1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện trạng các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người nùng tại thị trấn liên nghĩa, huyện đức trọng, tỉnh lâm đồng

53 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy công trình được thực hiện để giúp cho mọi người có một cái nhìn cụ thể hơn về một cộng đồng dân tộc, cụ thể là cộng đồng dân tộc Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

Sinh viên thực hiện

Chủ nhiệm: Trần Đức Tâm Như lớp Trung Quốc Học Khóa 2011-2015

Thành viên: Qúach Ngọc Thúy Vy lớp Trung Quốc Học Khóa 2011-2015

Trương Trọng Nghĩa lớp Trung Quốc Học Khóa 2011-2015

Nguyễn Châu Kiều Oanh lớp Trung Quốc Học Khóa 2011-2015

Giaó viên hướng dẫn: Th.S Hoàng Thị Thu Thủy – Khoa Đông Phương Học

– ĐH Khoa học Xã Hội Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 03, năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 3

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3

4 NỘI DUNG VÀ PHẠM VINGHIÊN CỨU 3

5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC 3

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

7 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 4

8 BỐ CỤC ĐỀ TÀI 5

CHƯƠNG I 6

KHÁI QUÁT CỘNG ĐỒNG NGƯỜI NÙNG Ở ĐỨC TRỌNG, LÂM ĐỒNG 6

1 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI NÙNG Ở THỊ TRẤN LIÊN NGHĨA, HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 6

1.1 NGUỒN GỐC: 6

1.1.1 Người Nùng 6

1.1.2 Người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng 7

a Nhóm địa phương 7

b Ngôn ngữ: 8

c Quá trình di cư và địa bàn cư trú của cộng đồng người Nùng: 8

d Dân số: 8

e Hoạt động sản xuất: 8

f Lịch: 8

g Lễ tết: 9

h Chữ viết: 9

Trang 3

2 Điều kiện kinh tế và vật chất 9

2.1 Điều kiện kinh tế 9

2.2 Điều kiện vật chất 10

3 VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG: 10

3.1 KHÁI NIỆM VĂN HÓA 10

i Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hóa truyền thống đặc trưng riêng của mình 11

j Khái niệm văn hóa truyền thống 11

k Các loại hình văn hóa truyền thống: 12

CHƯƠNG II 14

VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI NÙNG Ở ĐỨC TRỌNG, LÂM ĐỒNG XƯA VÀ NAY 14

1 NGÔN NGỮ VÀ CHỮ VIẾT 14

1.1 NGÔN NGỮ: 14

1.2 CHỮ VIẾT: 14

2 Trang phục: 15

2.1 TRANG PHỤC NỮ: 15

2.2 TRANG PHỤC NAM: 16

2.3 Trang phục trẻ em: 16

2.4 Trang phục cô dâu, chú rể: 17

2.5 Trang phục “thầy”: 17

3 Ẩm thực 19

4 TẬP TỤC MA CHAY VÀ HÔN NHÂN 21

4.1 TẬP TỤC MA CHAY 21

4.2 HÔN NHÂN 26

4.3 Thờ cúng tổ tiên 29

5 CÁCH ĐẶT BÀN THỜ 29

Trang 4

5.1 MỘT SỐ NGHI LỄ CÚNG HÀNG NĂM CỦA NGƯỜI NÙNG 30

5.2 CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG: 32

5.3 LỄ “XƯỞNG CỒNG” 33

5.4 TỤC “GÁNH NƯỚC HOA HỒNG” 33

5.5 CHAY TỊNH NGÀY ĐẦU XUÂN 33

5.6 TỐNG BẦN NGHINH PHÚ 33

5.7 LỄ HỘI “LỒNG TỒNG” (LỄ HỘI XUỐNG ĐỒNG) 34

5.8 HỘI CHÈ 34

CHƯƠNG III 36

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG, GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO NGƯỜI NÙNG TẠI THỊ TRẤN LIÊN NGHĨA, HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 36

1 GIÁ TRỊ NHỮNG NÉT VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO NGƯỜI NÙNG 36

2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO NGƯỜI NÙNG 37

3 Các giải pháp bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người Nùng 39

3.1 Các giải pháp bảo tồn và phát triển của chính phủ 39

3.2 Các giải pháp bảo tồn và phát triển trong cộng đồng 41

3.3 Kiến nghị cá nhân 42

KẾT LUẬN 46

CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 2

Trang 5

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Để hiểu rõ một vấn đề nào đó người ta thường tìm về với nguồn gốc của nó, và

để hiểu rõ một dân tộc thì việc tìm hiểu những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

đó là rất cần thiết Chính vì vậy công trình được thực hiện để giúp cho mọi người có một cái nhìn cụ thể hơn về một cộng đồng dân tộc, cụ thể là cộng đồng dân tộc Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng và hiện trạng các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc tại địa bàn cư trú này

Bằng cách thực hiện khảo sát thực địa và trải qua 3 tuần nghiên cứu, tìm hiểu ngay tại địa phương, cụ thể là Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng , nơi mà có phần đa cộng đồng dân tộc này cư trú Với việc tiếp cận và phỏng vấn trực tiếp để thu thập được những thông tin cần thiết, chính xác và chân thật nhất cho công trình nghiên cứu, nhóm đã có những kiến thức rõ ràng hơn về đối tượng nghiên cứu cũng như có những đúc kết về những cái đã đang và còn tồn tại trong các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc

Thông qua những kết quả đã nghiên cứu được, nhóm nghiên cứu hy vọng sẽ có thể giúp những ai quan tâm và muốn tìm hiểu về cộng đồng dân tộc người Nùng nói chung và cộng đồng người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng nói riêng sẽ có cái nhìn khái quát hơn, cũng như có sự am hiểu hơn về những nét văn hóa truyền thống của họ

