1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc êđê tại đăk lăk trong nền kinh tế thị trường

215 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 215
Dung lượng 4,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk với sự hình thành những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk .... Với những nhận thức trên cù

Trang 1

- -

LÊ THỊ HỒNG HẠNH

SỰ BIẾN ĐỔI GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC ÊĐÊ TẠI ĐẮK LẮK TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 2

- -

LÊ THỊ HỒNG HẠNH

SỰ BIẾN ĐỔI GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC ÊĐÊ TẠI ĐẮK LẮK TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Trang 3

Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo Khoa Triết học; Phòng Đào tạo sau đại học; Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến PGS.TS Trịnh Doãn Chính, người thầy đã dành nhiều thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các cấp chính quyền, các trưởng buôn, già làng

và người dân các huyện Buôn Đôn; huyện Krôngna; huyện Krông Pắk, Buôn Ako Dhong thành phố Buôn Ma Thuột; xã Ea Tu thành phố Buôn Ma Thuột; Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk; Phòng Văn hóa - Dân tộc; Cục thống kê tỉnh Đắk Lắk; các thầy cô giáo Khoa Lý luận chính trị Trường Đại học Tây Nguyên đã giúp đỡ, tạo điều kiện và cung cấp những thông tin bổ ích, số liệu, tài liệu cần thiết để nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích

lệ, chia sẻ, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày… tháng…năm 2016

Tác giả

Lê Thị Hồng Hạnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trịnh Doãn Chính Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Người cam đoan

Lê Thị Hồng Hạnh

Trang 5

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC ÊĐÊ TẠI ĐẮK LẮK 15 1.1 KHÁI QUÁT NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC ÊĐÊ TẠI ĐẮK LẮK 15

1.1.1 Khái niệm chung về văn hóa, văn hóa truyền thống, giá trị, giá trị văn hóa 15 1.1.2 Điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk với

sự hình thành những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk 26 1.1.3 Đặc điểm đời sống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk với sự hình thành những giá trị văn hóa truyền thống 35

1.2 CÁC LOẠI HÌNH VĂN HÓA VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC ÊĐÊ TẠI ĐẮK LẮK 45

1.2.1 Khái quát các loại hình văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk 45 1.2.2 Các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk 69

Kết luận chương 1 93 Chương 2: SỰ BIẾN ĐỔI GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC ÊĐÊ TẠI ĐẮK LẮK TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 95 2.1 THỰC TRẠNG SỰ BIẾN ĐỔI GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC ÊĐÊ TẠI ĐẮK LẮK DƯỚI SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 95

2.1.1 Khái quát về kinh tế thị trường, kinh tế thị trường tại Đắk Lắk 95 2.1.2 Sự tác động của kinh tế thị trường đến những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk 112 2.1.3 Sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường 133

Trang 6

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 149

2.2.1 Phương hướng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk trong nền kinh tế thị trường hiện nay 149

2.2.2 Giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk trong nền kinh tế thị trường hiện nay 161

Kết luận chương 2 175

KẾT LUẬN 177

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 180 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Số trường học, lớp học và phòng học mầm non 118 2.2 Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế 118

2.3 Tổng hợp dân di cư tự do vào Đắk Lắk từ 1976 –

2.4 Diện tích rừng phân theo loại rừng 126

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước sang thế kỷ XXI, một định hướng của những nước đang phát triển là khơi dậy và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc để hội nhập và phát triển Đứng trước cơn lốc toàn cầu hóa văn minh kỹ thuật, văn hóa dân tộc Việt Nam

đã chứng tỏ bản lĩnh vững vàng trong vai trò góp phần bình ổn xã hội Vì thế, ngày nay người ta không còn xem văn hóa như một thứ trang trí cho cỗ máy đại công nghiệp khô khan, mà nó được coi như chìa khóa của phát triển, hơn thế, giá trị văn hóa còn là một nguồn lực góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cùng với nhận thức ngày càng đầy đủ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội,

tư duy lý luận của Đảng về văn hóa cũng có những bước phát triển mới, đặc biệt là

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã khẳng định vị trí văn hóa “là nền tảng tinh

thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” [30; tr.55] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu rõ mô hình, đặc trưng của văn hóa

Việt Nam, đó là một “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [33; tr.76], ở

đó có sự thống nhất biện chứng giữa yêu cầu đạt tới trình độ tiên tiến của văn hóa thế giới với những nét đặc sắc của giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa được hun đúc qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, là nền văn hóa được tạo thành bởi 54 dân tộc anh em cùng sinh sống Chính điều đó đã làm nên nét đặc sắc, độc đáo của cốt cách, tâm hồn con người Việt Nam và các cộng đồng dân tộc Việt Nam, tạo nên một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng Tính đa dạng ấy thể hiện trên tất cả các khía cạnh của những phong tục, lễ hội, tập quán, tín ngưỡng, niềm tin … cho đến sự đa dạng về không gian do cấu trúc địa hình, khí hậu, phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hóa có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã

và văn minh lúa nước, đến sắc thái văn hóa của các dân tộc miền núi tại Tây Bắc và Đông Bắc Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên Tất

Trang 9

cả những điều đó đã tạo nên một sức mạnh tinh thần to lớn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng, dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh

Tây Nguyên là một vùng lãnh thổ đặc biệt của Việt Nam, một khu vực sinh tồn lâu đời của cộng đồng nhiều thành phần dân tộc, nằm ở trung tâm bán đảo Đông Dương Từ góc nhìn văn hóa thì Tây Nguyên được biết đến là một vùng văn hóa có lịch sử phát triển lâu đời, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa và di sản văn hóa truyền thống của nhiều thành phần dân tộc Vùng văn hóa Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh, từ Bắc vào Nam là các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng Nếu như Tây Nguyên được ví như là “nóc nhà Đông Dương” thì Đắk Lắk có thể được xem như “mái rừng phòng hộ” của Tây Nguyên Nói đến văn hoá truyền thống của Đắk Lắk chúng ta nghĩ ngay tới những nét đặc trưng văn hoá của người Êđê - một tộc người bản địa của vùng đất cao nguyên đại ngàn, đầy nắng và gió này, nơi chứa đựng nhiều nét văn hoá truyền thống, những phong tục, tập quán, lễ hội Trong những giá trị văn hóa truyền thống ấy không thể không kể tới văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, nó chính là linh hồn của tất cả các nét sinh hoạt văn hóa truyền thống ở nơi đây và đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15/11/2005

Với những giá trị văn hóa truyền thống to lớn của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk thì việc bảo tồn, phát huy, khắc phục các nhân tố lạc hậu lỗi thời và bổ sung những nhân tố mới, đã và đang trở thành phong trào quần chúng rộng rãi trong cộng đồng các dân tộc Êđê Chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển kinh tế xã hội đã đem lại cơ sở vật chất và tinh thần cho sự phát triển về văn hóa, đem đến những thành tựu về văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc Êđê tại Đắk Lắk là điều không thể phủ nhận Điều này được minh chứng, chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2015 “Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã cấp cho Sở 3,903 tỷ đồng để thực hiện 04 dự án trong Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa gồm: Chống xuống cấp, tu bổ và tôn tạo di tích; sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam; tăng cường đầu tư xây dựng,

Trang 10

phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tăng cường năng lực cán bộ văn hóa cơ sở, truyền thông và giám sát, đánh giá chương trình” [53; tr.6] Tuy nhiên, hiện nay, văn hóa dân tộc Êđê nói riêng và văn hóa Tây Nguyên đang ngày càng mai một Rừng bị tàn phá, đồng bào dân tộc Êđê phải bỏ rừng, trong khi rừng vốn được coi là cội nguồn của đời sống tâm linh, là phần sâu xa của con người và cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng khẳng định: “mất rừng là mất văn hóa Tây Nguyên” Bởi mất rừng thì cộng đồng nơi đây sẽ mất đi nền tảng vững bền

và thiêng liêng gắn liền với quốc thể, cộng đồng của chính họ Đó là nơi nuôi dưỡng con người, nơi các thế hệ đồng bào Tây Nguyên trong đó có dân tộc Êđê tại Đắk Lắk gửi gắm tâm hồn, chung sống hòa thuận từ bao đời nay Bên cạnh đó,

“quy mô của làng bản của dân tộc Êđê không còn như xưa, nhất là những khu định

cư mới cho các công trình thủy điện Không còn những buôn làng trong một không gian truyền thống, những nhà rông, nhà dài, nhà sàn đã mất đi Thậm chí, ở một số địa phương, người dân phải bán cả tài sản văn hóa vật thể như cồng chiêng, ché, nhà cổ… để lấy tiền làm vốn sản xuất, đời sống” [19; tr.6] Những tri thức bản địa,

đa dạng sinh học, và đa dạng văn hóa đang có nguy cơ biến mất Thực trạng này thực sự rất đáng báo động

Đôi chân văn hóa và kinh tế như hai trụ cột của ngôi nhà bền vững mà nếu không khéo để chúng đối lập nhau hoặc lệch một bên thì sẽ khiến ngôi nhà ấy nghiêng và đổ Phát triển kinh tế mà bỏ mặc những giá trị văn hóa không sớm thì muộn những thành quả kinh tế ấy sẽ sụp đổ theo Cho nên, kinh tế và văn hóa, trong bản chất đã có mối quan hệ biện chứng với nhau, mà nếu không quán triệt quan điểm này thì không một quốc gia nào có thể tồn tại được

Trong những năm gần đây với sự tác động của kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, chúng ta cùng một lúc phải đối diện với hai nhân tố mới đó Việc chấp nhận kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, đó là tất yếu lịch sử đối với bất kỳ quốc gia nào trong đó có nước ta Trong nền kinh tế thị trường, trong xu thế toàn cầu hóa đòi hỏi nền văn hóa phải có sự giao lưu, mở cửa với các nền văn hóa khác và chính đòi hỏi cấp thiết đó đã dẫn đến sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của cả dân tộc

Trang 11

nói chung và trong đó có dân tộc Êđê ở Đắk Lắk nói riêng Như nhận định của Ban tuyên giáo tỉnh Đắk Lắk “…Quá trình đó, một mặt tạo cơ hội để mở rộng tiếp xúc, giao lưu văn hóa, tiếp thu, quảng bá và khẳng định những giá trị văn hóa đặc trưng của các dân tộc thiểu số với những giá trị văn hóa của các vùng, miền khác trên cả nước và các quốc gia dân tộc trên thế giới Nhưng mặt khác, quá trình đó cũng đã

và đang gây ra không ít những tác động tiêu cực đến việc bảo tồn giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk” [5; tr.12] Do đó, để làm chủ được cái tất yếu - kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và bắt cái tất yếu đó phục vụ cho mình, cho sự phát triển của đất nước theo định hướng đã chọn thì cần tỉnh táo, suy tính và có những quyết sách đúng đắn đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa

Với những nhận thức trên cùng ý nghĩa về tầm quan trọng của giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Êđê tại Đắk Lắk và về phía chủ quan, bản thân người nghiên cứu là người sinh ra, lớn lên trên mảnh đất này, sớm được tiếp xúc với con người, với văn hóa dân tộc Êđê vì vậy việc tiếp cận và thu thập tài liệu có phần thuận tiện

hơn, do đó tôi chọn vấn đề “Sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Êđê tại Đắk Lắk trong nền kinh tế thị trường” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc

sỹ chuyên nghành Triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk trong nền kinh tế thị trường, có thể khái quát các công trình nghiên cứu thành ba chủ đề lớn sau:

Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về văn hóa, giá trị văn hóa truyền

thống Việt Nam nói chung và sự tác động của kinh tế thị trường đến giá trị văn hóa truyền thống

Liên quan đến chủ đề này có hàng trăm ấn phẩm được xuất bản trong suốt gần một thế kỷ qua gắn liền với tên tuổi các nhà khoa học lớn: Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giàu, Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Phan

Ngọc, Cao Huy Đỉnh, Trần Ngọc Thêm… Đầu tiên phải nói đến là cuốn sách “Việt

Nam văn hóa sử cương” là một trong những công trình quan trọng nhất của tác giả

Đào Duy Anh, được tái bản theo nguyên bản của Quan Hải Tùng Thư năm 1938,

Trang 12

Nxb TP Hồ Chí Minh Trên quan niệm súc tích “Văn hóa là sinh hoạt”, tác giả Đào Duy Anh đã bao quát tất cả các mảng sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt chính trị - xã hội,

và sinh hoạt trí thức, do đó, đã tóm tắt, phác họa và minh định được ở chừng mực nào đó lược sử văn hóa của người Việt như một dân tộc văn hóa Nhưng còn hơn thế, ông chỉ ra cả những biến đổi của văn hóa Việt Nam ở thời đoạn Âu hóa, với sự rạn

vỡ, biến đổi của những giá trị cũ và sự lên ngôi của những giá trị mới Bởi vậy, Việt Nam văn hóa sử cương luôn được đánh giá là một trong những công trình đặt nền tảng cho sự hình thành ngành văn hóa học Việt Nam hiện đại

Tiếp đó phải kể đến, cuốn sách Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt

Nam của Giáo sư Trần Văn Giàu (1980), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Cuốn sách

đã trực tiếp đề cập đến các vấn đề văn hóa, di sản văn hóa, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam và có thể coi đó như là cái mốc đánh dấu việc nghiên cứu giá trị văn hóa Việt Nam Công trình này đã được trao Giải thưởng khoa học và nghệ thuật Hồ Chí Minh

Cuốn sách Cơ sở văn hóa Việt Nam (1997) do Trần Quốc Vượng (Chủ biên),

Nxb Giáo dục Đây là cuốn sách giáo trình đầu tiên được biên soạn dành cho sinh viên đại học và cao đẳng Cuốn sách với lưu lượng 240 trang, gồm 4 chương đã trình bày lần lượt các nội dung: những khái niệm cơ bản của văn hóa; các thành tố văn hóa; diễn trình lịch sử của văn hóa Việt Nam; không gian văn hóa Việt Nam đã giúp cho người đọc có cái nhìn tổng thể về văn hóa, đó là những kiến thức cơ bản về văn hóa và là cơ

sở để nghiên cứu văn hóa nói chung, văn hóa ở mỗi vùng miền nói riêng

Cuốn sách Những thay đổi về văn hóa, xã hội trong quá trình chuyển sang nền

kinh tế thị trường ở một số nước Châu Á (1998) do Dương Phú Hiệp - Nguyễn Duy

Dũng (Chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Cuốn sách gồm 30 bài viết là kết quả của cuộc thảo luận khá sôi nổi trong hai ngày 11 và 12 tháng 12 năm 1997 tại Hà Nội về chủ đề: “Những thay đổi về văn hóa, xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước Châu Á”, việc tìm hiểu nguyên nhân và nội dung của những thay đổi đó để kịp thời đề ra các chính sách và biện pháp giải quyết thích hợp là những vấn đề lý luận rất cơ bản và cấp bách hiện nay đang còn nhiều ý kiến khác nhau

Trang 13

Chương trình KX06 có tên gọi: Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ

xã hội do cố Giáo sư Nguyễn Hồng Phong làm chủ nhiệm Trong chương trình này,

có không ít các đề tài liên quan tới vấn đề giá trị văn hóa, như đề tài KX06/16:

Chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Tiếp đến, đề tài KX07-02

do Giáo sư Phan Huy Lê làm chủ nhiệm có tên Các giá trị truyền thống và con

người Việt Nam hiện nay đã tổng kết một số giá trị văn hóa truyền thống, đặt trong

mối quan hệ với con người Việt Nam

Cuốn sách Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh

tế thị trường ở Việt Nam hiện nay do PGS.TS Nguyễn Duy Bắc làm chủ biên

(2008), Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội cùng các cộng tác viên đã xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa, biến đổi các giá trị văn hóa, phát triển văn hóa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Cuốn sách Giá trị văn hóa Việt Nam - truyền thống và biến đổi của tập thể tác

giả do GS.TS Ngô Đức Thịnh chủ biên (2014), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trong cuốn sách này các tác giả không chỉ nhìn nhận văn hóa Việt Nam trong dòng chảy lịch sử dân tộc mà còn đặt trong bối cảnh không gian văn hóa thế giới Đồng thời bên cạnh thống kê và phân tích những giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc, cuốn sách cũng luận giải bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập, toàn cầu hóa, hệ giá trị văn hóa Việt Nam cũng có nhiều biến đổi để phù hợp với hoàn cảnh mới nhưng

ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, các giá trị văn hóa yêu nước, đoàn kết vẫn giữ nguyên vị trí đứng đầu trong quan niệm của người dân bởi đó là những giá trị căn cốt, bản sắc của dân tộc Việt Nam Cuốn sách là một công trình khoa học và nghiêm túc giúp người đọc nhận thức rõ hơn về nền văn hóa dân tộc, tự hào về truyền thống của ông cha Nền văn hóa dân tộc là nguồn tài sản vô giá, là động lực

để mỗi người dân đất Việt vững tin bước vào kỷ nguyên mới, dựng xây đất nước, nâng tầm vị thế Việt Nam trên trường quốc tế

Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về điều kiện lịch sử hình thành, nội

dung các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk

Trang 14

Những nghiên cứu đầu tiên về văn hóa truyền thống dân tộc Êđê phải kể đến

các tác giả người Pháp như: Henry Maitre với tác phẩm Rừng người Thượng được

dịch bởi Lưu Đình Tuân và Nguyên Ngọc (2008), Nxb Trí thức, Hà Nội Tác phẩm

có dung lượng 340 trang gồm 141 ảnh, 43 hình vẽ đã mô tả lại đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của những tộc người Tây Nguyên sống gần Trường Sơn do Henri Maitre, đồn trưởng đồn Bu Méra khảo sát và viết lại Cuốn sách được in lần đầu tiên năm 1912 tại Pháp và gần 100 năm sau khi ra đời nó được dịch sang tiếng Việt, mà theo nhà văn Nguyên Ngọc thì: Đây là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn vẹn nhất về vùng Trường Sơn - Tây Nguyên

Kế đến liên quan đến chủ đề này có thể nói đến tác giả Anne De Hautecloque

Howe (2004), Người Êđê: Một xã hội mẫu quyền, Nxb Văn hóa dân tộc Đây là

công trình nghiên cứu cơ bản và đặc sắc về chế độ mẫu quyền Êđê Và đến Jacques

Dournes (2006), Rừng, đàn bà, điên loạn, Nxb Hội nhà văn Các tác phẩm này là

nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu xã hội Êđê truyền thống

Những tác phẩm của các nhà nghiên cứu trong nước Đầu tiên phải nói đến đó

là công trình Đại cương về các dân tộc Êđê, M’Nông ở Đắk Lắk do Bế Viết Đẳng,

Chu Thái Sơn, Vũ Thị Hồng, Vũ Đình Lợi (1982), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Đây là công trình công phu, trình bày về nhiều lĩnh vực như tự nhiên, dân cư, điều kiện sản xuất, kinh tế, các quan hệ xã hội, văn hóa…đó là những cơ sở ban đầu để tìm hiểu về hai dân tộc quan trọng nhất trong số những dân tộc ở Tây Nguyên Trong đó vấn đề giá trị văn hóa chủ yếu được đề cập ở phần thứ 3, gồm có những nội dung chính là: thứ nhất là văn hóa vật chất, thứ hai là văn hóa nghệ thuật dân gian, thứ ba là nghi lễ, phong tục trong chu kỳ đời người Đây chính là cơ sở định hướng để nghiên cứu về các dân tộc Êđê và M’Nông

Công trình đồ sộ tiếp theo phải kể đến là công trình: Biên soạn địa chí Đắk

Lắk (2012) do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk chủ

quản với sự phối hợp của Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam, các sở ban nghành trong tỉnh Đây là một công trình lớn cung cấp hệ thống tri thức toàn diện về Đắk Lắk, từ điều kiện tự nhiên, địa lý dân cư đến đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội và tất cả lĩnh vực của đời sống Trong đó đặc biệt ở

Trang 15

phần thứ ba của địa chí đề cập đến chủ đề văn hóa xã hội khái quát của các dân tộc Đắk Lắk Từ đó giúp người nghiên cứu có cái nhìn tổng quát về Đắk Lắk cũng như các dân tộc cư trú ở nơi đây mà dân tộc bản địa chính là người Êđê

Tác phẩm Văn hóa dân gian Êđê do Ngô Đức Thịnh chủ biên (1993), Sở văn

hóa - thông tin Đắk Lắk xuất bản, đã nghiên cứu các hình thức sinh hoạt văn hóa đa dạng, phong phú mang đậm chất Tây Nguyên của dân tộc Êđê, từ đó tác giả cũng

đề xuất một số giải pháp nhằm gìn giữ các hoạt ðộng vãn hóa trong quá trình hội nhập ở nước ta

