe, có thể thấy, có thể biết Vì vậy, người tình báo phải làm thế nào
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
cho nhân dân giúp sức thì sẽ thành công toẦỢ (5), thấu suốt tư tưởng Ộlấy dân làm gốcỢ Bộ luật tố tụng hình sự 2003 ựã ựáp ứng yêu cầu bảo vệ chế ựộ xã hội chủ nghĩa, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ắch hợp pháp của công dân, xử lý kiên quyết và triệt ựể mọi hành vi phạm tội Có thể thấy rõ vai trò và vị trắ của công dân là rất quan trọng trong sự nghiệp ựấu tranh phòng, chống tội phạm được luật cụ thể hóa và tạo thuận lợi cho công dân tham gia ựấu tranh phòng, chống tội phạm đó cũng chắnh là quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân, tại điều 4 khoản 3 Bộ
luật tố tụng hình sự 2003 có quy ựịnh rõ: ỘMọi công dân có nghĩa vụ tắch cực tham gia
ựấu tranh phòng ngừa và chống tội phạmỢ Không chỉ bảo vệ bản thân mình, ựồng
thời bảo vệ mọi người xung quanh tạo nên môi trường xã hội an toàn, lành mạnh, có
cuộc sống yên bình Tại điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy ựịnh: ỘCông dân
có thể tố giác tội phạm với Cơ quan ựiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ kỹ của người tố giácẦỢ Các cơ quan ựược giao cho hiệm vụ tiếp
nhận tố giác của công dân phải thực hiên nghiêm chỉnh với tinh thần trách nhiệm cao nhằm phối hợp chặt chẽ với công dân ựạt mục tiêu ựấu tranh phòng, chống tội phạm
Tố giác tội phạm là việc người dân báo cho các cơ quan, tổ chức về tội phạm mà
họ ựã biết
Như chúng ta ựã biết xã hội Việt Nam ngày càng phát triển không chỉ về kinh tế, không chỉ về văn hóa mà vị thế chắnh trị của Việt Nam ngày càng có chỗ ựứng vững chắc trên trường Quốc tế Vì thế, ựây chắnh là nơi thuận lợi ựể các phần tử phản ựộng, các tổ chức tội phạm luôn tìm cách chống phá, hòng cản trở công cuộc xây dựng và phát triển ựất nước; là mảnh ựất "màu mỡ" ựể các tệ nạn xã hội nảy sinh và diễn biến phức tạp
Về chắnh trị, các phần tử phản ựộng từ ngoài nước cấu kết với các phần tử phản
ựộng và bất mãn trong nước tiến hành các hoạt ựộng tuyên truyền, nói xấu đảng, bôi
nhọ chế ựộ; chia rẽ khối ựại ựoàn kết toàn dân, kắch ựộng người dân ựi khiếu kiện, tạo
cớ một cách vô lý ựể ựòi "dân chủ", "nhân quyền"
Về kinh tế, trong giai ựoạn gần ựây tội phạm về tham nhũng, tham ô, lợi dụng chức quyền ựể vụ lợi cho bản thân của một số cán bộ ngày có chiều hướng phát triển với thủ thuật ngày càng tinh vi hơn Bọn tội phạm sử dụng các phương tiện công nghệ,
kỹ thuật cao ựể phạm tội trong các lĩnh vực bưu chắnh- viễn thông, tin học, tắn dụng, thương mại nhằm gây thiệt hại về kinh tế và gây sự xáo trộn về an ninh, tư tưởng
(5) Ts Nguyễn Văn Khoan, Ts Mạc Văn Trọng, nhớ lời Bác dạy, NXB Lao ựộng, tr.186
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Về xã hội, các thành phần bất hảo thường xuyên thực hiện những hoạt ñộng mang tính xã hội ñen như bảo kê, ñâm chém, cướp giật, hoặc gieo rắc những tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm, buôn bán ma túy v.v Thực trạng nhức nhối ñó luôn là sự thách thức ñối với ðảng bộ, chính quyền, là nỗi ám ảnh của người dân và trở thành gánh nặng trách nhiệm ñối với cơ quan, tổ chức trong vai trò là người giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong ñiều kiện ñất nước mở cửa và hội nhập
Với khối lượng công việc, trách nhiệm trước mắt thì các cơ quan, tổ chức không thể phát huy tốt vai trò là một người giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nếu như không có sự phối hợp giúp ñỡ của người dân Bởi trong xã hội những con người thay mặt cho nhân dân bảo vệ sự bình yên cho cuộc sống chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số người nhận ñược sự bảo vệ, những sự việc xảy ra ở nơi này nơi khác thì tai mắt của các cơ quan, tổ chức không thể biết và phát hiện ñược tất cả Chỉ có nhân dân những con người có khắp nơi có thể nghe, có thể nhìn thấy tất cả sự việc xảy
ra trong cuộc sống hằng ngày
Ví dụ: Trong thời gian gần ñây có một nhóm người khoảng ba ñôi nam nữ chạy
xe gắn máy Vào thời ñiểm từ 7h30’ ñến khoảng 10h họ thường xuất hiện ở ñường Mậu Thân, thành phố Cần Thơ, tại các nơi bán dép, giày trên lề ñường ñể thực hiện hành vi móc túi khách mua Người dân ở xung quanh khu vực ñó ñã cùng nhau viết
ñơn tố giác hành vi của ba ñôi nam nữ nói trên
Trên ñây một ví dụ ñiển hình, qua ñó có thể thấy ñược vai trò của người dân trong việc phát hiện tội phạm, góp phần không nhỏ trong ñấu tranh phòng, chống tội phạm Tuy nhiên, ñể có thể dựa vào dân và phát huy sức mạnh của toàn dân, các cơ quan, tổ chức trong vai trò là người giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội phải trấn áp mạnh bọn tội phạm, tạo niềm tin và chỗ dựa cho nhân dân tham gia phát hiện,
tố giác tội phạm, ñồng thời phải sát dân, gần dân, tin dân ñể phục vụ tốt nhân dân ñi
ñôi với vận ñộng, khuyến khích toàn dân tích cực tham gia giữ gìn an ninh trật tự
* Chủ thể tiếp nhận tố giác của công dân
Bộ luật tố tụng hình sự 1988, tại ðiều 84 quy ñịnh: “Công dân có thể tố giác tội
phạm với cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội…”
Bộ luật tố tụng hình sự 2003, tại ðiều 101 quy ñịnh: “Công dân có thể tố giác tội
phạm với cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức…”
Trong những trường hợp, sự viêc xảy ra ở những nơi giao thông không thuận lợi như ở vùng sâu, vùng xa, chưa phát triển về các phương tiện thông tin liên lạc…, bên cạnh ñó nhận thức của người dân có hạn, có thể họ sẽ không biết cơ quan nào là cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác của họ ðể tiếp cận ñược
