Thực tiễn đặt ra là phát triển mà vẫn giữ gìn được giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số hay ngược lại giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Khmer để
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI THỊ HOÀ
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Bùi Thị Hòa Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn trung thực Những kết luận khoa học chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Dương Như Ý
Trang 4Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm Luận văn Thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2016
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Bùi Thị Thanh Hương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ DÂN TỘC KHMER VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 9
1.1 Một số khái niệm 9
1.2 Đặc điểm cư dân - văn hoá và những giá trị văn hoá của dân tộc Khmer ở Cà Mau 19
1.3 Mối quan hệ giữa giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá dân tộc Khmer với phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau 29
Chương 2: GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ DÂN TỘC KHMER HƯỚNG ĐẾN MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 37
2.1 Thực trạng giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá dân tộc Khmer hướng đến mục tiêu phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau 37
2.2 Những vấn đề đặt ra trong việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá dân tộc Khmer hướng đến mục tiêu phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau 56
Chương 3:PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ DÂN TỘC KHMER HƯỚNG ĐẾN MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU 66
3.1 Phương hướng 66
3.2 Một số giải pháp nhằm đảm bảo phát triển bền vững với giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc Khmer tỉnh Cà Mau 71
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
TÓM TẮT LUẬN VĂN 103
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cà Mau là tỉnh cực nam của tổ quốc, có 13 dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó, dân tộc Khmer trên 33.400 người chiếm tỷ lệ 2,7% dân số tỉnh Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam, Khmer là một trong những dân tộc có nhiều đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc và ghi dấu vào kho tàng văn hóa chung của các dân tộc ở Việt Nam những giá trị văn hóa đặc sắc Trong quá trình cộng cư và hòa huyết, giao thoa và tiếp biến với văn hóa của các dân tộc khác ở vùng đất phương nam, dân tộc Khmer đã tạo nên bản sắc văn hóa thấm đượm những đặc trưng của tộc người, góp phần tạo nên
sự thống nhất trong đa dạng của một vùng văn hóa
Mặc dù, Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách giữ gìn, huy, giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số và trong thực tiễn tỉnh Cà Mau đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Xong hiện nay, trước xu thế hội nhập, một
số giá trị văn hóa của dân tộc Khmer có chiều hướng bị mai một, thậm chí lai căng, ảnh hưởng đến quá trình phát triển bền vững của tỉnh Trước tình hình
đó, trong “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau giai
đoạn 2006 - 2020”, tỉnh Cà Mau đặt mục tiêu:
Tiếp tục phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao, nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, tăng cường xây dựng
hệ thống kết cấu hạ tầng; phấn đấu đến năm 2020 xây dựng Cà Mau trở thành một tỉnh có kinh tế phát triển, một địa phương mạnh về kinh tế biển, trở thành một cực phát triển góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của vùng đồng bằng sông Cửu Long Cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho nhân dân Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng an ninh của vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước [43, tr 101]
Trang 7Tỉnh Cà Mau đã quan tâm đến phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội nhằm hướng đến tính hiệu quả và bền vững của sự phát triển Trong quá trình phát triển, Cà Mau đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, song đang phải đối mặt với những bất cập: chất lượng tăng trưởng thiếu bền vững; tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng; sự chênh lệch
về mức sống giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa các ngành nghề khác nhau, giữa các tầng lớp dân cư; hiện tượng suy thoái đạo đức, lối sống ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững
Để phát triển bền vững đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề, trong đó có mối quan hệ giữa phát triển bền vững với giữ gìn giá trị văn hoá dân tộc Đặc biệt, khi nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì việc giải quyết tốt mối quan hệ này còn có ý nghĩa sống còn, “hoà nhập” nhưng không bị "hòa tan" mà vẫn tăng cường nguồn sức mạnh vốn có của chính dân tộc mình Nhiều địa phương, trong đó có tỉnh Cà Mau đang đứng trước những đòi hỏi lớn: một mặt, phải phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mặt khác phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, lại vừa phải phát triển lên tầm cao mới, tương xứng với sự phát triển đất nước Giải quyết mối quan hệ giữa giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc với tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo tiến bộ xã hội; tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác, của nhân loại
Thực tiễn đặt ra là phát triển mà vẫn giữ gìn được giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số hay ngược lại giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Khmer để không cản trở quá trình phát triển mà thực sự trở thành nguồn nội sinh, là động lực cho phát triển bền vững của tỉnh, từ đó lựa chọn con đường, giải pháp, tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức để đưa đất nước nói chung, Cà Mau nói riêng đi lên là vấn đề có ý nghĩa hiện nay
Trang 8Từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu đề tài: “Giữ gìn, phát huy
giá trị văn hoá dân tộc Khmer hướng đến mục tiêu phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau” là có ý nghĩa lý luận, thực tiễn cấp bách và mang tính chiến
lược lâu dài
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Về giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Khmer Đây là mảng đề tài được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà khoa học quan tâm khai thác:
“Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Trường Lưu
(1993) chủ biên, Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Các tác giả đã trình bày khái quát về người Khmer đồng bằng sông Cửu Long, về tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật nhìn chung, các tác giả đã
đề cập khá toàn diện về dân tộc Khmer và lễ hội của người Khmer Nam Bộ
“Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ” của Thạch Voi (1998),
Nxb Tổng hợp Hậu Giang Tác giả đã viện dẫn nhiều nguồn tư liệu về quá trình hình thành dân tộc Khmer ở Nam Bộ, làm rõ quá trình phát triển của dân tộc Khmer
“Phát triển đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay”, luận án tiến sĩ của Trần Thanh Nam
(2001) Tác giả đã phân tích vai trò của đời sống tinh thần trong sự phát triển
xã hội, các yếu tố thuộc đời sống tinh thần nói chung, đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ nói riêng, trong đó có nhiều yếu tố về truyền thống phong tục tập quán và những yếu tố ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long
“Một số giải pháp nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc Khmer ở
miền Tây Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay”, đề tài khoa học do Học viện
Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh khu vực II chủ trì - thạc sĩ Lê Tăng (2003) chủ nhiệm đề tài Đề tài trình bày thực trạng đời sống đồng bào
Trang 9dân tộc Khmer, những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nâng cao đời sống và
đề ra các giải pháp để nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc Khmer ở Tây Nam Bộ
“Vấn đề phát huy giá trị những phong tục, tập quán của người Khmer Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay”, luận văn thạc sỹ của Trương Kim Hảnh