Công trình Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam (1996) do Ngô

Đức Thịnh chủ biên, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh, trong công trình nghiên cứu này các tác giả đã phác thảo phương án phân vùng văn hóa thành 7 vùng lớn và 26 tiểu vùng trong đó có cùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên Những đặc trưng văn hóa cơ bản của vùng Trường Sơn - Tây Nguyên được đề cập rõ nét thông qua phương thức sản xuất nương rẫy, nguyên tắc ứng xử xã hội Các tác giả cũng đã đề cập tới thực trạng văn hóa dân gian Tây Nguyên dưới tác động của các yếu tố khách quan từ đó cần có những định hướng bảo tồn, phát huy phù hợp

Hay đến tác phẩm Luật tục Êđê: tập quán pháp do Ngô Đức Thịnh chủ biên

(1996), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội đã tập hợp các hương ước và luật tục gồm

236 điều được chia thành 11 chương, quy định những điều về quan hệ hôn nhân (48 điều), quan hệ cha mẹ - con cái (6 điều), các vi phạm lợi ích cộng đồng (26 điều)…

có một sức mạnh răn đe, giáo dục đối với mỗi một người dân tộc Êđê trong cuộc sống sinh hoạt và làm việc hàng ngày

Công trình Khảo cổ học tiền sử Đắk Lắk của GS.TS Nguyễn Khắc Sử

(2004), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tác phẩm là công trình khoa học giới thiệu cho người đọc một bức tranh khá rõ nét về thiên nhiên và con người Đắk Lắk, về các dân tộc bản địa ở Đắk Lắk với những nét văn hóa truyền thống mang đậm chất Tây Nguyên, những di tích, di vật thời tiền sử, văn hóa tiền sử Đắk Lắk ở nét phác thảo

Tác phẩm Văn hóa ẩm thực của người Êđê (2009) và Văn hóa mẫu hệ của

người Êđê (2010) của TS Buôn Krông Tuyết Nhung Trong tác phẩm Văn hóa ẩm

Trang 16

thực của người Êđê tác giả đã có những nghiên cứu tổng quan về người Êđê trong

chương 1, bao gồm kinh tế - xã hội truyền thống và các đặc điểm văn hóa Chương

2, tác giả trình bày về cách thức ăn uống và các món ăn, đồ uống trong từng hoàn cảnh Chương 3, trình bày về văn hóa ứng xử trong bữa ăn của cộng đồng Êđê Thông qua việc nghiên cứu ẩm thực, quan niệm về ăn uống đã phản ánh cách ứng

xử của dân tộc Êđê với thiên nhiên và trong cộng đồng Còn trong tác phẩm Văn

hóa mẫu hệ của người Êđê, thông qua hệ thống sử thi tác giả nghiên cứu chế độ

mẫu hệ với việc trình bày rõ nét các quan niệm của dân tộc Êđê về các mối quan hệ

xã hội, quan hệ hôn nhân, gia đình

Công trình Nghi lễ - lễ hội người Êđê (2010) của tác giả Trương Bi đã mô tả

quy trình thực hiện các nghi lễ và lễ hội quan trọng trong đời sống của dân tộc Êđê Trong chương 3, tác giả đề cập đến thực trạng và đề xuất một số giải pháp bảo tồn

hệ thống nghi lễ - lễ hội của người Êđê hiện nay

Và nhiều tác phẩm khác nhau đề cập đến những đặc trưng của dân tộc Tây

Nguyên nói chung và dân tộc Êđê tại Đắk Lắk nói riêng như: Tác phẩm Nghề thủ

công truyền thống của dân tộc Tây Nguyên của tác giả Linh Nga Niê Kdam (2010);

tác phẩm Hoa văn cổ truyền Đắk Lắk của tác giả Chu Thọ Sơn (2000); Tác phẩm

Truyện cổ Êđê (1978) do Y Điêng biên soạn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội; tác

phẩm Truyện cổ Êđê (1997) của tác giả Trương Bi, Y Thinh do Sở văn hóa thông tin

Đắk Lắk xuất bản…

Trên đây là những công trình khoa học trình bày và phân tích khá toàn diện những điều kiện địa lý, tự nhiên, dân cư, kinh tế và chính trị xã hội ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng để hình thành nên những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk với những đặc trưng văn hóa nổi bật Ngoài ra còn có rất nhiều tác phẩm nghiên cứu về văn hóa dân tộc Êđê mà người nghiên cứu chưa được tiếp cận

Thứ ba, đó là các công trình nói về thực trạng và việc bảo tồn phát huy giá trị

văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Êđê tại Đắk Lắk

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998) và Luật di sản văn hóa (2001)

Trang 17

là cột mốc của việc xây dựng đường lối và thể chế hóa đường lối văn hóa của Đảng và Nhà nước được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Có thể xem đây là một thành tựu trong hoạt động nghiên cứu và xây dựng luật pháp về bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Luật di sản văn hóa như cuốn “cẩm nang” giúp các nhà quản lý ở Trung ương và các địa phương trong đó có tỉnh Đắk Lắk thực thi việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước

Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Êđê, tỉnh Đắk Lắk đã đề ra những chủ trương, chính sách như: Nghị quyết số 63/2012/NQ-HĐND ngày 6/7/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh về Bảo tồn, phát huy di sản - không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2012-2015; Chỉ thị số 06/2012/CT-UBND ngày 28/12/2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc bảo tồn phát huy Di sản văn hóa các dân tộc ở Đắk Lắk trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Chỉ thị số 16-CT/TU ban hành ngày 20/06/2013 của Tỉnh ủy về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; Kế hoạch thực hiện chiến lược phát triển văn hóa đến năm

2015 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 2189/QĐ-UBND ngày 26/9/2014 về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020 và định hướng đến 2030; Kế hoạch số 79/KH-UBND ngày 17/12/2015 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc tổ chức Lễ hội Văn hóa truyền thống các dân tộc huyện Buôn Đôn năm 2016… Những chủ trương, chính sách trên đã và đang được thực hiện để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk

Ngoài những chủ trương, chính sách trên, liên quan đến chủ đề này phải kể đến

Công trình Văn hóa cổ truyền ở Tây Nguyên trong phát triển bền vững của PGS.TS

Đỗ Hồng Kỳ (2012), Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội Với lưu lượng 290 trang, trong cuốn sách này công việc đầu tiên của Đỗ Hồng Kỳ là tiếp cận, khảo sát và chỉ

ra được đặc thù chính của vùng văn hóa Tây Nguyên “chủ yếu là xã hội cổ truyền của các tộc người cư trú lâu đời ở Tây Nguyên” [36; tr.21], đó chính là không gian văn hóa cồng chiêng, những kiến trúc độc đáo hay những sinh hoạt lễ nghi…từ đó ông đặt ra câu hỏi là phải bảo tồn và phát huy nền văn hóa đó như thế nào trước

Trang 18

những nguyên nhân môi trường, kinh tế, xã hội, tôn giáo và ông cho rằng “Tương lai của văn hóa Tây Nguyên như thế nào phần lớn là tùy thuộc vào cách ứng xử của chúng ta với nền văn hóa đó” [36; tr.275]

Hay là tác phẩm Sự biến đổi những giá trị xã hội truyền thống của đồng bào

các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên

(2014), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nội dung cuốn sách tập trung phân tích về giá trị xã hội truyền thống và vai trò của nó trong đời sống xã hội, thực trạng biến đổi các giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Đồng thời, các tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm kế thừa và hát huy các giá trị xã hội truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số ở đây

Và rất nhiều những bài báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học bàn về chủ đề

này như: Vũ Đình Lợi, Cấu trúc gia đình Êđê, Tạp chí Dân tộc học, Số 3/1985; Nguyễn Khoa Điềm, Văn hóa trong cuộc sống hôm nay, Tạp chí Văn học nghệ thuật, số 7/2000; Ngô Đức Thịnh, Văn hóa dân gian và bản sắc văn hóa dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số 8/2001; Nguyễn Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hóa và

văn hóa dân tộc, Tạp chí văn học nghệ thuật số 4/2003; Tuyết Nhung Buôn Krông

(2013), Nhìn nhận bảo tồn di sản văn hóa truyền thống ở Tây Nguyên, Kỷ yếu hội

thảo khoa học “Về văn hóa Tây Nguyên” lần 2;…

Như vậy, nhìn chung các công trình trên đã khai thác những đặc điểm về văn hóa - xã hội với các giá trị văn hóa truyền thống nổi bật của các dân tộc Tây Nguyên, dân tộc Êđê tại Đắk Lắk Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chủ yếu mang tính khái quát hay chỉ đề cập ở một lĩnh vực riêng lẻ, có những công trình còn nặng về miêu tả các hiện tượng văn hóa mà chưa đi sâu vào nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê trong đời sống cộng đồng Trong việc phân tích sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống, phần lớn các công trình nghiên cứu sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam nói chung, hay đề cập tới các dân tộc thiểu số nói chung trên đất nước từ đó dẫn đến những giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa mang tính định hướng chung cho các vùng dân tộc thiểu số hay cụ thể hơn nữa là các dân tộc Tây Nguyên

mà chưa có công trình phân tích sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của dân

Trang 19

tộc Êđê trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay từ đó đưa ra giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk Tất cả các công trình trên là nguồn tư liệu quý cho tôi khi thực hiện nghiên cứu đề tài và trong chừng mực nhất định với vốn tri thức còn hạn hẹp, tôi hy vọng đề tài sẽ góp phần làm rõ được phần nào các nội dung còn thiếu sót, hạn chế như đã nói ở trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

 Mục đích nghiên cứu

Từ cơ sở hình thành, nội dung cơ bản và thực trạng sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk trong nền kinh tế thị trường, luận văn nhằm đưa ra các phương hướng, giải pháp góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk trong nền kinh tế thị trường hiện nay

 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau đây:

Thứ nhất, trình bày, phân tích những điều kiện địa lý - tự nhiên, điều kiện kinh

tế - xã hội và những đặc điểm về hoạt động sản xuất - kinh tế, các quan hệ xã hội hình thành nên giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk; các loại hình văn hóa vật chất (nhà ở, trang phục…), văn hóa tinh thần (phong tục, lễ nghi tôn giáo, tập quán pháp…) của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk; nội dung cơ bản trong giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk

Thứ hai, trình bày, phân tích làm rõ những yếu tố của kinh tế thị trường tác

động đến những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk; chỉ rõ thực trạng sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk dưới sự tác động của kinh tế thị trường; từ thực trạng sự biến đổi đó đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn xác định

Trang 20

đối tượng nghiên cứu là giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk

 Phạm vi nghiên cứu

- Văn hóa dân tộc Êđê tại Đắk Lắk là một lĩnh vực hết sức đa dạng và phong phú do đó luận văn không thể trình bày toàn bộ các vấn đề thuộc về giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk mà chủ yếu khai thác một cách có

hệ thống ở khía cạnh triết học nội dung cơ bản giá trị văn hóa truyền thống tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk và sự biến đổi những giá trị đó trong nền kinh tế thị trường, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê

