Để trở thành người theo đúng nghĩa của nó, trẻ phảỉ được sống và họat động trong xã hội loài người, được nuôi dưỡng chăm sóc theo kiểu người, được yêu thương… • Một số quan điểm sai lầm
Trang 1TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÍ HỌC SƯ PHẠM
- -Câu 1: Khái niệm về sự phát triển tâm lí trẻ em.
Trả Lời
• Khái niệm :
Trẻ em là trẻ em, trẻ em vận động và biến đổi theo những qui luật riêng (trẻ em khác người lớn cả về tâm lí, sinh li) Khi sinh
ra trẻ em là con người tiềm tàng Để trở thành người theo đúng nghĩa của nó, trẻ phảỉ được sống và họat động trong xã hội loài người, được nuôi dưỡng chăm sóc theo kiểu người, được yêu thương…
• Một số quan điểm sai lầm về sự phát triển tâm lí trẻ em.
− Thuyết tiền định:
+ Những người theo quan đểm này coi sự phát triển tâm lí là do tiềm năng sinh vật gây ra và con người có tiềm năng đó từ khi ra đời Mọi đặc đIểm tâm lí chung và có tính cá thể đều là tiền định đều có sẵn trong câu trúc sinh vật và sự phát triển chỉ lầ quá trình trưởng thàn chín muồi của những thuộc tính có sẵn ngay từ đầu và được quyết định trước bằng con đường di truyền
+ Do đó có quan niệm: một bộ phận học sinh tỏ ra không đạt được kết quả nào đó dù có dạy tốt, số khác lại tỏ ra
có thành tích dù giảng dạy tồi …vì vậy hạ thấp vai trò của giáo dục, giáo dục chỉ là nhân tố bên ngoài, bị chế ước bởi tính di truyền coi trọng yếu tố môi trường
− Thuyết duy cảm:
+ Theo thuyết này thì môi trường là nhân tố tiền định của sự phát triển tâm lí trẻ em Muốn nghiên cứu con người chỉ cần phân tích môi trường mà họ sống
+ Nhưng các nhà tâm lí học theo thuyết này lại cho rằng môI trường xã hội là bất biến, quyết định trước số phận của con người, nó được xem như là đối tượng thụ động trước ảnh hưởng của môi trường xã hội
+ Họ cho rằng trẻ sinh ra như tờ giấy trắng hoặc tấm bảng sạch sẽ mà người ta muốn vẽ gì thì vẽ…Do đó không giải thích được vì sao trong một môi trường như nhau lại hình thành những nhân cách khác nhau
− Thuyết hội tụ 2 yếu tố :
+ Thuyết này cho rằng sự phát triển của trẻ em chịu tác động của 2 yếu tố Nhưng họ hiểu tác động của 2 yếu tố một cách máy móc, nhường như sự tác động qua lại giữa chúng quyết định trực tiếp sự phát triển trong đó di truyền đóng vai trò quyết định còn môi trường là điều kiện để biến đổi những đặc điểm tâm lí đã định sẵn để trở thành hịên thực
+ Quan đIểm trên cũng sai lầm không kém gì thuyết tiền định và thuyết duy cảm
− Kết luận:
Cả 3 thuyết trên đều phủ nhận vai trò của giáo dục và tính tích cực riêng của cá nhân: coi trẻ em là một thực thể tự nhiên, thụ động, chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và yếu tố sinh vật…không thấy được con người là một thực thể xã hội tích cực, chủ động trước tự nhiên, có thể cải tạo được tự nhiên…Vì vậy họ không thể hiểu tại sao trong những điều kiện môi trường giống nhau lại hình thành lên những nhân cách khác nhau…
• Quan điểm của THDVBC về Sự phát triển tâm lí của trẻ em.
− Nguyên lí phát triển của TH Mác – Lênin thừa nhận sự phát triển là quá trình biến đổi của sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Đó là sự tích luỹ dần về số lượng dẫn đến sự thay đổi về chất lượng, là quá trình nảy sinh cái mới dựa trên cơ sở cái cũ do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật hiện tượng
− Quan điểm về sự phát triển tâm lí trẻ em.
+ Bản chất của sự phát triển tâm lí trẻ em không phải là sự tăng hay giảm về số lượng mà là quá trình biến đổi về chất lượng trong tâm lí Sự thay đổi về lượng của các chức năng tâm lí dẫn đến sự thay đổi về chất và đưa đến sự hình thành cái mời một cách nhảy vọt
+ Sự phát triển tâm lí gắn liền với sự xuất hiện những đặc đIểm mới về chất, những cấu tạo tâm lí mới ở những giai đoạn độ tuổi nhất định
→ Ví Dụ: Nhu cầu tự lập của trẻ lên 3, cảm giác về sự trưởng thành của bản thân ở tuổi thiếu niên
+ Những biến đổi về chất lượng tâm lí sẽ đưa đứa trẻ từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác Bất cứ một mức
độ nào của trình độ trước cũng là sự chuẩn bị cho trình độ sau Yếu tố tâm lí lúc đầu ở vị trí thứ yếu, sau chuyển sang vị trí chủ yếu
− Nguyên nhân của sự phát triển tâm lí:
Trang 2+ Hoạt động tích cực của trẻ với thế giới đối tượng do loài người tạo ra, qua đó trẻ tiếp thu “lĩnh hội ’’ nền văn hoá xã hội loài người
+ Giao tiếp với người lớn: thông qua giao tiếp người lớn chỉ bảo cho trẻ em tên gọi của đồ vật, người lớn còn giúp trẻ nắm vững ngôn ngữ dân tộc phương thức hành động giúp con người có năng lực người
+ Do bẩm sinh, di truyền Các nhà THDVBC cũng thừa nhận bẩm sinh, di truyền có vai trò nhất định đến sự phát triển tâm lí của trẻ Những đặc đIểm cơ thể là tiền đề, là khả năng của sự phát triển tâm lí
− Kết luận sư phạm:
+ Tổ chức và hướng dẫn trẻ tham gia tích cực vào hoạt động để chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội lịch sử
+ Phát huy tính tích cức, chủ động, sáng tạo của trẻ trong hoạt động
+ Chú ý đến đặc đIểm cơ thể và đặc điểm riêng của trẻ
CÂU 2: Điều kiện, động lực của sự phát triển tâm lý.
