Luận văn về phân tích nước thải nước sinh hoạt
Trang 1MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Nhận xét của giáo viên Trang
Mục lục 1
Phần A: Phần chung 3
Chương I: Mở đầu4
I: Sự cần thiết của đề tài 4
II: Mục tiêu của đề tài 4
III: Nhiệm vụ của đề tài 5
IV: Ý nghĩa khoa học – thực tiễn 5
V: Khối lượng công việc – Các phương pháp nghiên cứu 5
Chương II: Khái quát vùng nghiên cứu .7
I: Vị trí địa lý .7
II: Khí hậu, đặc điểm thuỷ văn 7
III: Địa hình, địa mạo 10
IV: Đặc điểm kinh tế nhân văn 11
Chương III: Lịch sử nghiên cứu địa chất – địa chất thuỷ văn 24
I Lịch sử nghiên cứu địa chất 24
1 Trước 30-4-1975 24
2 Sau 30-4-1975 25
II Lịch sử nghiên cứu địa chất thuỷ văn 25
1 Trước 30-4-1975 25
2 Sau 30-4-1975 26
Trang 2Chương IV Đặc điểm địa chất 27
I Địa tầng 27
II Kiến tạo và các hệ thống đứt gãy 36
III Lịch sử phát triển phát triển địa chất khu vực .38
Chương V Đặc điểm địa chất thuỷ văn 44
I Nước trong các trầm tích Holocen 44
II Nước trong các trầm tích Pleistocen .45
III Nước trong các trầm tích Pliocen trên 46
IV Nước trong các trầm tích Pliocen dưới .47
Phần B: Phần Chuyên Đề 50
Chương I: Hiện trạng chất lượng nước dưới đất 51
I Kết quả 51
II Hiện trạng 61
Chương II Đánh giá chất lượng nước dưới đất 65
I Đánh giá hiện trạng 65
II Nguồn gốc 69
III Diễn biến chất lượng theo không gian và thời gian 73
Kết luận và kiến nghị 84
Tài liệu tham khảo 90
Phụ lục 92
Trang 3PHAÀN A PHAÀN CHUNG
Trang 4Chương I: MỞ ĐẦU
I Sự cần thiết của đề tài :
Việc sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất và ăn uống tăng lên đáng kể ởcác thành phố lớn trong những năm gần đây Tại các thành phố lớn, đặc biệtthành phố Hồ Chí Minh nơi có tốc độ phát triển kinh tế nhanh cùng với sự tậptrung dân cư cao thì việc đáp ứng nhu cầu này đóng vai trò đặc biệt quan trọng
Tuy nhiên cho đến nay, tại một số vùng trong thành phố cụ thể quận BìnhTân (tách ra từ huyện Bình Chánh) nước máy chỉ đáp ứng cho một bộ phận nhỏdân cư sống trong khu vực này, do đó việc khai thác và sử dụng nước dưới đất làđiều rất cần thiết và tất yếu của người dân Hiện nay các giếng khoan khai tháctập trung chủ yếu ở hai tầng: tầng Pleistocen (QI-III) và tầng Pliocen trên(Nb
2).Việc khai thác nước dưới đất với lưu lượng quá mức, không theo quyhoạch đã làm cho khả năng bị ô nhiễm của các tầng nước dưới đất trong khu vựccó thể xảy ra Nhất là tầng Pleistocen
Với đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ hiện trạng nước dưới đất trong khuvực, cũng như làm sáng tỏ chất lượng nước dưới đất theo thời gian và không giantại khu vực này
II Mục tiêu của đề tài.
Nghiên cứu các thành phần hoá học và sự thay đổi của chúng trong nướcdưới đất, để từ đó có biện pháp bảo vệ và khai thác một cách hợp lý nguồn tàinguyên này
Trang 5III Nhiệm vụ của đề tài.
Làm sáng tỏ điều kiện địa chất thuỷ văn khu vực Nghiên cứu và hiệntrạng chất lượng nước dưới đất đang khai thác Đồng thời nêu lên nguyên nhângây ra sự biến đổi chất lượng nước và đề xuất hướng sử dụng
IV Ý nghĩa khoa học – thực tiễn.
1 Ý nghĩa khoa học.
Qua kết quả nghiên cứu phân tích thành phần hoá học nước dưới đất đã góp phần làm sáng tỏ về hiện trạng chất lượng nước dưới đất tại khu vực quận Bình Tân.
2 Ý nghĩa thực tiễn.
Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho công tác khai thácvà quản lý nguồn nước dưới đất tại khu vực
V Khối lượng công việc – các phương pháp nghiên cứu.
1 Khối lượng công việc.
* Thu thập tài liệu
- Các tài liệu về đặc điểm địa chất, địa chất thuỷ văn của thành phố HồChí Minh
- Các tài liệu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội ở quận Bình Tân
- Các báo cáo khoa học về nước dưới đất ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6* Khối lượng đề tài thực hiện.
- Tiến hành khảo sát: đi đến từng hộ dân
- Lấy mẫu: 9 mẫu trong ngày 22-04-2004
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng kết quả phân tích mẫu nước từ các đơn vịkhác
- Các mẫu được phân tích với các chỉ tiêu: pH, DO, Eh, EC, nhiệt độ, màu,mùi vị, độ axit, độ kiềm, sắt tổng cộng, sắt hai, độ cứng tổng cộng, độ cứngcanxi, độ cứng magiê, chất rắn tổng cộng, , cation (NH4+, Ca2+, Mg2+) anion(SO42-, PO43-, NO3-, HCO3-, Cl-)
2 Phương pháp nghiên cứu.
* Thu thập và tổng hợp các tài liệu theo phương pháp tập hợp và chọn lọc.
