1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề cương ôn tập pháp luật đại cương

18 518 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 41,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

*Định nghĩa Pháp luật: Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thứa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị

Trang 1

ĐÊ 1:

I)phân tu luan

Câu 1:phap luat la j?phap luat co nhung thuoc tinh j?

*Định nghĩa Pháp luật:

Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước

ban hành hoặc thứa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình

*Các thuộc tính của Pháp luật:

- Tính bắt buộc chung (tính qui phạm phổ biến): Trước hết, qui phạm được hiểu là những qui tắc xử sự chung, được coi là khuôn mẫu, chuẩn mực, mực thước đối với

hành vi của 1 phạm vi cá nhân, tổ chức. Pháp luật được biểu hiện cụ thể là

những qui phạm pháp luật Do vậy nó cũng là qui tắc xử sự chung cho phạm vi cá

nhân hoặc tổ chức nhất định. Pháp luật được Nhà nước ban hành hay thừa nhận

không chỉ dành riêng cho một cá nhân, tổ chức cụ thể mà áp dụng cho tất cả các

chủ thể Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa Pháp luật với các loại qui phạm khác ở chỗ:Pháp luật là qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung.

VD: Pháp luật qui định: mọi chủ thể kinh doanh phải nộp thuế.

- Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: Yêu cầu của pháp luật là phải xác định chặt chẽ về mặt hình thức, được biểu hiện ở:

+Lời văn: phải chính xác, cụ thể, dễ hiểu, không đa nghĩa Nếu không đúng được yêu cầu này, chủ thể sẽ hiểu sai, hiểu khác

+Pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và thông qua cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền ban hành Tuy nhiên mỗi một cơ quan/ loại cơ quan chỉ được ban hành những loại văn bản nhất định có tên gọi xác định và theo một trình tự, thủ tục nhất định

VD: Hiếu pháp, bộ luật: Quốc hội mới có quyền ban hành

Nghị định: Chính phủ mới có quyền ban hành

+Sự xác định chặt chẽ trong cấu trúc của Pháp luật.

- Tính đảm bảo được thực hiện bằng Nhà nước: Pháp luật do Nhà nước ban hành

và thừa nhận đồng thời Nhà nước sẽ đảm bảo cho Pháp luật đó được thực hiện

trong thực tiễn đời sống Sự đảm bảo đó được thể hiện:

+Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích giúp đỡ để chủ thể thực hiện pháp luật

+Nhà nước đảm bảo cho Pháp luật được thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của

Nhà nước

Trang 2

Tính cưỡng chế là tính không thể tách rời khỏi Pháp luật.Mục đích cưỡng chế và

cách thức cưỡng chế là tùy thuộc bản chất Nhà nước

Đặc điểm của pháp luật:

- PL thể hiện ý chí của giai cấp thống trị

- PL là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

- PL do Nhà nước đặt ra và bảo vệ

II) phan trac nghiem

Câu2:chính phủ có vị trí ? chức năng ntn?

-) vi tri cua chinh phu:

theo điều 1 – Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001 thì “Chính

phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã

hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp

và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ

ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước” Và theo điều 109 Hiến pháp 1992

“ Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ” Qua hai điều

trên ta thấy Chính phủ vừa là cơ quan chấp hành của Quốc hội, vừa là cơ quan

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội thể hiện ở :  Thứ nhất Quốc hội thành lập ra Chính phủ, quy định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cho Chính phủ Chính phủ hoạt động dưới sự giám sát của Quốc hội, nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội .  Thứ hai Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, chủ tịch nước Thứ ba thành viên của Chính phủ hoạt động dưới sự giám sát của Quốc hội, có thể

bị Quốc hội bãi nhiệm, miễn nhiệm,cách chức theo quy định của pháp luật, nhiệm

Thứ tư, Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, quy định vào trong Nghị quyết của Quốc hội à Chính phủ tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu

quả trên cơ sở cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật, phân công, đề ra các biện

pháp thích hợp, chỉ đạo thực hiện các văn bản đó trên thực tế

Trang 3

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thể hiện ở : Hoạt động quản lý nhà nước là hoạt động chủ yếu,bao trùm toàn bộ các lĩnh vực thuộc chức năng của Chính phủ được Hiến pháp quy định, hoạt động quản lý nhà nước của Chính phủ bao trùm toàn bộ các lĩnh vực trong phạm vi cả nước : kinh