Trả Lời
CÂU 3: NHỮNG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN TÂM LÍ Ở CỦA HỌC SINH THCS.
Trả Lời
1 Sự biến đổi về mặt giải phấu sinh lí: Ở lứa tuổi thiếu niên có nhiều biến đổi về mặt giải phẫu sinh lí,
điều đó đã ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển tâm lí của các em
a Sự phát triển nhảy vọt về mặt giải phẫu sinh lí tạo nên sự mất cân đối tạm thời giữa các chức năng sinh lí, từ đó tạo nên sự mất cân đối tạm thời về mặt tâm lí.
− Hệ xương: phát triển mạnh nhưng chưa hoàn thiện, đặc biệt là xương tay, xương chân dài ra nhiều mà lồng
ngực phát triển chậm hơn
+ Xương sống đang trong giai đoạn cốt hoá nên giữa các cốt sống còn có sụn do vậy cột sống dễ cong vẹo khi đứng ngồi không đúng tư thế
+ Sự phát triển hệ xương và hệ cơ, xương bàn tay và xương đốt tay, ngón tay, không đồng đều Do vậy thiếu niên thường cao gầy, vận động thiếu hài hoà, vụng về, nóng ngóng, làm gì cũng dẽ hỏng dễ vỡ, chân tay luôn cảm thấy thừa
+ Các em ý thức được sự lóng ngóng vụng về và luôn khó chịu, luôn luôn cố gắng che đậy bằng đIệu bộ không tự nhiên, chỉ bằng một sự mỉa mai nhẹ nhàng cũng làm cho các em phản ứng mạnh mẽ
+ Ở lứa tuổi này tầm vóc các em lớn nên trông thấy khiến các em có hình dáng gần giống người lớn Đây là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện cảm giác mình là người lớn của thiếu niên
− Hệ cơ:
+ Khối lượng và sức mạnh cơ bắp tăng nhưng chưa bền
+ Sự tăng về lực của các khối cơ khiến các em khẻo ra rõ rệt Do vậy các em có làm được nhiều việc năng hơn
+ Cơ của thiếu niên nhanh chóng mệt hơn so với cơ của người lớn, làm không được lâu dài
Vì vậy việc cần lưu ý khi tổ chức lao động và hoạt động thể thao, không yêu cầu các em làm việc quá sức, không lên làm việc kéo dài, nên có thời gian nghỉ ngơi
+ Ở thiếu niên sự phát triển của hệ cơ của các em trai và các em gái khác nhau, báo hiệu sự hình thành ở những nét đặc biệt về cơ thể ở mỗi giới
− Hệ tim mạch: cũng phát triển mạnh nhưng không cân đối.
Thể tích tim tăng nhanh, tim to hơn, hoạt động mạnh hơn trong khi đó đường kính của các mạch máu phát triển chậm hơn Dẫn đến rối loạn tạm thời của tuần hoàn máu thiếu niên thường hay có cảm giác mệt mỏi nhức đầu, chóng mặt
− Tuyến nội tiết:
Tuyến nội tiết hoạt động mạnh, đặc biệt là các tuyến: tuyến yến, tuyến sinh dục, tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng tạo ra nhiều sự thay đổi trong cơ thể, trong đó rõ ràng nhất là làm cho chiều cao tăng vọt, làm diễn ra hiện tượng phát dục Đồng thời cũng làm rỗi loạn hoạt động thần kinh cấp cao Do đó các em dễ xúc động, bực tức, nổi khùng
b Hoạt động của hệ thần kinh cấp cao cũng có những đặc điểm riêng biệt:
− Sự mất cân bằng giữa 2 quá trình thần kinh hưng phấn và ức chế: Hưng phấn lớn hơn ức chế, hưng phấn chiếm ưu thế
Vì vậy thiếu niên rất nhạy cảm, dễ bị kích thích, dễ có phản ứng kịch liệt, không làm chủ được cảm súc của mình, tính khí thất thường…
− Hoạt động của vùng dưới vỏ não nhanh và mạnh hơn vùng trên của vỏ não dẫn đến sự mất cân bằng tạm thời giữa 2 hệ thống tín hiệu Do vậy ngôn ngữ của thiếu niên cũng thay đổi, các em nói chậm hơn, ngập ngừng, nên rất ngại nói câu
Trang 3dài, mà thường nói “cộc lốc”, “nhát gừng” Nhưng sự mất cân bằng trên chỉ có tính chất tạm thời, khoảng một5 tuổi trở đi thì vai trò của hệ thống tín hiệu tăng lên, sự ức chế trong được tăng cường, quá trình hưng phấn và ức chế có khả năng cân đối hơn
c Hiện tượng dậy thì
− Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển của tuổi thiếu niên Tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động và cơ thể các em bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu phụ khiến ta có thể nhận thấy thiếu niên đang ở độ tuổi dậy thì
− Hiện tượng dậy thì là hiện tượng sinh lí bình thường diễn ra theo quy luật sinh học, chịu sự chi phối của các yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội
− Sự dậy thì làm cho cảm tưởng mình là người lớn của thiếu niên đầy đủ hơn, rõ dàng hơn
− Làm xuất hiện trong các em những cảm xúc, những suy nghĩ mới…mà thường chính các em cũng chưa ý thức Sự phát dục kích thích các em quan tâm đến các bạn khác giới, muốn các bạn khác giới quan tâm đến mình, xuất hiện trong các em những rung cảm, những cảm giác mới lạ
Tóm lại :
− Chúng ta cần nắm được những đặc điểm đó để có cách ứng xử hợp lí trong quan hệ với thiếu niên
− Cần tổ chức hoạt động học tập và các hoạt động khác phù hợp với đặc điểm sinh lí của các em
− Không nên mắng mỏ, chế giễu, phê phán tính vụng về…của các em Cần nhắc nhở nhẹ nhàng khéo léo, động viên, khuyến khích để các em tự khẳng định mình
− Người lớn cần hiểu, thông cảm và độ lượng hơn trong quan hệ với các em
− Cần giáo dục giới tính cho các em để các em có tư thế sẵn sàng đón nhận tuổi dậy thì
− Xây dựng mối quan hệ trong sáng giữa các em nam và em nữ
2 Đặc điểm hoạt động học tập, giao tiếp của học sinh trung học cơ sở và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển tâm
lí của lứa tuổi này.