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác tội phạm thì cũng mất một khoảng thời gian, có khi tin tố giác ựó không ựến ựược cơ quan có thẩm quyền Dẫn ựến sự việc sẽ chậm trễ,
ảnh hưởng rất lớn ựến hoạt ựộng ựiều tra, phát hiện sơ bộ tội phạm ban ựầu, góp phần
giúp sức cho tội phạm có thời gian xóa dấu vết, phi tang chứng cứ hay tẩu thoátẦ đây
là một hạn chế trong hoạt ựộng tiếp nhận tin báo tố giác của công dân, cho dù người dân
có muốn nhanh chóng ựưa thông tin về tội phạm ựến với cơ quan có thẩm quyền thì cũng không ựược thuận lợi Chắnh vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cụ thể tại điều
101 ựã sửa ựổi bổ sung về việc tăng thẩm quyền tiếp nhận tố giác của công dân cho một
số cơ quan, tổ chức đã khắc phục ựược những khó khăn mà công dân ựã gặp trước ựó, bên cạnh việc khắc phục còn tạo ra ựiều kiện thuận lợi nhất ựể tin báo, tố giác của công dân ựến cơ quan ựiều tra xử lý kịp thời và nhanh chóng Việc mở rộng thẩm quyền cho các chủ thể là rất hợp lý, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận ở khắp mọi nơi luôn sẵn sàng tiếp nhận mọi tố giác của công dân
* Hình thức tố giác của công dân
Tố giác của công dân cần phải ựược thể hiện hoặc ghi nhận bằng những hình thức như: Tố giác bằng văn bản, tố giác bằng miệng, tố giác qua ựiện thoại, qua email, qua faxẦ Cách sử dụng câu chữ trong ựiều luật có sự không rõ ràng, tố giác bằng ỘmiệngỢ Thường có hai hình thức tố giác cơ bản là tố giác bằng văn bản và tố giác bằng
ỘmiệngỢ thành Ộlời nóiỢ thì nội dung, ý nghĩa sẽ rõ ràng hơn ỘMiệngỢ là một bộ phận trên cơ thể của con người, chứ không bao hàm ý nghĩa mà câu chữ luật muốn hướng
ựến Xét về khắa cạnh từ ngữ thì ỘmiệngỢ chỉ ựơn thuần là một bộ phận của cơ thể
người, ngoài ra nó không phản ánh ựúng giá trị của việc tố giác, khác với tố giác bằng văn bản thì cụ thể và có giá trị pháp lý cao Tuy nhiên có thể giải thắch việc sử dụng tố giác bằng ỘmiệngỢ là hợp lý, bởi ý nghĩa của việc sử dụng sẽ thể hiện một cách trực tiếp, làm cho người ựọc nghĩ một cách ựơn giản về việc tố giác ựó Nhưng vấn ựề sẽ
ựược chặt chẽ và rõ ràng hơn khi tố giác bằng ỘmiệngỢ ựược thay ựổi thành tố giác
bằng Ộlời nóiỢ sẽ ựáp ứng ựược yêu cầu giúp cho người ựọc hiểu một cách ựầy ựủ nội dung của việc tố giác bằng Ộlời nóiỢ
đối với hình thức tố giác bằng văn bản thì sẽ dễ dàng, thuận lợi trong việc tiếp
nhận tố giác Còn ựối với hình thức tố giác bằng ỘmiệngỢ, hình thức tố giác này có thể
là tố giác trực tiếp và tố giác gián tiếp Tố giác bằng miệng Ộtrực tiếpỢ (trực tiếp tức là chắnh người ựi tố giác ựến gặp các cơ quan, tổ chức) Giải pháp trên nhằm giải quyết những trường hợp người dân muốn nhanh chóng tố giác tội phạm nên chưa kịp viết
ựơn hoặc do người tố giác không biết chữ đây là giải pháp hữu hiệu giúp công dân
thuận lợi rất nhiều trong việc tố giác tội phạm và cung cấp thông tin nóng cho cơ quan,
tổ chức Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận tố giác tội
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
phạm bằng miệng phải lập thành biên bản và có chữ ký của người tố giác đến ựây, vấn ựề ựược ựặt ra, nếu nói hình thức tố giác bằng miệng nhằm giải quyết trường hợp người tố giác không biết chữ đã là người không biết chữ thì sao tự mình ký tên vào biên bản ựược Trong tình huống trên có thể ựược suy ựoán việc Ộựiểm chỉỢ thay thế cho Ộký tênỢ ựối với người không biết chữ, và biên bản ựược lập vẫn có giá trị như biên bản ựược người tố giác biết chữ ký tên vào
Bên cạnh tố giác bằng miệng Ộtrực tiếpỢ thì luật còn thừa nhận cả hình thức tố giác bằng miệng Ộgián tiếpỢ (ựiển hình như tố giác qua ựiện thoại) Xã hội càng phát triển, ựặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin và ựiện thoại ựược sử dụng càng phổ biến Khi tiếp nhận bằng ựiện thoại, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận tố giác phải ghi rõ họ tên, ựịa chỉ, số ựiện thoại của người tố giác cũng như vụ việc xảy
ra để ựảm bảo chặt chẽ về thủ tục pháp lý và ựầy dủ thông tin, sau khi nhận ựược tin báo qua ựiện thoại, cơ quan tiếp nhận thông tin cần yêu cầu họ gửi bằng văn bản ựến
cơ quan có thẩm quyền
* Nhiệm vụ của cơ quan ựiều tra, Viện kiểm sát , Tòa án hoặc các cơ quan khác, tổ chức trong việc tiếp nhận tố giác của công dân
Cơ quan ựiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc các cơ quan khác, trong mọi trường hợp không ựược ựùn ựẩy, gây phiền hà cho công dân tố giác tội phạm, tạo mọi ựiều kiện, nâng cao ý thức ựấu tranh phòng, chống tội phạm cho công dân Người phạm tội trong nhiều truờng hợp tìm cách trả thù người ựã tố giác tội phạmnhư hủy hoại tài sản,
cố ý gây thương tắch, de dọa, thậm chắ giết người Do ựó, cơ quan tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm cần phải giữ bắ mật cho người ựã tố giác tội phạm
Tố giác tội phạm có thể là người bị hại, người phát hiện tội phạm, người có liên quan trực tiếp ựến tội phạm xảy ra Trường hợp người bị hại trình báo về sự kiện phạm tội (điều 105 Ờ Bộ luật tố tụng hình sự 2003) cũng ựược gọi là tố giác của công dân, là cơ sở
ựể xác ựịnh dấu hiệu của tội phạm đối với một số tội phạm cụ thể và trong những mối
quan hệ nhất ựịnh, người phạm tội phải tố giác tội phạm, nếu không họ sẽ phạm tội theo quy ựịnh tại điều 314 Ờ Bộ luật hình sự năm 1999, tội không tố giác tội phạm:
Ộ1 Người nào biết rõ một trong các tội phạm ựược quy ựịnh tại ựiều 313 của Bộ luật này ựang chuẩn bị, ựang hoặc ựã thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ ựến ban năm hoặc phạt tù từ ba tháng ựến ba năm
2 Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội ựặc biệt nghiêm trọng theo quy
ựịnh tại khoản 1 điều này
