Mở đầuSự kết hợp đặc hiệu với kháng nguyên là một trong những chức năng của kháng thể .Chức năng của kháng thể Ig có liên quan chặt chẽ với cấu trúc, do cấu trúc kháng thể quy định: Đoạ
Trang 1CHỨC NĂNG KHÁNG THỂ.
Trang 2Mở đầuSự kết hợp đặc hiệu với kháng nguyên là một trong những chức năng của kháng thể
Chức năng của kháng thể (Ig) có liên quan chặt chẽ với cấu trúc,
do cấu trúc kháng thể quy định:
Đoạn Fab: ( Fragment antigen binding)
Có chức năng kết hợp đặc hiệu với kháng nguyên (KN),
làm bất hoạt nó, mà các kết quả lý-hóa đã được nghiên cứu và
ứng dụng trong nhiều kỹ thuật miễn dịch
Đoạn Fc:( Fragment crystallizable)
Trang 3Như vậy, kháng thể có chức năng hoạt hóa hệ miễn dịch không
đặc hiệu
I.CHỨC NĂNG NHẬN BIẾT VÀ KẾT HỢP KN ( của Fab).
1.1Đại cương: Những khái niệm
1.1.1.Ba đặc tính của phản ứng kết hợp
KN-KT
+Sự kết hợp là thuận nghịch
Không phải là phản ứng hóa học, do vậy sau khi kết hợp và phân ly cấu trúc hóa học của KN hoặc KT hầu như không thay đổi
Trang 4+Sự kết hợp là đặc hiệu.
KT do KN nào tạo ra chỉ kết hợp đặc hiệu với kháng nguyên ấy.
Tính chất này được ứng dụng rộng rãi để phát hiện và định lượng nhiều chất nếu người ta tạo được KT chống chất đó.
+Phản ứng tạo nhiệt:
Nhiệt giải phóng ra từ 2,0-4,0 Kcal/mol
Các KT gọi là "lạnh" có thể giải phóng ra 30-40 Kcal/mol, kết hợp rất yếu với KN ở 37oC
KT nóng (như KT chống Rh) thì tỏa nhiệt kém (2-10 Kcal/mol) nhưng lại phản ứng với KN ở nhiệt độ 37
Trang 51.1.2.Paratop và epitop.
một vịtrí nhất định trên bề mặt KN (gọi là epitop) Paratop
nằm ở đầu tự do của Fab (đầu kia của Fab nối với Fc), thuộc
vùng thay đổi của chuỗi nặng và chuỗi nhẹ (VH và VL).
Cấu trúc Paratop:
Paratop không phải là một đoạn peptit liên tục, dài,mà chỉ là một (hoặc một số) axit amin nằm cách quảng
Đó là những" điểm" mà paratop tiếp xúc với epitop Thông thường có từ 3-6" điểm" như vậy
Trang 61.1.3.Các lực liên kết giữa KN-KT (epitop và
paratop)
Lực hút tĩnh điện:
Được thực hiện giữa một nhóm chứa chức mang điện của paratop với một nhóm mang điện khác dấu của epitop
Ví dụ: Giữa - COO- và - NH3+ lực này c n một khoảng cách ầ
thích hợp giữa 2 nhóm để đạt trị số tối đa
Nó tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách (d), vì vậy nếu khoảng cách tăng lên thì lực giảm đi rất nhanh
Nó tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách (d), vì vậy nếu khoảng
Trang 7Lực của cầu nối hydro:
Tạo ra giữa nguyên tử H+ (trên phân tử KN hoặc KT ) thực chất
đây cũng là lực hút tĩnh điện, nên cũng phụ thuộc vào khoảng cách.
Lực liên kết kỵ nước:
Một khi 2 nhóm kỵ nước nằm đủ gần, thì chúng sẽ liên kết nhau sau khi lọai trừ các phân tử nước ở giữa chúng người ta cho rằng lực này chi phối 50% lực liên kết KN-KT nối chung
Lực Van der Walls:
Do sự chuyển động của các điện tử làm cho phân tử trở thành có
cực,và hút phân tử bên cạnh nếu tiếp cận với lực khác dấu của phân tử này
Khoảng cách có vai trò hết sức to lớn, vì lực này tỉ lệ nghịch với d
Trang 8- Các lực nói trên nếu riêng rẽ thì hoàn toàn không đủ mạnh để chống lại va chạm do chuyển động nhiệt (Brown) Để liên kết
được KN-KT, các lực phải phối hợp nhau
- Cấu hình của paratop phải phù hợp cao độ với epitop sao cho các lực đó đồng thời xuất hiện
Koảng cách 2 bên phải thích hợp để các lực đó cùng đạt giá trị cao Đó là bản chất của khái niệm về tính đặc hiệu KN-KT và ái tính giữa chúng
Trang 91.1.4 Tính tạp loại của KT trong một kháng huyết
thanh
Mẫn cảm cho con vật bằng một protein tinh khiết (ví dụ:
ovalbumin có 10 epitop, hoặc thyroglobulin có 40 epitop) ta thu được kháng huyết thanh chứa các KT "cùng chống lại
một KN'' Do vậy gọi là kháng huyết thanh đơn đặc hiệu
Tuy nhiên hỗn hợp KT trong kháng huyết thanh này vẫn tạp về tính đặc hiệu.