(2015) Luận văn chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của phong tục tập quán người Khmer Đề ra phương hướng, giải pháp phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong phong tục tập quán của người Khmer
- Các nghiên cứu về đề tài phát triển bền vững: trong hai thập niên gần đây, nhiều nhà khoa học, chính trị gia và các tổ chức khoa học trên thế giới đã quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững và đã có nhiều báo cáo, nghiên cứu khoa học được công bố:
Các công trình “Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm Tài nguyên môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội; “Nghiên cứu xây dựng
tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do
Viện Môi trường và Phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành Trong các công trình này, nhiều nội dung được đề cập, cụ thể hoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland trên bốn lĩnh vực: (1) Bền vững về mặt kinh tế; (2) Bền vững về mặt nhân văn; (3)
Bền vững về môi trường; (4) Bền vững về mặt kỹ thuật Công trình “Đổi mới
và phát triển ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tập thể tác
giả do Nguyễn Phú Trọng (chủ biên), với nội dung chính là luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bàn về phát triển bền vững ở nước ta
Các công trình: “Triết lý phát triển Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí
Minh” và “Mấy vấn đề triết học xã hội và phát triển con người” của Nguyễn
Trang 10Văn Huyên đã làm rõ nguyên lý phát triển của Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh; đưa ra một số quan điểm hiện đại về phát triển xã hội nói chung và và triết lý phát triển của Việt Nam nói riêng
Bài đăng báo Nhân dân của Nguyễn Tấn Dũng (2010), “Phát triển
nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước ta” đã khẳng định: Quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã sớm được Đảng và Nhà nước ta đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện và trở thành chủ trương nhất quán trong lãnh đạo, quản lý, điều hành tiến trình phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ qua, đồng thời cũng chỉ ra những nhiệm vụ và giải pháp phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn 2011 - 2020
- Nói về mối quan hệ giữa văn hóa, văn hóa dân tộc với phát triển bền vững đã được một số tác giả quan tâm:
Tập sách“Phương pháp luận về vai trò của văn hoá trong phát triển”
của Vũ Khiêu (1993) và cộng sự; Nguyễn Hồng Sơn (1995) đề cập đến
“Quan hệ biện chứng giữa văn hoá và sự phát triển xã hội trong quá trình định hướng XHCN ở Việt Nam”; Hoàng Trình (1996) cũng luận bàn về “Vấn
đề văn hoá và phát triển; “Văn hoá - mục tiêu và động lực của sự phát triển
xã hội” của Nguyễn Văn Huyên (2006)… Những cuốn sách kể trên đã phân
tích sâu sắc vai trò của văn hoá trong phát triển, cung cấp những cơ sở khoa học cho việc hoạch định và triển khai quan điểm, đường lối và chính sách phát triển văn hoá của Đảng và Nhà nước ta, khẳng định thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển văn hoá là xu thế của quá trình phát triển nhân loại trong giai đoạn hiện nay, xác định mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, coi văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là nguồn nội sinh quan trọng của phát triển, là nền tảng tinh thần của xã hội
Trang 11“Phát triển bền vững với việc giữ gìn giá trị truyền thống các dân tộc thiểu số bản địa tỉnh Đăk Nông trong giai đoạn hiện nay”, luận án tiến sĩ của
Bùi Thị Hoà (2011) Công trình làm rõ lý luận về phát triển bền vững và mối quan hệ với việc giữ gìn giá trị truyền thống các dân tộc thiểu số bản địa ở Đăk Nông, đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao kết quả của quá trình phát triển bền vững gắn với việc giữ gìn giá trị truyền thống các dân tộc thiểu
số bản địa phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội của tỉnh Đăk Nông trong giai đoạn hiện nay
Ngoài các công trình đã nêu trên, còn có các công trình, bài viết khác nghiên cứu về vấn đề phát triển bền vững và văn hoá đăng trên các tạp chí Triết học, Khoa học xã hội, Nghiên cứu lý luận, Nghiên cứu văn hoá dân gian… Nhiều công trình nghiên cứu về biến đổi khí hậu, nước biển dâng đe dọa sự phát triển bền vững ở Cà Mau nhưng chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện, thuyết phục về giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa Khmer hướng đến mục tiêu phát triển bền vững Mặc dù đã có những cách tiếp cận khác nhau, ở các địa phương khác nhau nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Khmer, từ đó đề ra phương hướng, giải pháp thật sự phù hợp hướng đến mục tiêu phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau Tác giả mong muốn làm sáng tỏ, góp phần nhỏ xây dựng quê hương Cà Mau giàu đẹp, đặc sắc về văn hoá, phát triển bền vững
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 12+ Phân tích thực trạng, làm rõ thành tựu, hạn chế và những bất cập, những vấn đề đặt ra trong giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá dân tộc Khmer hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau
+ Đề xuất phương hướng và những giải pháp giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá dân tộc Khmer hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
xã hội đất nước
+ Luận văn kế thừa một số kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, các tài liệu tổng kết thực tiễn của các cơ quan Đảng, Nhà nước liên quan tới đề tài
+ Các văn kiện của Đảng bộ Cà Mau
+ Luận văn được nghiên cứu từ những kết quả khảo sát thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc Khmer với phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau
Trang 13- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu liên quan; tổng kết kinh nghiệm, tham khảo nghiên cứu của các chuyên gia về vấn đề này…
6 Cái mới của luận văn
Làm rõ khái niệm giá trị, giá trị văn hoá Phân tích đặc điểm cư dân văn hoá và những giá trị văn hoá của dân tộc Khmer Đề ra phương hướng giải pháp giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá dân tộc Khmer hướng đến mục tiêu phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận
Làm rõ giá trị văn hoá của người Khmer ở Cà Mau, góp phần làm phong phú thêm hoạt động nghiên cứu văn hóa các dân tộc ở nước ta
- Ý nghĩa thực tiễn
+ Là tài liệu tham khảo cho việc hoàn thiện hệ thống quan điểm lý luận
về giá trị văn hóa dân tộc, phát triển bền vững; góp phần hoạch định và thực thi chính sách kinh tế - xã hội, ở tỉnh Cà Mau
+ Có thể dùng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về giá trị văn hoá của các dân tộc và dân tộc Khmer nói riêng
+ Là cơ sở đề xuất những chính sách cụ thể nhằm phát huy tính tích cực
và sự tham gia của người dân ở các địa phương có người Khmer sinh sống
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ DÂN TỘC
KHMER VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Giá trị văn hóa
1.1.1.1 Khái niệm giá trị
Khái niệm giá trị đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng, khoa học nhân loại Hiện nay, khái niệm giá trị được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học khác nhau, theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau
Tác giả Mai Thị Quý cho rằng:
Giá trị là một phạm trù triết học dùng để chỉ ý nghĩa tích cực của sự vật, hiện tượng, trong quá trình, quan hệ… (cả vật chất lẫn tinh thần) đối với một cá nhân, một cộng đồng, một giai cấp, một xã hội hay toàn thể nhân loại trong một điều kiện lịch sử cụ thể Điều đó cũng có nghĩa là các sự vật, hiện tượng, quá trình, quan hệ… có thể được coi là
có giá trị khi chúng có khả năng thoã mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần mang tính tích cực, lành mạnh của con người [41, tr 55] Tác giả Nguyễn Văn Huyên khái quát: “giá trị là phạm trù người - chỉ ở con người xã hội mới có cái gọi là giá trị” [41, tr 84]
Theo từ điển Triết học:
Giá trị - những định nghĩa về mặt xã hội của các khách thể trong thế giới xung quanh, nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của các khách thể ấy đối với con người và xã hội (cái lợi, cái thiện và