* Phân tích thành phần hoá học của mẫu nước
- pH; DO đo bằng máy WTW 396
- Chất rắn: xác định bằng phương pháp sấy khô ở 1050C
- Độ kiềm, độ axit, độ cứng tổng cộng, độ cứng canxi, Cl-, xác định bằngphương pháp chuẩn độ, sắt tổng cộng, sắt hai, sunfat, photphat, NO3-, NH4+ đobằng máy spectrophotometor hiệu secoman với các bước sóng khác nhau
- Các chỉ tiêu còn lại xác định trên cơ sở tính toán
- Tổng hợp phân tích kết quả bằng các phần mềm tin học chuyên môn(mapinfor 6.0 )
Trang 7Chương II
KHÁI QUÁT VÙNG NGHIÊN CỨU
Quận Bình Tân là đô thị mới được thành lập bao gồm 10 phường, theonghị định số 130/NĐ ngày 5/11/2003 của chính phủ từ thị trấn An LaÏc, xã BìnhHưng Hoà, xã Bình Trị Đông và xã Tân Tạo của huyện Bình Chánh trước đây.Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá diễn ra khá nhanh, có phường hầunhư không còn đất nông nghiệp (phường An Lạc A năm 2003 còn 3.5 ha, phườngBình Hưng Hoà A còn 39.5 ha)
I VỊ TRÍ ĐỊA LÍ:
Quận Bình Tân là đô thị mới phát triển, gồm 3 xã và 1 thị trấn được tách ratừ huyện Bình Chánh Quận nằm trong toạ độ địa lí từ 10027’38” đến 10045’30”
vĩ độ Bắc và từ 106027’51” đến 106042’00” kinh độ Đông, tiếp giáp với:
Phía Bắc: quận 12, huyện Hóc Môn
Phía Nam: quận 8, xã Tân Kiên, xã Tân Nhựt
Phía Đông:quận Tân Bình, quận 6, quận 8
Phía Tây: xã Vĩnh Lộc A, xã Vĩnh Lộc B, xã Lê Minh Xuân
II KHÍ HẬU, ĐẶC ĐIỂM THUỶ VĂN:
Bình Tân nằm trong khu vưcï nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa mưanắng, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12đến tháng 4 năm sau
Trang 81 Nhiệt độ không khí
− Nhiệt độ cao nhất: 300C (tháng 4)
− Nhiệt độ thấp nhất: 26,80C (tháng 11)
− Nhiệt độ trung bình năm: 27.90c
(Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội quận Bình Tân đến năm 2010)
2 Độ ẩm không khí:
−Độ ẩm cao nhất:82% (tháng 8)
−Độ ẩm thấp nhất: 70% (tháng 2)
−Độ ẩm trung bình:76%
(Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội quận Bình Tân đến năm 2010)
3 Lượng mưa:
Lượng mưa trung bình năm là 1983 mm, tập trung chủ yếu vào các tháng 6,
7, 8, 9, 10 chiếm trên 90% lượng mưa cả năm Trong tháng 7 có số ngày mưanhiều nhất là 23 ngày và tháng 2 có số ngày mưa ít nhất là 1 ngày
(Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội quận Bình Tân đến năm 2010)
4 Lượng bốc hơi:
Lượng bốc hơi trong năm khá lớn, tổng lượng là 1399 mm/năm, chiếm 51.3%lượng mưa trung bình năm Trong đó các tháng nắng lượng bốc hơi là 5-6mm/ngày, các tháng mưa là 2-3 mm/ngày Do lượng bốc hơi khá cao vào mùakhô đã làm giảm lượng nước mặt nên phèn và độ mặn tăng ở các vùng trũng
(Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội quận Bình Tân đến năm 2010)
Trang 95 Các yếu tố khác:
Nắng: số giờ nắng cả năm là 1829.3 giờ, tháng 5 có số giờ nắng nhiều nhất
204 giơ ø(6-7 giờ/ngày), tháng 11 có số giớ nắng ít nhất là 136.3 giờ(4-5giờ/ngày)
Gió:gió thịnh hành trong mùa khô là hướng gió đông nam và gió thịnh hànhtrong mùa mưa là hướng gió Tây Nam Tốc độ gió trung bình khoảng 2-3 m/s.Nhìn chung, khí hậu quận Bình Tân có tính ổn định cao, không xảy ra thờitiết bất thường như bão lụt, nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh
(Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội quận Bình Tân đến năm 2010)
6 Nguồn nước và thuỷ văn:
Nguồn nước mặt :quận Bình Tân có hệ thống sông, rạch từ chi lưu của cácsông Sài Gòn, Nhà Bè-Xoài Rập, Vàm Cỏ Đông tạo nên, có chế độ bán nhậttriều không đều dễ gây ngập vào mùa mưa và mặn xâm nhập sâu nội đồng vàomùa khô Chất lượng nước ở hệ thống sông rạch của quận rất kém do nằm ở hạlưu của hệ thống sông nên mức độ ô nhiễm nặng, chủ yếu là các chất thảy từthành phố theo hệ thống kênh Tàu Hủ, Tân Hoá-Lò Gốm, Kênh Đôi, rạch NướcLên đổ về Bên cạnh đó còn có nguồn nước thải từ các khu công nghiệp và khudân cư của quận thải ra làm cho chất lượng nước càng kém hơn Do chất lượngnguồn nước kém nên ảnh hưởng đến phát triển kinh tế-xã hội của quận đặc biệtlà ô nhiễm môi trường tác động đến đời sống của dân cư rất nhiều
Nguồn nước ngầm :nguồn nước phần lớn đều bị nhiễm phèn trong các thángmùa khô nên ảnh hưởng đến việc khai thác sử dụng
Trang 10III ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO:
Địa hình đồng bằng thềm bậc II cao 3m – 3,5m phân bố ở phía Tây nộithành là chủ yếu Thềm được cấu tạo từ trầm tích sét, bột có nguồn gốc hỗn hợpsông – biển tuổi Holocen sớm
Địa hình tích tụ đồng bằng thềm bậc I phân bố rộng rãi ở Bình Chánh,đông Hóc Môn, nam Củ Chi,…Độ cao trung bình là 1m Cấu tạo nên thềm này làcác trầm tích hổn hợp sông – biển tuổi Holocen giữa muộn (QIV2-3)
Ngoài ra còn có các trũng lòng sông cổ trong khu vực
3 Thổ nhưỡng:
Quận Bình Tân có 3 loại đất chính:
-Đất xám: nằm ở phía Bắc thuộc các phường Bình Hưng Hoà, Bình Trị Đôngkhoảng 2516 ha, thành phần cơ học là đất pha, kết cấu rời rạc
Trang 11-Đất phù sa có diện tích khoảng 1491 ha thuộc các phường Tân Tạo và mộtphần của phường Bình Trị Đông.