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3 Người không tố giác nếu ựã có hành ựộng can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể ựược miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.Ợ
Tố giác của công dân là một trong nhưng cơ sở ựể xác ựịnh có dấu hiệu tội phạm hay không có dấu hiệu tội phạm, tin tức ựó phải là những tin tức về tội phạm ựược chắnh thức báo cho cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự chứ không phải là những lời ựồn ựại không có căn cứ Tố giác của công dân là cơ sở trọng tâm, bởi nó mang tắnh chất phổ biến với chủ thể tố giác là công dân, mối quan hệ giữa cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khởi tố với công dân có tốt thì mục tiêu tiếp nhận phát hiện nhanh chóng, kịp thời về tội phạm sẽ ựạt kết quả cao Và còn góp phần vào hoạt ựộng ựấu tranh phòng, chống tội phạm
2.1.1.2 Tin báo của cơ quan, tổ chức
Tin báo về tội phạm là sự truyền ựạt, phản ánh bằng các hình thức khác nhau về tội phạm đó là những thông tin, tin báo, báo cáo, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức với cơ quan tiến hành tố tụng về những hành vi, vụ việc ựã xảy ra mà các cơ quan, tổ chức cho ựó là tội phạm
Vắ dụ: Cơ quan A trình báo về việc cơ quan bị mất con dấu
Hoặc cơ quan A tiếp nhận tố giác của công dân B về vụ mua bán ma túy sắp diễn ra
Tin báo của các cơ quan, tổ chức về tội phạm có thể là tin báo về tội phạm mà các
cơ quan, tổ chức ựó trực tiếp phát hiện có hành vi tội phạm xảy ra
điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy ựịnh: ỘẦcơ quan, tổ chức khi phát
hiện hoặc nhận ựược tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan
ựiều tra bằng văn bảnỢ Cơ quan ựiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, các cơ quan khác, tổ
chức ựược giao thẩm quyền tiếp nhận tố giác của công dân, tuy nhiên cần phải xác
ựịnh rõ rằng có thẩm quyền tiếp nhận tố giác của công dân không ựồng nhất với việc
sẽ có thẩm quyền giải quyết các tố giác ựó, bởi trong trường hợp này chỉ có cơ quan
ựiều tra hoặc Viện kiểm sát mới có thẩm quyền giải quyết Tin báo của cơ quan, tổ
chức phải bằng văn bản, trong những trường hợp ựể ựáp ứng tắnh chất kịp thời, nhanh chóng nhằm phát hiện tội phạm thì cơ quan, tổ chức báo tin qua ựiện thoại rồi sau ựó phải gửi văn bản ựến cơ quan có thẩm quyền Cần nói rõ khi tiếp nhận tin báo của cơ quan, tổ chức về tội phạm qua ựiện thoại thì người tiếp nhận ựiện báo phải ghi chép lại
ựầy ựủ thông tin về thời gian, họ tên và ựịa chỉ người báo cũng như nội dung sự việc ựược báo, ựể cơ quan có thẩm quyền kịp thời xử lý nguồn tin
Tòa án tiếp nhận tin báo và tố giác tôi phạm cũng phải chuyển ngay cho cơ quan
ựiều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ỘCơ quan, tổ chứcỢ không chỉ có cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội mà là tất cả các cơ quan, tổ chức nói chung (Cơ quan của sứ quán nước ngoài, cơ quan ngoại giao, các tổ chức phi chắnh phủ, tổ chức xã hội, tổ chức chắnh trị xã hội, tổ chức nghề nghiệp ) ựều có trách nhiệm báo cho cơ quan tiến hành tố tụng những tin tức về tội phạm điều này thể hiện rõ nguyên tắc sự tham gia của mọi cá nhân, tổ chức vào công cuộc ựấu tranh phòng chống tội phạm
2.1.1.3 Tin báo trên các phương tiện thông tin ựại chúng
Trước hết tôi xin ựưa ra một vắ dụ cụ thể sau: ỘTồn tại một vựa mắmẦ rùng rợnỢ
Những lu mắm ruồi bu kắn miệng, các bao mắm vất vương vãi giữa sình lầy, hàng
mớ can mắm xếp ựầy bên ựống rác và phân tro Ờ Bà cụ già 70 tuổi một tây xua bầy ruồi xanh, một tay nhúng chìm trong vại mắm quấy lên và nói: ỘMắm sống này mà chấm thịt chó thì số một ựó cậu!Ợ Cảnh tưởng này chúng tội chứng kiến tại vựa mắm
ở số 10 ựường 37, phường Linh đông, quận Thủ đức
Mắm, bùn ựất và phân sát cánh bên nhau
Theo lời phản ánh của một số người dân, chúng tôi tìm ựến vựa mắm này và chứng kiến tận mắt một quy trình sơ chế mắm lợm họng Một mùi khăm khẳm xộc vào mũi khi chúng tôi vừa bước qua cổng nhà Dọc theo hai lối ựi dẫn ra khu nhà sau, hàng trăm can mắm vứt vương vãi trân ựất Từng ựàn ruồi xanh cất cánh vèo vèo khi bước chân chúng tội qua
Cụ già đặng Thị Triếu Ờ chủ vựa mắm Ờ năm nay tròn 70 tuổi ựón chúng tôi khá thoải mái: ỘBà tự làm tất ựấy, bà nhận mối về làm rồi phân phối cho các chợỢ Khu nhà sau là nơi ựặt các khạp và lu mắm trong thời kỳ chế biến Mùi hôi tanh nồng nặc bốc lên khiến tôi muốn nôn Cụ già ựon ựã giới thiệu về các sản phẩm của mình chế biến ra: ỘLu màu ựen này là mắm nêm muối từ cá nục giá bỏ sỉ 7.000ự/kg, lu màu tắm nhạt là mắm ruốc gắa 6.000ự/kg, lu màu tắm ựậm là mắm Huế giá 8.000ự/kgỢ
Ngoài ựiểm tương ựồng về mùi hôi, tất cả các lu mắm nay ựều không có nắp ựậy
và là nơi hội tụ của ruồi nhặn Giải thắch về vấn ựề này, bà cụ cho biết: Ộđậy nắp sao mắm chắn ựược cậu, mở ra ruồi nhặn và dòi nó bu chắt ắt nhưng mắm sẽ thơm hơn Người ăn giờ người ta kén lắm, mắm không có mùi riêng người ta không lấy ựâuỢ Vừa trò chuyện với chúng tôi bà lão vừa tranh thủ nhúng tay vào vại mắm quấy ựều lên như ựể tiếp thị Cuộc trò chuyện của chúng tôi và bà cụ ựang suôn sẻ thì bất ngờ một thanh niên chạy xộc ra ựứng cạnh chúng tội tiểu tè tè Cụ mắng: ỘThằng kia sao tiểu lên mắm!Ợ Chúng tôi chưa kịp hiểu thì bà lão giải thắch: ỘMấy cái bao ựể dưới ựó
là toàn mắm không ựó, vài tháng mối từ Phan Thiết chở lên vài chục bao, bà nhận ựể bán dầnỢ Chúng tội choáng váng khi nghe bà cụ giới thiệu Khi bước vào ựây tôi ựã thấy hàng chục bao tải buộc miệng vứt vung vãi khắp nơi nhưng không nghĩ ựó là
Trang 31Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
mắm Khu vực phường Linh đông vốn thường xuyên bị ngặp nặng vì triều cường nên tôi cứ nghĩ ựó là những bao cát dùng ựể ngăn nước vào nhà