ác, cái đẹp, cái xấu nằm trong những hiện tượng của đời sống xã hội hoặc tự nhiên) Xét bề ngoài, các giá trị là các đặc tính của sự vật hoặc hiện tượng, tuy nhiên, chúng không phải là cái vốn có do thiên nhiên ban cho sự vật, hiện tượng, không phải đơn thuần do kết
Trang 15cấu bên trong của bản thân khách thể, mà do khách thể bị thu hút vào phạm vi tồn tại xã hội của con người và trở thành cái mang những quan hệ xã hội nhất định Đối với chủ thể (con người), các giá trị là những đối tượng lợi ích của nó, còn đối với ý thức của nó thì chúng đóng vai trò vật định hướng hàng ngày trong thực trạng vật thể xã hội, chúng biểu thị các quan hệ thực tiễn của con người đối với các sự vật hiện tượng xung quanh mình [48, tr 207]
Theo từ điển tiếng Việt, giá trị được hiểu là: “Cái làm cho một vật có lợi ích, có ý nghĩa, là cái đáng quý về một mặt nào đó…” [58, tr.386]
Từ các định nghĩa trên, chúng tôi thấy có những điểm chung trong các quan niệm về giá trị như sau:
Thứ nhất, giá trị là kết tinh những gì tinh tuý nhất của những sự vật,
hiện tượng vật chất hay tinh thần có khả năng thoả mãn những nhu cầu tích cực của con người và góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Thứ hai, giá trị xuất hiện từ sự nhìn nhận, đánh giá về sự vật, hiện
tượng qua thực tiễn của con người đó Giá trị luôn thay đổi khi điều kiện, lịch
sử đổi thay
Thứ ba, giá trị vừa chứa đựng yếu tốt khách quan vừa chứa đựng yếu tố
chủ quan, song yếu tố chủ quan của chủ thể là quan trọng, nó thể hiện sự lựa chọn, đánh giá của chủ thể
Thứ tư, giá trị của sự vật, hiện tượng được xác định trong mối quan hệ
với con người, xuất phát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm qua thực tiễn Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, chính thực tiễn sẽ khẳng định giá trị của khách thể đó
Theo chúng tôi, giá trị là phạm trù triết học, để chỉ ý nghĩa tích cực, vai
trò to lớn của các sự vật, hiện tượng đối với đời sống xã hội do con người lựa chọn, đánh giá, được kiểm nghiệm qua thực tiễn, trở thành chuẩn mực cho xã hội hướng đến
Trang 161.1.1.2 Giá trị văn hoá
Trong hệ các loại giá trị thì giá trị văn hóa giữ vai trò rất quan trọng Văn hóa là lĩnh vực rất rộng, nó liên quan đến tất cả các mặt thuộc đời sống con người Với tư cách vừa là chủ thể vừa là khách thể của văn hóa Con người sáng tạo ra văn hóa, khi văn hóa hình thành nó tác động mạnh mẽ trở lại cuộc sống con người, góp phần hoàn thiện nhân cách, nâng cao vị thế và quyền năng của con người trong đời sống xã hội
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:
Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin
Trong tác phẩm "Văn hóa nguyên thủy", E.B.Tylor đã đưa ra định nghĩa: "Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một
số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội" [51, tr 13]
Văn hóa là hiện tượng phức tạp và đa diện, bao gồm hoạt động sáng tạo của con người, tức là toàn bộ quá trình sản xuất ra những giá trị vật chất và tinh thần, gồm cả những tính cách của con người như là một chủ thể hoạt động sáng tạo; cả những quá trình con người khám phá, nắm bắt các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy
Đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa là sáng tạo và nhân văn Trong tất
cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, văn hóa được thể hiện thành những giá trị, hệ giá trị, những chuẩn mực, hướng con người tới chân - thiện -
mỹ Nhìn tổng quát, văn hóa là "thiên nhiên thứ hai", tức là tất cả những gì do con người sáng tạo ra Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:
Trang 17Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa [34, tr 431]
Những giá trị văn hóa do con người sáng tạo là vô cùng đa dạng và phong phú Song chung quy lại, nó gồm hai hình thái cơ bản là vật thể và phi vật thể Tuy nhiên, sự phân biệt trên chỉ là tương đối "Trước hết, văn hóa không phải là một vật Không có một vật gì chỉ là văn hóa mà không đồng thời không là cái gì khác nữa Thứ hai, không có cái gì lại không có mặt văn hóa của nó" [19, tr 13]
Vì thế, cần phải tiếp cận văn hóa theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp (tuy rộng, hẹp cũng chỉ là tương đối) Theo nghĩa rộng: "Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử" Theo nghĩa hẹp: "Văn hóa là những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần của con người" [60, tr 1406]
Qua sự phân tích các cách tiếp cận và các khái niệm văn hóa như trên cho thấy: Văn hóa là một lĩnh vực hết sức phức tạp và đa dạng, nó ảnh hưởng
và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Văn hóa biểu hiện trình độ văn minh của mỗi dân tộc và là sức sống của dân tộc đó Dân tộc càng văn minh, thì dấu ấn văn hóa càng in đậm vào tất cả mọi hành vi hoạt động, sinh hoạt của con người, ngay cả những hoạt động mang tính bản năng bắt nguồn từ cấu trúc tự nhiên của con người Một cá nhân sống trong cộng đồng dân tộc, sẽ chịu sự tác động, chi phối bởi nền văn hóa của dân tộc mình Cá nhân ấy thưởng thức, tiếp thu những giá trị văn hóa của dân tộc mình như là sự thỏa mãn nhu cầu sống; đồng thời, muốn góp phần bảo vệ và nâng cao văn hóa dân tộc, rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển so với các dân tộc xung quanh nhưng vẫn bảo đảm bản sắc riêng của dân tộc mình
Trang 18Văn hóa không chỉ giữ vai trò là động lực, mục tiêu của sự phát triển, văn hóa còn là "hệ điều tiết" của sự phát triển, nó giúp con người chọn lọc những giá trị có tác động tích cực, phù hợp, thúc đẩy sự phát triển, đồng thời biết loại bỏ những những giá trị lạc hậu, không còn phù hợp, cản trở sự phát triển trong quá trình hưởng thụ và sáng tạo của con người
Chúng tôi cho rằng, giá trị văn hóa là hệ thống chuẩn mực phù hợp với
nhu cầu lợi ích của con người và cộng đồng người do từng cá nhân và cả cộng đồng đã sáng tạo ra, đã hình thành, khẳng định và phát triển trong quá trình lịch sử của con người và cộng đồng xã hội nhằm hướng con người tới chuẩn giá trị chân - thiện - mỹ
1.1.2 Giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá tộc người
Để đi đến khái niệm giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa Khmer, trước hết cần thống nhất quan niệm, cách hiểu về giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá và khái niệm văn hóa tộc người
Theo quan niệm chung nhất, giữ gìn là hoạt động nhằm bảo vệ sự vật hay hiện tượng một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc sự phá hoại Giữ gìn giá trị văn hoá là tất cả những nổ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của giá trị văn hoá nhằm bảo vệ, khôi phục và tôn tạo lại
để khai thác phục vụ cho con người và xã hội
Phát huy là làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt, cái đúng tỏa tác dụng và tiếp tục nẩy nở thêm Đó là việc khơi dậy, sử dụng và phát triển các yếu tố tích cực, tiến bộ và hữu ích của các sự vật, hiện tượng vào phục vụ một mục đích nhất định Và như vậy phát huy giá trị văn hoá chính là việc khai thác, sử dụng các giá trị văn hoá một cách có hiệu quả
Giữ gìn và phát huy luôn gắn liền với nhau như một cặp phạm trù trong việc xây dựng và phát triển văn hoá Bởi lẽ, văn hoá là cái thể hiện sức sống của dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chỉ giữ gìn mà
Trang 19không đem ra sử dụng thì không phát huy được giá trị ẩn chứa trong văn hoá, rồi thời gian sẽ làm giá trị văn hoá phai mờ và nhanh chóng bị chìm vào quên lãng Chỉ khi giá trị văn hoá được phát huy thì mới có cơ sở, có căn cứ và làm điều kiện để giữ gìn văn hoá Do vậy, phát huy sẽ làm cho các giá trị văn hoá không bị lãng quên mà còn lan rộng và giữ vững được bản sắc của mình Giữ gìn là căn bản, làm cơ sở cho sáng tạo và phát huy và ngược lại phát huy giúp cho giữ gìn giá trị văn hoá được tốt hơn, toả sáng hơn Vì vậy, cần xử lý hài hoà mỗi quan hệ giữa giữ gìn và phát huy, để giữ gìn không cản trở sự phát triển và tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững
Văn hóa tộc người:
Bao gồm các yếu tố văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của một cộng đồng tộc người, thể hiện bản sắc tộc người và là cơ sở của ý thức tộc người Trong văn hóa tộc người có thể có cả những yếu tố văn hóa vay mượn từ bên ngoài, nhưng đã được bản địa hóa và mang sắc thái của cộng đồng tiếp nhận nó Văn hóa tộc người vừa