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Từ xưa đến nay, khi nhắc đến bất kì một dân tộc nào thì sẽ không thể không nhắc đến những nét văn hóa truyền thống của dân tộc ấy Văn hóa truyền thống là nét đặc trưng, là đặc điểm riêng biệt để tạo nên những nét đặc sắc của mỗi dân tộc Tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, một địa phương tập trung rất nhiều cộng đồng dân tộc sinh sống như: cộng đồng dân tộc Nùng, cộng đồng dân tộc Tày và cộng đồng dân tộc Hoa,… và chúng tôi đã chọn cộng đồng dân tộc Nùng với những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của họ để thực hiện đề tài nghiên cứu của nhóm

Trong cộng đồng người Nùng có rất nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc, tuy nhiên theo dòng thời gian, những phong tục tập quán của dân tộc này đã dần bị mai một do yếu tố khách quan và chủ quan của xã hội tác động Để lưu giữ, bảo tồn những nét văn hóa truyền thống có giá trị đó thì chúng ta cần hiểu rõ được hiện trạng của nền văn hóa truyền thống này trong bối cảnh xã hội đang phát triển hiện nay là vấn đề rất cần thiết

Trong quá trình tìm hiểu và thu thập tư liệu, nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng những đề tài nghiên cứu về người Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng; đặc biệt là những đề tài có liên quan đến hiện trạng của nền văn hóa truyền thống đặc trưng của cộng đồng này vẫn chưa được quan tâm một cách toàn diện Vì thế, trong đợt khảo sát thực địa tại Lâm Đồng lần này, nhóm nghiên cứu chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Hiện trạng các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng” làm hướng nghiên cứu chính nhằm mục đích có cách nhìn sâu sắc hơn về văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc này Đồng thời, nhóm nghiên cứu chúng tôi hi vọng rằng kết quả mà nhóm chúng tôi đạt được sẽ là một nguồn tư liệu quý giá cho những đối tượng quan tâm nghiên cứu đến đề tài này

Trang 7

2 Lịch sử nghiên cứu

Tìm hiểu nghiên cứu những nét văn hóa truyền thống của một tộc người, có rất

nhiều tài liệu nghiên cứu về các vấn đề này như trong quyển “Hôn nhân và gia đình

các dân tộc thiểu số ở Viêt Nam”, “Phong tục tang ma”,“Tín ngưỡng các dân tộc”,

Các tác giả đã trình bày một cách rất rõ về 54 cộng đồng dân tộc, nhưng vẫn chưa có

đề tài nào tập trung nghiên cứu về hiện trạng những nét văn hóa truyền thống của cộng đồng người Nùng, cũng như chưa có một đề tài nghiên cứu cụ thể nào về hiện trạng văn hóa truyền thốngcủa cộng đồng người Nùng trên địa bàn Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng

Vì vậy, nhóm quyết định thực hiện đề tài dưới góc nhìn bao quát nhất về các nét văn hóa truyền thống của tộc người Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiều về hiện trạng những nét văn hóa truyền thống của người Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa để hiểu rõ hơn về một nhánh tộc người trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam, cũng như làm phong phú thêm nhận thức về những nét văn hóa riêng của một cộng đồng dân tộc thiểu số đặc trưng và những phương thức mà họ vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa riêng của dân tộc mình

4 Nội dung và phạm vinghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về hiện trạng các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người Nùng đang cư trú và sống tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

5 Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học

Về mặt thực tiễn, tìm hiểu hiện trạng những nét văn hóa của cộng đồng người Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa nhằm hiểu rõ về những phong tục tập quán còn được lưu giữ hoặc đã thay đổi của một cộng đồng dân tộc

Về mặt khoa học, kết quả nghiên cứu của nhóm chúng tôi trong đề tài này sẽ đóng góp một phần tư liệu quý giá phục vụ việc tìm hiểu và nghiên cứu các nền văn

Trang 8

hóa truyền thống, đặc trưng, đậm đà bản sắc dân tộc, đặc biệt là những đề tài có liên quan đến cộng đồng dân tộc Nùng

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

 Phương pháp tổng hợp và xử lí tư liệu: những tư liệu được thu thập từ các thư viện ở thành phố Hồ Chí Minh, thư viện huyện Đức Trọng, Ủy ban Thị trấn Liên Nghĩa và các tư liệu trên các trang mạng có uy tín

 Phương pháp điều tra điền dã: nhóm nghiên cứu chúng tôi đã trực tiếp đi đến địa phương gặp và tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng có sự am hiểu sâu sắc về những nét văn hóa truyền thống của cộng đồng người Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

 Phương pháp so sánh đối chiếu: được chúng tôi sử dụng để đối chiếu những nét văn hóa truyền thống xưa và nay, từ đó hiểu rõ hơn hiện trạng tồn tại một cách khách quan và chủ quan của các giá trị truyền thống văn hóa này Trên cơ sở đó, đưa ra những cái nhìn sắc nét nhất trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc

7 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài

Thuận lợi: trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã được

sự giúp đỡ nhiệt tình của chính quyền địa phương cũng như người dân địa phương, đồng thời dưới sự dẫn dắt tận tình của giáo viên hướng dẫn, đã tạo điều kiện cho nhóm nghiên cứu có thể thực hiện tốt đề tài nghiên cứu này