- Đề tài khảo sát sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống ở một số huyện, thành phố nơi có người Êđê cư trú tương đối tập trung, gồm: Một số buôn ở thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Buôn Đôn, huyện Lắk, huyện Krông Pắk, huyện Krôngna

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

 Cơ sở lý luận

Thực hiện đề tài luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận là thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về văn hóa và chính sách văn hóa

 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận trên đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp:

- Phương pháp điều tra, nghiên cứu tiếp cận một cách hệ thống các tài liệu sách, báo, công trình, tài liệu văn bản địa phương, ban nghành để từ đó sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, logic, so sánh…

- Phương pháp quan sát - tham dự: Khi thực hiện phương pháp này, nhờ sự giúp đỡ của các thành viên là người dân tộc bản địa, người nghiên cứu trực tiếp tham gia vào cuộc sống thường nhật và các hoạt động tín ngưỡng - tôn giáo, lễ hội… của cộng đồng dân tộc Êđê tại Đắk Lắk nhằm thu thập thông tin thông qua ghi chép điền dã và hình ảnh thực tế

- Phương pháp phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn (phỏng vấn ít chính thức) các đối tượng là người dân tộc Êđê sống tại Đắk Lắk về giá trị văn hóa truyền thống

Trang 21

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

 Ý nghĩa khoa học

Luận văn góp phần trình bày, phân tích một cách hệ thống những nét đặc sắc về giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk; đồng thời phân tích và chỉ ra các chiều hướng biến đổi của nó dưới góc độ triết học từ đó có những nhận thức đúng đắn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Êđê nói riêng

và các dân tộc nói chung

 Ý nghĩa thực tiễn:

Thứ nhất, những nội dung, đặc điểm của các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đăk Lắk mà luận văn khái quát có thể góp phần khẳng định giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Êđê trong phát triển đời sống xã hội tỉnh Đắk Lắk Thứ hai, thực trạng sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Êđê tại Đắk Lắk, phương hướng, giải pháp của luận văn góp phần cho các cơ quan, ban ngành của tỉnh Đắk Lắk có thể tham khảo, phục vụ cho quá trình xây dựng, phát triển và bảo tồn nền văn hóa của tỉnh Đắk Lắk

Ngoài ra luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với những người quan tâm, nghiên cứu, giảng dạy các môn Văn hóa học, Triết học, Dân tộc học…ở các trường cao đẳng, đại học và những người làm công tác về văn hóa tại tỉnh Đắk Lắk

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết

Trang 22

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC ÊĐÊ TẠI ĐẮK LẮK

1.1 KHÁI QUÁT NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH GIÁ

TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC ÊĐÊ TẠI ĐẮK LẮK

1.1.1 Khái niệm chung về văn hóa, văn hóa truyền thống, giá trị, giá trị văn hóa

Để tìm hiểu nội dung cốt lõi của luận văn là giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk thì điều quan trọng nhất chúng ta cần phải hiểu đó là giá trị văn hóa truyền thống là gì? Nhưng để hiểu được một cách đầy đủ và chính xác khái niệm “giá trị văn hóa truyền thống” luận văn sẽ lần lượt đi vào tìm hiểu những khái niệm, phạm trù cơ bản có tính chất cơ sở lý thuyết cho nội dung chủ yếu của luận văn này, đó là: khái niệm văn hóa, văn hóa truyền thống, giá trị, giá trị văn hóa

Trước tiên, Luận văn sẽ đi vào tìm hiểu cặp khái niệm có tính chất nền

tảng thứ nhất là văn hóa, văn hóa truyền thống Khái niệm văn hóa, văn hóa

truyền thống là những phạm trù cơ bản mà giới nghiên cứu văn hóa luôn có khát vọng được giải mã Khát vọng càng lớn thì theo đó, quan điểm lý giải cũng nhiều

Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa, đa tầng, do vây, mỗi người, từ các góc

độ chuyên môn riêng hay do những mục đích nhận thức khác nhau sẽ có những quan niệm hay định nghĩa khác nhau về văn hóa E Taylor trong công trình

Primitive Culture (1874) lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa khái niệm văn hóa và từ

đó đến nay đã có hàng trăm định nghĩa văn hóa ra đời Thập niên 50 của thế kỷ

XX, A.L Kroeber và A.C Kluckholn trong công trình của mình đã liệt kê có hơn

150 định nghĩa văn hóa [63; tr.18] Cho tới nay, con số định nghĩa này có lẽ tăng lên không ngừng

Ở phương Đông, từ ngữ “văn hóa” đã xuất hiện rất sớm từ thời Tây Hán (thế

kỷ II TCN) ở Trung Quốc Trong bài, “Chi Vũ”, sách Thuyết Uyển, Lưu Hương viết: “Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước hết dùng văn đức, sau mới dùng vũ lực

Trang 23

Phàm phu dùng vũ lực thì không khuất phục nổi, văn hóa không sửa đổi được cuối cùng sẽ bị suy kiệt”

Ở phương Tây, từ ngữ “Văn hóa” (tiếng La tinh là: Cultura) khởi đầu có ý nghĩa là vỡ đất, chăm bón đất đai trong lao động nông nghiệp Sau này chuyển nghĩa nói về tính chất khai trị, tính chất có giáo dục, có học vấn của con người Ngay từ những năm trước công nguyên, Xixêrôn đã coi triết học như là “văn hóa của trí tuệ”, ông khẳng định, cần phải rèn luyện và vươn tới trí tuệ như người nông dân vun xới đất đai Ông nhìn thấy nội dung cơ bản của văn hóa là sự phát triển các năng lực tinh thần của con người

Có thể thấy có nhiều loại định nghĩa khác nhau Có những loại định nghĩa coi nội hàm văn hóa rất rộng: “Văn hóa là toàn bộ những gì do con người và xã hội con người tạo ra” hay “Văn hóa là cái đối lập với tự nhiên, cái gì không phải là tự nhiên thì là văn hóa, và ngược lại” Có định nghĩa khuôn văn hóa vào phạm vi khá hẹp, coi văn hóa chỉ là những sáng tạo tinh thần,… Phần nhiều các định nghĩa thể hiện rõ góc độ tiếp cận của người nghiên cứu, như người ta tiếp cận văn hóa từ góc

độ thích ứng môi trường, coi văn hóa là sự rèn luyện, giáo dục, coi văn hóa là chuẩn mực ứng xử xã hội, nhân cách, là tâm lý, là quan hệ… [99; tr.36]

Một quan niệm về văn hóa dễ hiểu, gần gũi với đời sống hơn, đó là coi văn hóa gắn với các phương thức hoạt động và sinh hoạt của con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [31; tr.458] Tương tự như vậy là cách hiểu văn hóa của nhà nghiên cứu Đào Duy Anh: Văn hóa tức là cách sinh hoạt của con người

UNESCO trong tuyên bố quốc tế về tính đa dạng văn hóa (2001) đã đưa ra một cách hiểu “Văn hóa nên được xem như một tập hợp các đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội, ngoài văn học, nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng”

Trang 24

Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn cách định nghĩa văn hóa: Văn hóa là

hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình Ở đây, chúng tôi muốn khẳng định văn hóa là những sáng tạo

của con người, mang lại giá trị cho con người, trong đó bao gồm cả giá trị vật chất

và giá trị tinh thần Điều đó cũng có nghĩa, không phải tất cả những gì con người tạo ra đều là văn hóa, mà chỉ có những cái đã kết tinh thành giá trị thì mới là cốt lõi của văn hóa

Từ truyền thống trong tiếng Việt hiện đại là một từ gốc Hán Việt, do vậy, nó

không thể không chịu ảnh hưởng quan niệm của người Trung Hoa về khái niệm

này Theo Từ điển Từ Hải, từ truyền thống được định nghĩa “Truyền thống là sức

mạnh của tập quán xã hội được lưu truyền lại từ lịch sử Nó tồn tại ở các lĩnh vực

và chế độ (chế độ xã hội), tư tưởng, văn hóa, đạo đức Truyền thống có tác dụng khống chế vô hình đến hành vi xã hội của con người Truyền thống là biểu hiện tính kế thừa của lịch sử” [65; tr.18]

Bách khoa thư Từ điển của Liên Xô giải thích khái niệm truyền thống là

“những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội truyền từ đời này qua đời khác và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài, truyền thống được thể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực và hành vi, các giá trị,

tý týởng, phong tục, tập quán và lối sống… Truyền thống tác ðộng, khống chế ðến mọi xã hội và tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội” [37; tr.10] Định nghĩa này

đã cho chúng ta biết được những thành tố của truyền thống (văn hóa truyền thống) nhưng rõ ràng vẫn chưa đầy đủ và thiếu tính khái quát Tuy vậy, ưu điểm của nó là

đã chỉ ra được vai trò quan trọng của truyền thống trong đời sống xã hội của con người Truyền thống có tác dụng điều chỉnh, “khống chế” hành vi của con người ở mọi lĩnh vực và trong mọi xã hội

Theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm truyền thống được hiểu như sau: “1

Thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế

hệ này sang thế hệ khác; 2 Có tính chất truyền thống, được truyền lại từ các đời

Trang 25

trước” [48; tr.1034] Có thể thấy rằng, hai phương diện được liệt kê trong cách giải thích này vẫn chưa được bóc tách toàn bộ những nội dung bản chất của khái niệm truyền thống và nó cũng chỉ mới đề cập đến một thuộc tính lưu truyền của truyền thống mà thôi

Phan Huy Lê, trong công trình Tìm về cội nguồn văn hóa Việt Nam đã cho

rằng: “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những thói quen trong

tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [37; tr.1046] Do đó, truyền thống theo Phan Huy Lê thì bao giờ cũng mang ba đặc trưng

cơ bản là tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền Tất nhiên, những đặc trưng