tế, văn hóa,xã hội Chính phủ thực hiện vai trò lãnh đạo,chỉ đạo,hướng dẫn thực

hiện và kiểm tra hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân như vậy sẽ đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động quản

lý nhà nước Bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân

Về chức năng, dù có tên gọi khác qua bốn bản Hiến pháp nhưng Chính phủ đều được xác định là cơ quan Nhà nước có chức năng hành pháp và Chính phủ còn có chức năng quan trọng là quản lí đất nước theo quy định của Hiến pháp và Pháp luật.Chức năng của Chính phủ được thể hiện thông qua việc : Thống nhất quản lí việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước Đảm bảo hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương Đảm bảo tôn trọng và thực hiện Pháp luật Đảm bảo ổn định và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân

Câu 3: tòa an nhân dân và viên kiểm sát nhân dân có chức năng nhiêm vu j?  *)chuc nang nhiem vu của toa an nhan dan:

Ở nước ta, trong bộ máy các cơ quan Nhà nước, toà án có một vị trí rất quan trọng Cùng với quân đội, cảnh sát, công tố toà án hợp thành một thứ vũ khí sắc bén đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật bảo vệ thành quả của cách mạng, chống lại sự phản kháng của các giai cấp đối kháng, góp phần xây dựng và phát triển xã hội Chính vì có vị trí quan trọng như vậy nên toà án là một trong số những

cơ quan nhà nước ra đời sớm nhất Chỉ 11 ngày sau khi Hồ Chủ Tịch đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 13/09/1945 Người đã kí Sắc lệnh thiết lập các toà án quân sự đánh dấu sự ra đời của ngành toà

án ở nước ta

Trong suốt 55 năm tồn tại và phát triển với bao thăng trầm của lịch sử, hệ thống toà

án ở nước ta ngày càng được củng cố và không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, đóng vai trò là công cụ để Nhà nước thực hiện quyền lực trong quản lí

xã hộinói chung và hoạt động tư pháp nói riêng Bằng các Sắc lệnh được ban hành

Trang 4

trong thời kì chống thực dân Pháp như Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán, Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền xét xử của toà án các cấp Các quy định trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Luật tổ chức toà án nhân dân 1960, Hiến pháp1980, Luật tổ chức toà án nhân dân

1981, Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức toà án nhân dân 1992, tổ chức về hoạt động của toà án nhân dân ngày càng có các căn cứ pháp lí và đạt được hiệu quả cao Mặc dù đất nước trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, từ giai đoạn 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, giai đoạn xây dựng CNXH ở miền Bắc, kháng chiến chống Mĩ cứu nước 1954-1975 đến giai đoạn đất nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH từ 1975 trở đi và nay là giai đoạn cả nước đang tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng nhằm mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nhưng toà án ở nước ta vẫn luôn thực hiện chức năng rất quan trọng là xét xử

 Trong hiến pháp đầu tiên của nước ta được thông qua vào ngày 9/11/1946, mặc dù không có một điều luật cụ thể nào khẳng định toà án có chức năg xét xử, nhưng nội dung của các điều luật đều toát lên một nội dung là ở nước Việt Nam dân chủ cộng hoà việc xét xử các việc hình sự, dân sự, thương sự đều thuộc thẩm quyền của toà

án Chương VI của Hiến pháp 1946 với tên gọi "cơ quan tư pháp" có 7 điều quy định về tổ chức bộ máy và các nguyên tắc hoạt động của ngành toà án Điều 63

Hiến pháp 1946 quy định: "Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

          a, Toà án nhân dân tối cao;

b, Các toà phúc thẩm;

c, các toà đệ nhị cấp và sơ cấp."Vào thời kì đó, khái niệm cơ quan tư pháp được

hiểu theo nghĩa hẹp của từ này tức là xét sử, và vì vậy, có thể hiểu cơ quan tư pháp chính là cơ quan xét xử Sau này các Điều 97 Hiến pháp 1959, Điều 128 Hiến pháp

1980 và gần đây nhất là Điều 127 Hiến pháp 1992 đều khẳng định ở nước ta Toà

án nhân dân tối cao, các toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sự và các toà

án khác do luật định đều là cơ quan xét xử Nội dung các điều trên của các bản hiến pháp đã được cụ thể hoá trong Điều 1 Luật tổ chức toà án nhân dân được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 6/10/1992 tại kì họp thứ nhất