Khó khăn: do hạn chế về mặt thời gian cùng với việc chưa có được nhiều cơ hội tiếp xúc trực tiếp với đồng bào người Nùng tại địa bàn nghiên cứu, bên cạnh đó số người am hiểu về những nét văn hóa truyền thống của dân tộc Nùng không nhiều; vì vậy phần nào đó đã ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu của nhóm

Hơn nữa, trước đây việc nghiên cứu về hiện trạng những nét văn hóa truyền thống của cộng đồng người Nùng vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều Đặc biệt

là cộng đồng người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa hiện nay dần bị “Kinh hóa” , đa phần

là tầng lớp thanh niên đã theo lối sống thành thị nên văn hóa truyền thống của dân tộc

Trang 9

này đã có sự thay đổi Bên cạnh đó, văn hóa truyền thống là một mảng đề tài tương đối rộng, nhưng với vốn kiến thức và sự hiểu biết còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu của nhóm chúng tôi vẫn chưa được hoàn thiện

8 Bố cục đề tài

Nội dung chính của đề tài gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát cộng đồng người Nùng ở Đức Trọng, Lâm Đồng

Ở chương này, chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu tổng quan về cộng đồng người Nùng bao gồm nguồn gốc của người Nùng ở Việt Nam, những nét văn hóa truyền thống và tính chất của những nét văn hóa truyền thống kết hợp với phương pháp tổng hợp tư liệu, nhóm nghiên cứu chúng tôi sẽ giới thiệu một cách khái quát nhất về cộng đồng người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

Chương 2: Những nét văn hóa truyền thống của người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xưa và nay

Ở chương này, nhóm nghiên cứu chúng tôi sẽ dựa trên những nét tổng quan đã được nêu ở chương 1, đồng thời sử dụng phương pháp đối chiếu so sánh để làm rõ những nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của người Nùng cư trú trên địa bàn từ những giai đoạn trước đây và thực trạng những nét văn hóa truyền thống hiện nay Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi sẽ làm rõ những nét đặc trưng riêng biệt để không bị hòa lẫn với các nét văn hóa của các dân tộc khác Sau đó sử dụng phương pháp tiếp cận trực tiếp

để tìm ra những giá trị văn hóa truyền thống còn được lưu giữ và truyền lại cho các thế

Trang 10

CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT CỘNG ĐỒNG NGƯỜI NÙNG Ở ĐỨC TRỌNG, LÂM ĐỒNG

Trong nội dung của chương mở đầu này, nhóm nghiên cứuchúng tôi sẽ tập trung giới thiệu khái quát về nguồn gốc của cộng đồng người Nùng, cũng như những nét văn hóa truyền thống của cộng đồng người Nùng sinh sống trên địa bàn Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

1 Tổng quan về người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

1.1 Nguồn gốc:

1.1.1 Người Nùng

Người Nùng hiện nay ở nước ta là những người di cư sang từ Quảng Tây (Trung Quốc) Họ chỉ mới di cư sang việt nam trong những thế kỉ gần đây, nguyên nhân của những cuộc di cư rất nhiều, nhưng chủ yếu là do bị áp bức, bóc lột nặng nề,

bị chèn ép, nhất là bị đang áp, tàn sát đẫm máu sau các cuộc khởi nghĩa không thành công Loạn lạc, cướp bóc cùng với nạn thiếu ruộng đất cũng thúc đẩy họ đi tìm nơi sinh sống dễ chịu hơn

Từ Trung Quốc họ không di cư hàng loạt sang Việt Nam mà họ di cư theo từng nhóm riêng lẻ Dân tộc Nùng có lịch sử hình thành khá lâu đời, nhưng sự liên kết giữa các nhóm người trong cộng đồng dân tộc này vẫn còn rất thấp Có rất nhiều điểm khác nhau giữa các nhóm địa phương từ tên gọi, ngôn ngữ, đời sống vật chất và tinh thần

Vì vật giữa các nhóm với nhau sẽ có những nét riêng biệt của từng nhóm người, dẫn đến tình trạng sự am hiểu về nhau giữa các nhóm người cũng có sự giới hạn

Trong số những người di cư sang Việt Nam thì một số ít cư trú tại các tỉnh ở khu vực phía bắc Việt Nam, một bộ phận còn lại thì dần dần tràn xuống phía nam, tập trung sinh sống tại miền trung du, họ sống đan xen với người Kinh, Sán Dìu, Hoa và

cả người Dao Trong số dân di cư xuống phía nam đó có một bộ phận đã đến và cư trú tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

Trang 11

1.1.2 Người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm

Đồng

“Lâm Đồng là một trong những tỉnh ở Tây Nguyên có số dân của các dân tộc ít người miền Bắc tập trung đông đúc hơn cả Sau hiệp định Giơnevơ 1954, thực dân Pháp đã di cư vào miền Nam khoảng 100.000 người thuộc các dân tộc Hoa, Tày, Thái, Nùng, Mường, Mèo, Dao, Cao Lan, Sán Chỉ, ở vùng thượng du Bắc Bộ Trong đó, con số được đưa đến định cư ở Lâm Đồng là khoảng dưới 20.000 người Phần lớn các nhóm dân tộc này tập trung ở xã Tùng Nghĩa (nay là Thị trấn Liên Nghĩa), huyện Đức Trọng