-Đất phèn có diện tích khoảng 1094 ha phân bố ở An Lạc và một phầnphường Tân Tạo
IV ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ NHÂN VĂN:
1 Đặc điểm đất đai:
Tổng diện tích tự nhiên quận Bình Tân là 5188.7 ha Tình hình sử dụng đấtcác ngành năm 2003 được phân theo mục dích sử dụng như sau:
-Đất nông nghiệp :1578.8 ha chiếm 30.3% đất tự nhiên
-Đất chuyên dùng: 1752.7 ha, chiếm 33.8% đất tự nhiên
-Đất ở: 1782.7 ha, chiếm 34.4% đất tự nhiên
-Đất chưa sử dụng và sông suối: 81.4 ha, chiếm 1.6%, đất tự nhiên (trong đósông suối chiếm 99.1%)
Trong những năm qua xu thế đô thị hoá, phát triển đô thị trên phương diệnsử dụng quỷ đất các ngành diễn ra đặc biệt nhanh, có sự chuyển dịch mạnh cơcấu đất ở tăng nhanh, đất nông nghiệp giảm mạnh, giảm bình quân năm nhữngnăm 2000-2003 là 434 ha Cụ thể:
-Đất nông nghiệp năm 2000 là 2882.5 ha, chiếm 55.6% đất tự nhiên, năm
2003 giảm mạnh cò 1571.7 ha, chiếm 30.3% đất tự nhiên Năm 2003 so với năm200-2003 là 434 ha, được sử dụng 56% cho đất ở, 34% cho phát triển giao thôngvà 10% cho các mục đích khác
Đất chuyên dùng năm 2000 tăng lên là 1162.1 ha chiếm gần 22.4% đất tựnhiên Năm 2003 tăng lên 1752.7 ha, chiếm khoảng 33.8% đất tự nhiên Năm
2003 so với năm 2000 tăng 590.6 ha, tăng bình quân năm những năm 2000-2003
Trang 12là 196.8 ha được sử dụng 70% cho phát triển giao thông Chính việc này pháttriển mạnh giao thông là nhân tố tiên quyết cho phát triển mặt kinh tế xã hội vàhình thành quân mới Bình Tân
Đất ở năm 2000 là 1056.9 ha, chiếm 20.4% đất tự nhiên, năm 2003 tăng lên1782.7 ha, chiếm 34.4% đất tự nhiên Năm 2003 so với năm 2000 tăng 725.8 ha,tăng bình quân năm những năm 2000-20003 là 242 ha Đất ở tăng lên đại đa sốlà đất ở đô thị được xây dựng không đồng đều và một số dự án dân cư tập trung.Điều này quan trọng là nhiều khu dân cư mới ở các phường Bình Hưng Hoà, BìnhHưng Hoà B, Bình Trị Đông, Bình Trị Đông A, Tân Tạo, Tân Tạo A không đượcxây dựng đồng bộ với hệ thống thoát nước, hệ thống giao thông… gây ngập nướcnhiều nơi đang là trở ngại cho việc phát triển đô thị
Trang 13BẢNG 1: CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT
Loại đất
2001 sovới2.000
2003 sovới2.001Trị số
Cơcấu(%) Trị số
Cơcấu(%) Trị số
Cơcấu(%)
Trang 14( nguồn :phòng quản lí đô thị quận Bình Tân )
Tình hình sử dụng đất nông nghiệp:
Mấy năm gần đây quận Bình Tân có tốc độ đô thị hoá rất nhanh do sự ra đờicủa các khu công nghiệp tập trung, các khu dân cư mới và các khu tái định cư chodân từ nội thành ra đã làm cho đất nông nghiêäp giảm mạnh, nếu tính giai đoạntừ năm 2001 đến năm 2003 đất nông nghiệp toàn quận giảm khoảng 820 ha,tương ứng tốc độ giảm là 18.9 %/năm, đất nông nghiệp từ chổ chiếm tỷ trọng46.1% tổng diện tích tự nhiên toàn quận năm 2001, đến năm 2003 đất nôngnghiệp còn 1572 ha, chiếm khoảng 3.3% Việc giảm đất nông nghiệp để ưu tiên
Trang 15cho phát triển các khu công nghiệp, các khu dân cư và các công trình công cộnglà điều tất yếu và hợp lí.