cố kết tộc người vừa phân biệt tộc người này với tộc người khác Sự phân biệt này dựa trên những yếu tố văn hóa có tính đặc trưng, thể hiện qua ngôn ngữ, các biểu tượng, tín ngưỡng - tôn giáo, lễ hội, văn nghệ cổ truyền, tri thức dân gian, trang phục, tập quán ẩm thực, truyền thống cư trú, phong tục trong chu kỳ đời người… Văn hóa tộc người tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của chính tộc người chủ thể của văn hóa đó [27, tr 817]
Từ khái niệm giữ gìn, phát huy và khái niệm văn hóa tộc người, có thể hiểu khái niệm giữ gìn, phát huy văn giá trị văn hoá hóa tộc người như sau:
Giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa tộc người là việc giữ nguyên vẹn, không bị mất mát, tổn hại, đồng thời khơi dậy, sử dụng và phát triển các yếu
tố tích cực, tiến bộ và hữu ích của giá trị văn hóa tộc người, làm cho các giá
Trang 20trị văn hóa tộc người không những phục vụ có hiệu quả cho tộc người và cộng đồng xã hội; mà còn làm cho chính các giá trị văn hóa tộc người được thăng hoa, tỏa sáng và tiếp tục phát triển Quá trình đó cũng đồng thời là quá trình chọn lọc, tiếp biến, định hình các giá trị văn hóa tộc người trong giá trị văn hóa của dân tộc
Giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa là nhu cầu tất yếu khách quan của bất
cứ nền văn hóa nào trong quá trình tồn tại và phát triển Văn hóa không thể có được diện mạo và phát triển như ngày nay, nếu như trong quá trình tồn tại, những giá trị tốt đẹp của nó không được giữ gìn, kế thừa và phát huy
Là tộc người thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Khmer ở Cà Mau có một nền văn hóa phát triển khá sớm với những giá trị đặc sắc Văn hóa dân tộc Khmer mà luận văn nghiên cứu là văn hóa của người Khmer sinh sống ở Cà Mau - Nam Bộ, đó là nền văn hóa gắn với miền Tây sông nước, gắn bó chặt chẽ với lịch sử hình thành vùng đất cũng như lịch sử hình thành các tộc người ở đồng bằng sông Cửu Long
Những giá trị văn hóa do dân tộc Khmer Cà Mau sáng tạo ra trong quá trình lịch sử rất đa dạng và phong phú, nó bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Những giá trị văn hóa đó thể hiện bản sắc của người Khmer trong lao động sản xuất, cải tạo tự nhiên, chiến đấu chống thiên tai và giặc ngoại xâm, cũng như trong sinh hoạt đời sống, tinh thần Do đó, giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa Khmer ở Cà Mau là giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa thể hiện bản sắc của người Khmer, cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần với tư cách là những giá trị hợp thành bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng
Mục đích của việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa của người Khmer là làm cho làm cho các giá trị văn hóa của dân tộc Khmer được thăng hoa, tiếp tục phát triển, góp phần xây dựng con người phát triển toàn diện
Trang 21phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển bền vững ở Cà Mau; Tại Đại hội XII, Đảng ta
đề ra phương hướng:
Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hoá và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế; tạo môi trường
và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân,
ý thức tuân thủ pháp luật Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức,
ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam điều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hoá dân tộc Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn… có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam [45, tr 95]
Giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa Khmer là bảo tồn, phát huy làm cho giá trị văn hóa thấm sâu vào tâm hồn, nhân cách của người Khmer hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Đó là việc làm cho người Khmer có thể vươn lên trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, thích ứng với điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời, có thể đóng góp công sức nhiều hơn để phát triển tỉnh Cà Mau, vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Thông qua sự "vươn lên" và "đóng góp" công sức
đó mà dân tộc Khmer thể hiện được bản lĩnh văn hóa của mình, tỏa sáng, nổi bật, phát triển những giá trị văn hóa dân tộc mình ở Cà Mau nói riêng, vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung Đó là hành trình liên tục, bền bỉ, gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của đồng bào Khmer, với sự phát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Trang 22Giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa Khmer là một hoạt động có mục đích,
có tổ chức, là trách nhiệm của các tổ chức đảng, chính quyền, các cấp, các ngành, các cơ quan văn hóa, giáo dục… tỉnh Cà Mau Nhưng chính đồng bào dân tộc Khmer - những chủ nhân đích thực của các giá trị văn hóa là chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa, đồng thời là chủ thể phát huy, phát triển các giá trị văn hóa đó trong thực tiễn hoạt động sáng tạo của mình Họ chính là người biết được những gì cần bảo tồn, giữ gìn, kế thừa, phát huy, những gì hạn chế, lạc hậu cần phải uốn nắn, tu chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của thời đại mới trong di sản văn hóa dân tộc mình
1.1.3 Phát triển bền vững
1.1.3.1 Khái niệm phát triển
Quan điểm duy vật biện chứng xem phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phát triển hàm chứa sự vận động theo hướng đi lên, trong đó có tính kế thừa, lặp lại cái cũ nhưng ở mức
độ cao hơn và có sự xuất hiện của cái mới
Trong thuật ngữ khoa học "phát triển" được hiểu như một tiến trình đưa một xã hội lên trình độ an lạc cao hơn cả về vật chất lẫn tinh thần Phát triển
là bất kỳ và toàn bộ những hoạt động hoặc quá trình làm tăng được năng lực của con người hoặc môi trường để đáp ứng nhu cầu của con người hoặc nâng cao chất lượng cuộc sống con người Phát triển là quá trình mà qua đó xã hội loài người cùng nhau phấn đấu đạt tới chỗ thỏa mãn được các nhu cầu mà xã hội đó coi là cơ bản và hiện đại
1.1.3.2 Khái niệm phát triển bền vững
Trong báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" (Our common Future) của Ủy ban Brundtland, phát triển bền vững: "Là sự phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu của thế hệ tương lai"
Trang 23Đó là "một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai"
Trong mục 4, điều 3 Bộ Luật Bảo vệ Môi trường số 52 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có định nghĩa:
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường [32, tr 20] Hiện nay, người ta thường dùng hai định nghĩa: Phát triển bền vững là
sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng những nhu cầu của họ, đã được nêu trong báo cáo Brundtland Và phát triển bền vững là sự phát triển không làm tổn hại đến môi trường, không gây ra những thảm họa về sinh thái, thế hệ hôm nay phải khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình sao cho không ảnh hưởng đến việc thỏa mãn nhu cầu của thế hệ mai sau
1.1.3.3 Nội dung phát triển bền vững
Theo lý thuyết phát triển bền vững được các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia thừa nhận, phát triển bền vững gồm 3 trụ cột cấu thành là tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn những nhu cầu của họ
Ngày nay, nội hàm của phát triển bền vững đã được mở rộng đến nhiều lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, giá trị tuyền thống, nguồn nhân lực, giới… Đặc biệt trong luận văn này, chúng tôi muốn đề cập đến mối quan hệ giữa văn hóa với phát triển bền vững
Như phần trên chúng tôi đã trình bày khái niệm văn hoá Văn hóa được coi là nguồn cổ vũ trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển phải thừa
Trang 24nhận vị trí trung tâm và vai trò điều tiết xã hội của văn hóa Phát triển bền vững phải đòi hỏi giữ gìn các giá trị văn hóa, trong đó có các giá trị truyền
thống là nền tảng, mục tiêu và động lực của nó
Phát triển bền vững ở Việt Nam là sự tăng trưởng kinh tế, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, là sự phát triển hài hòa, hiệu quả, lâu bền Đảng ta nhận thức văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển đồng thời là mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa giáo dục