Tháng Giêng 1955, hơn 5000 người Hoa ở Hải Ninh, người Thái, Tày, Nùng ở

thượng du Bắc Bộ đã bị tập trung về đây để khai hoang và lập nên xã Tùng Nghĩa

Năm 1957, số dân các dân tộc ở đây đã đạt đến 16.000 người, chia ra làm 5 khu định cư: khu Cao Thái Sơn bao gồm những người Tày, Nùng và các dân tộc khác ở Cao Bằng, Thái Nguyên và Lạng Sơn; khu Thái bao gồm những người Thái đen và Thái trắng ở Sơn La hoặc Lai Châu; khu Cao Bắc Lạng bao gồm những người Tày, Nùng ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn; khu Lục Nam và Nam Sơn bao gồm những người Tày, Nùng và các dân tộc ở Bắc Giang và miền trung du Bắc Bộ Tháng

8 năm 1957, các khu định cư trên biến thành các ấp và hợp nhất thành xã Tùng Nghĩa cho đến nay.”1

Riêng “đồng bào người Nùng là một dân tộc thiểu số có nguồn gốc ở vùng Lưỡng Quảng, một phần đông nam Vân Nam Trung Quốc và vùng đông bắc Bắc Bộ Việt Nam Dân tộc Nùng có chung nguồn gốc lịch sử với dân tộc Tày ở Việt Nam và dân tộc Choang ở bên kia biên giới Việt Trung Ngày nay, ở Trung Quốc, họ được ghép chung vào cộng đồng dân tộc Choang thống nhất.”2

a Nhóm địa phương

Nùng Xuồng (cư trú ở Hà Quảng, Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng), Nùng An (cư trú ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn…), Nùng Inh (cư trú ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên….), Nùng Phàn Slình (cư trú ở Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn…),

1 Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Mạc Đường chủ biên, nxb văn hóa tỉnh LĐ, năm 1983, trang 34 -35

2Chu Thái Sơn chủ biên và Hoàng Hoa Toàn, nxb Trẻ, VN, 2006

Trang 12

b Ngôn ngữ:

Theo kết quả của nhóm chúng tôi nghiên cứu, ngôn ngữ mà tất cả các cộng đồng người Nùng sinh sống trên mọi miền Tổ quốc sử dụng đều “thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (ngữ hệ Thái – Ka Đai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc.”3

c Quá trình di cư và địa bàn cư trú của cộng đồng người Nùng:

Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây Trung Quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 – 300 năm Địa bàn cư trú của họ“chủ yếu ở các tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Hoàng Liên Sơn, v.v Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, có khoảng 45.000 người Nùng di cư vào các tỉnh phía nam sinh sống như: Lâm Đồng, Đồng Nai, Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum và từ năm 1975 đến nay, một bộ phận người Nùng từ miền Bắc tiếp tục di cư vào các tỉnh miền nam sinh sống.”3

d Dân số:

Theo số liệu thống kê của UBND Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng thì “dân số của cộng đồng người Nùng nơi đây vào tháng 10/1997 là 11.856 người, dân số điều tra vào năm 2013 tại đây là 5.997 người, gồm 1.137 hộ, trong đó nữ chiếm 3.053 người.” 4

e Hoạt động sản xuất:

Ngành nghề chủ yếu của cộng đồng người Nùng là sản xuất nông nghiệp, canh tác ruộng nước và trồng các loại hoa màu trên rẫy Định canh và thâm canh là phương thức sinh sống chính của họ Ngày nay, cộng đồng người Nùng ở Đức Trọng do ảnh hưởng kinh tế người Kinh nên đại bộ phận chuyển sang buôn bán nhỏ nhưng nông nghiệp vẫn là phương thức sản xuất chủ yếu

f Lịch:

Cách tính ngày tháng của người Nùng sử dụng theo lịch âm là chính

3Trang tin điện tử Ủy ban dân tộc cema.gov.vn

4UBND Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng

Trang 13

2 Điều kiện kinh tế và vật chất

2.1 Điều kiện kinh tế

Trước đây, ngành nghề chủ yếu của cộng đồng người Nùng là sản xuất nông nghiệp, khi di cư đến Thị trấn Liên Nghĩa, người Nùng canh tác ruộng nước thành thạo như người Kinh, người Tày Song do điều kiện kinh tế xã hội ngày một phát triển nên hình thức canh tác truyền thống dùng sức người,sức động vật, đã được thay thế bằng hình thức canh tác ngày càng hiện đại hơn, họ đã biết sử dụng cơ khí hóa, phân bón hóa học vào canh tác sản xuất nông nghiệp, từ đó đã tạo điều kiện để tăng năng suất lúa Nhưng hiện nay, số hộ làm nông nghiệp không phải chiếm đa số mà phần lớn cộng đồng người Nùng đã chuyển sang hình thức kinh doanh buôn bán nhỏ, chỉ còn số

ít hộ giữ lại truyền thống sản xuất nông nghiệp

“Ngoài ra ở Liên Nghĩa, người dân còn tích lũy được nhiều kinh nghiệm chăn nuôi gia cầm, gia súc và tạo được giống tốt như lợn đen Mường Khương, Lạng Sơn, ngựa Cao Bằng…nhằm phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày cũng như vào những dịp lễ, tết, hiếu hỷ

Các ngành nghề thủ công cũng giữ vai trò quan trọng, người Nùng cũng nổi tiếng với các sản phẩm đan lát, dệt chiếu, làm thùng gỗ, yên ngựa, làm giấy, nghề trúc, làm đường phèn….Mỗi nhóm Nùng, mỗi làng có những nghề riêng đặc sắc của mình Tuy nhiên, tất cả các ngành nghề truyền thống ngày nay đã dần dần mất đi Nếu có nhu cầu,

Trang 14

họ có thể mua những sản phẩm bán sẵn trên thị trường Ngoài ra, còn có nghề tài xế, phụ hồ…cũng đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho các gia đình người Nùng ở đây.”5