Nhìn chung trong mấy năm gần đây (giai đoạn từ 2001-2003) tất cả các loạiđất nông nghiệp đều giảm tương đối nhanh, trong đó đất thuộc nhóm trồng hàngnăm giảm với tốc độ nhanh nhất 22.0 %/năm, đất vườn tạp gỉam 11.5%, đất cómặt nước nuôi trồng thuỷ sản giảm 16.1% riêng cây lâu năm tăng 30%
Tóm lại, sử dụng quỹ đất, biến động quỹ đất, xu hướng dịch chuyển quỹ đấtcủa quận thời gian qua khá mạnh thể hiện sự hình thành, phát triển một đô thị.Tuy nhiên công tác quản lí nhà nước về xây dựng, quy hoạch không gian đô thịcòn bất cập trước yêu cầu phát triển
2 Dân số:
Dân số quận Bình Tân năm 2003 là 265.411 người, trong đó nam chiếm47,45%, nữ chiếm 52,55% Do tác động của quá trình đô thị hoá, dân số quậnBình Tân tăng rất nhanh trong thời gian qua, tốc độ tăng dân số bình quân nămgiai đoạn 1999 - 2003 là 16,17%
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm dần qua các năm từ 1,51%năm 1999 xuống còn 1,3% năm 2003, tuy nhiên so với tỷ lệ tăng tự nhiên củathành phố(1,27% năm 2002) thì tỷ lệ này vẫn còn cao, do đó công tác kế hoạchhoá gia đình phải được quan tâm
Tỷ lệ tăng cơ học thời gian qua luôn ở mức cao, năm 2001 là 19,84%, năm
2002 tăng 17,65% và đến năm 2003 tăng là 17,31% phần lớn dân nhập cư là dogiản dân từ nội thành, số lao động từ các quận, huyện và các tỉnh khác đến tìmkiếm việc làm Dân nhập cư chủ yếu tập trung ở các phường có mức đô độ thịhoá cao và các phường có xí nghiệp sản xuất Vì vậy bên cạnh việc tích cực làtăng thêm nguồn lao động, lực lượng dân nhập cư đang là một áp lực lớn cho
Trang 16quận trong việc quản lí con người, giải quyết việc làm và tăng thêm sự quá tảicho các công trình hạ tầng như giáo dục, y tế đồng thời cũng gây nên nhiều hậuquả phức tạp về kinh tế và an ninh trật tự an toàn xã hội.
BẢNG 2: MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ DÂN SỐ QUẬN BÌNH TÂN 1999-2003
( nguồn: Niên giám thống kê huyện Bình Chánh cũ Phòng thống kê quận Bình Tân )
Mật độ dân cư quận Bình Tân năm 2003 là 5.115 người/km2, nơi có mật độdân đông nhất là phường An Lạc A 16.680 người/km2 và thấp nhất là phường TânTạo A 1.592 người/km2 Dân cư phân bố không đều, chủ yếu tập trung vào cácphường có tốc độ đô thị hoá mạnh như An Lạc A, Bình Hưng Hoà, Bình TrịĐông
Trang 17Mặc dù có tỷ lệ tăng dân số cao nhưng mật độ dân cư bình quân của quậnBình Tân đến năm 2003 vẫn còn ở mức thấp so với mật độ bình quân của cácquận trong thành phố (10.076 người/km2) Điều này cho thấy khả năng thu hútdân cư của quận Bình Tân rất lớn cũng như có điều kiện thuận lợi trong việc bốtrí khu dân cư mới, các khu cụm công nghiệp, các khu thương mại- dịch vụ vàphát triển cơ sở hạ tầng.
BẢNG 3: DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN, DÂN SỐ, MẬT ĐỘ DÂN SỐ NĂM 2003
STT Tên phường Diện tích tựnhiên (km2) (người)Dân số độ(người/kmMật 2)
( nguồn: phòng thống kê quận Bình Tân )
Trên địa bàn quận Bình Tân có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, trongđó chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm 91.27% so với tổng dân số, dân tộc Hoa chiếm8,45% còn lại là các dân Tộc Khơme, Chăm, Tày, Thái, Mường, người nướcngoài
Tôn giáo có Phật Giáo, Công Giáo, Tinh Lành, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi Giáo…trong đó Phật Giáo, Công Giáo chiếm 27,26% trong tổng số dân cư theo đạo
Trang 183 Hoạt động kinh tế:
a Tăng trưởng và cơ cấu:
Tổng giá trị sản xuất (GTSX) các ngành kinh tế trên địa bàn quận năm 2003đạt 6034.6 tỷ đồng so với năm 2002 tăng 39.2% Tính chung giai đoanï 2001-
2003, GTSX trên địa bàn quận Bình Tân tăng so với tốc độ bình quân là 49.4%năm Đây là một tăng trưởng rất cao so với các quận, huyện khác trên địa bànthành phố
BẢNG 4: TỔNG GIÁ TRỊ SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN
(giá so sánh 1994)
Tốc độ tăng bình quân 2001-2003(%)
Tổng GTSX trên địa bàn 2.702,1 436,2 6.034,6 49,4
I Phân theo khu vực
2 Công nghiệp- xây dựng 2.474 4.020 5.578,9 50,2
II Phân theo thành phần kinh tế
3 Có vốn đầu tư nước ngoài 1.580 2.740 3.621 51,4
(nguồn: tính toán từ niên giám thống kê huyện Bình Chánh cũ và số liệu các ngành )
Trang 19b Sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp:
BẢNG 5: GÍA TRỊ SẢN XUẤT CN-TTCN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN
( giá cố định 1994)
GĐ 2003(%)
2.Ngoài nhà nước 549.378 716.020 966.552
3.Có vốn đầu tư nước
Chia theo thành phần kinh tế1.Doanh nghiệp nhà
3.Công ty trách nhiệm
4.Doanh nghiệp tư
6.Có vốn đầu tư nước
3.Có vốn đầu tư nước
Chia theo thành phần kinh tế1.Doanh nghiệp nhà
Trang 202.Công ty cổ phần 3.541,18 11,13 536,123.Công ty trách nhiệm
4.Doanh nghiệp tư
6.Có vốn đầu tư nước
- Khu công nghiệp do thành phố quản lí:
Khu công nghiệp Tân Tạo
Khu công nghiệp Vĩnh Lộc ( phường Bình Hưng Hoà) và xã Vĩnh LộcA- Huyện Bình Chánh
- Cụm công nghiệp do quận quản lí:
Cụm công nghiệp DNTN Thiên Tuế:D6/29 tỉnh lộ 10 Phường TânTạo
Cụm công nghiệp công ty TNHH Hợp Thành Hưng: 158A An DươngVương-An Lạc
Cụm công nghiệp công ty TNHH Việt Tài:152 Hồ Ngọc Lãm- An Lạc
Cụm công nghiệp công ty TNHH Hai Thành: E4/48 ấp 5 Bình TrịĐông
c Thương mại- dịch vụ:
Cơ sở kinh doanh, thương mại- dịch vụ:
- Hiện nay trên địa bàn quận có 6 chợ ổn định, trong đó có 2 chợ mới vừađược xây dựng tại phường Bình Hưng Hoà số chợ và nhóm tự phát là 15,trong đó quan trọng là chợ đầu mối An Lạc
- Trung tâm thương mại Kiến Đức thuộc phường Bình Trị Đông
Trang 21- Siêu thị Cora.