Xét xử là một chức năng chỉ thuộc về toà án, không một cơ quan nhà nước, một tổ chức nào khác có thể thay thế toà án thực hiện chức năng xét xử Khi thực hiện chức năng xét xử, toà án nhân danh Nhà nước xem xét nội dung vụ án hình sự và các loại tranh chấp khác để cuối cùng ra phán quyết ai đúng, ai sai Chính vì nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng xét xử nên phán quyết của toà án cho dù nó được thể hiện bằng quyết định hay bằng bản án vẫn có giá trị bắt buộc đối với tất

cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân

Đối tượng xét xử của toà án trong hơn nửa thế kỉ qua ngày càng được mở rộng Điều này được giải thích bởi khi xã hội ngày càng phát triển thì càng có nhiều quan

Trang 5

hệ xã hội cần phải điều chỉnh bằng pháp luật.Để thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh, Nhà nước phải thường xuyên ban hành pháp luật

và cùng với sự ra đời của các văn bản pháp luật mới, nhiều ngành luật mới cũng ra đời Sự đa dạng các ngành luật trong hệ thống pháp luật cũng chính là tiền đề làm phát sinh sự đa dạng của các hành vi và quyết định pháp lí Và đến lượt nó,sự đa dạng của các hành vi và quyết định pháp lí làm phát sinh sự đa dạng của các tranh chấp giữa các chủ thể và các loại quan hệ pháp luật là cá nhân, pháp nhân, Nhà nước - đối tượng xét xử của toà án Theo hiến pháp 1946; toà án chỉ xét xử các vụ hình sự, dân sự và thương sự Luật tổ chức toà án nhân dân năm 1992 đã vừa mở rộng đối tượng xét xử của toà án vừa quy định cụ thể là các toà án xét sử những vụ hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình , lao động và những vụ án khác theo quy định của pháp luật (K2 Đ1)

Trong những năm gần đây, việc thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng

đã mang lại nhiều thành tựu to lớn Cơ chế kinh tế mới đã dần dần hình thành Vấn

đề bảo đảm dân chủ và bình đẳng trong hoạt động kinh tế  giữa các chủ thể kinh doanh đòi hỏi một cơ chế mới giải quyết các tranh chấp về kinh tế Tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế không còn phù hợp, việc giải quyết các tranh chấp kinh

tế cần thiết phải giao cho toà án Vì thế Luật tổ chức toà án nhân dân năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức toà

án nhân dân năm 1992 được Quốc hội thông qua ngày 28/12/1993 với nội dung các toà kinh tế thuộc toà án nhân dân tối cao và các toà án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thực hiện với chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế khi có yêu cầu từ phía các bên tranh chấp Tiếp theo, ngày 28/10/1995 Quốc hội lại thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức toà án nhân dân năm 1992  và đã được sửa đổi, bổ sung năm 1993 Theo luật mới này, trong Toà án nhân dân tối cao và các toà án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập thêm các toà chuyên trách là Toà hành chính và Toà lao động để xét xử cá vụ án về hành chính và các vụ án về lao động Như vậy, cho tới thời điểm này, ở nước ta, với vai trò là cơ quan xét xử, toà án không chỉ đơn thuần xét sử về hình sự và dân sự như trước đây mà thẩm quyền của toà án đã mở rộng hơn và nó thực hiện chức năng xét xử cả các tranh chấp về kinh tế, hành chính và lao động

Giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, lao động, hành chính, kinh tế thực chất là quá trình áp dụng pháp luật của toà án Đây cũng là một khâu trung tâm của hoạt động

tư pháp và với vai trò nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng xét sử, toà án ra bản án hoặc quyết định có tính chất kết luận về vụ án với những nội dung quan trọng như có hay không có sự kiên pháp lí (có tội phạm hoặc tranh chấp hay không), ai hoặc bên nào là người có lỗi, trách nhiệm pháp lí của từng người hoặc từng bên như thế nào Tham gia vào giải quyết các vụ án nói trên có một số cơ quan như cơ quan điều tra, viện kiểm sát, giám định, luật sư (trong tố tụng hình sự)