a Đặc điểm hoạt động học tập
− Hoạt động chủ đạo: là hoạt động học tập ở lứa tuổi này nhưng hoạt động học tập được xây dựng lại một
cách cơ bản so với tuổi học sinh tiểu học
− Nội dung: các em được tiếp cận, nghiên cứu có hệ thống khoa học dưới dạng các phân môn Mỗi môn học là một khái niệm, quy luật, được xếp một cách hệ thống, sâu sắc, độc lập nhằm thúc đẩy tư duy trừu tượng và lôgic của các em.
− Mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh:
+ Học sinh được tiếp xúc với nhiều thầy cô giáo trong đó các giáo viên có sự khác nhau lớn về nhiều mặt
+ Sự khác biệt này ban đầu đã tạo ra những không khí cho trẻ nhưng mặt khác nó lại thúc đẩy thái
độ tự giác đối với học tập của thiếu niên
− Thái độ đối với học tập: tất cả các em đều ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của học tập, nhưng
thái độ biểu hiện rất khác nhau Sự khác nhau đó được thể hiện:
+ Trong thái độ học tập: từ thái độ rất tích cực, có trách nhiệm đến thái độ lười biếng, thờ ơ, thiếu trách nhiệm trong học tập
+ Trong sự hiểu biết chung: từ mức độ phát triển cao và sự ham hiểu biết nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau ở một số em, nhưng ở một số em khác thì mức độ phát triển rất yếu, tầm hiểu biết hạn chế
+ Trong phương thức lĩnh hội tài liệu học tập: từ chỗ có kỹ năng học tập độc lập, có nhiều cách học hiệu quả đến mức hoàn toàn chưa có kỹ năng học tập độc lập, chỉ biết học thuộc lòng từng bài, từng câu, từng chữ
+ Trong hứng thú học tập: từ hứng thú đối với một lĩnh vực tri thức nào đó và có những việc làm
có nội dung cho đến mức độ hoàn toàn không có hứng thú nhận thức, cho việc học hoàn toàn gò
ép, bắt buộc
− Khắc phục: để giúp các em có thái độ đúng đắn với việc học tập thì:
+ Tài liệu học cần phải gắn gọn, chính xác về nội dung khoa học, gắn liền với thực tế cuộc sống giúp các em hiểu rõ ý nghĩa và ghi nhớ lâu hơn
+ Tài liệu phải gợi cảm, gây hứng thú cho học sinh, gây sự tò mò, nhu cầu tìm hiểu cho học sinh + Phải giúp đỡ các em phương pháp học, cách nắm bắt kiến thức
b Giao tiếp của học sinh trung học cơ sở.