Tỏ ra không tin, anh bạn ựồng nghiệp của tôi bước tới kiểm tra và trả lời bằng một gật ựầu ựi kèm một cái lè lưỡi Những bao tải này ựược luồn bên trong bằng túi nilon chứa ựầy mắm Chúng tôi theo lối ựi ra khu vườn sau, một cảnh tượng hãi hung phơi bày ra trước mắt Hàng chục bao mắm bị quăng quật cạnh một ựống rác thải bốc mùi khăm khẳm Nhiều bao mắm ựã mục hết lớp bao bên ngoài chỉ còn lại phần nilon bên trong Lật phắa dưới lên, nhiều bao ựã ựóng rêu xanh rì Kinh hoàng hơn, ngự trị trên một trong số bao mắm ựó là một bãi phân chó ựen sì còn mới nguyên Cổ họng tôi như muốn trào lên Bà lão vẫn thãn nhiên: ỘMắm ựể càng lâu càng ngon mà chú, mưa nắng gì cũng không ảnh hưởng ựâuỢ
Cần dẹp ngay vựa mắm này!
Trước tình hình dịch bệnh tiêu chảy cấp ựang lan rộng ở nhiều tỉnh thành trong cả nước, ngày 6 -11- 2007, Sở y tế TPHCM ựã có căn bản yêu cầu các cơ sở sản xuất mắm tôm, mắm tép trên ựịa bàn phải tạm ngưng việc sản xuất và không ựưa sản phẩm tồn kho ra thị trường Ngoài ra các nhà hàng, quán ăn, nơi chế biến thực phẩm tạm ngưng sử dụng mắm tôm, mắm tép Theo sau ựó, ngày 8 -11, UBND quận Thủ đức cũng ra thông báo ựến ngày 12 -11 sẽ tịch thu, tiêu hủy những ựiểm kinh doanh, chế biến mắm không ựảm bảo vệ sinh Thực tế ựiều ựó ựã thực thi tới ựâu? Còn bà đặng Thị Triếu Ờ chủ vựa mắm nêu trên Ộhồn nhiênỢcho biết: ỘTôi làm nghề này ựã hơn 30 năm rồi chưa thấy chắnh quyền có ý kiến gì, gần ựây cũng không ai ựá ựộng gì về việc
vệ sinhỢ (!)
để tìm hiểu thêm về vấn ựề này, chúng tôi có cuộc trò chuyện với ựại diện Trung
tâm y tế dự phòng quận Thủ đức Phó giám ựốc trung tâm Nguyễn Việt Dũng lại khẳng ựịnh: ỘChúng tôi triệt ựể trong mọi công tác ựể chống dịch, việc tuyên truyền
ựược phổ biến ựến từng hộ dân Khoa an toàn vệ sinh thực phẩm có nhiệm vụ thị sát
các cơ sở chế biến, nếu phát hiện cơ sở nào còn hoạt ựộng chúng tôi sẽ phối hợp với
ựội ựôi kiểm tra liên ngành xử lý ngay Cơ bản thì vấn ựề này hiện nay ựang ựược thực
hiện tốtỢ
Thực tế công tác kiểm tra và xử lý những trường hợp vi phạm vẫn còn khác xa với lời nói của cơ quan chức năng Trong lúc dịch tiêu chảy cấp ựang lan rộng thì sự tồn tại của vựa mắm kiểu này như tiếp them ựộng lực cho dịch bệnh lây lan.(6)
Trên ựây là một vắ dụ nói lên ựược việc báo chắ muốn ựưa tin về việc vựa mắm sản xuất không hợp vệ sinh có thể dẫn ựến hậu quả hết sức nghiêm trọng về sức khỏe, tắnh
(6) Báo Công an thành phố Hồ Chắ Minh ngày 15/11/2007, bài viết ỘTồn tại một vựa mắmẦ rùng rợnỢ của Hồng Cường, tr.9
Trang 32Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
mạng của người tiêu dùng, cũng như trách nhiệm của cơ quan chức năng trước thực trạng người dân ựang ựứng trước một bệnh dịch nguy hiểm nhưng nguyên nhân gây ra mầm bệnh vẫn còn đây là một trong những vắ dụ ựiển hình về việc báo chắ phản ánh một sự việc có thể mang dấu hiệu tội phạm, tuy không trực tiếp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành xác minh, ựiều tra vụ việc nhưng các cơ quan có thẩm quyền cần phải có trách nhiệm trong việc xem xét và giải quyết các nguồn thông tin trên
Xã hội ngày càng phát triển, khoa học kĩ thuật ngày càng tiến bộ, nhu cầu của con người cũng cao hơn đòi hỏi không chỉ phải tốt về tinh thần mà phải ựầy ựủ cả về vất chất, kéo theo sự ra ựời của công nghệ mới ựể ựáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội trong số những nhu cầu ựó thì phương tiện thông tin ựại chúng là phương tiện không thể thiếu trong ựời sống hiện ựại của con người Phương tiện thông tin ựại chúng gồm: báo chắ, phát thanh, truyền hình, enternetẦ
đảng và Nhà nước rất coi trọng việc sử dụng phương tiện thông tin ựại chúng ựể tham gia vào ựấu tranh chống tội phạm Quan ựiểm nêu trên ựược thể hiện trong tất cả các văn kiện, ựánh giá chắnh thức của đảng và Nhà nước ựều nói rằng, phương tiện thông tin ựại chúng có vai trò rất quan trọng Nếu không có sự tham gia của phương tiện thông tin ựại chúng thì sẽ mất ựi những nguồn thông tin quý báo, bổ ắch trong hoạt ựộng
ựiều tra, xác ựịnh dấu hiệu tội phạm đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ rất
khó khăn, gian khổ và phức tạp Cho nên phòng, chống tội phạm thực sự mang lại hiệu quả tốt ựẹp như chúng ta mong muốn không chỉ ựòi hỏi các tác giả sự nhiệt tình, hăng hái mà còn ựòi hỏi sự sáng suốt, công tâm và ý thức xây dựng rất cao Bên cạnh ựóng góp quan trọng và chủ yếu của báo chắ, trong thông tin chống tiêu cực có khá nhiều vụ việc báo chắ thông tin không chắnh xác, ựôi khi thông tin nặng về một chiều Cũng có lúc do nhà báo trình ựộ nghiệp vụ non kém, có lúc do nôn nóng có thông tin sớm, cũng
có lúc bị những người có liên quan ựến vụ tiêu cực lợi dụng báo chắ ựể nói lên ựiều chủ quan họ muốn mà mình không cảnh giác Và không loại trừ ựôi khi có một bộ phận, dù
là nhỏ, có nhà báo tiêu cực ựứng về phắa người tiêu cực ựể chống tiêu cực cho nên rốt cuộc không chống ựược tiêu cực mà lại phụ hoạ với một cái tiêu cực khác đối với mọi thông tin ựược phản ánh cần kèm theo ựó những trách nhiệm về việc ựảm bảo nguồn tin không mang tắnh tiêu cực Có như vậy, vai trò của báo chắ sẽ ựược nâng cao và ưu thế hơn trong công cuộc ựấu tranh phòng, chống tội phạm
Tin tức về tội phạm trên các phương tiện thông tin ựại chúng (nội dung của tin tức nóng, rất ựa dạng, phong phúẦ) Những sự việc nêu trên ựó có thể là kết quả ựiều tra của tác giả hoặc qua thư phản ánh của nhân dân, tuy không trực tiếp gởi cho các cơ quan có thẩm quyền nhưng họ vẫn phải có nghĩa vụ xem xét ựể giải quyết kịp thời nếu như phát hiện có dấu hiệu tội phạm (theo quy ựịnh của pháp luật)