Trang 6

và viện kiểm sát, giám định, luật sư, công chứng (trong tố tụng hành chính, kinh tế, lao động, dân sự) nhưng không một cơ quan nào trong số các cơ quan nói trên được quyền ra phán quyết cuối cùng Cơ quan điều tra có quyền đề nghị viện kiểm sát truy tố bị can ra toà, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra; viện kiểm sát có quyền truy tố bị can ra toà bằng bản cáo trạng, luận tội bị cáo, nhưng cả hai

cơ quan này đều không có quyền khẳng định ai là người có tội, tội gì và phải chịu trách nhiệm hình sự như thế nào Xuất phát từ nguyên tắc suy đoán vô tội, trong tố tụng hình sự, chỉ toà án mới có quyền phán quyết một người là có tội và cũng chỉ toà án mới được quyền áp dụng hình phạt với người phạm tội

Trong tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, cho dù vụ án hay tranh chấp được khởi kiện bởi các bên đương sự hoặc khởi tố bởi viện kiển sát thì phán quyết cuối cùng vẫn thuộc về cơ quan xét xử là toà án, các chứng cứ do các bên đưa ra, ý kiến đề xuất giải quyết vụ án của viện kiểm sát có giá trị để toà án cân nhắc, đánh giá, xem xét trước khi bản án hoặc quyết định về vụ án hoặc tranh chấp đó

Để thực hiện chức năng xét xử là xem xét các tranh chấp và ra các phán quyến bằng bản án hoặc quyết định, trong tố tụng kinh tế, tố tụng hành chính, tố tụng dân

sự, lao động , toà án còn thực hiện nhiệm vụ điều tra , thu thập chứng cứ Điều 3

Pháp lệnh các thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định: "Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Toà án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng cứ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác" Tương tự Điều 4 thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định: "Khi cần thiết, toà án có thể xác minh, thu thập chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác".Quy định toà án có nhiệm vụ xác

minh, thu thập chứng cứ phục vụ cho hoật động xét xử là một điều kiện bảo đảm cho hoạt động xét xử đạt chất lượng cao Trong thực tiễn, các chứng cứ, tài liệu do các đương sự hoặc cácbên tranh chấp cung cấp không phải bao giờ cũng đầy đủ và phản ánh thực tế khách quan và để khắc phục điều này, toà án yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp các tài liệu, chứng cứ và trong những trườmg hợp cần phải xác minh tính chính xác của các tài liệu, chứng cứ, toà án ra quyết định trưng cầu giám định

Theo quy định của các pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động, trước khi xét xử, các đương sự, các bên có quyền hoà giải

với nhau Điều 2 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định; 'Người khởi kiện có quyền rút đơn khởi kiện, thay đổi nội dung đơn kiện, các đương sự có quyền hoà giải với nhau." và Điều 36 quy định: "Trước khi mở phiên toà, toà án tiến hành hoà giải để các đương sự có thể hoà giải với nhau về việc giải quyết vụ án khi các đương sự thoả thuận được với nhau về viêch giải quyết vụ ánthì toà ná lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định cộng nhận sự thoả thuận của các đượng sự và quyết định này có hiệu lực pháp luật". Trong các văn bản quy định về

thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, lao động cùng có các quy định về

Trang 7

thủ tục hoà giải tương tự Như vậy, có thể nói quá trình giải quyết các vụ án kinh

tế, dân sự, hành chính, lao động, hoà giải được coi là bắt buộc Tham gia vào quá trình hoà giải của các đương sự hoặc các bên, toà án hướng dẫn, giải thích cho họ

để họ có những thoả thuận hoàn toàn theo ý chí của mình nhưng không trái với các quy định của pháp luật Trong thực tế, sự thoả thuận của các bên, các đương sự trong quá trình hòa giải rất có thể bị vi phạm hoặc không được thực hiện, vì vậy,

để thoả thuận ấy trở thành hiện thực và hai bên phải có nghĩa vụ tuân theo thì thoả

thuận đó phải được "pháp luật hoá" bởi một quyết định công nhận của toà án.

Quyết định này cũng như các quyết định khác hoặc bản án của toà án có hiệu lực pháp luật và các bên tham gia hoà giải có nghĩa vụ thực hiện Vì vậy, có thể nói rằng, trong quá trình hoà giải giữa các đương sự, ngoài nhiệm vụ làm người hướng dẫn, định hướng, giải thích pháp luật cho các bên toà án còn thực hiện nhiệm vụ của một cơ quan nhân danh Nhà nước pháp luật hoá hay nói cách khác là ghi nhận

sự thoả thuận của các bên trong quá trình hoà giải

Phiên toà xét xử bất kể là vụ án gì, hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao độngthì

nó vẫn là một trong những hình thức tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho quần chúng nhân dân Qúa trình thẩm vấn, tranh luận tại phiên toà thực chất là một cuộc điều tra công khai nhất, toàn diện nhất và dân chủ nhất Chính tại phiên toà xét xử, dưới sự điều khiển của thẩm phán chủ toạ phiên toà, cac bên, các dương sự,

bị cáo và những người tham gia khác có cơ hội bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình

về vụ án, và vì vậy, sự phán quyết của hội đồng xét xử bằng bản án hay quyết định với nội dung nào đều được coi là kêts quả của quá trình thẩm vấn và tranh tụng mà các bên đã được trực tiếp tham gia Những người trực tiếp có mặt trong phòng xử