• Mối quan hệ giao tiếp giữa thiếu niên với người lớn: đã có sự thay đổi trở thành kiểu quan hệ mới
− Trước đây mối quan hệ giữa trẻ em và người lớn là mối quan hệ bất bình đẳng, người lớn thường áp đặt những gì họ muốn cho trẻ theo tính chất áp đặt, cưỡng chế
Trang 4− Nhưng sang lứa tuổi thiếu niên mối quan hệ đó đã trở nên lỗi thời Thiếu niên muốn và đòi hỏi người lớn phải đối xử bình đẳng, thừa nhận sự trưởng thành (các em đã là người lớn), phải được đối xử người lớn – người lớn Trong quá trình thiết lập mối quan hệ giữa thiếu niên và ngưới lớn sẽ nảy sinh rất nhiều vấn đề phức tạp
và nó hoàn toàn phụ thuộc phần lớn vào nhận thức, thái độ của người lớn
− Nếu người lớn:
+ Chấp nhận và ủng hộ việc cải tổ mối quan hệ, coi thiếu niên là người lớn thì thiếu niên phát triển một cách thuận lợi, tích cực theo chiều hướng tốt
+ Không chấp nhận, không thay đổi quan niệm về chúng thì sẽ dẫn tới sự khủng hoảng, mâu thuẫn giữa thiếu niên và người lớn theo hướng:
Thiếu niên phản ứng một cách mạnh mẽ, chúng thường có hành vi bướng bỉnh, bất bình, không vâng lời làm những gì ngược lại với ý muốn của người lớn như hút thuốc, uống rượu, yêu đương… chúng tỏ ra xa lánh người lớn, không tin tưởng vào người lớn, cho rằng người lớn không hiểu các em
Thiếu niên tỏ ra lầm lì, ít nói, vâng lời một cách máy móc, không muốn tiếp xúc nhiều với người lớn, nếu tình trạng này kéo dài thiếu niên có thể mắc bệnh tự kỷ, một chứng bệnh rất khó chữa
• Mối quan hệ giao tiếp với bạn bè cùng tuổi: phức tạp, đa dạng hơn nhiều so với học sinh tiểu học
− Nhu cầu giao tiếp với bạn bè trở thành hoạt động chủ đạo của lứa tuổi thiếu niên Nhu cầu giao tiếp và nhu cầu được bạn thừa nhận, tôn trọng nổi lên là nhu cầu chính đáng của các em Trong mối quan hệ với bạn bè cùng tuổi thiếu niên tìm được cho mình một vị trí bình đẳng về mặt nhân cách, tìm được vị trí xứng đáng và khẳng định được mình
− Phạm vi kết bạn đã được mở rộng vượt khỏi phạm vi nhà trường, phạm vi hoạt động học tập, các em tìm được những hứng thú mới, những việc làm mới trong mối quan hệ này
− Việc kết bạn của thiếu niên đã dựa trên những căn cứ, tiêu trí của tình bạn như tôn tọng lẫn nhau, quan hệ bình đẳng và giúp đỡ lẫn nhau, lòng trung thành, tính trung thực Do đó trong xã hội xuất hiện nhiều nhóm bạn có cùng sở thích, cá tính…Đó cũng chính là cơ sở để các em giao lưu và kết bạn
− Mối quan hệ giao tiếp giữa các em nam và nữ cũng có sự thay đổi Sự quan tâm lẫn nhau, ưa thích nhau do đó thiếu niên hay quan tâm đến vẻ bề ngoài của mình
• Kết luận chung:
− Sự giao tiếp ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là một loại hoạt động đặc biệt, mà đối tượng là người khác – người bạn, người đồng chí
− Nội dung của hoạt động này là sự xây dựng những quan hệ qua lại và những hành động trong quan hệ đó
− Nhờ hoạt động giao tiếp mà các em nhận thức được người khác và bản thân mình, đồng thời phát triển một số
kỹ năng như phân tích, so sánh, khái quát, làm phong phú thêm biểu tượng về nhân cách của bạn và bản thân
Đó chính là cơ sỏ cho sự hình thành và phát triển nhân cách của thiếu niên
• Kết luận sư phạm:
− Trong công tác giáo dục thiếu niên, giáo viên và người lớn phải thực sự tạo điều kiện thuận lợi nhất để các em thỏa mãn nhu cầu giao lưu kết bạn
− Tránh thái độ cực đoan, ngăn cấm, can thiệp thô bạo trong việc lựa chọn bạn bè của các em
− Cần có sự định hướng một cách khéo léo, tế nhị và kiểm tra sư phạm trong việc kết bạn của thiếu niên
c Ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển tâm lí của lứa tuổi này.
Câu 4: Đặc điểm nhận thức: trí nhớ, tư duy của học sinh trung học cơ sở.
Trả Lời
• Đặc điểm nhận thức:
− Cơ sở:
+ Sự thay đổi cơ bản về nội dung và phương pháp của hoạt động học
+ Sự mở rộng mối quan hệ giao tiếp làm tầm hiểu biết mở rộng
+ Sự phát triển đặc biệt về mặt sinh lí, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế nên tính tích cực hoạt động cao, kích thích lòng ham hiểu biết
− Đặc điểm:
+ Mang tính chất quá độ thể hiện ở tất cả các quá trình nhận thức có sự chuyển tiếp từ tính chất không chủ định sang tính chất có chủ định
+ Tính chất không chủ định không giảm đi và tính chất có chủ định phát triển mạnh nhưng vẫn chưa chiếm ưu thế
Trang 5• Trí nhớ của thiếu niên dần mang tính chất của quá trình điều khiển, điều chỉnh có tổ chức.