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, yếu tố làm nên giá trị ổn định lâu bền của Quốc gia, hình thành bản sắc riêng của một dân tộc Văn hóa làm nên nguồn lực xã hội to lớn thấm sâu vào quá trình phát triển Sự phát triển của một thời đại ở bất kỳ quốc gia nào đều có dấu ấn khai sáng của văn hóa Trên nền tảng của văn hóa, con người không chỉ giải quyết mối quan hệ với đồng loại, ứng xử với môi trường thiên nhiên trong đời sống hiện tại mà còn giải quyết mối quan hệ với các thế hệ tương lai trong quá trình phát triển Với ý nghĩa này, văn hóa không chỉ là kết quả của quá trình phát triển nhanh, bền vững mà còn là yếu tố tạo nên sự phát triển nhanh, bền vững Phải đặt yêu cầu phát triển văn hóa ngang tầm và hài hòa với phát triển kinh tế [18, tr 2]
1.2 Đặc điểm cư dân - văn hoá và những giá trị văn hoá của dân tộc Khmer ở Cà Mau
1.2.1 Đặc điểm cư dân - văn hoá của dân tộc Khmer ở Cà Mau
Tỉnh Cà Mau là tỉnh cuối cùng của cực nam Tổ quốc, có diện tích tự nhiên 5.329 km2, dân số của tỉnh khoảng 1.237.414 người, với 297.085 hộ; có
Trang 2514 dân tộc cùng sinh sống; trong đó có 13 dân tộc thiểu số với 12.082 hộ, 52.997 người; đông nhất là dân tộc Khmer 9.473 hộ với 33.439 người, dân tộc Hoa 1.954 hộ với 9.418 người, các dân tộc Mường, Tày, Thái, Nùng, Chăm, Dao, Gia Rai, Ê đê, Chu ru, Si La, người nước ngoài có 655 hộ, với 2.620 người và hộ có thành viên là dân tộc thiểu số 2.132 hộ; toàn tỉnh có 09 đơn vị hành chính gồm 08 huyện, 01 thành phố với 101 xã, phường, thị trấn [6, tr 2]
Đồng bào Khmer là dân tộc thiểu số tại chỗ, cư ngụ tại 30 xã, phường, thị trấn, tập trung đông ở các huyện: Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình và Đầm Dơi, số dân đông thứ 2 trong tỉnh, có những đặc điểm xã hội, văn hóa riêng biệt so với các dân tộc cùng cộng cư trên mảnh đất Cà Mau Nếu như người dân tộc Hoa chủ yếu sống ở thành thị và làm nghề buôn bán và dịch vụ, đời sống ổn định, khấm khá thì phần lớn đồng bào Khmer sống ở vùng sâu, vùng xa; điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn Có nhiều ấp dân tộc Khmer tập trung rất đông, chiếm tỷ lệ rất cao (trên 70%) Nhìn chung, tỷ lệ dân tộc Khmer sống ở xã xa các trung tâm phát triển chiếm trên 90% [40, tr 68]
Họ cư trú tập trung ở ven sông rạch do Cà Mau không có nhiều đất giồng như các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, ở Cà Mau cũng có một số phum của người Khmer định cư trên đất giồng hình thành các phum, sóc Phum của người Khmer Cà Mau không chỉ có mối quan hệ gia đình mà đã mở rộng ra rất nhiều Có phum khoảng 50 hộ, nhưng cũng có phum hơn 200 hộ cùng chung sống Vì vậy có thể khẳng định, phum người Khmer Cà Mau không gói gọn những hộ gia đình huyết thống như những nơi khác Một điều đáng chú ý trong các phum còn có nhiều nhóm nhỏ gia đình sinh sống tập trung thành một “xóm nhỏ” gọi là “đôm”, mỗi đôm có từ năm đến mười hộ gia đình Quan hệ của những thành viên trong đôm chủ yếu là quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân
Trang 26Dân tộc Khmer ở Cà Mau cũng như các tỉnh Tây Nam bộ kinh tế chủ yếu là làm lúa nước, thâm canh cây lúa, nuôi trồng thuỷ sản, biết tận dụng nguồn thuỷ triều lên xuống để phát triển sản xuất; bộ công cụ sản xuất nông nghiệp khá hoàn thiện và thích ứng với điều kiện địa lý sinh thái của vùng đất Người Khmer còn thạo nghề đánh bắt cá với các kỹ thuật như: dùng lọp, trúm, câu để đặt, giăng bắt… Biết hầm than, dệt chiếu, đan đát, dệt vải, làm gốm (kỹ thuật đơn giản), làm mắm Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nhà sàn sạch vào mùa mưa và do sống ven sông rạch nên phù hợp với thuỷ triều lên xuống Đặc biệt ở huyện Năm Căn, Ngọc Hiển có loại nhà sàn không cửa là nét độc đáo, riêng biệt của người Khmer ở đây Hiện nay, người Khmer cũng sống theo trục lộ giao thông, kiểu nhà trệt như người Kinh, Hoa
Về trang phục, do quá trình cộng cư với người Kinh, Hoa, người Khmer có cách mặc gần hoàn toàn như người Kinh Một số ít nam, nữ Khmer vẫn còn mặc xà rông do họ tự dệt Trong dịp đám cưới thì chú rể mặc xà rông,
áo màu đỏ hoặc vàng, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng và con dao cưới ngụ ý bảo vệ cô dâu Còn cô dâu mặc xăm pốt (váy) màu tím hay hồng, áo dài đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống
Về lễ hội, tín ngưỡng, phong tục của dân tộc Khmer, do tính chất quần
cư đan xen với các tộc người khác và do sự giao thoa của văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo nên đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc Khmer rất phong phú, đa dạng Điều này thể hiện trên nhiều phương diện:
- Người Khmer rất yêu nghệ thuật, say mê âm nhạc, ca hát, nhảy múa
Dường như trong dòng máu của những con người Khmer đều có sẵn những năng khiếu âm nhạc tuyệt vời Vì vậy, âm nhạc, nghệ thuật của đồng bào Khmer rất phong phú Người Khmer tự hào có cây đàn Chapei, đàn Ta Khê, với những điệu múa Răm Vong, múa Lâm Lêu, múa Saravanl… là hình thức
Trang 27múa cá nhân, tập thể mang tính cộng đồng, phục vụ lễ hội, tết cổ truyền của người Khmer
- Dân ca của người Khmer mang đậm bản sắc dân tộc Người Khmer là chủ nhân sáng tạo nhiều thể loại dân ca độc đáo như hát quăng chài, tung lưới, hát của thợ mộc, thợ gốm, hát nhổ mạ, cấy lúa… Các làn điệu dân ca phản ánh sinh động tình yêu lao động, quê hương, đất nước Có thể nói, hát dân ca đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Khmer
- Do đặc trưng nền nông nghiêp lúa nước và lại sống trong vùng đất
giàu tài nguyên, sông nước nên đồng bào Khmer có nhiều lễ hội độc đáo với nét riêng biệt Tiêu biểu là lễ Ok Om Bok (lễ cúng trăng), diễn ra vào ngày 15
- 10 âm lịch, tết Chôl Chnăm Thmây là ngày tết chịu tuổi, ngày vào năm mới, được tổ chức vào khoảng đầu hay giữa tháng 3 âm lịch; lễ Sene Đôl Ta là lễ cúng ông bà, diễn ra vào ngày 29 - 8 đến ngày 01 - 9 âm lịch
Ngoài ra, đồng bào Khmer còn có những lễ hội khác liên quan đến tôn giáo như lễ Phật Đản, được tổ chức vào ngày 15 - 4 âm lịch; lễ tưởng nhớ Đức Phật, diễn ra vào ngày rằm tháng giêng âm lịch; lễ Dâng Y diễn ra từ ngày 16 - 9 đến ngày 15 - 10 âm lịch…
Một yếu tố văn hoá đặc biệt hiện diện trong đời sống của người Khmer
đó là ngôi chùa Do ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông, tổ chức xã hội truyền thống của người Khmer ở Cà Mau cũng như ở đồng bằng sông Cửu Long luôn gắn bó rất mật thiết với ngôi chùa Sự gắn bó đó biểu hiện rõ nhất là cách thức
tổ chức người dân trong phum để cử hành các lễ tôn giáo, lễ cộng đồng, lễ truyền thống theo phong tục tại chùa và dâng thức ăn hàng ngày cho các sư sãi
Người Khmer xem ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của phum, sóc Bên cạnh mục đích là nơi tu hành, thể hiện đức tin đối với đức Phật, chùa còn được xem là “sân khấu” để tổ chức nhiều hoạt động văn hóa,
lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer diễn ra hàng năm Đồng thời, đây
Trang 28cũng là nơi giáo dục truyền thống, dạy chữ Khmer cho các trẻ em người dân tộc Các lớp này thường được tổ chức vào dịp hè, vì vậy trong mỗi ngôi chùa đều có các phòng học cho trẻ em Ở một số nơi, nhà chùa tổ chức dạy tiếng Khmer cho trẻ em trong khi các trường học không thể mở lớp song ngữ
Mặc dù, dân tộc Khmer là dân tộc thiểu số đông nhất ở tỉnh Cà Mau nhưng so với các tỉnh người Khmer ở Cà Mau ít hơn nhiều Số lượng chùa ở
Cà Mau cũng ít hơn hẳn Trong khi Trà Vinh 317.203 người, chiếm 31,6 % dân số toàn tỉnh; Sóc Trăng 397.014 người, chiếm 30,7 % dân số toàn tỉnh và
có hơn 95 chùa Khmer lớn nhỏ [40, tr 45 - 46]
Toàn tỉnh Cà Mau có 07 chùa Khmer, 07 lò hoả táng, 04 salaten, có 31
vị sư, khoảng trên 40.000 tín đồ Phật tử theo Phật giáo Nam tông Khmer, trong đó có cả ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer [15, tr 91] Có thể nói hoạt động văn hoá mang tính đặc trưng của đồng bào dân tộc Khmer ở Cà Mau cũng kém sôi nổi hơn các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long Đồng bào Khmer ở tỉnh Cà Mau ít còn giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc mình, có phần bị mai một, hòa tan vào văn hóa cộng đồng chung Các phong tục cưới xin, ma chay đều giống người Kinh, Hoa Rất đông đồng bào Khmer không nói, không viết được tiếng, chữ dân tộc mình Không ít thanh niên đồng bào Khmer không còn coi trọng việc đến tuổi trưởng thành phải vào chùa tu học Đây là đặc điểm riêng biệt, đáng cân nhắc, cần được quan tâm xem xét để có biện pháp lưu giữ những giá trị truyền thống của dân tộc Khmer