Trang 10-Ngay một tập hợp các KT cùng chống một epitop vẫn có sự tạp
loại Khi gây mẫn cảm liên tục bằng một KN duy nhất chỉ mang một epitop duy nhất (hapten) thì càng về sau, ta càng thu được KT có
tính đặc hiệu (ái tính) cao hơn trước
Tuy vậy hỗn hợp KT này vẫn còn tạp loại về mức độ đặc hiệu, vì
vẫn do các clon limpho bào khác nhau sản xuất ra
-Nếu tách ra một tế bào tạo KT riêng rẽ (thuộc một clon) rồi cho nhân lên, sau khi lai ghép với tế bào u, thì clon này sẽ sản xuất các phân tử
KT giống nhau hoàn toàn về cấu trúc phân tử, paratop, và có cùng
mức độ đặc hiệu.
Đó là KT đơn đặc hiệu đơn clon, không có trong điều kiện tự nhiên
Trang 111.1.5.Ái tính của KT với KN (affinity).
Ái tính được biểu thị đặc trưng bằng tổng hợp tất cả các lực liên kết giữa một paratop với một epitop Muốn nghiên cứu về mặt định lượng ái tính của KT, người ta phải dùng những KN chỉ mang một epitop (tức hapten) Vì phản ứng kết hợp KN-
KT là thuận nghịch nên khi trộn KN với KT dù ở tỉ lệ rất thích hợp, ta vẫn thấy KN và KT ở dạng tự do, do bị phân ly.
KN + KT ⇔ KN - KT
[KN-KT]
K[KN][KT]
Trang 12K: Hằng số kết hợp, biểu thị bằng lít/mol.
K Cũng là ái tính của KT đối với một epitop nhất định của KN
Ta dễ thấy rằng, nếu ái tính cao thì đa số KT nằm trong phức hợp (khiến tử số tăng lên và mẫu số giảm đi, làm cho K tăng theo)
1.1.6.Háo tính của kháng thể.
Trên thực tế một KN có nhiều epitop cùng một lúc bị nhiều KT kết hợp
Trường hợp đó, người ta không thể đo được ái tính, mà chỉ đo được háo tính (có ý nghĩa thực tiễn hơn) Háo tính cho biết tốc độ kết hợp
KT và KN
Trang 131.2 Kết quả sinh học của kết hợp KN-KT.
Khi bị KT kết hợp, KN không bị biến đổi về mặt cấu trúc hóa học, nhưng bị thay đổi về tính chất sinh
Trang 14Các phân tử KN có hoạt tính khi bị KT đặc hiệu kết hợp sẽ mất
hoạt tính
Từ lâu, người ta đã biết sản xuất KT chống độc tố (uốn ván,
bạch hầu) dùng trong phòng bệnh và điều trị
Trong bệnh lý, kháng thể chống insulin, thyroglobulin gây suy
giảm chức năng tuyến tụy, tuyến giáp
Kháng thể chống enzym có tác dụng khử hoạt enzym
Cơ chế khử hoạt có thể là:
Trang 15a Vị trí hoạt động của phân tử KN (có hoạt tính):
Bị KT che phủ bằng sự kết hợp khiến nó không tiếp xúc được đối
tượng tác động nữa (ví dụ: thụ thể tế bào đích)
b Cấu hình của vị trí có hoạt tính:
Bị biến dạng, không còn đặc hiệu với đích nữa
c.Phân tử có hoạt tính:
Thay đổi về hình thể không gian
Trang 162- Bất hoạt vi rút.