− Trí nhớ có sự thay đổi về chất rõ ràng thể hiện ở sự chuyển tiếp từ trí nhớ không chủ định sang trí nhớ có chủ định Tức là trí nhớ của các em có mục đích, có kế hoạch, tổ chức
− Có những tiến bộ rõ rệt trong việc ghi nhớ từ ngữ, lôgic, tốc độ ghi nhớ và biết thiết lập những mối quan hệ phức tạp hơn, giữa kiến thức cũ và kiến thức mới
Ví dụ: để giải bài toán giải phương trình thì các em biết vận dụng những phương pháp đã được học từ trước như dùng đồ thị, phân tích thành nhân tử, phương pháp tìm nghiệm nguyên
− Những kĩ năng hoạt động tư duy nhằm ghi nhớ kiến thức nhất định và những kĩ năng nắm vững phương tiện ghi nhớ phát triển ở mức độ cao hơn so với học sinh tiểu học
− Phương pháp ghi nhớ: ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ có ý nghĩa, ghi nhớ lôgic làm cho hiệu của ghi nhớ tăng lên rõ rệt Tốc độ ghi nhớ và khối lượng ghi nhớ tăng lên
− Kết luận sư phạm: để phát triển trí nhớ của học sinh trung học cơ sở cần làm những việc sau:
+ Hướng dẫn cho các em phương pháp ghi nhớ đúng đắn của ghi nhớ lôgic
+ Rèn cho các em khả năng trình bài chính xác nội dung bài học theo cách diễn đạt của mình
+ Yêu cầu các em kiểm tra hiệu quả ghi nhớ bằng sự nhớ lại tài liệu
• Tư duy:
− Tư duy của thiếu niên có những bước chuyển biến cơ bản về chất so với lứa tuổi trước đó Tư duy nói chung, tư duy trừu tượng và tư duy khái quát nói riêng phát triển mạnh Tư duy trừu tượng, khái quát chiếm ưu thế nhưng thành phần của tư duy cụ thể vẫn không giảm xuống, không mất đi mà vẫn tồn tại, phát triển giữ vai trò trong cấu trúc của tư duy
− Ở lứa tuổi thiếu niên thái độ khái quát của tư duy và khả năng suy luận lôgic của tư duy đã phát triển mạnh, đặc biệt là tính phê phán của tư duy có những bước tiến mới Các em biết lập luận, giải quyết vấn đề một cách có căn
cứ, không dễ tin và luôn đòi hỏi có sự chứng minh – nói có sách, mách có chứng Đây có thể nói là một phẩm chất quan trọng của tư duy
− Mức độ và chất lượng của tư duy trừu tượng ở mỗi thiếu niên có sự khác biệt khá rõ rệt:
+ Một số em nắm được dấu hiệu bản chất của đối tượng nhưng không phải bao giờ các em cũng phân biệt được
nó trong những tình huống cụ thể
+ Nhiều em thì những tác động của ấn tượng bên ngoài trực tiếp, cảm tính mạnh hơn tác động của từ ngữ dẫn đến việc tiếp thu khái niệm không chính xác
− Kết luận sự phạm: để phát triển tư duy của học sinh trung học cơ sở , giáo viên cần lưu ý
+ Cần tạo điều kiện để phát triển cả tư duy trìu tượng và tư duy cụ thể, đặc biệt, hướng dẫn giúp đỡ các em để tính có chủ định, tự giác phát triển mạnh trong quá trình học tập, giúp quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao + Khi giảng bài phải đưa ra những dẫn chứng sát thực có thuyết phục, chỉ rõ đúng sai, khuyến khích các em suy nghĩ sáng tạo
+ Thường xuyên gọi các em phát biểu ý kiến xây dựng bài tạo điều kiện để các em có thể rèn luyện, phát triển khả năng ngôn ngữ của bản thân, đặc biệt là các em nam
+ Trao đổi , trò chuyện với các em về các vấn đề học tập, những mâu thuẫn chăm chú lắng nghe khi các em nói, trở thành người bạn lớn của chúng
Câu 5: Đặc điểm nhân cách: tự ý thức, tình cảm, đạo đức của học sinh trung học cơ sở.
Trả Lời
1 Tự ý thức: sự phát triển mạnh của tự ý thức là đặc trưng nhân cách của lứa tuổi thiếu niên.
• Cơ sở: sự phát triển mạnh của tự ý thức ở lứa tuổi thiếu niên có 2 nguyên nhân chủ yếu sau:
− Sự phát triển nhanh, mạnh nhưng không đồng đều về mặt cơ thể, đặc biệt là hiện tượng dậy thì
− Trong hoạt động học tập, trong mối quan hệ giao lưu, thiếu niên thấy mình có một vị trí mới, tầm hiểu biết thay đổi Đó là điều kiện khách quan kích thích nhu cầu muốn khám phá và tìm hiểu bản thân Đây là nhu cầu hàng đầu của lứa tuổi này
• Biểu hiện:
− Thiếu niên hướng đến việc tự nhận thức về bản thân, các em đã quan tâm tương đối toàn diện về bản thân Trước tiên là sự nhận thức về mặt cơ thể, đặc biệt là hiện tượng dậy thì Các em quan tâm, chú ý đến hành
vi của mình
− Thiếu niên bắt đầu chú ý, khám phá thế giới nội tâm của mình, tìm hiểu khả năng của bản thân Tìm kiếm nhận thức để khẳng định vị trí, vai trò của mình trong các mối quan hệ xã hội
− Trên cơ sở nhận thức về bản thân, thiếu niên đã tiến hành tự dánh giá về mình Có thể coi tự đánh giá của tuổi thiếu niên có những bước tiến nhảy vọt so với lứa tuổi nhi đồng, nó biểu hiện ở 2 khía cạnh: thiếu niên thường đánh giá mình bằng cách so sánh minh với trẻ em; và so sánh với người lớn Đây là sự khác biệt
Trang 6giữa thiếu niên và nhi đồng, dẫn đên sự đánh giá thường là cao hơn bản thân vì thiếu niên thấy mình khác trẻ em, ra dáng người lớn hơn
− Từ việc đánh giá bản thân cao hơn khả năng thực đã làm nảy sinh ở thiếu niên một cảm giác độc đáo Người ta cho rằng, đây là cấu tạo tâm lí mới của lứa tuổi thiếu niên, nó làm cho thiếu niên có cảm giác mình
là người lớn
+ Cảm giác là người lớn là thái độ đánh giá và thái độ cảm xúc chủ quan của thiếu niên, tự coi mình là người lớn, cảm thấy mình đã sẵn sàng hòa nhập vào cuộc sống của người lớn với một tư cách bình đẳng và xứng đáng
+ Cảm giác làm người lớn một mặt phản ánh nhu cầu mong muốn, thậm chí được coi là khát vọng của lứa tuổi thiếu niên, muốn làm người lớn, muốn tự khẳng định mình và muốn người lớn thừa nhận điều đó
+ Cảm giác là người lớn thúc đẩy thiếu niên tìm hiểu cách thức để thõa mãn nhu cầu đó: những đặc điểm bên ngoài, hành vi, cử chỉ, trang phục và việc tự tu dưỡng, tự rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân để trở thành người lớn Đây là con đường trở thành người lớn theo hướng tích cực nhưng thiếu niên có xu hướng rèn luyện tính độc lập, tự chủ, khả năng phê và tự phê là những phong cách đặc trưng của người lớn Đặc biệt là khả năng biết dự kiến đường đời của mình để rèn luyện theo hình mẫu, xu hướng đó
− Kết luận: sự phát triển mạnh của tự ý thức với một cảm giác độc đáo: cảm giác là người lớn là nét nổi bật trong tâm lí, nhân cách của lứa tuổi thiếu niên, đòi hỏi người lớn, nhà giáo dục phải có thái độ, cư xử đúng đắn, phù hợp
2 Đời sống tình cảm của thiếu niên.