Hiện trạng các chợ, siêu thị và các trung tâm thương mại:
d Sản xuất nông nghiệp thuỷ sản(NNTS):
Diện tích nông nghiệp giảm mạnh do tác động của đô thị hoá và phát triểncác công trình hạ tầng, nên giá trị sản xuất ngành NNTS có xu hướng giảm dầnhằng năm Nếu xét giai đoạn 2001-2003 cho thấy GTSX ngành NNTS năm 2001đạt 38133 triệu đồng (giá cố định 1994) đến năm 2003 còn 35133 triệu đồng.Như vậy so với năm 2001, giảm 2418 triệu đồng tương ứng tốc độ giảm bìnhquân giai đoạn 2001-2003 là 3.2 %/năm Trong đó GTSX ngành nông nghiệp tốcđộ bình quân là 3.3%/năm Riêng ngành thuỷ sản tăng 1.7% Nếu xét nội bộngành nông nghiệp thì GTSX ngành chăn nuôi tăng với tốc độ bình quân là 3.0
%/năm, trong khi đó ngành trồng trọt giảm đến 17.9 %/năm
4 Giao thông vận tải:
Trên địa bàn quận Bình Tân có một hệ thống giao thông thuỷ và bộ khá thuậntiện, nhiều trục lộ chính nối liền giữa quận Bình Tân nói riêng và thành phố HồChí Minh nói chung với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Mạng lưới giaothông quốc gia- nội quận có các trục chính sau:
- Quốc lộ 1A theo hướng Bắc- Nam
- Tỉnh lộ 10 theo hướng Đông- Tây
Ngoài ra quận Bình Tân còn có những đường liên khu vực, khu vưcï và đườngnội bộ
a Đường bộ:
Tổng số tuyến đường trên địa bàn quận Bình Tân là 228 tuyến đường,tổng chiều dài 177,121 km và tổng số hẻm là 186 hẻm, tổng chiều dài là 40,950km
Trang 22Mật độ mạng lưới đường bộ quận Bình Tân là 3.14 km/km2.
Nhìn chung: mạng lưới giao thông trên địa bàn quận Bình Tân còn yếu.Phần lớn các tuyến đường đang xuống cấp, nhất là vào mùa mưa, tình trạng ngậpnước trên đường giao thông xảy ra thường xuyên Đường quốc lộ 1A ngang quakhu công nghiệp Tân Tạo Và Pou-Chen là một ví dụ, hầu hết quãng đường nàyđều có những “ổ gà”ø rất lớn, gây trở ngại không chỉ cho người dân tham gia giaothông trên đường mà còn ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của các doanhnghiệp trên địa bàn Tỉnh lộ 10, đường Tên lửa, Hương lộ 2… cũng có tình trạngtương tự
Những đường giao thông do quận và phường quản lí cũng đang xuống cấpnhất là đường hẻm trong khu dân cư hiện hữu Phần lớn các đường hẻm này cóchiều rộng hẹp và cũng thường xuyên bị ngập nước vào mùa mưa Việc xây dựngtràn lan không theo quy hoạch đã ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng mạng lướigiao thông đường bộ trên địa bàn quận Ngay trên phường An Lạc chỉ có 22.4%các đường hẻm do quận và phường quản lí được đánh giá là tốt, còn lại là 77.6%có chất lượng rất xấu, đang xuống cấp và cần phải sửa chữa
b Đường sông, cầu:
Mạng lưới sông rạch quận Bình Tân không nhiều Các ao hồ tập trungnhiều ở phường Bình Trị Đông, còn sông, kênh rạch ở phường Tân Tạo: như rạchNước Lên, rạch Phượng, sông Chùa, sông Dập… mạng lưới đường thuỷ trên toànquận khoảng gần 15 km, diện tích sông rạch trên địa bàn là 0.66 km2, chiếmkhoảng 1,28% tổng diện tích sử dụng của quận
Trên địa bàn quận Bình Tân hiện có tất cả 31 cầu các loại được phân bốchủ yếu trên các phường An Lạc, Tân Tạo và Bình Hưng Hoà Trong 31 cầu có
17 cầu do trung ương và thành phố quản lí Quận quản lí 12 cầu và 2 cầu khác do
Trang 23phường quản lí Chiều rộng các cầu còn hạn chế Phần lớn số cầu có chiều rộngnhỏ hơn chiều rộng đường nên lưu lượng lưu thông xe không cao.