đó chỉ có ý nghĩa tương đối vì bản thân truyền thống cũng có quá trình hình thành, phát triển và biến đổi Mỗi khi hoàn cảnh lịch sử, cơ sở kinh tế xã hội và hệ tư tưởng thay đổi thì truyền thống cũng có những biến đổi, vừa có mặt kế thừa và phát triển,

có mặt đào thải và loại bỏ, vừa có sự hình thành những truyền thống mới Vậy nên, truyền thống còn mang tính lịch sử Truyền thống mặc dù bắt nguồn từ lịch sử nhưng không phải mọi thứ thuộc lịch sử đều là truyền thống mà chỉ những gì được người ta sao phỏng, kế thừa mới được gọi là truyền thống Tính lịch sử của truyền thống yêu cầu trong nhận thức và đánh giá luôn luôn phải đứng trên quan điểm phát triển Bởi

vì “Thái độ tuyệt đối hóa, lý tưởng hóa các giá trị truyền thống, coi đó là khuôn mẫu vĩnh hằng của bản sắc dân tộc sẽ dẫn đến ý thức phục cổ, bằng lòng với quá khứ và quay lưng lại với những trào lưu tiến hóa của thời đại, cản trở công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Trái lại thái độ phủ định truyền thống, coi truyền thống chỉ là sản phẩm và nguyên nhân của tình trạng nghèo nàn và lạc hậu của đất nước sẽ dẫn đến xu hướng hiện đại hóa bằng con đường ngoại nhập mà hậu quả không tránh khỏi là đánh mất bản sắc dân tộc, tự hủy hoại sức mạnh nội sinh, làm mất tính bền vững và ổn định của sự phát triển” [37; tr.1407]

Theo quan niệm của Trần Quốc Vượng thì: “Truyền thống” như là một hệ thống các tính cách, các thế ứng xử của một cộng đồng, được hình thành trong lịch

sử, trong môi trường sinh thái và nhân văn nhất định, trở nên ổn định, trường tồn nhưng không vĩnh cữu, có thể được định chế hóa bằng luật hay bằng lệ (phong tục

Trang 26

tập quán) và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, có thể gọi là sự di truyền văn hóa, bên cạnh sự di truyền sinh vật về thân xác để đảm bảo tính đồng nhất của cộng đồng” [81; tr.102] Về cơ bản, cách hiểu này cũng hoàn toàn thống nhất với cách hiểu của Phan Huy Lê khi xác nhận những đặc trưng cơ bản của truyền thống là tính lịch sử, tính cộng đồng, tính ổn định, tính trao truyền

Còn Trần Văn Giàu thì cho rằng: “Truyền thống là những đặc tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng

đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực” [25; tr.92] Như vậy, khi đưa ra cách hiểu về truyền thống, Trần Văn Giàu đã thừa nhận trong truyền thống có đầy đủ những mặt tích cực, lẫn mặt tiêu cực Cách hiểu này cho thấy một cách nhìn rất khách quan, tuy nhiên trong cách liệt kê những thành tố thuộc về truyền thống thì dường như còn

“nghèo nàn” khi chỉ mới đề cập đến đức tính và thói tục Truyền thống phải phong phú hơn rất nhiều

Nguyễn Thừa Hỷ cũng cho rằng: “Truyền thống văn hóa là những hằng số văn hóa được kết tinh trong đời sống của một cộng đồng người và được lưu truyền qua nhiều thế hệ lịch sử Nó thường mang tính phổ biến trong cộng đồng và lại là những nét đặc thù nổi trội của cộng đồng đó khi đối sách với những cộng động khác Nó mang tính ổn định và được biểu hiện trong tâm lý, tính cách, nếp nghĩ, lối sống của các thành viên cộng đồng” [35; tr.486]

Như vậy, Văn hóa truyền thống được hiểu như là văn hóa gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hóa hiện đại thời đại công nghiệp hóa Tất nhiên, khái niệm văn hóa truyền thống để chỉ những hiện tượng, những giá trị đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì không chỉ trong xã hội tiền công nghiệp mới có mà như một tập quán nó tồn tại ngay trong xã hội công nghiệp, xã hội hiện đại Hơn thế nữa, còn có sự kết nối hữu cơ giữa văn hóa truyền thống với văn hóa hiện đại, mà sự kết hợp đó thể hiện trong từng hiện tượng hay giá trị văn hóa ngày nay

Sau khi tìm hiểu khái niệm văn hóa, văn hóa truyền thống Luận văn sẽ tiếp tục đi vào tìm hiểu cặp khái niệm có tính chất nền tảng thứ hai là giá trị, giá trị văn hóa

Trang 27

Khái niệm giá trị có lịch sử từ lâu đời, bắt nguồn từ thời Cổ đại ở trong triết học Hy Lạp, Trung Quốc, Ấn Độ… khi bàn đến cái cao cả, cái chân, cái thiện, cái

mỹ, cái ích trong cuộc sống, nhưng mãi thế kỷ XIX trở đi thì khái niệm giá trị mới trở thành khái niệm trung tâm của giá trị học với tính cách là một khoa học và là một thuật ngữ được sử dụng trong rất nhiều khoa học khác nhau như Toán học, Xã hội học, Triết học, Nghệ thuật học, Văn hóa học… Do vậy đối với mỗi khoa, khái niệm này mang những hàm nghĩa khác nhau

Trong các ngôn ngữ phương Tây, thuật ngữ “giá trị” (value) bắt nguồn từ valere của tiếng La-tinh có nghĩa là “khỏe, mạnh, tốt, đáng giá” ban đầu được dùng

để chỉ việc một thứ gì đó đáng giá, trước hết là theo nghĩa giá trị trao đổi của kinh

tế học mà nhà kinh tế học chính trị Adam Smith đã nói đến trong tác phẩm nổi

tiếng của mình nhan đề Inquyry into the Nature and Causes of the Wealth of

Nations (Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải các quốc gia) xuất bản năm

Dưới góc độ Nhân loại học văn hóa, Clyde Kluckhohn lại cho rằng: “Giá trị

là những quan niệm thầm kín hay bộc lộ về các điều ao ước riêng của cá nhân hay của nhóm Những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn các phương thức, phương tiện

và mục tiêu của hành động” [63; tr.21] Như vậy, mọi hành vi của con người vốn bị ảnh hưởng bởi cái gọi là giá trị

Các nhà nghiên cứu theo quan điểm mácxít, trên cơ sở quy định của tồn tại

xã hội đối với ý thức xã hội đưa ra những quan điểm duy vật về giá trị như sau:

Các tác giả của cuốn Từ điển triết học do M Rôdentan và P Iuđin chỉ đạo biên

soạn, tái bản lần thứ ba năm 1972 đã nêu ra định nghĩa về giá trị Theo đó, giá trị

Trang 28

là “những khẳng định xã hội đặc biệt về những đối tượng của thế giới bao quanh, biểu hiện các ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của những đối tượng ấy đối với con người và xã hội (hạnh phúc, cái thiện và cái ác, cái đẹp và cái xấu, thể hiện ra trong các hiện tượng của đời sống xã hội hoặc của thiên nhiên)” [3; tr.26]; Các tác

giả cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư Xôviết (1975) cho rằng: “Giá trị là sự khẳng

định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới xung quanh đối với con người, giai cấp hoặc toàn bộ xã hội nói chung Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên mà là bởi tính chất cuốn hút của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong tâm tưởng, tâm thế và mục đích” [50; tr.462]

Như vậy, quan điểm duy vật mác xít cho rằng: giá trị là một hiện tượng mang tính xã hội Hơn nữa, nó là một hiện tượng chức năng (chức năng đánh giá) nên nhận thức phải có tính chủ thể, khách thể Cái gì không liên quan đến con người và đời sống xã hội thì cũng không tồn tại trong phạm trù giá trị

Ở Việt Nam, thuật ngữ giá trị đã có mặt trong đời sống ngôn ngữ từ lâu đời,

và vì vậy mà nó cũng thường xuyên được nghiên cứu và khảo sát theo nhiều góc

nhìn khác nhau Do tính đa nghĩa vốn có của mình, thuật ngữ giá trị được Từ điển

tiếng Việt trình bày theo 4 cách hiểu như sau: “(1) Cái làm cho một vật có ích lợi, có

ý nghĩa, là đáng quý về một mặt nào đó; (2) Tác dụng, hiệu lực; (3) Lao động xã hội của những người sản xuất hàng hóa kết tinh trong sản phẩm hàng hóa; (4) Số đo của một đại lượng, hay số được thay thế bằng một kí hiệu [48; tr.337-338] Trong 4 cách hiểu trên, nếu phải phân nhóm chúng theo một tiêu chí nào đấy thì rõ ràng cách hiểu thứ nhất đã tự bộc lộ mình rất khác so với ba cách hiểu còn lại Và ở đây, theo sự cảm nhận của chúng tôi dường như cách hiểu thứ nhất có vẻ thiên về góc nhìn của Văn hóa học hơn, còn ba cách hiểu còn lại thì thuộc về cái nhìn của Kinh tế học Bởi

vì, chỉ có cái nhìn của Văn hóa học thì giá trị mới được quan tâm ở cả góc độ vật chất và tinh thần, còn góc nhìn Kinh tế học thì thiên về cái vật chất nhiều hơn Hơn thế nữa, cái giá trị đối với Kinh tế học là giá trị hữu hạn và nó nằm trong tầm kiểm

Trang 29

soát của chủ thể, còn giá trị của văn hóa thì không như vậy Giá trị trong văn hóa tự vận hành lấy chính mình, sự tồn tại của nó là khách quan so với con người, hay nói cách khác là nó mang giá trị tự thân và con người thì bị chi phối bởi chính nó

Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 2), giá trị được định nghĩa: 1

“Phạm trù triết học, xã hội học chỉ tính có ích, có ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người Ở đây, các sự vật, hiện tượng được xem xét dưới góc độ đáng hay không đáng mong muốn, có ý nghĩa tích cực hay không đối với đời sống xã hội… 2 Phạm trù kinh tế nói lên thuộc tính của hàng hóa do lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa (lượng lao động xã hội cần thiết đã được vật hóa trong hàng hóa) quyết định Mọi sản phẩm do con người sản xuất ra đều chứa đựng lao động của con người, nhưng chỉ trong những điều kiện lịch sử nhất định thì lao động đó mới mang hình thức xã hội của giá trị…” [44; tr.97] Như vậy, cách định nghĩa giá trị trên theo hai khía cạnh là triết học và kinh tế

Theo Nguyễn Duy Bắc: “Giá trị là một khái niệm chỉ ý nghĩa của các hiện tượng vật chất cũng như tinh thần mà mỗi cộng đồng người quan tâm dựa trên cơ

sở thỏa mãn nhu cầu hay lợi ích nhất định” [3; tr.21] Cách hiểu này tuy ngắn gọn,

dễ hiểu nhưng lại chưa chỉ ra được thuộc tính bản chất nhất của giá trị Bởi vì, nhu cầu và lợi ích của con người thì vô cùng đa dạng, thậm chí có những nhu cầu có phần tiêu cực Cho nên, không phải tất cả những gì thỏa mãn được nhu cầu và lợi ích của con người là thuộc về giá trị, mà thật ra, chỉ những cái hướng đến thỏa mãn nhu cầu chân chính, tốt đẹp, nhân văn của con người thuộc về giá trị