• Cơ sở:
− Do sự phát triển tâm lí và sinh lí: có sự phát triển mạnh, không đồng đều giữa hưng phấn và ức chế, đặc biệt
là hiện tượng dậy thì làm cho thiếu niên có những cảm xúc mới chưa từng có ở lứa tuổi trước đó
− Do sự mở rộng các mối quan hệ, sự thay đổi cề tính chất, hình thức của hoạt động học tập dẫn đến tình cảm của thiếu niên có những đặc trưng khác biệt so với những lứa tuổi khác
• Nội dung:
− Đặc trưng chung:
+ Tình cảm của tuổi thiếu niên phong phú, phức tạp hơn tình cảm của lứa tuổi nhi đồng, với những đặc trưng cơ bản như dễ xúc động, tình cảm chuyển hóa nhanh, chưa bền vững Năng lực làm chủ tình cảm kém, thậm chí chứa đựng đầy các mâu thuẫn
+ Mâu thuẫn trong tình cảm của thiếu niên thể hiện ở sự chuyển hóa nhanh trong tình cảm nhưng chưa bền vững giữa tình cảm tích cực và tiêu cực; xúc cảm âm tính và dương tính
− Đặc trưng về tình bạn và tình bạn khác giới ở lứa tuổi thiếu niên:
+ Do giao tiếp nổi lên là hoạt động chủ đạo vì vậy tình bạn ở lứa tuổi thiếu niên có những biến đổi căn bản so với lứa tuổi trước
+ Phạm vi kết bạn của lứa tuổi này rất rộng, nhu cầu kết bạn của thiếu niên được coi là nhu cầu có tính chất riêng tư, ở thiếu niên đã hình thành những nhóm bạn
+ Thiếu niên đã kết bạn dựa trên cơ sở cùng chung những sở thích, hứng thú, những phẩm chất của tình bạn Điều đặc biệt là ở các em đã xuất hiện những tình bạn mang tính chất thân tình, gắn bó, những người bạn tri kỉ Tình bạn này ảnh hưởng rất lớn đến lứa tuổi thiếu niên, thậm chí một phần ảnh hưởng đến cả cuộc đời của các em
+ Tình bạn khác giới mang màu sắc giới tính xuất hiện, đây là những rung cảm đầu đời ở cả em nam
và nữ, thể hiện:
Giữa em trai và em gái đã có sự quan tâm, ưa thích nhau về mặt nội dung như A thích B vì B rất dịu dàng…
Đây là một dạng tình cảm lần đầu tiên xuất hiện nên sự biểu hiện của nó cũng hết sức độc đáo với hai trạng thái chủ đạo: biểu hiện ra ngoài một cách rất ồn ào, mạnh mẽ đôi khi là xuồng xã, thô lỗ, có thể có những hành động cuồng nhiệt quá mức; nhưng để che dấu tình cảm của mình một số em biểu hiện một cách lặng lẽ, kín đáo, thậm chí là khinh khỉnh , thờ ơ, giả tạo
Như vậy tình bạn khác giới mang màu sắc xúc cảm giới tính đã xuất hiện ở thiếu niê, các em
đã có sự quan tâm đến nhau nhưng biểu hiện thực chất giữa các em có sự khác biệt đặc thù theo các phương thức ở trên Điều này chứng tỏ tính chất hai mặt trong tình cảm của lứa tuổi thiếu niên
− Kết luận:
+ Tuổi thiếu niên bắt đầu xuất hiện những tình cảm cao cấp như tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ bắt đầu được hình thành trên cơ sở của lý trí
Trang 7+ Đời sống tình cảm của lứa tuổi thiếu niên mang màu sắc rất đặc trưng, các bậc phụ huynh và các nhà giáo dục cần tôn trọng nhu cầu kết bạn, tình cảm của các em
+ Cần có thái độ cư xử khéo léo, tế nhị, cảm thông trước sự xuất hiện những rung cảm đầu đời của các em
+ Bên cạnh đó phải có sự định hướng, có những biện pháp phát hiện kịp thời để ngăn chặn tình trạng đua đòi, chơi bời, sa vào những đam mê đầu đời do tác động xấu của môi trường tạo ra
3 Đạo đức.
Câu 6: Khủng hoảng tuổi thiếu niên: nguyên nhân, biểu hiện và
Trả Lời
1 Nguyên nhân
2 Biểu hiện.
3 Các biện pháp khắc phục.
Câu 7: Khái niệm, bản chất của hoạt động học Phân biệt học ngẫu nhiên và học theo phương thức nhà trường.