2.2 Điều kiện vật chất

Trước đây thôn xóm (bản) của cộng đồng người Nùng thường ở trong các thung lũng, bên sườn đồi, chân núi, ven các sông, suối Mỗi bản thường bao gồm từ dăm bảy đến vài chục nóc nhà quần tụ với nhau Cây đa, bến nước, miếu thờ thổ công, sân chơi,

là nơi hội họp trong các ngày hội, ngày lễ Người Nùng sống xen ghép với người Tày nhưng vẫn theo từng bản riêng, mỗi bản hoặc vài bản gần nhau được bố trí thành một

vệ sinh,

3 Văn hóa truyền thống:

3.1 Khái niệm văn hóa

“Là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, loài người sáng tạo, tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn trong suốt quá trình lịch sử của

5Viện dân tộc học, “Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam”, NXB Văn học

Trang 15

mình Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên và văn hóa là sản phẩm đặc sắc nhất của con người Có thể nói văn hóa là sự hóa thân của đời sống, nó thấm vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người, nó xuyên suốt cơ thể xã hội, nó biểu hiện trình độ người, trình độ xã hội, văn minh quốc gia, văn minh nhân loại.” 6

i Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hóa truyền thống đặc trƣng riêng của mình

“Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bản sắc riêng của một dân tộc Giá trị văn hóa truyền thống đó được truyền lại cho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước.” 6

j Khái niệm văn hóa truyền thống

Theo Giáo sƣ Trần Văn Giàu: “Giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt,

bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí không phải bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị; mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống.” 6

GS.TSKH.Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Truyền thống văn hóa là những giá trị

tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định hóa dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận ” 6

Một khái niệm khác: “Nền văn hóa được truyền lại được gọi là truyền thống văn

hóa Như vậy, nó phản ánh được những thành tựu con người, tích tập được trong quá trình tìm hiểu, thực hiện và truyền bá ý nghĩa sâu lắng nhất của cuộc sống Đó chính

là truyền thống theo nghĩa hài hòa của nó như là một hiện thân của trí tuệ.” 6

Theo TS Trần Nguyên Việt thì: “Theo đó, có thể coi truyền thống là một bộ

phận tương đối ổn định của ý thức xã hội, được lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình hình

6

Tạp chí khoa học và công nghệ, đại học đà nẵng -số 5(28).2008, Vấn Đề Giáo Dục Giá Trị Văn Hóa Truyền Thống Cho Sinh Viên Trong Bối Cảnh Hiện Nay Ở Nước Ta - The Education Of Traditional Culture Values To Students In The Present Contex Of Our Country - Lê Hữu Ái -Trần Quang Ánh, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Trang 16

thành và phát triển của các nền văn hóa tinh thần và vật chất, là một giá trị nhất định đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội nói chung.” 6

Như vậy, có thể khái quát văn hóa truyền thống có những tính chất cơ bản sau đây:

i Thứ nhất, tính giá trị:

Cũng như văn hóa nói chung, văn hóa truyền thống mang tính giá trị nói riêng Văn hóa truyền thống trở thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống và góp phần phát triển cuộc sống Văn hóa truyền thống mang tính giá trị bởi vì nó là chuẩn mực, là thước đo cho hành vi đạo đức, cho những quan hệ ứng xử giữa người và người trong một cộng đồng, một giai cấp, một quốc gia, một dân tộc nhất định Giá trị văn hóa truyền thống của một dân tộc là những nguyên lý đạo đức lớn mà con người trong một nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử đều dựa vào để phân biệt phải trái, đúng, sai để định hướng cho các hoạt động vì mục đích xây dựng cuộc sống tự do và tiến bộ của dân tộc đó.6

ii Thứ hai, tính lưu truyền:

Văn hóa ra đời, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Những giá trị của nó được chuyển giao tiếp nối qua nhiều thế hệ và giá trị văn hóa truyền thống đó được giữ gìn phát huy lên một tầm cao mới Qua hàng nghìn năm lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, ý thức cộng đồng được lưu truyền phát triển tạo thành một hệ giá trị mới của dân tộc Việt Nam

iii Thứ ba, tính ổn định:

Những giá trị của văn hóa truyền thống được gạn lọc, khẳng định qua nhiều thế

hệ, nó trở thành cái chân, cái thiện, cái mỹ được lịch sử thừa nhận Nó là một trong những hệ giá trị của văn hóa dân tộc, một thành tố ổn định của ý thức xã hội Văn hóa truyền thống trở thành những khuôn mẫu được cố định hóa dưới dạng nghệ thuật, phong tục tập quán, nghi lễ, dư luận xã hội, pháp luật 6

k Các loại hình văn hóa truyền thống:

3.4.1 Ngôn ngữ

Trang 17

và văn hóa truyền thống Đồng thời, chúng tôi cũng đã giới thiệu sơ lược về những điều kiện vật chất và điều kiện kinh tế đặc trưng của cộng đồng người Nùng xưa và nay Đây cũng là cơ sở để nhóm nghiên cứu sẽ trình bày cụ thể ở chương tiếp theo

Trang 18

CHƯƠNG II

VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI NÙNG Ở ĐỨC

TRỌNG, LÂM ĐỒNG XƯA VÀ NAY

Ở chương này, nhóm nghiên cứu chúng tôi chủ yếu trình bày những vấn đề xoay quanh sự khác biệt giữa các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào người Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xưa và nay

1 Ngôn ngữ và chữ viết

1.1 Ngôn ngữ:

Ngôn ngữ của cộng đồng ngườiNùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái ( ngữ hệ Thái – Ka Đai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc, gọi là tiếng Thổ Nùng, Nôm Nùng