Trang 33Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1.1.4 Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ ñội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân ñội nhân dân ñược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt ñộng ñiều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm
ðây là những chủ thể ñặc biệt mà trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình, những thông tin mà họ thu ñược có giá trị làm căn cứ xác ñịnh việc khởi tố
án, thì họ còn phải phối hợp với Cơ quan ñiều tra trong việc khám phá tội phạm
Thứ hai, Là các cơ quan tuy không có chức trách hoạt ñộng chuyên môn về phòng chống tội phạm Nhưng trong hoạt ñộng của họ dễ phát hiện dấu hiệu tội phạm như: Cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán Những cơ quan này trong quá trình thực hiện chức năng của mình do phải thường xuyên kiểm tra tính ñúng ñắn, hợp pháp của các hoạt ñộng kinh tế, xã hội trong lĩnh vực của mình nên dễ phát hiện dấu hiệu tội phạm
Tại thông tư liên tịch số 03/2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng ngày 23/05/2006 về quan hệ phối hợp trong việc phát hiện ñiều tra, xử lý các vụ có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố, có quy ñịnh rằng “Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, nếu Cơ quan thanh tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì phải gởi văn bản kiến nghị
cho Viện kiểm sát cùng cấp” Và “Trường hợp vụ việc vi phạm pháp luật có nhiều tình
tiết phức tạp, liên quan ñến nhiều cấp, nhiều ngành, nếu thấy cần thiết thì Cơ quan thanh tra tổ chức họp lãnh ñạo liên ngành gồm: Cơ quan thanh tra, Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát cùng cấp ñể phân tích, ñánh giá những tài liệu ñã thu thập ñược Nếu liên ngành thống nhất xác ñịnh ñược vụ việc ñã rõ dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan thanh tra khẩn trương lập hồ sơ và văn bản kiến nghị Cơ quan ñiều tra có thẩm quyền khởi tố vụ án” Hoặc “ Khi kết thúc cuộc thanh tra, Cơ quan thanh tra không kiến nghị khởi tố, nhưng Cơ quan ñiều tra phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự”
Với những quy ñịnh như trên các cơ quan không chỉ làm việc riêng lẻ mà còn tạo
ñiều kiện cho việc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc phát hiện tội phạm ðây có thể coi là nguồn thông tin ñáng tin cậy nhất
Trang 34Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1.1.5 Người phạm tội tự thú
Người phạm tội tự thú là việc người sau khi thực hiện hành vi phạm tội tự nguyện
ñến khai báo với cơ quan, tổ chức mặc dù chưa bị các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện
Việc tự nguyện này có thể do sự ăn năn, hối hận của bản thân, có thể do sự tác ñộng của gia ñình, người thân nên người phạm tội ra tự thú ñể ñược khoan hồng của pháp luật, tránh sống chui lủi trong trạng thái lo âu sợ bị phát hiện và bất giữ bất kỳ lúc nào
Ví dụ: A ñã thực hiện hành vi giết B do ñã nhận tiền của C
Trong tình huống trên, A và B không có bất cứ một xích mích nào Tuy nhiên, B
và C lại có mâu thuẫn lớn, A ñang trong tình trạng thiếu tiền mà con nợ của A ñang rình rập Vì quá lo sợ nên A ñã ñồng ý yêu cầu của C là giết chết B ñể rồi ñược nhận lấy một số tiền ñủ ñể trả nợ Sau khi thực hiện hành vi giết người, A ñã rất hoảng loạn
và quyết ñịnh tự thú trước cơ quan ñiều tra
Tại ðiều 25 khoản 2 và ðiều 46 khoản 1, ñiểm o Bộ luật hình sự 1999 có quy ñịnh:
“Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội ñã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiểu quả vào việc phát hiện và ñiều tra tội phạm, cố gắng hạn chế ñến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể miễn ñược trách nhiệm hình sự”
“Người phạm tội tự thú”
Quy ñịnh trên là những việc cụ thể hóa nguyên tắc xử lý người phạm tội:
“…khoan hồng ñối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người ñồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra”, tại ðiều 3 khoản 2 Bộ luật hình sự 1999 Có thể nhận thấy hành vi tự thú của
người phạm tội ñược ðảng và Nhà nước ñặc biệt quan trọng, nói lên tư tưởng nhân
ñạo ñối với người phạm tội nhằm mục ñích cảm hóa, cải tạo người phạm tội trở thành
người lương thiện Trong luật hình sự quy ñịnh người tự thú có thể ñược miễn trách nhiệm hình sự hoặc vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng trong trường hợp này tự thú là tình tiết giảm nhẹ Quy ñịnh về tự thú còn là quy ñịnh mang tính phòng ngừa tích cực, giúp cho cơ quan bảo vệ pháp luật sớm khám phá ra tội phạm, giảm bớt chi phí cần thiết cho việc ñiều tra, truy bắt ñối tượng, rút ngắn các hành vi tố tụng Khi người phạm tội ñến tự thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú về hành vi phạm tội của mình Cần làm rõ lý do tự thú của họ Trong thực tế có người phạm tội ñặc biệt nghiêm trọng, sau ñó cố tình phạm tội ít nghiêm trọng và ra tự thú ñể trốn tránh sự trừng phạt
về tội phạm nặng hơn mà họ ñã gây ra hoặc nhận tội mà mình không phạm với mục
ñích che giấu hung thủ thực sự vì một lý do nào ñó Mặc dù lời tự thú ñược xem là một
Trang 35Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trong những sơ sở ñáng tin cậy nhất, tuy nhiêm trong hai trường hợp nêu trên thì không hẳn là vậy
Ví dụ: A dùng dao ñâm chết B, C là cha ruột của A ñã chứng kiến vụ án Và C ñã
ñi tự thú hành vi giết chết B là do mình gây ra
Rất nhiều nguyên nhân sẽ dẫn ñến việc nhận thay tội mà mình không thực hiện vì tình cảm, trả ơn, bị ñe dọa Chính vì vậy, lời tự thú là một tài liệu rất quan trọng nên cơ quan ñiều tra phải kiểm tra lời tự thú, ñộng cơ, mục ñích của người tự thú, ñối chiếu với các chứng cứ khác ñể xem lời tự thú có chính xác và ñúng ñắn hay không ðể ñi ñến kết luận rằng có hay không việc dấu hiệu tội phạm trong sự việc mà người phạm tội tự thú khai báo, trên cơ sở ñó ra quyết ñịnh khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự
Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú có trách nhiệm báo ngay cho
Cơ quan ñiều tra hoặc Viện kiểm sát, ñồng thời chuyển biên bản và ñưa người phạm tội tự thú ñến một trong hai cơ quan này ñể giải quyết theo quy ñịnh của pháp luật Cần phải có sự nhận ñịnh rõ ràng và chính xác giữa căn cứ khởi tố vụ án hình sự với sơ sở khởi tố vụ án hình sự Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là những dấu hiệu tội mà các cơ quan có thẩm quyền xác ñinh ñược, và ñể xác ñịnh ñược một sự việc có hay không có dấu hiệu tội phạm thì lại phải dựa vào các cơ sở nêu trên Các cơ sở trên là các nguồn thông tin ban ñầu về tội phạm, ñược thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau trong
xã hội Khi một sự việc xảy ra, ñể xác ñịnh có dấu hiệu tội phạm hay không thì các cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra, xác minh Nhưng bằng cách nào các cơ quan có thẩm quyền có thể tự phát hiện tất cả các sự việc, xảy ra bất cứ nơi ñâu Chính
từ vấn ñề ñó, luật có quy ñịnh một cách cụ thể nghĩa vụ của các chủ thể khác nhau trong
xã hội ñều có trách nhiệm ñối với công cuộc ñấu tranh phòng, chống tội phạm, phối hợp chặt chẽ với nhau ñể ñặt ñược mục ñích ñã ñề ra: “Một xã hội không có tội phạm” Những nguồn tin ban ñầu về tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ ảnh hưởng
ñến giai ñoạn khởi tố mà còn ảnh hưởng cả các giai ñoạn sau giai ñoạn khởi tố
Xét về tính chất thì các nguồn thông tin của các chủ thể (công dân; cơ quan, tổ chức; thông tin ñại chúng…) có ñộ chính xác không cao, không phải lúc nào cũng phản ánh ñúng sự việc xảy ra là tội phạm Thực tế ñã chứng minh, có nhiều trường hợp các thông tin về tội phạm ñưa ra từ các chủ thể này là không chính xác
Ví dụ:: Nguyễn Văn A trình báo qua ñường dây nóng với phòng cảnh sát ñiều tra
về tội phạm ma túy; tại căn nhà số 09, ñường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ ñang diễn ra hành vi mua bán ma túy Nhưng khi ñến ñó, lại không có sự việc xảy ra
Ví dụ: Trên các phương tiện thông tin ñại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình…) có những thông tin sai sự thật
Trang 36Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hai ví dụ trên là ñiển hình với hai lý do là có một số người ý thức pháp luật không cao, họ không lường trước ñuợc những gì mà mình ñã thực hiện, họ thực hiện hành vi trên nhằm quấy nhiễu, trêu chọc lực lượng cảnh sát và xem ñây là một trò chơi thú vị, hay do trình ñộ pháp luật, trình ñộ chuyên môn không có, không cao Ngoài hai
lý do còn có rất nhiều lý do khác nữa dẫn ñến những nguồn thông tin do các chủ thể cung cắp là không ñáng tin cậy Vì vậy, khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận ñược các thông tin từ các chủ thể thì không mặc nhiên ra quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự mà phải tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin một cách cơ bản và toàn diện, khi xác ñịnh
có dấu hiệu tội phạm mới ra quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự ðối với những tin tố giác không có thật do vu khống gây không ít tốn kém cho Nhà nước Chẳng hạn như, khi nhận ñược tin tố giác có tội phạm ở ñịa bàn xa xôi, hẻo lánh thì phải tốn kém chi phí ñể di chuyển ñến ñó Nếu không có vụ việc gì xảy ra thì coi như bỏ cả sức người
và sức của Vì vậy cần phải có biện pháp xử lý ñối với người tố giác vu khống như bắt lao ñộng công ích, xử lý hành chính nếu như gây ra thiệt hại
2.1.1.6 Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại
Theo nguyên tắc, các cơ quan có thẩm quyền xác ñịnh có một sự việc và trong sự việc có dấu hiệu tội phạm dựa vào các cơ sở (quy ñịnh tại ðiều 100 – Bộ luật tố tụng hình
sự 2003), thì ra quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự, ngược lại không có sự việc xảy ra, hay
có sự việc xảy ra nhưng không có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết ñịnh không khởi tố vụ án hình sự Do yêu cầu về sự hài hòa giữa mục tiêu của công cuộc ñấu tranh phòng, chống tội phạm và lợi ích, nguyện vọng của người bị hại, cho nên tại ðiều 105, khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy ñịnh:
“1 Những vụ án về các tội phạm ñược quy ñịnh tại khoản 1 các ðiều 104, 105,
106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ ñược khởi tố khi
có yêu cầu của người bị hại hoặc của người ñại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược ñiểm về tâm thần hoặc thể chất
2 Trong tường hợp người ñã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải ñược ñình chỉ
Trong trường hợp có căn cứ xác ñịnh người ñã yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người ñã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan
ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng ñối với vụ án
Người bị hại ñã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”
Theo quy ñịnh tại ñiều 51 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì người bị hại là người
bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra; ñiều luật này còn quy ñịnh
quyền và nghĩa vụ của người bị hại và cụ thể tại khoản 3 “trong trường hợp vụ án
Trang 37Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ñược khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy ñịnh tại ðiều 105 của Bộ luật này thì
người bị hại hoặc người ñại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa” Người bị hại có yêu cầu khởi tố là chủ thể tham gia tố tụng có những quyền theo