1.2.2 Một số giá trị văn hoá cốt lõi của dân tộc Khmer ở Cà Mau
Từ đặc điểm cư dân - văn hoá mang nét riêng biệt; Quá trình tìm hiểu, nghiên cứu Tôi xin khái quát và đưa ra một số giá trị văn hoá tiêu biểu của dân tộc Khmer ở Cà Mau
Trang 291.2.2.1 Văn hoá của người Khmer gắn bó mật thiết với Phật giáo Nam tông, mang giá trị của văn hoá Phật giáo
Phật giáo Nam tông là tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người Khmer ở Nam bộ nói chung, tỉnh Cà Mau nói riêng Phật giáo Nam tông gắn bó, tồn tại và phát triển song hành với văn hóa và lối sống của cộng đồng người Khmer một cách sâu sắc
Với tư cách là một chính giáo của người Khmer, Phật giáo Nam tông có vai trò và vị trí quan trọng, có tầm ảnh hưởng và chi phối đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Khmer Đó là một tôn giáo mang tính quần chúng, nó không đơn thuần là thần luận, mà còn là đạo đức luận, hướng đến việc “tốt đạo - đẹp đời”, giáo dục con em người Khmer thành những người có trí thức và đức hạnh
Phật giáo Nam tông đã góp phần cố kết cộng đồng, định hướng thế giới quan và nhân sinh quan, định hướng chuẩn mực và luân lý đạo đức, tạo ra nếp sống, lối sống cho con người Vai trò đó được thể hiện thông qua các hoạt động thuần túy sinh hoạt tôn giáo và hoạt động tôn giáo gắn với cộng đồng
Có thể nói, ảnh hưởng của nhà chùa không phải chỉ gói gọn trong khuôn viên nơi chùa tọa lạc mà là ảnh hưởng toàn xã hội Khmer Vì vậy, nhà chùa là một
“thiết chế xã hội” chứ không dừng lại ở nghĩa đen cụ thể của các ngôi chùa
Người Khmer luôn gắn liền với một ngôi chùa nhất định, bất kì người con trai Khmer nào cũng phải vào chùa tu học một thời gian trong cuộc đời của mình Người Khmer tin vào Phật giáo Nam tông bởi vì nó thoả mãn được nhu cầu về tinh thần của họ
Người dân Việt Nam nói chung và dân tộc Khmer nói riêng đã nhìn thấy được những giá trị đạo đức Phật giáo có thể giúp họ bảo lưu, duy trì và chuyển tải những giá trị tốt đẹp vốn có của họ Trong giáo lý của đức Phật, Lục độ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ) là con đường
Trang 30dẫn đến sự giác ngộ, mà điều đầu tiên phải thực hiện được là thực hành bố thí (tài thí, pháp thí và vô uy thí) Tài thí làm giảm những đau khổ của con người
về phương diện vật chất, tức là phương diện kinh tế và y tế, bao gồm những
kế hoạch phát triển kinh tế, tái phân lợi tức, xóa bỏ những cơ cực gây nên do đời sống quá chênh lệch hằng ngày trong xã hội và thực hiện công bằng xã hội Còn pháp thí không chỉ dừng lại ở truyền bá suông những tư tưởng đạo Phật mà còn bao hàm chương trình truyền bá những kiến thức cần thiết cho đời sống cá nhân và xã hội như: y tế, vệ sinh, pháp luật, chính trị nhằm giúp người dân thoát khỏi sự dốt nát, bệnh tật, nghèo khổ và tìm cơ hội vươn lên trong cuộc sống Vô úy thí có mục đích che chở, bao bọc mọi người thông qua những kế hoạch bảo vệ bằng pháp luật, y tế, giáo dục, chính trị, quân sự cho tự do, an ninh, sức khỏe của mọi người Đây là một biểu hiện rõ nét về chức năng xã hội của tôn giáo, vừa hỗ trợ vật chất vừa giúp đỡ về mặt tinh thần để con người vượt qua những giai đoạn khó khăn, khủng hoảng trong cuộc sống “Đạo Phật có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục hình thành nhân cách, đạo đức, dân trí của đồng bào Khmer Phật giáo đã đưa ra những
tư tưởng và phương pháp cải cách xã hội, giáo hóa đạo đức tinh thần của con người, khuyên người ta sống từ, bi, hỉ, xả, bác ái…” [23, tr 99]
Sự từ bi trong Phật giáo Nam tông ảnh hưởng đến tính thiện của người Khmer Người Khmer ở Cà Mau đã không ngừng tu tập, rèn luyện, giúp đỡ nhau trong cuộc sống Những hành động của họ thể hiện sự tương thân tương
ái của dân tộc ta, “lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói, bằng một gói khi no” hay “dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người” Các nhà sư và tín đồ Phật giáo Nam tông đã tích cực trong các hoạt động từ thiện xã hội, nhằm mang lại niềm vui, hạnh phúc cho những mảnh đời, số phận kém may mắn Sự giao hòa giữa giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam với giáo lý nhà Phật đã tạo ra sức sống mãnh liệt và vững chãi của Phật giáo nơi đây Phật giáo Nam tông Khmer cũng đã cùng đồng hành với dân
Trang 31tộc, góp phần xây dựng đất nước thịnh vượng, bình yên và hạnh phúc Theo quan niệm của Phật giáo Nam tông Khmer, nhà sư và bách tính có mối quan
hệ khăng khít với nhau, nên chùa Khmer là nơi cưu mang trẻ mồ côi, hoặc con nhà nghèo và là nơi dạy chữ, dạy người cho phật tử
Trong ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Nam tông Khmer cũng đã có những nỗ lực tích cực trong quá trình đồng hành cùng dân tộc thông qua các hoạt động răn dạy các tín đồ, sư sãi thực hành theo những lời huấn thị của đức Phật “từ bi, bác ái, hỉ xả” Ngoài ra, trong đời sống chính trị, Phật giáo Nam tông cũng đã tích cực tuyên truyền, vận động tín đồ,
sư sãi chấp hành nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Nhà nước, xa lánh những cám dỗ, không làm những việc làm trái với đạo lý con người, góp phần mang lại ổn định cho xã hội
Phật giáo Nam tông có ảnh hưởng chi phối gần như mọi mặt trong cuộc sống hằng ngày của người dân Khmer Chùa Khmer luôn được đặt ở vị trí trung tâm là nơi trang nghiêm, thịnh vượng, đẹp đẽ nhất ở phum sóc, vừa là nơi thờ tự, nơi lưu giữ kinh sách, nơi chia sẻ tâm linh, nơi sinh hoạt và giáo dục cộng đồng, nơi cất giữ và lưu truyền văn hóa truyền thống của tộc người,… Trong quan niệm của người Khmer, chức sắc, sư sãi là những người đại diện cho đức Phật Ngày nay, các ngôi chùa trở thành nhịp cầu nối quan trọng giữa chính quyền và nhân dân
Hệ giá trị của Phật giáo Nam tông Khmer là một hệ thống các tiêu chí, chuẩn mực giúp tín đồ lựa chọn và định hướng hành động trong đời sống tôn giáo Là động lực tinh thần liên kết mọi tín đồ đồng thuận, tự nguyện tuân thủ
Hệ giá trị đó có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của cộng đồng người Khmer Cà Mau
Thứ nhất, tính nhân bản Phật giáo Nam tông đặt con người làm trọng tâm
để giáo hóa làm trục xoay cho toàn bộ tư tưởng: “tất cả vì hạnh phúc con người”
Trang 32Thứ hai, tính bình đẳng, đoàn kết Phật giáo Nam tông quan niệm tất cả
chúng sinh, từ con người cho đến các sinh vật nhỏ bé đều tiềm ẩn một khả năng phi thường như nhau; đó là khả năng thành Phật, nhưng tuỳ thuộc vào khả năng của mỗi loài nhanh hay chậm, Phật nói “ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành” Đây là nền tảng để hình thành tính bình đẳng trong đạo đức Phật giáo
Thứ ba, Phật giáo Nam tông đề cao giáo dục đạo đức và rèn luyện trí
tuệ Giá trị cốt lõi của đạo đức Phật giáo Nam tông là hành thiện, tránh ác, từ
bi diệt khổ Đó là việc lấy tình thương đối với muôn loài, với con người làm trọng, làm vơi bớt nỗi đau của con người
Phật giáo Nam tông là tôn giáo tồn tại lâu bền với người Khmer Cà Mau - người Khmer Nam Bộ, chứng tỏ sự hòa hợp chặt chẽ giữa đạo đức của Phật giáo Nam tông Khmer với lối sống của cộng đồng người Khmer một cách sâu sắc Và có thể nói rằng, trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Khmer giá trị đạo đức của Phật giáo Nam tông Khmer đã thấm sâu vào ý thức mỗi người, trở thành tiềm thức, niềm tin, triết lý sống của họ Những giá trị đạo đức Phật giáo luôn được gìn giữ và phát huy từ đời này sang đời khác Chính những giá trị cốt lõi nêu trên đã hun đúc, dựng nên một thành trì kiên
cố để chính những người con Khmer với lòng nhân ái vị tha, đoàn kết cùng với niềm tin về tương lai tốt đẹp đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau
1.2.2.2 Văn hoá Khmer đã tạo nên sự đoàn kết; giáo dục, cổ vũ điều thiện, phê phán, bài trừ cái xấu; cổ vũ tinh thần bình đẳng, vị tha, yêu thương con người
- Đoàn kết, cố kết cộng đồng: là một giá trị rất nổi bật trong toàn bộ