c Phương tiện vận tải:
Theo báo cáo trên địa bàn quận Bình Tân năm 2003 có 53 xe ôtô chởkhách từ 15 ghế trở lên, 25 xe ôtô chở khách từ 15 chổ trở xuống, 725 ôtô tải cácloại từ 1 tấn trở lên và ôtô chuyên dùng
5 Cấp thoát nước:
- Hầu hết trên địa bàn quận Bình Tân đều sử dụng nước giếng khoan đểphục vụ sinh hoạt và sản xuất, riêng các khu công nghiệp Tân Tạo, Pouchen cóhệ thống xử lí nước riêng để phục vụ sản xuất, một phần quận giáp với Quận 6và Quận 8 có một số dân cư sử dụng nước do sông Sài Gòn- Đồng Nai cung cấp
- Theo quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước bẩn thành phố Hồ Chí Minh
do JICA thực hiện vào tháng 3 năm 2000 và đã được thủ tướng chính phủ phêduyệt vào tháng 6 năm 2001, huyện Bình Chánh nằm trong khu vực xây dựngmới và sử dụng hệ thống thoát nước bẩn riêng để thu gom và xử lí nước thải theohệ thống thoát nước mưa hoặc thoát ra kênh rạch gần nhất Hiện nay, phát triểndưới dạng một quận mới, quận Bình Tân có mật độ dân số cao hơn do đó theođịnh hướng lâu dài sẽ được xử lí tập trung
Trang 24
CHƯƠNG III
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT ĐỊA CHẤT THUỶ VĂN
I LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT :
1 Trước năm 1975:
Năm 1883, Pháp thành lập sở địa chất Đông Dương nhưng đến năm
1895-1960 Pháp bắt đầu nghiên cứu đồng bằng sông Cửu Long (với hai tác giả lỗi lạclà J.Fromaget và E Saurin) và cho ra đời một số mặt cắt dọc sông Đà, sông Mã,sông Mêkông… đồng thời cho ra đời bộ bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ1:1.000.000 và 1:500.000 và được ấn hành năm 1950
Năm 1960, bắt đầu có sự đóng góp của các nhà địa chất Việt Nam
Năm 1962, E.Saurin và Tạ Trần Tấn đã lập cột địa tầng vùng Châu Thới –Biên Hòa – Sài Gòn
Năm 1965, Nguyễn Văn Vân đã nghiên cứu và cho ra đời bài “Thềm phù
sa Sài Gòn – Chợ Lớn”
Năm 1966, Trần Kim Thạch phát họa nét kiến tạo ở vùng hạ lưu sôngĐồng Nai và Lê Quang Tiếp xác định nét cơ bản địa tầng kiến tạo và mô tả trầmtích, kiến trúc của trầm tích hạ lưu sông Đồng Nai
Năm 1971, H.Fontane và Hoàng Thị Thân vẽ tờ bản đồ Sài Gòn – ThủĐức - Biên Hòa – Phú Cường – Nhà Bè, tỷ lệ 1:25.000 kèm theo thuyết minh
Năm 1974, H.Fontane phát họa sơ lược về đứt gãy và lịch sử phát triển địachất vùng Biên Hòa
Trang 251 Sau năm 1975:
Năm 1975, Trần Kim Thạch cho sản xuất bản đồ địa chất Miền Nam tỷ lệ1:2.000.000 nhưng chưa chi tiết và hệ thống Cùng năm này Hồ Chín, Võ ĐìnhNgộ với báo cáo “ Những kết quả nghiên cứu mới về địa chất kỉ thứ tư của đồngbằng sông Cửu Long”
Năm 1977, Trần Kim Thạch hoàn thành tờ bản đồ địa chất kỉ thứ tư củađồng bằng sông Cửu Long tỉ lệ 1:250.000 Nguyễn Hữu Phước “Trầm tích phù sa
ở vùng hạ lưu sông Đồng Nai”, Phạm Hùng “ Các trầm tích trẻ đồng bằng TâyNam Bộ”, Lê Đức An “Kiến tạo và địa mạo Miền Nam”
Năm 1982-1983, Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao với công trìng địa chấtkhoáng sản Việt Nam đã nêu lên những nét khái quát về địa tầng, cấu trúc, địamạo thành phố
Năm 1983 -1985, Hà Quang Hải, Ma Công Cọ với công trình bản đồ địachất thành phố và khoáng sản tỷ lệ 1:50.000
Năm 1985 – 1990, Đoàn Văn Tín và Liên đoàn địa chất thành phố Hồ ChíMinh đã lập báo cáo thành lập tờ bản đồ địa chất công trình, Địa chất thủy vănthành phố tỷ lệ 1:50.000
II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT THỦY VĂN :
1 Trước năm 1975:
Năm 1936 Brenil và Molleret cho xuất bản “Lịch sử cấp nước thành phốSài Gòn” Cùng thời gian này có các tác giả Richard, Viclard, Godon, Brashearsvới những bài viết : “Tiềm năng cung cấp nước Sài Gòn – Chợ Lớn”, “Vấn đềnước uống, sự kiểm tra các hệ thống phân phối của nước mưa Sài Gòn”
Trang 26Năm 1969 – 1975 Nguyễn Đình Viễn, Trịnh Thanh Phúc đã phát hiệnnước ngọt vùng rừng sác –duyên hải.