Còn Ngô Đức Thịnh cùng các cộng sự, trong cuốn Bảo tồn, làm giàu và phát

huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập cho rằng:

“Giá trị là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về bất cứ một hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói theo cách của các nhà triết học phương Tây một thời, đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Một khi những nhận thức giá trị ấy hình thành và định hình thì nó chi phối cách suy nghĩ, niềm tin, hành vi, tình cảm của con người” [63; tr.22] Giá trị

Trang 30

một khi đã hình thành rồi thì chắc chắn nó sẽ ảnh hưởng một cách sâu sắc đến tâm

lý, tính cách, ứng xử của con người thuộc về hệ giá trị văn hóa đó

Trong công trình Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và

hội nhập, Phạm Minh Hạc cùng các cộng sự của ông hiểu khái niệm giá trị phải

bao gồm các thuộc tính sau:

1 Giá trị là sản phẩm tinh thần của con người, nhóm người, cộng đồng dân tộc và người làm ra;

2 Giá trị là phẩm giá, phẩm chất của con người, nhóm người, cộng đồng dân tộc và loài người;

3 Giá trị là biểu hiện mối quan hệ của con người dưới góc độ lợi ích, đánh giá đối với tồn tại xung quanh [39; tr.50-51]

Như vậy, mặc dù cách tiếp cận và sự diễn đạt cách hiểu về thuật ngữ có khác nhau nhưng rõ ràng các nhà nghiên cứu đã gặp nhau trong những điểm chung nhất thuộc về bản chất của khái niệm Theo đó, giá trị chính là sản phẩm của quá trình

so sánh, đánh giá, nó chỉ tồn tại ở con người và làm thỏa mãn những nhu cầu của con người

Vậy nên, trên cơ sở tiếp thu và chọn lọc quan điểm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi đồng tình với cách định nghĩa khái niệm giá trị theo Từ điển bách khoa

Việt Nam: “Giá trị là phạm trù triết học, xã hội học chỉ tính có ích, có ý nghĩa của

những sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người Ở đây, các sự vật, hiện tượng được xem xét dưới góc độ đáng

hay không đáng mong muốn, có ý nghĩa tích cực hay không đối với đời sống xã hội”

Giá trị bao giờ cũng là kết quả của sự so sánh và đánh giá nên nó mang tính

chủ quan Và chính nhờ quá trình so đo, cân nhắc này mà tính chủ quan của giá trị

cần rõ ràng hơn “Phạm trù “Giá trị” hình thành trong nhận thức của con người bằng con đường so sánh các hiện tượng khác nhau So sánh từ góc nhìn của con người và theo tiêu chí do con người đặt ra tạo nên tính chủ quan của giá trị” [78; tr.97] Con người trên toàn thế giới này không chỉ giống nhau ở “giọt nước mắt cùng mặn, giọt máu cùng đỏ” mà còn giống nhau ở chỗ tất cả họ đều mong muốn

đi trên hành trình của cái đẹp, cái đúng, cái thiện… Và đã là hành trình thì có nhiều

Trang 31

ngã rẽ, mỗi người có một cách, mỗi dân tộc có một sự lựa chọn Cho nên nói đến giá trị là nói đến đánh giá, “tìm ra ý nghĩa của sự vật này, sản phẩm kia mà chủ thể quan tâm, có ước muốn đạt được để thực hiện một mục đích nào đấy” [39; tr.23] Mỗi giá trị phải được đo bằng những thước đo nhất định Giá trị được đo bằng

thước đo riêng của một cá nhân thì nó mang tính chủ quan, nhưng giá trị được đo bằng thước đo chung của cộng đồng thì nó mang tính khách quan Vậy nên, bên

cạnh tính chủ quan thì giá trị còn mang tính khách quan Tính chủ - khách quan đã thể hiện được đúng bản chất của tất cả các sự vật, hiện tượng Bởi lẽ, bản chất của cuộc sống đã thường mang tính hai mặt, âm dương hòa hợp và chuyển hóa cho nhau Chính vì thế cần phải tùy vào quy mô của thước đo mà kết luận sự vật mang thuộc tính gì

Con đường so sánh, đánh giá để hình thành nên giá trị cũng dẫn đến một hệ

quả nữa là tính tương đối Có thể trong bối cảnh này, thời gian này, không gian này

theo sự đánh giá của cộng đồng thì một sự vật, hiện tượng được cho là có giá trị Nhưng nếu thay đổi một trong ba thông số trên thì giá trị của sự vật hiện tượng sẽ

bị biến đổi: “Giống như văn hóa, hệ giá trị cũng mang tính tương đối Do vây, để đánh giá tính giá trị hay phi giá trị, giá trị cao hay thấp thì phải đặt nó trong tọa độ

về mặt không gian và thời gian và chủ thể của văn hóa” [63; tr.26] Mái tóc huyền, hàm răng đen… là một trong những tiêu chí của cái đẹp dành cho người phụ nữ ngày xưa nhưng ngày nay đã không còn phù hợp và được thay vào đó là những tiêu chí khác để đánh giá Thực tế cho thấy, vốn dĩ không có một sự tồn tại nào gọi là vĩnh cữu mà giá trị văn hóa lại gắn với chủ thể là con người - đối tượng luôn có khuynh hướng sáng tạo, tìm tòi cái mới để thỏa mãn nhu cầu vô cùng đa dạng,

phong phú của mình Cho nên, mọi giá trị đều mang tính tương đối và có thể biến

đổi khi các tiêu chí của sự đánh giá thay đổi

Tuy nhiên, sự thay đổi giá trị thường khó khăn và lâu dài hơn so với cái thực tiễn sản sinh ra nó Bởi vì bản chất của giá trị chính là những cái hay, cái tốt, cái đẹp đã có sự kiểm chứng qua thời gian nên nó tồn tại dai dẳng Chỉ có điều là giá trị không phải là cái gì tuyệt đối và bất biến mà nó cũng giống như văn hóa, luôn có quá trình vận động và phát triển Mỗi thời đại sẽ có một thước đo giá trị khác nhau

Trang 32

nên giá trị còn mang tính lịch sử Đánh giá về giá trị cần có quan điểm phát triển,

biện chứng thì mới có thể đưa ra những kết luận chính xác nhất

Vậy, giá trị văn hóa truyền thống là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Giá trị văn hóa hướng đến thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân, thiện, mỹ), từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất Người Giá trị văn hóa truyền thống luôn ẩn tàng trong bản sắc văn hóa, di sản văn hóa, biểu tượng, chuẩn mực văn hóa Chính vì vậy mà văn hóa thông qua hệ giá trị của nó góp phần điều tiết sự phát triển xã hội

Phân loại giá trị cũng là vấn đề hết sức phức tạp, phong phú và đa dạng tùy thuộc vào quan niệm của mỗi trường phái, mỗi nhà nghiên cứu về giá trị Có lẽ cách chia bao quát hơn cả là phân chia thành giá trị vật chất (đáp ứng nhu cầu vật chất của con người như ăn, mặc, ở, đi lại…) và giá trị tinh thần (đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người về tư tưởng, đạo đức, tôn giáo, văn hóa nghệ thuật, thẫm mỹ…) Hay cách phân chia thành giá trị tự nhiên và giá trị xã hội: giá trị tự nhiên là giá trị vốn có của các sự vật và hiện tượng như nước, ánh sáng, không khí… chúng rất cần thiết cho sự sống của con người Những giá trị này không thuộc đối tượng nghiên cứu của triết học - xã hội học; Còn giá trị xã hội là những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, con người tác động đến tự nhiên, cải biến

tự nhiên tạo ra các sản phẩm như lương thực, thực phẩm các công cụ phục vụ cho ăn, mặc, ở, đi lại và những sản phẩm tinh thần đáp ứng cho nhu cầu tinh thần của con người… Những giá trị này là đối tượng nghiên cứu của triết học - xã hội học

Hai học giả Việt Nam là Đoàn Văn Chúc và Hoàng Vinh đều có một cách phân loại giống nhau, tức là căn cứ vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống con người mà phân giá trị thành lĩnh vực, kiểu loại

Đoàn Văn Chúc chia giá trị thành năm loại:

- Giá trị thuộc phẩm chất tự nhiên, tức là sự tương tác giữa con người với tự nhiên để tạo ra những ước muốn của con người, như mạnh khỏe, sống lâu, thân thể đẹp, không dị dạng…;

Trang 33

- Giá trị thuộc về trật tự kinh tế, như tâm đa: phúc, lộc, thọ hay phú, quý, thọ, khang, minh… trong văn hóa phương Đông;

- Giá trị thuộc về trật tự tâm linh, tức vũ trụ quan và nhân sinh quan của con người;

- Giá trị thuộc về trật tự đạo đức;

- Giá trị thuộc về trật tự thẫm mỹ [12; tr.78]

Còn Hoàng Vinh thì chia giá trị thành các lĩnh vực:

- Giá trị thuộc về lĩnh vực tự nhiên;

- Giá trị thuộc về lĩnh vực kinh tế;

- Giá trị thuộc về lĩnh vực tri thức;

- Giá trị thuộc về lĩnh vực chính trị;

- Giá trị thuộc về lĩnh vực thẩm mỹ;

- Giá trị thuộc về lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng [99; tr.56-57]

Từ việc đi tìm hiểu những khái niệm chung về văn hóa, văn hóa truyền thống, giá trị, giá trị văn hóa, những quan niệm về sự phân loại giá trị nêu trên Đó chính

là những cơ sở lý luận của luận văn để đi vào nghiên cứu giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk

1.1.2 Điều kiện địa lý - tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk với sự hình thành những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê tại Đắk Lắk

Ngày nay nói đến Đắk Lắk là người ta nghĩ ngay tới một vùng đất bazan mênh mông, trù phú với bạt ngàn cà phê, cao su cùng với những địa danh lịch sử, thắng cảnh nổi tiếng như: Hồ Lắk, thác Đ’rai Sáp, thác K’ma, kiến trúc tháp Chămpa Yang Prông, khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, vườn quốc gia Chư Yang Sin, vườn quốc gia Yok Đôn… với nhiều loài động thực vật quý hiếm, đặc biệt là voi Ngoài thiên nhiên kỳ thú, nói đến Đắk Lắk là nói đến nền văn hóa truyền thống đặc sắc, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc với trường ca Đam San, Xinh Nhã, với không gian văn hóa cồng chiêng, là nói đến không gian lễ hội, sản phẩm làng nghề truyền thống, du lịch sinh thái… Đây là những tài sản vô giá làm nên diện mạo đặc thù của địa phương và là điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước

Trang 34

Về điều kiện địa lý - tự nhiên của tỉnh Đắk Lắk: Đắk Lắk là một trong năm

tỉnh của vùng Tây Nguyên, ở phía Tây dãy Trường Sơn và giáp biên giới phía Tây của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Nằm ở trung tâm cao nguyên miền Trung Việt Nam, Đắk Lắk được xác định trong tọa độ địa lý: 12°9’45” - 13°25’06” vĩ độ Bắc và 107°28’57” - 108°59’37” kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Đông giáp hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên, phía Tây Nam giáp tỉnh Đắk Nông và phía Tây giáp với Vương quốc Campuchia Địa hình Đắk Lắk có đặc trưng nổi bật là sự tồn tại mờ nhạt của vùng trũng giữa núi và sự hiện diện đậm nét của các cao nguyên, bình nguyên bên cạnh các sơn khối nhỏ Địa hình núi chiếm diện tích không lớn, ở phía Tây và Tây Nam, bao gồm các dãy núi vừa và nhỏ có cao độ 500m đến trên 1000m như các sơn khối Đan Sna Ta Đung, Tây Khánh Hòa, Bon Non, Chư Bơ Ra In Địa hình cao nguyên chiếm diện tích chủ yếu,

có bề mặt tương đối phẳng, thường là các đồi rộng liên tiếp, độ dốc 0 - 20° Địa hình bình nguyên gồm huyện Ea Súp ở phía Tây Bắc, có độ phẳng hầu như tuyệt đối, dốc dần từ Đông sang Tây Địa hình trũng giữa núi chiếm diện tích không lớn, chủ yếu là vùng trũng Krông Pắk - Lắk Với sự hiện diện của các cao nguyên, bình nguyên, bình sơn, địa hình Đắk Lắk nhìn chung tương đối bằng phẳng Có thể gọi các cao nguyên, bình nguyên Đắk Lắk là những đồng bằng trên núi

Thật đúng với cái tên Đắk là nước, hồ Đắk Lắk là một tỉnh có hệ thống sông ngòi và đầm hồ khá dày đặc và đa dạng Có thể chia hệ thống sông Đắk Lắk ra làm hai nhánh chính: Nhóm sông chảy về phía Tây đổ vào sông Mê Kông, với những sông là phụ lưu của sông Srêpok như Ea Krông và Ea H’Leo, sông Ea Krông lại do chi lưu là Krông Ana (sông cái) và Krông Nô (sông đực), cùng bắt nguồn từ dãy Chư Yang Sin phía Đông Nam Đắk Lắk và hợp lưu tại địa bàn huyện Krông Nô; Nhóm sông chảy về biển Đông: sông Ba, cùng với sông nhánh Ayun phát nguyên từ cao nguyên PleiKu, chạy ngang dãy Trường Sơn, cắt cao nguyên miền Trung thành hai cao nguyên Pleiku và Đắk Lắk Ngoài những sông lớn thì hệ thống suối và sông nhỏ cũng khá dày đặc Đến Đắk Lắk, ta có thể bắt gặp suối ở bất cứ một xã nào, vùng nào Đây cũng là nguồn nước quan trọng cho sinh hoạt và nông nghiệp Đặc điểm chung của hệ thống sông suối Đắk Lắk là chịu ảnh hưởng mạnh của địa hình và khí

Trang 35

hậu Sông chảy trong các vùng cao, độ dốc lớn, song lại ít ghềnh thác Cấu tạo bề mặt các lưu vực sông đều có tính thấm nước tốt, nên ngay trong mùa mưa, lũ ở các con sông này cũng không có hiện tượng dâng cao đột ngột Lũ ở đây thường nhỏ, đỉnh thấp và bé, song thường kéo dài nhiều ngày do tác động điều tiết của các đầm

hồ và do nguồn nước trong đất tương đối dồi dào, dễ gây ngập lụt cho các vùng trũng ven sông Lượng nước của sông trong một năm cũng có biến đổi mạnh: cao

về mùa mưa và giảm nhiều về mùa khô Những điều kiện thủy văn sông ngòi nói

trên ở Đắk Lắk là tài nguyên vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, chăn

nuôi, sinh hoạt của con người, cũng như nguồn năng lượng dồi dào cho thủy điện

Với vị trí địa lý vĩ độ thấp cùng với sự chia cắt độ cao của địa hình, Đắk Lắk có một chế độ khí hậu tương đối khác biệt so với các vùng xung quanh trên địa bàn Tây Nguyên mà Giáo sư Nguyễn Văn Chiển gọi là khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên Khí hậu đó mang tính chất nhiệt đới với hai mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau còn mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5, kết thúc vào tháng 11 Song tùy theo từng vùng tự nhiên, tùy theo địa hình, chế độ gió mùa của từng vùng mà mùa mưa có thể đến sớm hơn hay muộn hơn, lượng mưa cũng thay đổi Phân bố mưa theo thời gian trong năm chia làm hai mùa rất rõ Mùa mưa tập trung đến 85 - 90% lượng mưa cả năm Về mùa mưa, gió mùa tây nam từ Ấn Độ Dương thổi tới mang nhiều hơi nước, nên không khí ẩm ướt, mát

mẽ, rất dễ chịu Ngược lại, vào những tháng mùa khô, lượng mưa hầu như không đáng kể, chỉ khoảng 4 - 5mm, cá biệt có những năm vào các tháng này không có ngày mưa nào, làm cho không khí trở nên khô, hạn gay gắt Những đặc điểm khí hậu ấy có tác động không nhỏ đến sản xuất và sinh hoạt của con người hôm nay cũng như xa xưa

Thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây vùng đất đỏ bazan phì nhiêu Có thể

nói, thành phần thổ nhưỡng của tỉnh Đắk Lắk khá phong phú với sự có mặt của hầu hết các loại đất thuộc vùng Tây Nguyên Quan sát trên bản đồ thỗ nhưỡng của tỉnh ta

có thể nhận thấy sự chiếm lĩnh ưu thế của hai loại đất xám và đất nâu đỏ, bên cạnh

đó còn có đất phù sa, đất đen và đất mùn trên núi Không phải ngẫu nhiên mà mỗi khi nhắc đến Tây Nguyên là người ta lại nhớ tới một cao nguyên với bạt ngàn đất

Trang 36

đỏ Trên thực tế, ít có một miền đất nào trên đất nước ta lại có một lớp phủ đất đỏ rộng và tập trung như ở Tây Nguyên Trong đó, Đắk Lắk được coi là địa bàn có

diện tích đất đỏ phì nhiêu và rộng lớn bậc nhất

Đắk Lắk còn được biết đến là nơi đa dạng động - thực vật: do điều kiện nhiệt

độ quanh năm ấm áp, nhiều nắng, đất đai phì nhiêu nên thảm thực vật Đắk Lắk rất phong phú Thảm thực vật nguyên sinh nơi đây gồm các loại rừng rậm ưa mưa nhiệt đới và rừng rậm thường xanh hay nửa rụng lá Địa hình đa dạng, chia cắt mạnh với các cao nguyên cùng các khối núi đồ sộ lại ổn định từ lâu đời, nên nơi đây đã bảo tồn các loài thực vật cổ cũng như hình thành nên nhiều loài mới Ranh giới Đắk Lắk với các vùng xung quanh không có những sự ngăn cách đặc biệt, không trở ngại cho việc

di cư của thực vật từ nơi khác đến hoặc ngược lại Ngoài thảm thực vật tự nhiên còn tập trung tại các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn, ngày nay ở Đắk Lắk đất đai đã được khai thác triệt để cho sản xuất nông nghiệp, tái bố trí dân cư, phát triển công nghiệp, thủy điện… nên các loài thực vật

trong tự nhiên chắc chắn đã bị suy giảm đi nhiều Tài nguyên động vật ở Đắk Lắk

không những phong phú và đa dạng mà còn có tính đặc hữu cao Đây là tiềm năng thực sự góp phần làm nền tảng cho chiến lược bảo vệ và phát triển lâu bền đa dạng sinh học ở Việt Nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng Hệ động vật rừng Đắk Lắk rất phong phú cả về số loài và số cá thể, gồm 93 loài thú và 19 loài chi, trong đó có 13 loài thú có tên trong sách đỏ [96; tr.126] chúng đang được bảo vệ ở các Vườn quốc

gia Yok Đôn, Vườn quốc gia Chư Yang Sin và khu bảo tồn Ea Sô

Với một vị trí địa lý đặc biệt, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa quanh năm

ấm áp, với nhiều dạng địa hình, hệ thống sông suối đa dạng, có thể thấy Đắk Lắk là một tỉnh có thiên nhiên tươi đẹp và trù phú vào bậc nhất ở khu vực Tây Nguyên Nơi đây, tiềm năng đất đai vô cùng to lớn, hệ động vật và thảm thực vật phong phú, với nhiều loài quý hiếm có giá trị kinh tế và khoa học cao Đây chính là những nhân tố tác động không nhỏ đến sự phát triển đời sống kinh tế - xã hội của các dân tộc sinh sống tại Đắk Lắk

Về điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk: Đắk Lắk là tỉnh có vị trí

chiến lược quan trọng về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, môi trường,

Trang 37

quân sự và an ninh quốc phòng Với độ cao 500 - 700m, Đắk Lắk được các nhà quân sự xem là xương sống, nóc nhà của ba nước Đông Dương Trong chiến tranh các nhà quân sự đã xác định: ai chiếm được Đắk Lắk người đó thực sự làm chủ chiến trường Đông Dương nói chung và Tây Nguyên nói riêng Thực tế đã chứng minh đúng như vậy Từ đây có thể kiểm soát và khống chế toàn bộ cao nguyên Trung phần, án ngữ con đường xuyên Việt từ Kon Tum - Gia Lai qua Đắk Lắk xuống miền Đông Nam Bộ từ cao nguyên Đắk Lắk xuống dải đất ven biển Nam Trung Bộ, từ ven biển Nam Trung Bộ qua Đắk Lắk sang các nước Campuchia và Lào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ và thần

thánh của đất nước ta cũng chọn Đắk Lắk là điểm đột phá chiến lược

Tỉnh Đắk Lăk hiện có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, thị, thành phố gồm: Thành phố Buôn Ma Thuột, trung tâm tỉnh lỵ, thị xã Buôn Hồ và 13 huyện là: Ea H’Leo, Easup, Buôn Đôn, Cư M’gar, Krông Buk, Krông Năng, Eakar, Krông Pắk,