nền văn hóa Khmer, đó cũng là truyền thống quý báo của dân tộc ta Người Khmer có phum, sóc rất đặc thù, vừa phù hợp với đặc điểm địa hình sông nước Cà Mau, vừa phát huy được vai trò của nhà chùa và các vị sư đối với
Trang 33cộng đồng cư dân Chính điều kiện cư trú và vai trò của ngôi chùa trong phum, sóc đã gắn kết chặt chẽ cộng đồng cư dân trong một phum, sóc và sự
cố kết cả cộng đồng dân tộc Khmer Cũng như sự đoàn kết, chan hoà, chung lưng đấu cật của các dân tộc trên mảnh đất cực nam tổ quốc từ thời hoang vu
mở cõi, đến đấu tranh giành độc lập, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và bước vào thời kỳ hội nhập xây dựng đất nước
- Có tinh thần nhân ái, vị tha, tính hướng thiện, trừ ác, trọng đạo đức:
thể hiện ở sự chi phối mạnh mẽ của triết lý, giáo lý Phật giáo đối với toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần cộng đồng dân tộc Khmer, việc chọn những người có uy tín trong cộng đồng dân cư làm “Mê phum, Mê sóc” để điều hành các hoạt động của phum, sóc, đại diện phum, sóc giữ mối quan hệ với nhà chùa và với các cư dân thuộc các dân tộc khác trong vùng; thể hiện ở quan niệm người đi tu là người có học, có đạo đức được cộng đồng quí trọng, thanh niên Khmer lớn lên phải vào chùa tu học
- Bình đẳng, dân chủ trong xã hội, trong gia đình: thể hiện trong quan
niệm của người Khmer không có sự phân biệt nam nữ như dân tộc Hoa, thậm chí trong một số trường hợp vai trò người phụ nữ được xem trọng; không phân biệt người giàu, người nghèo, mọi lễ vật dâng cúng đều được quí trọng như nhau tuy nhiên quan niệm này có những hạn chế ở chỗ một số người Khmer còn có quan niệm “an bần lạc đạo”, ngại phấn đấu vươn lên vượt qua đói nghèo, không chịu khó tính toán lợi ích trong làm kinh tế
1.2.2.3 Giá trị văn hoá dân tộc Khmer qua lễ hội văn hoá truyền thống
Trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động văn hóa, lễ hội du lịch của đồng bào các dân tộc Khmer được phát huy triệt
để Theo đó, cánh cửa di sản, di tích lịch sử, văn hóa cũng được mở ra, tôn vinh giá trị nền văn hóa dân tộc Việt Nam trên toàn thế giới
Một trong những nét văn hóa đặc sắc của người Khmer chính là các lễ hội Với những ý nghĩa khác nhau, các lễ hội phản ánh đời sống tín ngưỡng -
Trang 34văn hóa - tinh thần của đồng bào Khmer Ngoài ra, họ còn có các hoạt động văn hóa - thể thao truyền thống khác mang ý nghĩa hết sức thiêng liêng như đua Ghe Ngo ở Thới Bình, U Minh Trước đây, các hoạt động này chỉ mang tính tự phát, nhưng ngày nay đua Ghe Ngo đã thực sự trở thành đặc trưng văn hóa tiêu biểu của dân tộc Khmer Cà Mau và cả vùng Nam bộ
Cùng với lễ hội là âm nhạc, nhạc cụ, điêu khắc ngay cả hình ảnh của những ngôi chùa Khmer với kiến trúc độc đáo, không chỉ là không gian tâm linh mà còn là một trung tâm hoạt động văn hóa, xã hội - được xem như một bảo tàng hoàn hảo về giá trị văn hóa - lịch sử, là một biểu trưng nghệ thuật độc đáo của người Khmer
Nếu văn hóa dân tộc Khmer được nghiên cứu kỹ, khai thác tốt chắc chắn có thể trở thành những sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc Chính vì vậy, trong những năm qua tỉnh Cà Mau đã không ngừng tổ chức các lễ hội văn hóa mang đậm bản sắc vùng đồng bào dân tộc Khmer để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, đồng thời tạo một điểm nhấn du lịch thu hút khách tham quan
1.3 Mối quan hệ giữa giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá dân tộc Khmer với phát triển bền vững ở tỉnh Cà Mau
Giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá các dân tộc thiểu với phát triển bền vững là hai lĩnh vực rộng lớn luôn song hành, tác động biện chứng trong sự tồn tại và phát triển của các quốc gia, dân tộc Đây là mối quan hệ biện chứng kép, bởi chỉ phát triển bền vững nếu giữ gìn, phát huy được các giá trị văn hoá; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển bền vững Nguồn gốc phát sinh của giá trị văn hoá nằm trong các thành tố cấu thành của phát triển bền vững: kinh tế, xã hội, môi trường nhưng các giá trị văn hoá lại có tính độc lập tương đối của nó, sau khi hình thành, nó vận động theo những quy luật riêng, tác động mạnh mẽ đến phát triển, thậm chí có thể quyết định chiều hướng, chất lượng, mục tiêu của phát triển bền vững
Trang 351.3.1 Giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá dân tộc Khmer sẽ góp phần phát triển bền vững ở Cà Mau
Giá trị văn hoá của mỗi dân tộc là cái thể hiện cô đọng nhất, độc đáo nhất, rõ nét nhất bản sắc của dân tộc đó Giá trị văn hoá làm nên nguồn lực xã hội to lớn, thấm sâu vào quá trình phát triển Giá trị văn hoá không chỉ là kết quả của phát triển nhanh bền vững mà còn là yếu tố tạo nên sự phát triển nhanh, bền vững Giá trị văn hoá vừa là cái giữ thế ổn định, đồng thời là cái chỉ đạo tư tưởng và hành động, củng cố và phát triển ý chí và bản lĩnh dân tộc Nó là sức mạnh để một dân tộc, một đất nước tồn tại và phát triển Do đó giá trị văn hoá chính là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững
Đối với các quốc gia có đông dân tộc thiểu số, thì giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá của dân tộc thiểu số là hết sức cần thiết và cần được hiểu là việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá của dân tộc thiểu số phải gắn và đồng hành với việc giữ gìn giá trị văn hoá của dân tộc đa số Đó chính là biểu hiện của sự thống nhất trong đa dạng, là xu thế tất yếu của phát triển trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay
Dân tộc Khmer ở Cà Mau là cư dân có mặt sớm nhất và có số dân đông
so với các dân tộc khác trong vùng, văn hóa Khmer có ảnh hưởng mạnh mẽ
và góp phần quan trọng làm nên những giá trị chung của văn hóa vùng Những giá trị này đóng góp thiết thực vào quá trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững ở Cà Mau
+ Về góc độ kinh tế
Với truyền thống kiên cường của những người dân đi mở cõi, cùng những kinh nghiệm của cư dân lâu đời gắn bó với mảnh đất Cà Mau, người dân Khmer tiếp tục phát huy tinh thần lao động cần cù, đoàn kết gắn bó cộng đồng, chia sẻ, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng lao động, sản xuất, xóa đói giảm nghèo, cùng với việc thực hiện các chính sách của Đảng, Nhà nước thời gian
Trang 36qua, đời sống vật chất, tinh thần của bà con đồng bào Khmer tăng lên đáng kể,
số hộ sử dụng điện, nước sạch tăng lên, tạo nên những thay đổi to lớn Những kết quả này cần được khai thác, khơi dậy, tạo động lực giúp bà con vươn lên thoát nghèo bền vững Ở tỉnh Cà Mau, số hộ nghèo phần lớn là dân tộc Khmer Nếu đồng bào dân tộc Khmer thoát nghèo, có đời sống ấm no, hạnh phúc là bước tiến dài của Cà Mau, tiệm cận với mục tiêu phát triển bền vững
Là vùng còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, tôn giáo độc đáo, đặc sắc: Các
lễ hội văn hóa, các ngôi chùa, điểm sinh hoạt tôn giáo… Ngôi chùa Monivongsa Bopharam được xây dựng từ năm 1964, tọa lạc giữa trung tâm Cà Mau như một nét duyên của thành phố cực Nam chào đón du khách, chùa Cao Dân ở Thới Bình… cùng với điều kiện tự nhiên trời phú có Vườn Quốc gia mũi Cà Mau được công nhận là khu Ramsar của thế giới; Vườn Quốc gia U Minh hạ, Hòn Đá Bạc, cùng các di tích văn hoá, lịch sử của Cà Mau Đây là thế mạnh cần phát huy phục vụ du lịch tâm linh, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái mở ra hướng phát triển ngành dịch vụ… vừa tạo công ăn việc làm cho bà con đồng bào Khmer đồng thời đó cũng là nguồn đóng góp quan trọng cho ngân sách tỉnh nhà
+ Về góc độ xã hội
Các thiết chế phum sóc (dưới 50 hộ), cùng các giáo lý, giáo luật của phật giáo Nam tông, nếu biết vận dụng linh hoạt, khéo léo sẽ giúp cho công tác quản lý cơ sở, phát huy dân chủ trong đời sống xã hội ở cơ sở, xây dựng nông thôn mới thuận lợi Tình đoàn kết trong cộng đồng người Khmer; giữa người Khmer với các dân tộc khác, cư dân sống chan hoà, yêu thương, nâng
đỡ giúp nhau cùng phát triển, tạo nên sự ổn định của xã hội, ổn định về chính trị là những một nhân tố quan trọng để phát triển bền vững
+ Về góc độ môi trường
Kinh nghiệm gắn bó lâu đời, thân thiện với sông nước, với sản xuất nông nghiệp sẽ giúp cho bà con chung sống, thích nghi với biến đổi khí hậu