Kháng thể làm cho vi rút mất khả năng kết hợp với thụ thể của tế bào đích, do vậy vi rút không thâm nhập
được vào nội bào sẽ nhanh chóng chết ở ngoại bào
Trường hợp vi rút đã lọt vào nội bào, KT vẫn có khả năng gây bất hoạt theo một cơ chế khác
Vi rút tồn tại và phát triển trong tế bào sẽ hình thành một số KN
(epitop) đưa lên bề mặt tế bào, và bị KT kết hợp
KT không trực tiếp diệt vi rút mà có tác dụng hấp dẫn đại thực bào và NK (tế bào diệt tự nhiên) đến tiêu diệt cả tế bào nhiễm laên vi rút bên trong
Trang 173 Bất hoạt vi khuẩn, ký sinh vật và ấu trùng của chúng:
-Tốc độ nhân lên của vi khuẩn giảm đi rõ rệt hoặc mất hẳn (không tạo được khuẩn lạc trong nuôi cấy ở gen thạch)
Các quá trình trao đổi chất qua màng và chuyển hóa nội bào bị rối loạn, gián đoạn hoặc ngừng Vi khuẩn chết.
-Xoắn khuẩn mất khả năng hoát động khi bị KT kết hợp
-Các ký sinh vật đơn bào và một số đa bào (sốt rét, trypanosom,
amip, giun chỉ ) bị KT diệt trực tiếp như cơ chế diệt vi khuẩn Nhiều loại ấu trùng (giun, sán) bị IgG ,IgA ở ruột làm chậm hay ngừng phát triển, tỉ lệ nở và trưởng thành giảm rõ rệt, hoặc không thâm nhập
được qua niêm mạc ruột để vào máu IgE trong các mô có vai trò rất
Trang 184 Chức năng tập trung kháng nguyên:
Bằng cách gây tủa, gây ngưng kết
kháng thể có vai trò làm cho KN từ dạng phân tán trở thành tập trung lại, do vậy hạn chế khả năng lan rộng của KN, đồng thời tạo điều kiện quy tụ các biện pháp bảo vệ không đặc hiệu vào nơi KN bị tập trung (viêm, thực bào, độc tế bào, bổ thể )
Trang 195.Kết quả hóa lý của kết hợp KN-KT:
1 Phản ứng tủa:
Nếu phân tử KN chỉ có một epitop thì kết hợp với KT
(hóa trị 2) sẽ tạo ra các tập hợp KN-KT-KN riêng rẽ
không thể thấy bằng mắt thường
Trên thực tế, phổ biến là trường hợp KN có nhiều epitop sẽ bị 1 Fab của KT kết hợp, còn Fab thứ 2 sẽ kết hợp với 1 epitop cùng loại ở 1 phân tử KN khác Ta có tập hợp: - KN - KT - KN - KT - Do vậy, tập hợp này có điều kiện để mở rộng theo 3 chiều không gian, hình thành một cấu trúc mạng, đủ lớn để có thể thấy được bằng mắt thường (mờ,
Trang 20Khi trộn dung dịch KN với dung dịch KT, nếu xuất hiện tủa, ta có
thể nói KN bị KT kết hợp, hoặc KT là đặc hiệu với KN
Nếu không có tủa, ta chưa thể nói chúng không kết hợp với
Ví dụ: Khi quá thừa KN thì tập hợp sẽ là KN -KT-KN, nhưng lại thiếu kháng thể để liên kết chúng lại thành cấu trúc mạng
Ngược lại khi quá thừa KT ta có các tập hợp: KT-KN-KT, nhưng
Trang 21a.Phản ứng tủa trong môi trường lỏng:
Khi trộn dung dịch KN với dung dịch KT sẽ xẩy ra sự xuất hiện tủa làm cho dung dịch từ trong suốt trở thành mờ,đục, vẩn
Từ rất lâu nó đã được sử dụng để phát hiện KN
( hoặc KT) nếu có sẵn thứ kia, ví dụ:trong chẩn
đoán, trong đánh giá kết quả gây mẫn cảm
Trang 22b Phản ứng tủa trong gien.
Trong một cấu trúc gel, chẳng hạn gel tinh bột hoặc
gel thạch, thì phần đặc chỉ chiếm 1-2% khối lượng,
nhưng nhờ các phân tử chất rắn có cấu trúc dạng sợi
nên đã tạo được một cấu trúc lưới trong không gian,
ch a được rất nhiều chất lỏng (chiếm 98-99% khối ứ
lượng)
Trong kỹ thuật miễn dịch, gien thạch hay được sử dụng hơn cả: Đun sôi (cách thủy càng tốt) 1-2 gram thạch agar với 98-99 ml NaCl 9%0 (hoặc đệm đẳng trương,
Trang 23.Phản ứng ngưng kết.