Năm 1970, J.A.Burgh, Đào Duy, Rassan viết về kết quả khảo sát và bơmhút nước thí nghiệm tại trung tâm huấn luyện Quang Trung – Gò Vấp
Năm 1970 -1973 cuộc khảo sát nước ngầm ở Hóc Môn để cung cấp nướccho toàn thành phố Sài Gòn, do công ty của Nhật tiến hành dưới sự hướng dẫncủa tiến sĩ Hyromn Tana
Trang 27Chương IV: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT
Khu vực Quận Bình Tân (Thành Phố Hồ Chí Minh) nằm ở phạm vi chuyểntiếp giữa đới hoạt hoá Mezozoi (MZ) Đà Lạt ở phía Bắc và đới sụt võngKainozoi (KZ) Nam Bộ
Tuy nhiên, vùng nghiên cứu chủ yếu nằm ở đới sụt võng Kainozoi nên cấutrúc Kainozoi được thể hiện rõ hơn, các cấu trúc Mezozoi chỉ được phát hiện ởmột số công trình khoan đơn lẻ Lịch sử nghiên cứu và cấu trúc địa chất khu vựcđã được thể hiện ở báo cáo Bản đồ Địa chất thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ1/50.000 (Ma Công Cọ - 1987) và Báo cáo lập bản đồ địa chất thuỷ văn – côngtrình vùng thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ 1/50.000 (Đoàn Văn Tín – 1988)
a) Thống Miocene - bậc trên Hệ tầng Bình Trưng (N1 3bt)
Các thành tạo của hệ tầng này gặp tại lõi khoan 820, phường Bình Trưng,Quận 02 Mặt cắt lõi khoan từ dưới lên có thể chia thành ba tập như sau:
Tập 1: cát, sạn sỏi chứa các mảnh dăm gắn kết yếu bởi bột sét màu lục,phủ bất chỉnh hợp lên đá andesitobasalt của hệ tầng Long Bình, dày 3,3 mét;phía trên là sét bột kết có màu nâu, dày 0,5 mét
Tập 2: cát bột kết màu xám, dày 7,6 mét
Tập 3: sét bột kết màu xám, phân lớp mỏng (phân lớp từ 0,5 đến 4,0 cm)dày 8 mét, trên mặt lớp có thực vật hóa than màu đen, bị các trầm tích Pliocene
Trang 28thượng hệ tầng Bà Miêu phủ bất chỉnh hợp bên trên Tập này có chứa hóa thạch
bào tử phấn hoa vơí các dạng đặc trưng như: Microlepia sp., Schizea sp., Anemia sp., Ginkgo sp., Plicea sp., Tsuga sp., Quercus sp., Castanopsis sp., Alaria sp.,
Fragus sp., Alnus sp., Juglans sp., được Nguyễn Đức Tùng xếp vào tuổi Miocene
muộn
b) Thống Pliocen – bậc dưới Hệ tầng Nhà Bè (N2 1nb):
Chỉ xuất lộ ra một phần diện tích quận 9, phần đông bắc quận Thủ Đức,nhưng gặp hệ tầng trong hầu hết các lỗ khoan sâu trên diện tích của Thành phố
Khu vực nghiên cứu gặp hệ tầng này ở độ sâu từ 133,5m đến 320m(LK.808) và từ 211,9m đến 330m (LK.812) Tại lõi khoan 812, từ dưới lên có cáctập :
Tập 1: Cát sạn sỏi, cát pha bột sét chứa sạn, cát pha bột sét xen kẹp ít lớpmỏng sét bột màu xám, cuội sỏi xen các lớp sét cát màu xám lục chứa bào tử,phấn hoa và tảo nước mặn Bề dày khoảng 26-50m, phủ bất chỉnh hợp lên cát kếtmàu đỏ của hệ tầng Long Bình Dựa vào cấp hạt, đường kính trung bình, cácthông số độ hạt khác cho thấy trầm tích có độ chọn lọc trung bình, lệch về phíacấp hạt nhỏ Phần bên dưới cát sạn sỏi chiếm chủ yếu, phần trên trầm tích mịnhơn Các trầm tích thuộc cụm tướng tiền châu thổ lắng đọng trong chế độ thủyđộng lực trung bình nhưng thay đổi nhanh, dạng đồ thị đường cong hạt có 1-3đỉnh
Tập 2: Bột sét pha cát màu xám loang lổ nhẹ, sét bột cấu tạo khối chứathân cây hóa than màu xám tro, phớt tím, chứa bào tử phấn hoa và tảo nước mặn,dày khoảng 9 mét (LK812)
Tập 3: Cát, cát chứa sạn-sỏi màu xám xanh, xen ít lớp mỏng bột sét pha
Trang 29khoảng 80 - 90m Thành phần cấp hạt: cát sạn sỏi chiếm 60 - 68%, bột 6 -16%,sét 25 - 31%; các thông số độ hạt khác cho thấy trầm tích có độ chọn lọc kém,phân bố lệch về phía cấp hạt lớn Trầm tích thuộc cụm tướng tiền châu thổ, cóchế độ thủy động lực trung bình, biến động phức tạp, đồ thị đường cong phân bốhạt có 2-3 đỉnh.