1.2 Chữ viết:

Cộng đồng dân tộc Nùng sử dụng hệ thống chữ Nôm Nùng và chữ Hán

Giai đoạn cổ đại người Nùng không có chữ viết, đến giai đoạn cận đại (từ thế kỷ XVII) người Nùng dùng chữ Nôm gọi là chữ Nôm Nùng (giống chữ Hán của người Hoa).Hiện nay chữ Nôm Nùng đang dần bị mai một bởi chữ quốc ngữ và hầu như nó không được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, chỉ có một số người già và người làm nghề “thầy” (thầy cúng) còn biết những loại chữ này, như trong cộng đồng người Nùng có bài “Mo Nùng” còn ghi lại bằng hệ thống chữ Nôm trên giấy bản Cũng như gia phả của nhiều dòng họ dân tộc Nùng vẫn còn giữ lại đến ngày hôm nay, theo sự tham khảo tài liệu của nhóm nghiên cứu thì những tờ gia phả này đều được ghi bằng

hệ thống chữ Nôm Nùng

Ngày nay, ngôn ngữ của cộng đồng người Nùng ở Đức Trọng, Lâm Đồng sử dụng phổ biến là tiếng Việt giọng Bắc, nhưng đối với những người lớn tuổi thì họ vẫn dùng tiếng Nùng để giao tiếp với nhau Đại bộ phận tầng lớp thanh niên của cộng đồng người Nùng tại địa phương đều được học tiếng Việt từ nhỏ nên không biết ngôn ngữ

và chữ viết của dân tộc mình

Trang 19

2 Trang phục:

Trang phục của đồng bào người Nùng khá phong phú và đa dạng, được phân biệt theo giới tính, độ tuổi, địa vị xã hội và theo nhóm địa phương

2.1 Trang phục nữ:

Trang phục nữ gồm: khăn, áo, quần, váy, dây lưng, xà cạp

+ Áo: thông thường là áo năm thân, cổ đứng, xẻ tà, cài cúc bên nách phải Đặc

điểm của áo là rộng, được cắt may bằng vải bông tự dệt nhuộm chàm, thân áo và tay

áo đều rất rộng, thoải mái trong mọi tư thế cử động Áo dài vừa trùm mông, tuy nhiên cũng có nhóm người Nùng mặc áo dài tới đầu gối

+ Quần: được cắt theo kiểu chân què, cạp lá tọa, ống rộng Cách cắt này có ưu

điểm là phần trên của quần trông không thấy rộng, nhưng độ mở của đũng quần lại rất rộng, tạo thế rất thoải mái cho người sử dụng khi đi lại, leo dốc, trèo cây

+ Dây thắt lưng: được làm từ dải vải dệt bằng sợi bông hoặc tơ tằm, dài khoảng

2 mét Tùy từng nhóm Nùng mà màu sắc, hoa văn trang trí trên thắt lưng khác nhau

+ Khăn đội đầu có ba kiểu khác nhau: khăn vuông được đội và chít “mỏ quạ”,

phụ nữ người Nùng Inh, Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo thường sử dụng khăn đốm trắng đội để phần đuôi khăn buông tự do trên bả vai; phụ nữ nhóm Nùng Phàn Slình sử dụng khăn quấn quanh đầu như kiểu khăn xếp và có những sọc trắng thẳng xuống Khăn được đội hàng ngày đi làm ruộng, làm nương, đi chơi, đi chợ Trong các ngày lễ hội, phụ nữ Nùng thường ăn mặc đẹp, sử dụng nhiều đồ trang sức bạc như vòng cổ, vòng tay, hoa tai, xà tích, dây chuyền.”7

7

Viện dân tộc học, “Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam”, NXB Văn học

Trang 20

Hình 1: Trang phục người Nùng An Hình 2: Trang phục người Nùng Dín

Hình 3: Trang phục truyền thống nam, nữ dân tộc Nùng

2.2 Trang phục nam:

Thường ngắn và hẹp hơn Áo thường là áo tứ thân dài ngang mông, chiều rộng

bó sát thân, tay áo rộng, cổ đứng, áo xẻ ngực, cài bằng bảy cúc vải, phía trước hai vạc

áo được khâu bốn túi Quần cũng được cắt, khâu theo kiểu lá tọa, chân què

2.3 Trang phục trẻ em:

Về cơ bản trẻ em người Nùng ăn mặc giống người lớn Khi mới lọt lòng, trẻ được đội thêm một chiếc mũ được làm khác nhau để phân biệt bé trai và bé gái Mũ bé gái thường có phần đai được ghép bằng những miếng vải màu xanh, đỏ, vàng tạo thành

Trang 21

những sọc thẳng đứng sặc sỡ; thân mũ là những miếng vải chàm tam giác ghép lại, phần chỏm là hai quả bông Mũ bé trai phần đai là vải chàm, phần thân được ghép từ 4-6 miếng vải màu xanh, đỏ, vàng hình tam giác, trên đỉnh gắn một quả tròn bằng vải “phau” có tua rua sặc sỡ

2.4 Trang phục cô dâu, chú rể:

Áo cưới của cô dâu được trang trí bằng miếng vải đen ghép chéo thêm vào thân phải phía trước và cổ tay áo, nếu cẩn thận hơn thì thắt thêm chỉ màu bên nách trái và bên nách phải; và vào ngày cưới cô dâu không đeo thắt lưng Chú rể cầm ô đen, đi giày vải, áo được trang trí thêm hai chỉ màu ở hai bên xẻ nách