Là phản ứng liên kết các tiểu thể thành một cấu trúc lớn, quan sát được bằng mắt thường
Như( hồng cầu, bạch cầu), hạt trơ nhân tạo, có mang
KN một cách tự nhiên hoặc KN được gắn vào do bệnh lý hoặc do nhân tạo
Vì kích thước tiểu thể gấp bội kích thước phân tử, nên phản ứng ngưng kết trong miễn dịch nhạy gấp nhiều lần phản ứng tủa
Trang 24a.Ngưng kết chủ động ( hay trực tiếp).
Khi KN là một cấu phần của tiểu thể ( thường là tế bào)
- Phản ứng định nhóm hồng cầu ( AB): Kháng thể chống A ( hoặc chống B) được lấy từ những người có hồng cầu
thuộc nhóm B ( hoặc A).
Giọt máu trên kính có màu đỏ mịn, khi thêm kháng thể vào, trộn đều, nếu có phản ứng ( +) thì các hồng cầu sẽ
ngưng kết thành cụm, mắt thường thấy được dưới dạng các hạt đỏ sẫm, lổn nhổn
- Trong phản ứng cổ điển ( widal) đeơ chẩn đoán thương hàn thì KN là caùc tiểu thể Salmonella ( nuôi cấy), được trộn với huyết thanh người bệnh ( Có thể hòa loãng huyết thanh theo hệ số 2) để xác định hiệu giá KT, tức là xem ở độ hòa loãng nào của KT vẫn gây được ngưng kết
Trang 25b.Ngưng kết thụ động ( hay gián tiếp)
Khi KN được gắn nhân tạo lên tiểu thể, tức là lên "giá đỡ " ( có
thể dùng hồng cầu nhóm O, hồng cầu cừu, hạt latex ).
Cũng có thể gắn KT lên giá đỡ, khi đó gọi là phản ứng " ngưng kết thụ động ngược "
Hiện nay đã tìm ra nhiều cách gắn KN ( hoặc KT) lên giá đỡ, gồm cả việc chế tạo các hạt trơ có khả năng tự gắn một số KN.
Ví dụ:
- Phản ứng chẩn đoán giang mai:KN lấy từ tim bê, giá đỡ là tinh thể cholesterol, hoặc KN là xoắn khuẩn, giá đỡ là hồng cầu xử lý bằng formol.
- Để phát hiện cái gọi là " yếu tố dạng thấp"-một tự KT
thường xuất hiện trong bệnh thấp người ta làm như sau: Thoạt tiên sản xuất IgG chống hồng cầu cừu , IgG sẽ tự động gắn vào hồng
Trang 26Nhưng nếu ta thêm kháng thể ( từ thỏ) chống IgG người, thì các tập hợp nói trên sẽ bị liên kết lại, tạo
Trang 27d.Phản ứng cố định ( tiêu thụ) bổ thể.
Khi trộn KN với KT, nhiều trường hợp ta không quan sát thấy tủa (hoặc ngưng kết), có thể do nồng độ của chúng quá thấp, hoặc KT thuộc loại không gây tủa
Tuy vậy, nếu có mặt bổ thể, bổ thể sẽ bị hoạt hóa, gắn vào phức hệ KN-KT, do vậy lượng bổ thể tự do sẽ hao hụt đi
Qua đó, ta phán ñđoán được đã xẩy ra sự kết hợp
KN-KT
Trang 28e.Miễn dịch đánh dấu:
Nếu KN hay KT được gắn các chất để "đánh dấïu "cho dễ phát hiện, thì phản ứng kết hợp KN-KTsẽ tăng độ nhạy lên rất nhiều lần
Cố nhiên, chất đánh dấu không được làm biến tính
KN, KT, không dễ bong ra
Hiện nay, người ta đánh dấu KT bằng chất phát
huỳnh quang (phát hiện bằng kính hiển vi dùng tia tử ngoại), hoặc dùng enzym (phát hiện bằng cơ chất thích hợp), hoặc dùng đồng vị phóng xạ (phát hiện
Trang 29Miễn dịch gắn enzym (ELISA) Enzyme linked
immunosorbent assay
Cũng theo nguyên lý trên, chất phát huỳnh quang được thay bằng enzym có hoạt tính cao (ví dụ peroxydaza), phát hiện bằng cơ chất đặc hiệu, thường cho màu, hoặc dễ phát hiện sản phẩm bằng một phản ứng lên màu.
Ưu điểm là nhạy hơn nhiều lần so với kỹ thuật huỳnh
quang và có thể phát hiện KN dạng phân tử, không cần
gắn với tế bào.