Tập 4: Bột sét pha cát màu xanh, sét bột phân lớp mỏng màu vàng nghệ,loang lổ nâu đỏ, bề dày khoảng 2,6 - 7m Thành phần cấp hạt cát sạn =20%,bột=47%, sét =33% Các thông số độ hạt khác cho thấy trầm tích chọn lọc kém,phân bố lệch về phía hạt nhỏ, có chế độ thủy động lực kém nhưng xáo động, đồthị đường cong phân bố hạt có 4 đỉnh Tập này bị hệ tầng Bà Miêu tuổi Pliocenmuộn phủ bất chỉnh hợp lên
Bào tử phấn hoa thu thập được bao gồm các dạng như Polypodiacae gen sp., Rhus sp., Phorbiaceae gen sp., Betula sp., Cystopteris sp., Quercus sp.,
Ginkgo sp., Lygodium sp., Palmae gen sp., Podocarpus sp được Nguyễn Đức
Tùng xác định có tuổi Pliocen sớm Tảo nước mặn gồm có các giống loài như
Cyclotella striata, Paralia sulcata, Schuettia annulata, Coscinodiscus sp., Thalassiosira sp., Thalassionema nitzschioides, Nitzschia cocconeiformis, Coscinodiscus lineatus, Actinocyclus ohrenbergii, Hantzschia amphioxys Được Đào Thị Miên xác định tuổi Pliocen Tập 3 chứa các bào tử phấn hoa như Picea,
Pinus, Florschuetzia meridionalis cho tuổi Pliocen (Nguyễn Đức Tùng); di tích trùng lỗ gồm các giống loài như Lagena aff laevis, Asterorotalia pulchella.
Theo hướng Đông Bắc-Tây Nam (từ Thủ Đức đến Bình Chánh), bề mặtnóc của tầng Pliocene hạ chìm dần với dạng bậc thang từ độ sâu 80-86 mét ở khuvực Bình Thạnh, Quận 9, 136-144 m ở khu vực nội thành, 140-142 mét ở khu vựcBình Chánh, với chiều dày của loạt trầm tích này cũng thay đổi một cách tương
Trang 30ứng là 43-68 mét, 100-128 mét và 118-180 mét Trầm tích chuyển dần từ cụmtướng đồng bằng tam giác châu sang cụm tướng tiền tam giác châu và biển nông,tương ứng với kỳ biển tiến thời này.
Phân bố rộng rãi ở các khu vực miền Đông và miền Tây Nam Bộ Khuvực Thành phố Hồ Chí Minh, hệ tầøng thường bắt đầu bằng các trầm tích hạt thôcát sạn pha bột, và kết thúc bằng các trầm tích hạt mịn sét bột phân lớp
Trong vùng nghiên cứu hệ tầng này gặp ở độ sâu từ 74,5m đến 133,5m(LK.808) và từ 129 m đến 211,9 m (LK.812) được chia làm hai tập:
Tập dưới: Cát pha bột chứa sạn sỏi màu xám vàng, nâu vàng dạng bở rời ,
dày khoảng 35-40m
Tập trên: Sét bột màu trắng xám bị phong hoá loang lổ nâu vàng, nâu đỏ,
dày khoảng 20-25m Hệ tầng bị các trầm tích Pleistocen phủ bên trên
Theo hướng Theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bề mặt nóc của hệ tầngchìm sâu dần từ một vài mét ở khu vực tây bắc Củ Chi, 20-45 mét ở khu vực HócMôn và khu vực nội thành, 34 đến 84 mét ở khu vực Cần Giờ Sự biến đổi theohướng này kém rõ
Theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, do ảnh hưởng của đứt gãy kiến tạophương Tây Bắc – Đông Nam, độ sâu bề mặt nóc, chiều dày và tướng trầm tíchthay đổi nhanh hơn Bề mặt nóc của tầng có độ cao từ 27 mét ở Thủ Đức, đếnsâu 25 mét và 37 mét ở Bình Thạnh – Tân Bình và sâu 72,5 mét ở Bình Chánh.Tướng trầm tích chuyển từ cụm tướng đồng bằng tam giác châu sang tiền tamgiác châu Cụm tướng đồng bằng tam giác châu (dày 40 đến 70 mét) ở Thủ Đức,Bình Trưng (quận 2) chuyển qua cụm tướng tiền tam giác châu có chiều dày
Trang 31thay đổi từ 90 đến 120 mét (khu vực nội thành) và 100 đến 136 mét ở khu vựcTây Nam Bình Chánh.
Về thành phần khoáng vật cũng cho thấy hoạt động biển tiến Phần bêndưới gặp các khoáng vật tích tụ trong vùng đồng bằng tam giác châu như: mảnhđá, ilmenit, turmalin, andalusit, zircon; tập trên có các khoáng vật hình thànhtrong điều kiện tiền tam giác châu hay biển nông như: siderit, nhóm carbonat
1.2 Hệ Đệ Tứ (Q):
a) Thống Pleistocen- bậc dưới Hệ tầng Trảng Bom (Q I 3 tb)
Các thành tạo của hệ tầng này không lộ ra trên bề mặt địa hình, bề dàycủa hệ tầng này thay đổi từ 25 mét đến 50 mét Trong lõi khoan 812 tại BìnhChánh, các trầm tích của hệ tầng này gặp ở độ sâu từ 72 m đến 129 m, mặt cắtlõi khoan từ dưới lên:
Tập 1: Cát hạt trung đến thô, có màu xám nâu Dày 9 mét.
Tập 2: cát thô, sạn sỏi màu xám có tảo nước mặn ở độ sâu 98 mét, 101mét, 109 mét và bào tử phấn ở độ sâu 90 mét, 100 mét, 114 mét Dày 37 mét
Tập 3: sét bột màu tím, gắn kết rắn chắc, bào từ phấn hoa được nghiêncứu ở mẫu độ sâu 81 mét Dày 11 mét
Trong các lõi khoan, chỉ có một số lõi khoan là gặp trầm tích của hệ tầngnày, nhưng cũng cho thấy được chiều dày trầm tích của hệ tầng tăng dần khi đivề hướng Đông Nam và Tây Nam