2.5 Trang phục “thầy”:

Tuỳ theo từng dịp lễ, tết, sinh nhật, tang ma, cưới hỏi mà màu sắc trang phục của “thầy” khác nhau, tất cả có bốn màu: vàng, xanh, đen, thêu, nhưng đa số đều có đầy đủ áo, mủ, giày được thêu khá công phu và cầu kì

+ Áo có hai loại: áo mặc bên trong có màu xanh, cắt may như áo thường ngày, áo

mặc bên ngoài được may rộng, dài qua đầu gối, xẻ ngực, cổ và hai vạt áo có viền vải màu đỏ Lưng áo phía sau được trang trí cầu kì, chia làm năm tầng: hoa văn hình người, cây bồ đề, thần linh, chim hạt, hình ngựa

+ Mũ cũng có hai loại: một loại mũ được may bằng vải chàm, hình tròn, có hai

dải vải ở hai bên mang tai dùng đội ở bên trong; loại mũ thứ hai được may, thêu thêm các hình hoa văn đầu rồng, mặt trăng, lá đề bằng các loại chỉ màu sặc sỡ (chỉ khi hành lễ trong đám tang hay nối số “thầy” mới đội loại mũ này)

+ Giày cũng được may bằng vải, kiểu dáng như giày vua chúa, được trang trí hoa

văn và thêu dệt cầu kì.”7

Trang 22

7 Viện dân tộc học, “Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam”, NXB Văn học

Hình 4: Trang phục “thầy” khi đi làm đám tang

Hình 5: Trang phục “thầy” khi đi làm sinh nhật

Trang 23

“Trang phục của những người hành lễ Mo, Then, Pụt đơn giản hơn trang phục

“thầy” Áo của Then, Mo tương tự nhau, đều là áo dài tứ thân, cổ cao, dài qua đầu gối

và thường là màu đỏ Riêng mũ của người làm Then được trang trí cầu kì nhiều màu sắc và có nhiều vải tua sặc sỡ.” 7

Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, trang phục cộng đồng người Nùng ở Đức Trọng, Lâm Đồng cũng đã có những sự thay đổi Đầu tiên, đó là sự thay đổi về chất liệu vải, cộng đồng này đã sử dụng vải như người Kinh để may trang phục, dùng vải hoa để may ghép vào với các bộ phận của trang phục Ở thành thị, nơi có hệ thống giao thông thuận lợiđồng thời chịu ảnh hưởng của sự giao thoa văn hóa nên trang phục của phần lớn tầng lớp thanh niên ở đây hoàn toàn giống người Kinh Chỉ còn ở những vùng sâu, vùng xa thì trang phục của cộng đồng này vẫn giữ được nét truyền thống của dân tộc mình

3 Ẩm thực

“Nguồn lương thực chính của người Nùng là gạo tẻ, gạo nếp, ngô thực phẩm chính là các loại rau xanh trồng trong vườn, trên mương và các loại thịt, cá, trứng, gà, ngang, vịt Trước đây, hằng ngày đồng bào người Nùng có ba bữa chính: ăn trưa gọi

là “kin ngài” (bắt đầu lúc 9-10 giờ), ăn chiều gọi là “kin lèng” (bắt đầu lúc 15-16 giờ)

và ăn tối gọi là “kin pjầu” (bắt đầu lúc 18-19 giờ) Ngoài ra khi một số gia đình có việc, họ còn ăn bữa phụ lúc nửa đêm gọi là “sheo dẹ” Người Nùng thường ăn cơm tẻ

là chủ yếu; ở một số vùng cao, do nguồn nước không đủ, họ chỉ trồng được ngô, vì vậy vào những năm mất mùa họ phải ăn ngô thay cơm hoặc ăn cơm độn.” 7

Tuy nhiên, hiện nay đồng bào người Nùng ở địa bàn Đức Trọng, Lâm Đồng không còn thói quen ăn ngô thay cơm, thời gian ăn các bữa chính cũng không còn theo quy định như trước kia

7 Viện dân tộc học, “Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam”, NXB Văn học

Trang 24

“Rau xanh, củ, quả được xuất hiện thường xuyên trong bữa ăn thường ngày của cộng đồng này Phương thức chế biến món ăn chủ yếu là xào nấu với các loại mỡ Ngoài ra, họ còn thích các món ăn nướng trên bếp than hồng.

Cách phân chia bữa ăn trong ngày của người Nùng mang tính bình đẳng, thân ái Mọi thành viên trong gia đình đều ngồi chung một mâm, không phân biệt trai, gái, dâu,

rể, nội, ngoại, chỉ phân biệt chủ khách Khách, người già, trẻ em, người ốm, phụ nữ mang thai thì được ưu tiên hơn trong khẩu phần ăn.” 7

Trước đây, những món ăn đặc trưng trong ngày lễ tết đều do người dân tập trung lại cùng nhau thực hiện với số lượng lớn, sau đó cùng nhau thưởng thức Nhưng ngày nay, vì công việc bận rộn nên họ không còn tự làm nữa

Món ăn truyền thống của người Nùng còn được lưu giữ đến ngày nay là bánh giầy, bánh si tài và xôi ba màu