Trả Lời
1 Khái niệm, của hoạt động học.
• Khái niệm:
− Thời nguyên thủy, học là bản tính của con người và con vật
− Hoạt đông học là hoạt động đặc thù của con người, được điều khiển bởi một mục đích tự giác, là lĩnh hội tri thức khoa học và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng nhằm hình thành, phát triển tâm lí, nhân cách người học
− Phân tích:
+ Hoạt đông học là hoạt động đặc thù của con người vì chỉ có ở con người mới có hoạt động học mà con vật không có
+ Hoạt đông học được thúc đẩy bởi một mục đích tự giác do con người xác định trên cơ sở, như cầu, nguyện vọng của họ
+ Hoạt đông học chỉ có thể thực hiện khi con người phát triển ở một trình độ nhất định khi mà con người có khả năng điều chỉnh hoạt động của mình một cách tự giác theo mục đích nhất định
+ Hoạt đông học được tiến hành vào lúc 6 – 7 tuổi, là hoạt động tiêu biểu, hoạt động chủ đạo của học sinh trong môi trường từ cấp tiểu học trở đi
+ Hoạt đông học giúp cho con người không chỉ thích ứng mà còn biến đổi, cải tạo môi trường, đặc biệt
là môi trường xã hội
• Bản chất:
− Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với nó
− Cái đích của hoạt động học là hướng tới tri thức, cương lĩnh của nhân loại và biến tri thức của nhân loại thành tri thức của bản thân thông qua sự tái tạo
− Mục đích của hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính bản thân chủ thể, đây là sự khác biệt giữa hoạt động học và hoạt động khác Mục đích của các hoạt động khác là hướng vào làm thay đổi khách thể Còn mục đích của hoạt động học là làm thay đổi chủ thể (người học)
− Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo để hình thành nhân cách người học, điều này nhấn mạnh vai trò chủ thể của người học trong hoạt động học
− Hoạt động học là hoạt động được tiến hành khi con người đã được phát triển ở một trình độ nhất định tức là con người có khả năng điều khiển được hoạt động của mình một cách có ý thức với một mục đích tự giác, mục đích này được xác định trên cơ sở nhu cầu , nguyên vọng của cá nhân
+ Chủ thể phải xác định, ý thức được mục đích đó và chủ động tiến hành hoạt động học với tinh thần tích cực, sáng tạo, cố gắng, lỗ lực, dùng ý chí để vượt qua những khó khăn chủ quan và khách quan
− Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo, mà còn hướng vào việc tiếp thu phương pháp giành lấy tri thức đó, tức là tiếp thu tri thức của chính là bản thân hoạt động học, cách học, phương pháp học
Trang 8− Sự tiếp thu phương pháp học luôn luôn diễn ra đồng thời với việc tiếp thu tri thức khoa học mà người học còn tiếp thu con đường giành lấy tri thức đó Vì thế trong dạy học hai mục đích này phải được tiến hành đồng thời và đến một thời điểm nhất định thì những tri thức về bản thân hoạt động học sẽ đủ sức trở thành công cụ và phương tiện phục vụ đắc lực cho việc tiếp thu tri thức khoa học
− Kết luận sư phạm:
+ Cần hình thành nhu cầu nhận thức ở học sinh, giúp các em ý thức rõ mục đích, thái độ học tập đúng đắn
+ Tạo điều kiện cho các em rèn luyện năng lực trí tuệ, giúp các em ý thức rõ đối tượng và hình thức chiếm lĩnh
+ Cần chú ý trang bị cho học sinh không chỉ là tiếp thu tri thức kĩ năng, kỹ xảo mà còn là phương pháp giành tri thức
Câu 8: Hình thành động cơ học tập: khái niệm, các loại động cơ, vai trò của người giáo viên đối với việc hình thành động
cơ hoạt động học cho học sinh
Trả Lời
1 Khái niệm động cơ học tập.
− Động cơ học tập là chức năng tâm lí thúc đẩy con người tiến hành hoạt động học tập
− Nơi hiện thân của động cơ học tập là đối tượng của hoạt động học
2 Các loại động cơ.
• Động cơ quan hệ xã hội (động cơ bên ngoài): phản ánh mối quan hệ xã hội của người học, học vì mục đích
khác Người học không phải vì sự hấp dẫn của tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo mà là vì sự lôi cuốn của mục đích của người học Động cơ này có vai trò nhất định trong việc hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động học, song đây là động cơ không bền vững, mang tính tình huống
• Động cơ hoàn thiện tri thức (động cơ bên trong): người học vì sự lôi cuốn, hấp dẫn của tri thức và phương
pháp giành lấy tri thức Mỗi khi tiếp thu được tri thức mới người học lại mong muốn được hoàn thiện thêm tri thức của mình Đây là động cơ mang tính bền vững, có vai trò quyết định và là động cơ tối ưu về mặt sư phạm
• So sánh:
− Giống nhau: cùng thúc đẩy hoạt động học tập.