Trang 37hiện nay Bởi khi, xét về đối tượng, thì người nghèo - dân tộc Khmer chiến đa số; trẻ em, người khuyết tật và phụ nữ sẽ dễ bị tổn thương nhất bởi tác động của biến đổi khí hậu Nhưng với bản lĩnh, sự linh hoạt, lối sống hòa đồng, gắn
bó với thiên nhiên, tinh thần lạc quan sẽ giúp dân tộc Khmer chung vai với các dân tộc khác ứng phó quyết liệt và có hiệu quả với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay Rõ ràng, các giá trị văn hóa do người Khmer tạo dựng, vun đắp qua nhiều thế hệ là sức mạnh tiềm năng để Cà Mau phát triển bền vững
Giá trị văn hoá của dân tộc Khmer với các điểm đáng trân quý… vừa là
di sản quý báu, vừa là nội lực, là mạch nguồn thúc đẩy xã hội phát triển - một thành tố quan trọng trong phát triển của quốc gia dân tộc nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng, đóng góp đắc lực thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển bền vững Như vậy, khẳng định giá trị văn hoá dân tộc Khmer với những nét độc đáo, riêng biệt rất cần thiết phải được giữ gìn, phát huy nhằm góp phần phục
vụ và thúc đẩy thực hiện mục tiêu phát triển bền vững ở Cà Mau
1.3.2 Ảnh hưởng của phát triển bền vững đến giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc Khmer, làm cho giá trị văn hoá dân tộc Khmer ở Cà Mau thăng hoa và toả sáng
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, bởi phát triển bền vững mang lại những thành quả toàn diện về cả đời sống vật chất và tinh thần cho xã hội, cho con người trong đó có cả những giá trị văn hoá dân tộc vốn đã trở thành nền tảng tinh thần của dân tộc Mục tiêu phát triển phải gắn với giữ gìn giá trị văn hoá vì kinh
tế có phát triển nhanh nhưng không giữ được ổn định xã hội, không bảo vệ được tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt không giữ được bản sắc văn hóa dân tộc thì đó
là một sự phát triển không trọn vẹn, tiềm ẩn sự thiếu thốn về mặt tinh thần, sự bất ổn về mặt xã hội Lịch sử không ngừng vận động và phát triển tạo nên những bước tiến trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên cơ sở kế thừa
Trang 38biện chứng những nét đặc sắc của dân tộc, dân tộc thiểu số như một xu thế khách quan Việc kế thừa biện chứng này cần phải hiểu là những giá trị tốt đẹp được giữ gìn, những yếu tố tiên tiến được bổ sung, những hủ tục lạc hậu cần loại bỏ Khi xã hội vận động theo các quy luật khách quan này thì phát triển nhanh và có tính bền vững; còn không thì sẽ xuất hiện những yếu tố bất ổn, phát triển lệch lạc Điều này thể hiện khá rõ trong mối quan hệ giữa phát triển bền vững với giữ gìn các giá trị văn hoá dân tộc - dân tộc Khmer ở Cà Mau
Phát triển trong đó kinh tế tăng trưởng, khai thác tài nguyên không gắn với giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá dân tộc, bản sắc dân tộc tất sẽ dẫn đến sự mất cân bằng giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người Mặc dù kinh tế phát triển, đời sống vật chất được nâng lên nhưng tinh thần dân tộc bị giảm sút, bản sắc văn hóa dân tộc bị mất mát, môi trường tự nhiên bị hủy hoại là mối đe dọa đối với sự phát triển bền vững trên cả hai phương diện quốc gia dân tộc và tộc người Những giá trị văn hoá của dân tộc Khmer không được chăm lo, giữ gìn dẫn đến bị mai một, nguy cơ bị "hòa tan", "đồng hóa" là khó tránh khỏi và tất yếu sẽ làm mất đi sức mạnh tinh thần, nguồn lực nội sinh quan trọng trong quá trình phát triển, kìm hãm, thậm chí làm chệch hướng mục tiêu phát triển bền vững
Phát triển bền vững gắn với việc giữ gìn giá trị văn hoá dân tộc thiểu số
là một tất yếu khách quan, một nhân tố quan trọng đảm bảo phát triển bền vững đúng với bản chất và lý tưởng của dân tộc Sự phát triển bền vững đó chỉ có thể có được khi dựa trên sự cân bằng giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của con người, đồng thời phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc trước những thách thức của thời đại Hơn nữa, các nhà kinh điển Mác - Lênin cũng khẳng định: những điều kiện kinh tế xét cho cùng quy định sự phát triển của lịch sử, sự sáng tạo văn hóa của loài người, xét đến cùng bị quy định bởi những tiền đề kinh tế - xã hội khách quan, chịu sự chi phối của quá trình phát
Trang 39triển lực lượng sản xuất Khi nghiên cứu văn hóa từ cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, V.I Lênin cũng cho rằng: sự phát triển của văn hóa gắn liền với sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một nền văn hóa tinh thần đặc trưng, khi hình thái kinh tế - xã hội thay đổi thì nền văn hóa tương ứng với nó cũng có sự biến đổi nhất định Xét ở góc
độ là một bộ phận nằm trong kiến trúc thượng tầng của xã hội, bản sắc văn hóa, giá trị truyền thống chịu sự tác động của cơ sở hạ tầng, của kinh tế là một tất yếu khách quan Giá trị văn hoá dân tộc bao giờ cũng được hình thành, gắn với những phương thức sản xuất, những nền kinh tế nhất định Hay ngược lại, đặc trưng của mỗi phương thức sản xuất, mỗi nền kinh tế bao giờ cũng lắng đọng, chắt lọc trong những sắc thái biểu hiện của văn hóa được tôn lên thành những giá trị tinh thần độc đáo và đặc sắc Ví dụ, khi nói đến bản sắc văn hóa của dân tộc Khmer là nói đến bản sắc văn hóa mang đậm nét đặc trưng của văn hóa Phật giáo Nam tông Trải qua thời gian, thông qua giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc, mà những bản sắc văn hóa ấy lại được bổ sung, tiếp biến để thích nghi với thời đại Sự biến đổi ấy có thể là tích cực, cũng có thể
là tiêu cực nhưng là điều tất yếu Vấn đề đặt ra là phải nhận thức được cái tất yếu khách quan ấy để hoạt động thực tiễn diễn ra một cách tự giác, phù hợp với quy luật khách quan, làm cho cái tích cực lấn át, chế ngự, triệt tiêu cái tiêu cực và chiếm ưu thế chủ đạo trong quá trình phát triển của dân tộc
Phát triển bền vững chẳng những là cơ sở, nền tảng quan trọng Đồng thời phát triển bền vững thúc đẩy việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá Phát triển bền vững tạo điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống đồng thời thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, hướng con người tìm về cội nguồn, tìm về các giá trị nhân văn của dân tộc mình, làm cho các giá trị ấy có điều kiện được tôn vinh Việc tổ chức các
lễ hội truyền thống, việc bảo tồn hoa văn, nhạc cụ dân gian, trang phụ truyền
Trang 40thống của dân tộc Khmer chỉ có thể làm tốt khi có những điều kiện đảm bảo về nhân lực, kinh phí Kinh tế phát triển, phương thức sản xuất mới với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp xuất hiện kéo theo sự biến đổi các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người Từ đó, thúc đẩy việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc theo hướng tiến bộ, đồng thời đến lượt mình, giá trị văn hoá tốt đẹp, tích cực lại tạo môi trường lành mạnh cho phát triển kinh
tế, xã hội
Phát triển kinh tế còn thúc đẩy sự mở rộng quan hệ vùng, quan hệ quốc gia, quốc tế, tạo môi trường giao lưu, hợp tác mạnh mẽ về kinh tế và văn hóa giữa các dân tộc, tạo cơ hội để giá trị văn hóa Khmer tỏa sáng, để bộc lộ để khoe những nét độc đáo và đặc sắc của dân tộc mình và tiếp biến những yếu tố tích cực từ các nền văn hóa khác, đối thoại với các nền văn hóa khác cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế
Quá trình phát triển kinh tế, xã hội cũng tiềm ẩn những yếu tố nguy
cơ, thách thức dẫn đến sự biến đổi hay mai một, hủy hoại những giá trị văn hóa dân tộc Đó là tác động những mặt trái, những chiều tác động tiêu cực, lối sống thực dụng, coi đồng tiền là trên hết, xem nhẹ đạo đức gia đình, đạo đức xã hội, suy đồi về lối sống, quan niệm sống lệch lạc, sự du nhập lối sống ngoại lai cần phải tỉnh táo, bản lĩnh, ý thức tự tôn dân tộc, tinh thần
tự giác trong việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá của chính dân tộc mình
Phát triển bền vững, một mặt quyết định sự hình thành, biến đổi, phát triển bản sắc dân tộc Khmer và mặt khác, nó thúc đẩy việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá, làm cho giá trị văn hoá có vị trí xứng đáng trong quá trình hội nhập quốc tế, tiếp biến văn hóa của các dân tộc khác, đồng thời vẫn giữ được hồn, cốt, là mục tiêu, động lực của phát triển bền vững