Cư Kuin, Krông Ana, M’Đrắk, Lắk, Krông Bông Với tổng diện tích tự nhiên 13.125,37 km2, dân số 1.827.800 người, mật độ dân số 139 người/km2, trong đó nam chiếm 50,32%, nữ chiếm 49,68%, dân số thành thị chiếm 24,20%, còn lại là dân số nông thôn (75,80%) [14; tr.24], chiếm 24% diện tích tự nhiên và 36% về dân số của

cả Tây Nguyên Các trục giao thông chính như quốc lộ 14 chạy xuyên dọc tỉnh, nối Đắk Lắk với Gia Lai ở phía Bắc và Đắk Nông ở phía Tây Nam; Quốc lộ 26 nối Đắk Lắk với thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và Quốc lộ 27 nối Đắk Lắk với thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng - hai trung tâm du lịch lớn của cả nước Đắk Lắk có đường hàng không đi Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội Những mạng giao thông liên vùng này là những điều kiện hết sức thuận lợi tạo cho Đắk Lắk một không gian kinh tế mở, vừa gắn chặt với các tỉnh trong vùng Tây Nguyên, vừa là cầu nối cho sự giao lưu, hợp tác kinh tế - văn hóa - khoa học và công nghệ của Đắk Lắk với các tỉnh Tây Nguyên, vùng Duyên hải miền Trung, vùng Đông Nam Bộ và các vùng khác trong cả nước Đường biên giới quốc gia với Campuchia dài 70 km vừa là địa giới thiêng liêng của Tổ quốc đồng thời cũng là cửa ngỏ góp phần vào sự thịnh vượng của khu Tam giác phát triển của Việt Nam, Lào và Campuchia

Trang 38

Trong quá trình phát triển kinh tế, do có ưu thế về tài nguyên đất đai và vị trí địa lý thuận lợi nên Đắk Lắk trở thành điểm nóng thu hút mạnh các nguồn dân cư khắp cả nước đến khai phá, lập nghiệp, tạo sự tăng đột biến về dân cư và lao động, nhất là sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Nếu như năm 1977, dân số Đắk Lắk (bao gồm cả tỉnh Đắk Nông) chỉ có 436.071 người [14; tr.96], mật độ dân

số trung bình 21 người/km2 thì 20 năm sau, năm 1997 dân số tăng lên gấp 3,5 lần (1.515.367 người) [14; tr.9], mật độ dân số trung bình 77 người/km2 Đến năm

2004 (sau khi đã chia tỉnh Đắk Nông) dân số Đắk Lắk đạt 1.690.135 người [14; tr.11], tăng 11,5% so với năm 1997, tăng gấp hơn 3,87 lần so với năm 1977 Đến năm 2014, dân số Đắk Lắk có 1.833.251 người, mật độ dân số trung bình 139,68 người/km2 [14; tr.23] Như vậy, sau hơn 35 năm, tốc độ tăng dân số của Đắk Lắk đạt bình quân hơn 10,5%/năm, trong đó tốc độ tăng cơ học cũng như tăng tự nhiên đều rất cao so với bất kỳ tỉnh nào trong vùng cũng như trong cả nước

Theo điều tra dân số tính đến năm 2014, dân cư Đắk Lắk là cộng đồng người gồm 44 dân tộc cùng chung sống, trong đó người Kinh chiếm 68%, các dân tộc ít người như Êđê, M’Nông, Jrai, Tày, Thái, Nùng,… chiếm 32% dân số toàn tỉnh Trong cộng đồng các dân tộc nói trên, Êđê, M’Nông, Jrai là các tộc người tại chỗ, còn các dân tộc Kinh, Hoa, Mường, Xê Đăng, Vân Kiều, Bahnar, Khmer, Chăm, Raglai,… là các dân tộc di cư đến sau này Một số dân tộc vốn gốc ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Tày, Thái, Nùng, Dao, Mông, … đến Đắk Lắk làm ăn sinh sống chủ yếu từ sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng (1975) theo các kế hoạch xây dựng, phát triển các khu kinh tế mới hoặc theo đường di dân tự do [54; tr.49]

Nói đến đặc điểm kinh tế của tỉnh Đắk Lắk trước kia cũng như hiện nay chủ

yếu là nền kinh tế nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi và hoạt động dịch

vụ nông nghiệp Trong đó, trồng trọt là hoạt động kinh tế chủ yếu đã có trong lịch sử

và đến nay vẫn là ngành sản xuất chính, chiếm 78,42% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2014 Đặc biệt, cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, hồ tiêu, chè, ca cao… là thế mạnh của các tỉnh Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng, trong đó, cà phê đã trở thành ngành sản xuất quan trọng của Đắk Lắk và là một trong

4 mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Đắk Lắk Chăn nuôi cũng là hoạt động

Trang 39

kinh tế có truyền thống gắn với trồng trọt và hỗ trợ cho trồng trọt phát triển (năm

2014 chiếm 19.26% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp) Các hoạt động dịch vụ nông nghiệp mới hình thành trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, nên mới chỉ đạt 2.33% trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh [14; tr.149] Nhìn chung

cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành đã chuyển biến theo hướng tích cực, theo hướng

tăng dần dịch vụ và chăn nuôi, nhưng mức độ chuyển biến còn chậm

Đắk Lắk cũng là tỉnh có diện tích rừng, trữ lượng gỗ và tre nứa lớn nhất nước ta hiện nay Theo số liệu năm 2014 của tỉnh, diện tích rừng có 507.489 ha, tổng trữ lượng rừng khoảng 59 - 60 triệu m3 gỗ, trong đó trữ lượng rừng thường xanh 36,3 triệu m3 (rừng giàu và trung bình 24,4 triệu m3, rừng nghèo 8,9m3, rừng non 2,9 triệu m3), trữ lượng rừng khộp 21,2 triệu m3; rừng hỗn giao 1 triệu m3, rừng trồng 0,3 triệu m3 Tổng trữ lượng rừng tre nứa khoảng 335,9 triệu cây Với trữ lượng nêu trên, những năm gần đây Đắk Lắk đã khai thác hàng năm từ 130 đến

138 ngàn m3 gỗ tròn, 750 - 760 ngàn tấn củi và 1,7 - 2 triệu cây tre, nứa [14; tr.199], chiếm khoảng 16 - 18% sản lượng khai thác lâm sản của cả nước Bởi vậy

có thể nói, rừng Đắk Lắk không chỉ là nguồn tài nguyên quan trọng, nguồn lực cho phát triển các ngành kinh tế nông, lâm, nghiệp thủy sản, các ngành tiểu thủ công nghiệp, thương mại, du lịch, sản xuất và chế biến dược liệu,… mà còn có giá trị to lớn đối với việc bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái vùng Tây Nguyên, góp phần quan trọng bảo vệ bền vững rừng đầu nguồn sông Mê Kông, vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát, giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp trên địa bàn vẫn có xu hướng giảm dần qua các giai đoạn, kể cả giai đoạn 2010 - 2015 Trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp trên địa bàn, giá trị sản xuất của hoạt động khai thác gỗ, lâm sản vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu nhưng có xu hướng giảm mạnh, nhất là những năm gần đây, trong khi số lượng và tỉ trọng giá trị sản xuất của hoạt động tu bổ, chăm sóc, trồng và bảo vệ rừng có xu hướng tăng lên Ngoài ra, hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản tự nhiên là những hoạt động vốn có từ xa xưa của đa số dân cư Đắk Lắk Sản lượng thủy sản khai thác tự nhiên chủ yếu là cá (95 - 96%), sản lượng tôm mỗi năm chỉ đạt 201 - 210 tấn Sản lượng các loại thủy sản khác không nhiều

Trang 40

Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp ở Đắk Lắk ngày càng đa dạng, xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới Hiện nay tại tỉnh Đắk Lắk có các ngành công nghiệp: công nghiệp chế biến nông, lâm sản; công nghiệp thủy điện; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp khai thác; công nghiệp cơ khí sửa chửa nhỏ; công nghiệp giấy Theo số liệu thống kê từ năm 2010 - 2014 nhóm ngành công nghiệp chế biến chiếm tỉ trọng lớn nhất 73,48 - 77,36% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành, trong đó nhóm ngành công nghiệp sản xuất nông sản thực phẩm và đồ uống luôn chiếm tỷ trọng hàng đầu: 43,36 - 53,65% về giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp của tỉnh Đứng vị trí thứ hai là nhóm ngành sản xuất sản phẩm bằng gỗ và lâm sản với giá trị sản xuất từ năm 2010 - 2014 là: 146.105, 147.653, 196.560, 202.192 triệu đồng [14; tr.221] Bên cạnh hai ngành công nghiệp nói trên, còn có các nhóm ngành công nghiệp công nghiệp sản xuất trang phục; công nghiệp sản xuất giường, tủ, bàn ghế; công nghiệp sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác

Sản xuất và phân phối điện, nước là những ngành công nghiệp có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Đắk Lắk Nhiều nhà máy thủy điện đã và đang được đầu tư xây dựng: Buôn Tua Srah công suất 85MW, Buôn Kuôp (280MW), Dray Hling 2, Krông H’năng (64MW), Krông K’mar (12MW) và một

số nhà thủy điện nhỏ công suất 1 - 4MW Sản lượng điện thương phẩm năm 2010 đạt 710.000 KWh, gấp 11,4 lần so với năm 1995, chất lượng nguồn điện khá ổn định và đảm bảo Đến nay toàn tỉnh Đăk Lắk đã có nhiều hệ thống cấp nước sạch phục vụ cho thành phố Buôn Ma Thuột với công suất 490.000m3/ngày đêm, thị xã Buôn Hồ và thị trấn Krông Buk 4.200m3/ ngày đêm; các thị trấn Krông Pắk, Krông Ana, M’Đrắk, Ea Sup, Cư M’Gar, Ea Kar, v.v với công suất từ 300 đến 1000

m3/ngày đêm Ngoài ra, còn có hệ thống các công trình cấp nước nhỏ lẻ cung cấp cho các khu, cụm công nghiệp và một số vùng nông thôn tập trung dân cư

Về du lịch, Đắk Lắk là vùng đất lý tưởng, dồi dào tiềm năng phát triển du lịch Nơi đây có những điều kiện thuận lợi như cảnh quan thiên nhiên với hệ thống

hồ, thác, khu hệ động, thực vật; có những di tích văn hóa, lịch sử và di sản văn hóa các dân tộc… như khu du lịch hồ Lăk gắn với di tích kháng chiến như hang đá Đắk Tuôr - huyện Krông Bông; khu du lịch văn hóa - sinh thái Buôn Đôn gắn với thác 7

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w