− Khác nhau:
Động cơ quan hệ xã hội (động cơ bên ngoài) Động cơ hoàn thiện tri thức (động cơ bên trong)
Xuất phát từ động cơ bên ngoài, người học vì mục đích khác Xuất phát từ động cơ bên trong vì nhu cầu người học
Do áp lực bên ngoài để nắm vững tri thức Vì khao khát mở rộng tri thức, say mê trong quá trình học
tập
Mang tính chất cưỡng bách, cưỡng chế, có sự căng thẳng tâm
lí
Tự nguyện cao, không căng thẳng, xung đột
Là động cơ hỗ trợ nâng cao hiệu quả người học Là động cơ tối ưu theo quan điểm sư phạm
Nảy sinh hành vi xa lạ, mâu thuẫn với bản chất của người học Đạt hiệu quả cao trong việc lĩnh hội tri thức
− Mối quan hệ:
+ Có mối quan hệ gắn bó biện chứng với nhau
+ Động cơ bên ngoài xuất hiện sớm tạo điều kiện để hình thành động cơ bên trong
3 Vai trò của người giáo viên đối với việc hình thành động cơ hoạt động học cho học sinh
− Giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong việc tạo dựng động cơ học tập cho học sinh, đặc biệt có yếu tố quyết định động cơ học tập, động cơ bên trong, động cơ hoàn thiện tri thức
− Với việc tạo dựng động cơ bên ngoài nhà trường và giáo viên vẫn tiếp tục duy trì để tạo nên yếu tố thúc đẩy động cơ bên ngoài Giúp học sinh hình thành động cơ bên trong bằng cách xây dựng điều kiện tốt cho hoạt động dạy và học
− Thường xuyên kiểm tra, đánh giá một cách khách quan, công bằng với những hình thức khen thưởng, xử phạt hợp lý, đặc biệt tạo ra bầu không khí học tập, vui chơi trong nhà trường
− Việc tạo dựng động cơ học tập bên trong phần lớn phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng như nghệ thuật của người thầy giáo
− Mấu chốt của vấn đề là người giáo viên biết khơi dậy nhu cầu nhận thức của học sinh bằng việc khai thác tính hấp dẫn của nội dung tri thức và hướng dẫn học sinh phương pháp giành lấy tri thức đó
Trang 9Câu 9: Hình thành hành động học: vai trò của việc hình thành hành động học, các hình thức của hành động học, nêu các loại hành động học cần được hình thành cho học sinh trung học cơ sở Phân tích việc hình thành hành động mô hình hóa.
Trả Lời
1 Vai trò của việc hình thành hành động học.
2 Các hình thức của hành động học.
− Hình thức vật chất (hành động vật chất)
− Hành động ngôn ngữ:
− Hành động tinh thần:
3 Các loại hành động học cần được hình thành cho học sinh trung học cơ sở.
Hành động phân tích
Hành động mô hình hóa
Hành động cụ thể hóa
Hành động kiểm tra đánh giá
4 Phân tích việc hình thành hành động mô hình hóa.
Câu 10: Khái niệm, các tiêu chí đánh giá hành vi đạo dức Phân biệt hành vi đạo đức và hành động nói chung của con người.
Trả Lời
1 Khái niệm.
• Khái niệm đạo đức:
− Về phương diện xã hội, đạo đức là hệ thống chuẩn mực xã hội quy định hành vi của con người đối với người khác và toàn thể xã hội
− Về phương diện cá nhân, đạo đạo đức được quan niệm là phẩm chất đạo đức của cá nhân được hình thành trên
cơ sở chuẩn mực đạo đức của xã hội, là quá trình biến yêu cầu khách quan thành nhu cầu chủ quan của cá nhân
• Khái niệm hành vi đạo đức:
− Là hành động tự giác của con người được thúc đẩy bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức
2 Các tiêu chí đánh giá hành vi đạo đức.
• Tính tự giác của hành vi:
− Một hành vi chỉ được xem là hành vi đạo đức khi chủ thể ý thức được mục đích và ý nghĩa của hành vi Tự mình hành động theo sự thúc đẩy của động cơ bên trong Ngược lại nếu hành động bắt buộc hay vì sự cưỡng ép
từ bên ngoài thì hành vi đó không được coi là hành vi đạo đức
• Tính có ích của hành vi:
− Một hành vi được coi là hành vi đạo đức khi hành vi đó mang lại lợi ích cho người khác, cho cộng đồng, cho xã hội Ngược lại, một hành vi được coi là hành vi phi đạo đức khi xâm phạm lợi ích của người khác, của cộng đồng, xã hội
• Tính không vụ lợi của hành vi:
− Một hành vi được coi là hành vi đạo đức khi hành vi đó được thúc đẩy bởi động cơ trong sáng, một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức Hành vi vì cộng đồng, vì xã hội Ngược lại một hành vi được coi là hành vi phi đạo đức khi hành vi đó được thúc đẩy bởi mục đích cá nhân, vị kỉ, lấy lợi ích của mình làm thước đo
Tóm lại, để xem xét, đánh giá một hành vi có phải là hành vi là một hành vi đạo đức hay không phải dựa vào ba tiêu chí trên, đây là ba điều kiện cần và đủ để đánh giá hành vi đạo đức
Câu 11: Cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức và mối quan hệ giữa chúng, rút ra bản chất của quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh.
Trả Lời
− Tri thức đạo đức: thực chất là những hiểu biết của cá nhân về những chuẩn mực đạo đức quy định hành vi đạo đức của
cá nhân đối với người khác và xã hội Tri thức đạo đức quy định, hành vi đạo đức, có nhận thức đúng mới có thể hành động đúng
− Tình cảm đạo đức: là thái độ, cảm xúc ổn định của con người đối với các chuẩn mực đạo đức và hành vi đạo đức Tình
cảm đạo đức thực chất là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy con người có hành vi đạo đức bởi vì tình cảm đạo đức bao giờ cũng được bắt đầu từ nhu cầu đạo đức để từ đó con người sẽ có những hành vi để thỏa mãn nhu cầu đạo đức Nói cách khác nhờ có tình cảm đạo đức mà con người có được những hành động, được thúc đẩy bởi động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức
− Niềm tin đạo đức:
− Động cơ đạo đức:
− Thiện trí đạo đức:
Trang 10− Thói quen đạo đức:
− Mối quan hệ:
Câu 12: Các đặc điểm của lao động sư phạm.
Trả Lời
1 Đặc điểm đặc trưng của lao động sư phạm.
− Nghề có đối tượng là học sinh (nhân cách đang hình thành của người học sinh).
− Công cụ nghề dạy học.
− Nghề đào tạo nguồn nhân lực (nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động).
− Nghề có tính khoa học, sáng tạo và nghệ thuật.