án cũng như quần chúng nhân dân không có mặt nhưng được thông tin về phiên toà đều tiếp nhận được những kiến thức mới về pháp luật

Vụ án hình sự, các tranh chấp về hành chính, kinh tế, lao động luôn là hậu quả của những yếu tố, những yếu tố nào đó được coi là những nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm và vi phạm pháp luật Thông qua nhiệm vụ xét xử, toà án còn có nhiệm vụ phát hiện ra những nguyên hnân chủ quan, nguyên nhân khách quan, những thiếu sót trong công tác quản lí của các chủ thể khác nhau dẫn đến tội phạm

và vi phạm  để từ đó có những sáng kiến pháp luật hoặc kiến nghị với nhiều nội dung nhau gửi tới cơ quan có thẩm quyền Với vai trò là một bộ phận hợp thành của công cụ quản lí xã hội, vũ khí bảo vệ trật tự pháp luật ,hoạt động của toà án

nhân dân hướng tới mục tiêu "bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân"./.      

  *)chuc nang nhiem vu của viên kiểm sát nhan dan:

Trang 8

kể từ khi ra đời đến nay, trải qua gần 52 năm thành lập và phát triển, chức năng, nhiệm vụ và vị trí của Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước về cơ bản được quy định thống nhất trong các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001):

+ Về chức năng công tố: Viện kiểm sát là cơ quan nhà nước duy nhất được giao trách nhiệm thực hành quyền công tố, đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân Nội dung cơ bản của chức năng công tố là truy tố bị can ra trước Toà án (đưa ra lời buộc tội nhân danh nhà nước thể hiện trong cáo trạng và duy trì buộc tội trước Toà án) để truy cứu trách nhiệm hình sự của người đó, bảo đảm nguyên tắc tội phạm không tránh khỏi hình phạt của Bộ luật Hình sự Hoạt động công tố luôn là hoạt động chủ đạo của VCT cũng như VKS ở các nhà nước khác nhau bởi lẽ đấu tranh chống tội phạm luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi nhà nước (Cần nói rõ không phải từ Hiến pháp năm

1980 trở đi VKS mới thực hiện chức năng công tố; mà hoạt động ‘truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp hình sự” đã được quy định tại điểm b Điều 3 của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và được VKS thực hiện ngay từ khi thành lập). 

+ Về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật: Chức năng này được ghi nhận xuyên suốt các bản Hiến pháp từ Hiến pháp năm 1959 trở đi Chức năng này có phạm vi rất rộng, bao gồm hoạt động kiểm sát chung, kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc điều tra của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ và cải tạo Kiểm sát chung là một lĩnh vực hoạt động của VKS có phạm vi liên quan đến tuân thủ pháp luật trong hoạt động của các cơ quan hành pháp từ cấp Bộ trở xuống, chính quyền địa phương các cấp,

tổ chức và công dân Hình thức phổ biến vi phạm pháp chế thống nhất của các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương là vì lợi ích cục bộ đã không thực hiện đúng luật hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của mình trái với luật làm vô hiệu hoá hoặc biến dạng các quy định của luật do nhà nước Trung ương ban hành Để pháp luật được tuân thủ và được chấp hành nghiêm chỉnh, đòi hỏi phải thiết lập hoạt động giám sát theo dõi việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành pháp từ cấp Bộ trở xuống, của chính quyền các cấp và việc chấp hành pháp luật trong thực tiễn hoạt động của các cơ quan này để có thể

xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật xảy ra nhằm bảo đảm tính bắt buộc chung của pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật Hiến pháp năm