Cách tiến hành:
Phủ KN lên đáy ống nghiệm (bằng chất cao phân tử để
gắn chặt) sau đó phủ tiếp huyết thanh nghi ngờ có KT đặc hiệu lên rồi rửa bỏ KT thừa; phủ tiếp KT đánh dấu
(enzym) rồi rửa tiếp, cuối cùng phủ cơ chất lên
Trang 30f Miễn dịch phóng xạ (RIA: Radio - Immunoassay):
Là cho kết quả nhạy nhất, dựa theo nguyên lý cạnh tranh
Còn rất nhiều kỹ thuật khác cũng có sử dụng
nguyên lý kết hợp đặc hiệu giữa KN và KT (cụ thể là giữa Fab có paratop kết hợp được với epitop của KN)
Trang 312.CHỨC NĂNG HOẠT HÓA HỆ MIỄN DỊCH
KHÔNG ĐẶC HIỆU
Đây là chức năng của đoạn Fc
Thông thường, hệ miễn dịch không đặc hiệu có thể hoạt hóa mà không cần kháng thể
Sinh vật chưa tiến hóa đến mức tạo ra KT đặc hiệu vẫn có thể tự bảo vệ trước các yếu tố gây bệnh
Nhưng khi kháng thể đặc hiệu xuất hiện,thì nó là tác nhân quan trọng bậc nhất hướng các biện pháp không đặc hiệu vào nơi KN tập trung mà việc tập
Trang 322.1.Chức năng hoạt hóa bạch cầu.
Trước đây các bạch cầu được xếp vào hệ huyết học, nay rõ ràng để cho hợp lý và phù hợp với chức năng chủ yếu của chúng, người ta phải xếp bạch cầu vào hệ miễn dịch.
Nhiều loại bạch cầu có thụ thể với Fc của kháng thể.
Bạch cầu ưa eosin : các IgG
Bạch cầu K : các IgG
Lympho bào (T,B) : các IgG (IgM,A: ở một số tế bào)
Trang 33Hoạt hóa bạch cầu thực bào (hiện tượng opsonin hóa)
- Đại thực bào có thể ăn và tiêu hủy nhiều đối tượng thực bào khác nhau, nhưng khi KT gắn
Fab vào các đối tượng đó (còn Fc gắn với thụ thể của đại thực bào) thì tế bào này được hoạt hóa
rất mạnh, tăng cường khả năng bắt giữ, nuốt và tiêu hủy đối tượng (mang KN)
Những ký sinh vật bị phủ bới IgE cũng là đối
tượng hấp dẫn và hoạt hóa đại thực bào.
Có thể hình dung kháng thể là cầu nối phân tử giữa các tế bào thực bào với đối tượng thực bào -Bạch cầu đa nhân trung tính vẫn có khả năng
bám và thực bào Nhưng Fc của kháng thể (và
C3b của bổ thể) là những chất opsonin mạnh, tức là có khả năng kích hoạt sự bám dính, ăn, tiêu
Trang 34- Bạch cầu ưa eosin có thể trở thành tế bào gây độc nếu thụ thể của nó ( với Fc) được Fc gắn vào
Bằng cách này người ta thấy bạch cầu ưa eosin diệt các ký sinh trùng và ấu trùng của nó, sau khi các đối tượng này bị phủ bởi KT đặc hiệu
- T ươ ng tự như vậy, tính gây độc của tế bào NK tăng lên và chúng trở thành có định hướng khi có mặt KT làm cầu nối giữa chúng với tế bào đích
Bằng cách này, NK đã diệt tế bào mang vi rút, tế
bào ung thư
Trang 35Hoạt hóa tế bào gây độc:
Là các tế bào có khả năng tiết ra các cytokin-toxin gây độc, gây
chết cho các tế bào mang KN
Đối tượng chủ yếu của chúng là những tế bào (mang KN) đã bị đoạn Fab của KT kết hợp, còn đoạn Fc tự do có vai trò hấp dẫn
các tế bào gây độc (vốn có thụ thể với Fc)
Đây là cách "gây độc phụ thuộc KT" (ADCC: Antibody
dependant cellular cytotoxicity)
Hoạt hóa tế bào ái kiềm (bazơ)
Tế bào ưa kiềm có thụ thể gắn được với Fc của phân tử IgE Phần Fab của IgE khi bị KN kết hợp sẽ thông qua thụ thể nói trên, khởi động một cơ chế giải phóng các hạt chứa các chất gây viêm (tăng thấm mạch) ra