Xôi ba màu: đây là món bắt buộc phải có vào ngày mùng ba tháng ba âm lịch

Xôi gồm ba màu: vàng, tím, đỏ và được làm từ ba nguyên liệu chính : nghệ vàng,

lá cẩm (tím) và gấc hoặc phẩm màu đỏ, tượng trưng cho tam giới

họ không còn uống thường xuyên như trước nữa

7 Viện dân tộc học, “Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam”, NXB Văn học

Trang 25

4 Tập tục ma chay và hôn nhân

4.1 Tập tục ma chay

Hiện nay trong cộng đồng người Nùng, có thể nói tập tục ma chay là tập tục duy nhất được gìn giữ gần như nguyên vẹn với những nghi lễ, hình thức truyền thống Tập tục ma chay của cộng động người Nùng có nguồn gốc từ một câu chuyệnmà mọi người đã truyền miệng nhau rằng, ngày xưa có một người tên Tống Vĩnh, ông sống trong thời đại mà người ta vẫn còn ăn thịt sống, và khi trong làng có người mất thì thịt người đó sẽ bị cả làng xâu xé để ăn Một hôm, sau khi đi ra ngoài trở về, Tống Vĩnh thấy một con dê mẹ đang sinh con và dê mẹ đã phải rất cực khổ mới sinh được

Từ lúc đó đến lúc về đến nhà, ông luôn thắc mắc và đã hỏi mẹ rằng trước kia khi sinh

ra ông mẹ ông có phải trải qua sự đau đớn như vậy không? Và mẹ ông trả lời là có, con người mình cũng như con dê, con bò, khi sinh ra con thì rất cực khổ Sau khi đã chứng kiến cảnh đó cũng như nghe mẹ trả lời như vậy, ông thấy rất thương mẹ và nghĩ rằng mẹ đã cực khổ như vậy mà khi chết lại phải bị cả làng xâu xé thịt, ông thấy rất thương mẹ, thế nên lúc mẹ mất ông không để cho ai đến gần thi thể của mẹ mình để xé thịt, ông đã đeo một con dao nhọn bên hông và ngồi canh giữ suốt bên thi thể mẹ mình Nhưng việc không để mọi người xé thịt người mẹlà không được vì như vậy sẽ trái với quy luật của làng Cuối cùng ông phải dùng thịt heo để thiết đãi cả làng ăn Câu chuyện trên giải thích vì sao trong đám tang của cộng đồng người Nùng luôn xuất hiện con dao nhọn và tiệc đãi khách

Ngoài ra, người Nùng quan niệm rằng chết không phải là hết, bên cạnh thế giới của người sống vẫn còn thế giới của người chết Khi một người chết là họ chia tay với thế giới trần để sang thế giới âm sống với ông bà tổ tiên Vì vậy, nghi lễ tiến hành chôn cất người chết thường diễn ra rất phức tạp và rất có quy cách Từ xưa đến nay mọi nghi thức trong một tang lễ truyền thống của người Nùng vẫn còn được giữ nguyên vẹn và các nghi thức này đều được các “thầy” thực hiện rất trang trọng Một tang lễ sẽ bao gồm các bước sau:

Khi nhà có người chết thì việc đầu tiên cần thực hiện là nghi lễ tắm rửa cho người chết Việc này thường do những người thân trong gia đình thực hiện; nếu người mất là đàn ông thì người con trai trưởng sẽ cắt tóc, cạo râu cho người mất rồi mới tắm rửa và thay

Trang 26

quần áo mới; nếu người mất là phụ nữ thì người con gái sẽ cắt móng tay móng chân, hất tóc ngược lên, vấn tóc lại sau đó mới tắm rửa thay quần áo mới Tiếp theo người con thứ sẽ đi mời thầy về làm lễ cho người mất vì họ quan niệm rằng sống trên đời ai cũng sẽ mắc những tội lỗi dù nhiều hay ít Những tội lỗi của họ có thể giảm nhẹ nếu

“thầy” làm những nghi lễ cầu xinvà một việc rất quan trọng cần phải làm sau khi mời

“thầy” đến là “thầy” sẽ lấy ngày sinh và tên tuổi của người chết để xem ngày mai táng Nếu không chọn ngày phù hợp để mai táng thì sẽ có ảnh hưởng đến những người còn sống trong gia đình nên cần được thực hiện rất cẩn thận Sau đó “thầy” sẽ thực hiện

“lễ rửa mặt” cho người chết Con trai cả sẽ đi lấy nước, có thể là nước sông,

suối( nước thiên nhiên) Mọi người sẽ đi quanh xác chết 3 vòng rồi chia ra quỳ hai bên thi thể; nam tả, nữ hữu rồi tiến hành nghi lễ rửa mặt Sau lễ rửa mặt là lễ tẩm liệm và đặt thi thể người chết vào áo quan

Lễ tẩm liệm: Nghi lễ tẩm liệm thường do người con trưởng trực tiếp thực hiện, còn

những gia đình không có con trai trưởng thì nghi lễ này sẽ do người con rể đảm nhiệm

và tất cả đều phải làm theo lời chỉ dẫn của “thầy” Theo quan niệm của người Nùng, đất mẹ sinh ra con người nên khi con người mất lại trở về với đất mẹ Vì vậy trước khi nhập áo quan bao giờ cũng phải đặt người chết xuống đất tại vị trí giữa nhà và hướng đầu người mất vào trong bàn thờ Khi thực hiện nghi lễ này thì cần phải lấy vải che lên thi thể của người mất Có 2 loại vải được được sử dụng trong nghi lễ này, đó là loại vải màu trắng là do gia đình che lên và loại vải màu đỏ thì sẽ do gia đình thông gia của người mất che lên Phía trên đầu người mất được đặt một bát nhang và một quả trứng Ngày hôm sau thì quả trứng đó được thay bằng một con gà con đã bị bóp chết Việc chuyển từ quả trứng sang con gà như một quan niệm về sự siêu thoát và đầu thai của người Nùng

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w