1992 sửa đổi, bổ sung (năm 2001) đã thu hẹp phạm vi chức năng kiểm sát tuân

Trang 9

theo pháp luật, bỏ hoạt động kiểm sát chung của VKS Phạm vi còn lại của chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật được thể hiện trong thuật ngữ mới là “kiểm sát các hoạt động tư pháp” bao gồm hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, những chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật thuộc các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, các hoạt động tố tụng khác như tố tụng hành chính, thủ tục phá sản, thi hành các bản án, quyết định của Toà án nhân dân, kiểm sát tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành hình phạt tù Kiểm sát hoạt động tư pháp cũng được nhìn nhận như là một đặc trưng của mô hình VKS Mặc dù có những thay đổi nhất định nhưng về tổng thể, sự tồn tại của VKS trong gần 52 năm vừa qua luôn gắn liền với hai chức năng hiến định là kiểm sát tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố Viện kiểm sát luôn là một hệ thống cơ quan nhà nước có các nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù, có vị trí độc lập trong bộ máy Nhà nước Nhiệm vụ của VKS đã được ghi nhận nhất quán trong Hiến pháp là “bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân”

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, nhiệm vụ tăng cường pháp chế đã được gắn với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 được xem như là một trong những giải pháp quan trọng đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Viện kiểm sát là một thành tố trong hệ thống các cơ quan tư pháp, do vậy, vấn đề hoàn thiện mô hình VKS trong giai đoạn phát triển mới của đất nước xuất phát từ chính yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và từ mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của cải cách tư pháp Xây dựng nhà nước pháp quyền không làm thay đổi bản chất nhà nước và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta mà chỉ làm đậm nét hơn bản chất của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nhà nước, thực hiện triệt để hơn nguyên tắc nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhà nước đặt dưới sự giám sát của nhân dân “Cải cách tư pháp phải bảo đảm sự ổn định chính trị, bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”(5) Trong mọi vấn đề của cải cách tư pháp - trong đó có vấn đề nghiên cứu chuyển đổi VKS thành VCT hay không chuyển đổi, chúng ta không thể bỏ qua đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là xuất phát điểm về phương pháp luận quan trọng khi nói đến yêu cầu, nội dung của cải cách tư pháp nói chung và hoàn thiện VKS nói riêng

Câu 4: y thuc phap luat la gi?neu cac dac diem cua y thuc phap luat:

Trang 10

_ Ý thức pháp luật (YTPL) là 1 hình thái ý thức xã hội, về cấu trcúc bao gồm 2 bộ phận: Tâm lý pháp luật và tư tưởng pháp luật.Tâm lý pháp luật hình thành 1 cách

tự phát dưới dạng tình cảm, tâm trạng , cảm xúc đối với các hiện tượng pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội Tư tưởng pháp luật là tổng hợp các quan điểm, quan niệm có tính lý luận, phản ánh các hiện tượng pháp luật 1 cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa học.YTPL của 1 người có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật Vì vậy nâng cao ý thức pháp luật là trách nhiệm của mỗi công dân

-)đac diem :

Tổng hợp những quan điểm, tư tưởng, học thuyết thể hiện thái độ của con người, các nhóm xã hội, giai cấp đối với pháp luật, pháp chế cũng như những quan điểm của họ về sự hợp pháp và không hợp pháp Sự thể hiện tập trung của YTPL một hình thái ý thức xã hội - là hệ tư tưởng pháp luật, tức là hệ thống các quan điểm pháp luật dựa trên những lập trường khoa học và xã hội nhất định YTPL có các nội dung chủ yếu: 1) Sự hiểu biết về pháp luật; 2) Thái độ đối với pháp luật; 3) Khả năng thực hiện và áp dụng pháp luật YTPL gắn bó mật thiết với văn hoá pháp luật và văn hoá nói chung Nâng cao YTPL của mọi thành viên trong xã hội, biến việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật thành niềm tin nội tâm ở mỗi người, là bộ phận cấu thành của giáo dục cộng sản chủ nghĩa đối với nhân dân lao động ở Việt Nam hiện nay Trong xã hội Việt Nam, YTPL thống trị là YTPL của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Cùng với sự phát triển của xã hội Việt Nam, YTPL của giai cấp công nhân và nhân dân lao động sẽ trở thành một hệ thống tư tưởng và quan điểm pháp luật chung thống nhất của toàn xã hội

Cau 5:hiên phap 1992 quy dnh ve quyen va nghia vu co bancua cong dan ntn? Điều49

    Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam

Ðiều50

    Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật

Ðiều51

    Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của

Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định

Ðiều52

    Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật

Ngày đăng: 18/11/2015, 16:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w