quy ñịnh của pháp luật hình sự mở rộng hơn người bị hại thông thường ở chỗ họ ñược quyền tự do quyết ñịnh việc yêu cầu khởi tố hay không ñối với hành vi xâm hại lợi ích hợp pháp của họ và chỉ khi họ có yêu cầu thì vụ án hình sự mới ñược khởi tố và khi họ rút yêu cầu thì vụ án có thể ñược ñình chỉ
Việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại chỉ ñược áp dụng ñối với một số tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con
thường là các vụ án thuộc các tội phạm ít nghiêm trọng Những tội ñược luật quy ñịnh, chỉ ñược khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người ñại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược ñiểm về tâm thần hoặc thể chất Có thể hiểu một cách khái quát như thế nào là người có nhược ñiểm về tâm thần, thể chất? Người có nhược ñiểm về tâm thần là người có biểu hiện như không
có khả năng nhận thức, bị các bệnh về tâm thần: ñiên loan, mất trí …; người có nhược
ñiểm về thể chất như tất nguyền, câm, ñiếc, ngọng… Còn người ñại diện hợp pháp của
người bị hại như bố, mẹ, ông, bà… Tất cả những người bị hại trên không thể tự bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình ñược, họ phải thông qua người ñại diện ñể mói lên mong muốn xử lý hình sự người phạm tội ñã gây ra thiệt hại cho họ Yêu cầu cầu người bị hại là yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự người ñã gây thiệt hại cho họ, và yêu cầu của người bị bại có thể thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói ðối với yêu cầu bằng lời nói ñòi hỏi nội dung phải rõ ràng về ñiều kiện khởi tố vụ án hình sự (những tội nào
ñược quy ñịnh phải có yêu cầu của người bị hại thì mới ñược khởi tố), trình bày rõ về
sự việc ñã xảy ra ðối với yêu cầu bằng lời nói thì người tiếp nhận phải lập biên bản tiếp nhận, ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai về sự việc ñã xảy ra và phải có chữ ký của người yêu cầu Trong trường hợp người bị hại yêu cầu không rõ ràng thì người tiếp nhận phải giải thích cho họ hiểu ñể họ tự quyết ñịnh có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự hay không Như phần trước có xác ñịnh “người bị hại trình báo
(7)
Cụ thể hành vi phạm tội ñược quy ñịnh: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (ðiều 104 khoản 1, Bộ luật hình sự 1999); tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích ñộng mạnh (ðiều 105 khoản 1, Bộ luật hình sự 1999); tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính ñáng (ðiều 109 khỏan 1, Bộ luật hình sự 1999); tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác (ðiều 108 khoản 1, Bộ luật hình sự 1999); tội hiếp dâm (ðiều 111 khoản 1, Bộ luật hình sự 1999); tội cưỡng dâm (ðiều
113 khoản 1, Bộ luật hình sự 1999); tội làm nhục người khác (ðiều 121 khoản 1, Bộ luật hình sự 1999); tội vu khống (ðiều 122 khoản 1, Bộ luật hình sự 1999); tội xâm phạm quyền tác giả (ðiều 131 khoản 1, Bộ luật hình
sự 1999); tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (ðiều 171 khoản 1, Bộ luật hình sự 1999)
Trang 38Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
về sự kiện phạm tội cũng ñược coi là tố giác công dân” Chính vì vậy, mức ñộ tin cậy vào ñơn yêu cầu của người bị hại là không hoàn toàn và việc khởi tố theo yêu cầu của người bị hại vẫn phải xác ñịnh xem có dấu hiệu tội phạm Nếu không có dấu hiệu tội phạm thì dù người bị hại có yêu cầu khởi tố cũng không ñược khởi tố Ngược lại, nếu
ñã xác ñịnh có dấu hiệu tội phạm thì người bị hại không yêu cầu khởi tố cũng không ñược khởi tố và có thể xử lý bằng các hình thức khác Người bị hại có quyền yêu cầu
khởi tố thì cũng có cả quyền rút yêu cầu của mình Người bị hại yêu cầu và quyết ñịnh rút ñơn yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ ván phải ñược ñình chỉ, dù việc ñiều tra ñã hoàn thành, Viện kiểm sát có quyền truy tố bị can vụ án hình sự Tòa
án ñã có quyết ñịnh ñưa vụ án ra xét xử, nhưng chỉ cần trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm, người ñã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải ñược ñình chỉ Tuy nhiên, nếu họ rút yêu cầu ngay trong phiên tòa sơ thẩm ñang xét xử thì yêu cầu ñó không
ñược chấp nhận Thực tiễn áp dụng chế ñịnh này cho thấy có những vụ án cho ñến khi
xét xử, qua diễn biễn tại phiên tòa giữa bị hại và bị cáo mới tìm thấy sự thông cảm thực sự, muốn dàn xếp theo thỏa thuận giữ hai bên, lúc này người bị hại muốn rút yêu cầu nhưng theo quy ñịnh của pháp luật thì không ñược, vụ án phải ñược xét xử Việc quy ñịnh như trên là khá cứng nhắc, nên trong thực tế một số vụ án vẫn chưa ñạt ñược mục ñích là “làm yên lòng dân”, vụ án ñược xét xử xong rồi nhưng người dân không thỏa mãn, hai bên vẫn còn mâu thuẫn
Trong trường hợp họ ñã rút yêu cầu rồi thì không có quyền yêu cầu khởi tố lại, trừ những trường hợp người bị hại rút yêu cầu trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức (người bị hại không hiểu biết hoặc vì sợ bị can, bị cáo trả thù) thì tùy người
ñã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án vẫn có thể
tiếp tục tiến hành tố tụng ñối với vụ án
Bên cạnh ñiều kiện cần là phải có yêu cầu khởi tố của người bị hại ñối với một số hành vi phạm tội, và ñã ñược các cơ quan có thẩm quyền xác ñịnh có sự việc xảy ra mang dấu hiệu tội phạm như trong sự việc mà người bị hại trình bày, thì cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết ñịnh khởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, hết sức lưu ý trong quá trình kiểm tra, xác minh thấy có một trong bảy căn cứ không ñược khởi tố vụ án hình sự (ðiều 107) thì cũng không ñược khởi tố vụ án hình sự, nếu ñã khởi tố rồi thì phải ñình chỉ vụ án
2.1.2 Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là khi ñã xác ñịnh có dấu hiệu tội phạm dựa vào các
cơ sở luật ñịnh Mục ñích của khởi tố là xác nhận về mặt pháp lý một vụ việc ñã xảy ra
có dấu hiệu tội phạm ñể tiến hành các hoạt ñộng tố tụng Nhằm ñảm bảo cho việc khởi
tố vụ án hình sự ñược chính xác, tránh khởi tố tràn lan dẫn ñến xâm phạm quyền và lợi
Trang 39Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ích hợp pháp của công dân, cũng như ra quyết ñịnh không khởi tố không có căn cứ ñể
bỏ lọt tội phạm Vì vậy, những căn cứ không khởi tố vụ án chiếm vị trí quan trọng trong toàn bộ hoạt ñộng giải quyết vụ án, tạo cơ sở pháp lý ñể ra quyết ñịnh không khởi tố vụ án hình sự
Theo ðiều 107, khi có một trong những căn cứ sau ñây thì không ñược khởi tố vụ
án hình sự:
2.1.2.1 Không có sự việc phạm tội
Sự việc phạm tội là sự việc do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra, có sự việc nhưng không phải do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra cũng không phải sự việc phạm tội
Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là dấu hiệu tội phạm và dựa vào các cơ sở: Tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin ñại chúng; Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ ñội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân ñội nhân dân ñược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt ñộng ñiều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; người phạm tội tự thú, ñể xác ñịnh có sự việc xảy ra hay không và
sự việc ñó có dấu hiệu tội phạm không ðối với căn cứ không khởi tố vụ án hình sự cụ thể ñể xác ñịnh không có sự việc phạm tội cũng phải dựa vào các căn cứ nêu trên
Ví dụ 1: Công dân ñến báo có một tai nạn giao thông xảy ra tại ngã tư ñường Mậu Thân
Mặc dù, khi các cơ quan tiếp nhận ñược tin báo nhanh chóng ñến ñịa ñiểm mà công dân trên báo Cơ quan tiếp nhận xác nhận là có sự việc xảy ra, nhưng vụ tai nạn xảy ra là do nạn nhân không làm chủ ñược tốc ñộ và ñã không gây thiệt hại ñến người lưu thông trong thời gian ñó Và hành vi trên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, chứ không phải là một hành vi phạm tội Từ ñó xác ñịnh sự việc xảy ra không có sự việc phạm tội
Ví dụ 2: Ông Nguyễn Văn A là cha của Nguyễn Văn B Ông phát hiện con của mình
ñã chết vì treo cổ, ngay lúc ñó ông còn thấy C (hàng xóm của gia ñình), từ trong phòng
bước ra với vẻ mặt hốt hoảng Ông cứ một mực cho rằng C ñã giết con mình và treo cổ lên dựng hiện trường giả và tố giác hành vi giết người của C cho Cơ quan ñiều tra
Chết có rất nhiều cái chết như chết tự nhiên, chết do tai nạn, chết do tự tử, chết án mạng….Trong tình huống nêu trên, Cơ quan ñiều tra tiếp nhận tố giác của ông A và nhanh chóng xuống hiện trường ñể xác minh nguồn tin có ñúng sự thật không Sau khi kiểm tra, xác minh cơ quan ñiều tra xác ñịnh có vụ việc xảy ra và B chết là do tự tử (
tự mình treo cổ) chứ không như tố giác của ông A là do C giết chết Thực tiễn cho thấy, không phải bất kỳ nguồn tin nào (tố giác, tin báo, người phạm tội tự thú…) cũng
Trang 40Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ựều phản ánh ựúng sự việc xảy ra đôi khi có những sự việc ựã xảy ra gây nguy hiểm
hoặc ựe dọa gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn không phải là tội phạm nhưng do nhầm lẫn của người tố giác (như vắ dụ 2 nêu trên), do vu khống, giả tạoẦHay có trường hợp, có những sự việc xảy ra nhưng rất khó phân biệt ựược tội phạm hay không phải tội phạm (phòng vệ chắnh ựáng, tình thế cấp thiếtẦ) nếu như người nhận ựịnh sự việc không có kiến thức chuyên môn về khoa học pháp lý hình sự Những trường hợp này, sau khi cơ quan chuyên môn có thẩm quyền xác ựịnh rõ ràng có sự việc phạm tội thì khi ựó sẽ là căn cứ ựể quyết ựịnh không khởi tố vụ án hình sự
2.1.2.2 Hành vi không cấu thành tội phạm
Không có bất kỳ một ựiều luật nào từ xưa ựến nay quy ựịnh khái niệm cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là một khái niệm chung nhất ựược các nhà luật học rút
ra từ nhiều quy ựịnh chung cũng như quy ựịnh về từng tội phạm cụ thể của luật Chẳng
hạn như, cấu thành tội phạm là hệ thống các dấu hiệu cần và ựủ ựặc trưng cho từng tội
phạm cụ thể ựược quy ựịnh trong Bộ luật hình sự hoặc cấu thành tội phạm là khuôn mẫu pháp lý của tội phạm hay cấu thành tội phạm là khái niệm pháp lý ựược quy ựịnh
ựược nhiều người chấp nhận nhất hiện nay cho rằng, cấu thành tội phạm là tổng hợp
những dấu hiệu chung có tắnh ựặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể ựược quy ựịnh
ựiều luật những là cơ sở pháp lý bắt buộc ựể xác ựịnh tội phạm Một hành vi bị xem là
tội phạm và phải chịu hình phạt khi hành vi ựó ựược luật hình sự quy ựịnh (Bộ luật
hình sự 1999) điều 2 Bộ luật hình sự 1999 quy ựịnh: ỘChỉ người nào phạm tội ựã
ựược Bộ luật hình sự quy ựịnh mới phải chịu trách nhiệm hình sựỢ, thể hiện rõ cơ sở
pháp lý này Luật hình sự quy ựịnh tội phạm thông qua việc quy ựịnh các hành vi nguy hiểm cho xã hội có ựủ các yếu tố của cấu thành tội phạm
Nói như thế, không có nghĩa là mọi tội phạm ựều phải thõa mãn hết tất cả các yếu
tố của cấu thành tội phạm Có hai loại cấu thành tội phạm là cấu thành tội phạm bắt buộc và cấu thành tội phạm không bắt buộc
* Cấu thành tội phạm bắt buộc bao gồm bốn dấu hiệu
- Mặt khách quan của tội phạm
Bất cứ tội phạm nào khi ựược thực hiện cũng diễn ra và tồn tại các yếu tố:
+ Hành vi nguy hiểm cho xã hội
+ Hậu quả nguy hiểm cho xã hội
+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
(8) , (9) Th.S Phạm Văn Beo, giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung), tr.52, tháng 9 năm 2003