Đây là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình, bao gồm các qui phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài, chủ yếu điều chỉnh những quan hệ xã hội liên qu
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUÂT THẾ GIỚI
1 Tên và thời lượng môn học
Tên môn học : Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Thế giới
Thời lượng môn học : 15 tiết
2 Vị trí môn học
Đây là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo đại học Luật, là một trong những nội dung quan trọng của đào tạo cử nhân luật, nhằm mục tiêu giáo dục toàn diện cho người học
Môn học này được thiết kế học sau các môn : Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, môn Lý luận về Nhà nước và Lý luận về Pháp luật Và có thể bố trí học vào bất kỳ học kỳ nào trong khóa học
3 Mục tiêu môn học
Sau khi hoàn tất chương trình môn học này, người học có thể :
+ Nắm biết được các kiến thức cơ bản về quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và Pháp luật thế giới từ kiểu nhà nước : chủ nô, phong kiến, tư sản…ở phương Đông và phương Tây
+ So sánh và phân tích được những quy định về tổ chức và hoạt động của Nhà nước cũng như của pháp luật ở phương Đông và phương Tây qua các giai đoạn phát triển của lịch sử
+ Nhận thức và lý giải được những nguyên nhân đã dẫn đến sự hình thành, thay đổi của những quy định về tổ chức và hoạt động của Nhà nước cũng như pháp luật ở ở phương Đông và phương Tây qua các giai đoạn lịch sử
4 Yêu cầu môn học
- Đối với người học : để học môn này có kết quả cần phải có sự tham gia đầy đủ
và nghiêm túc của người học, việc đọc các tài liệu được giảng viên giới thiệu trước và sau khi đến lớp cũng hết sức cần thiết Trong các buổi giảng và thảo luận trên lớp, người học phải nắm bắt được các nội dung cơ bản, cần có sự trao đổi khi gặp khó khăn, đồng thời khuyến khích thảo luận, tranh luận và giải thích các vấn đề được được đặt ra của
môn học
- Đối với nhà trường : trang bị đầy đủ các tài liệu cần thiết để phục vụ cho môn
học, đảm bảo về cơ sở vật chất cho việc giảng dạy
5 Nội dung môn học
- Trong chương trình đào tạo cử nhân luật tại trường Đại học Cần Thơ, môn học
Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Thế giới là môn học nghiên cứu một cách cơ bản quá trình hình thành và phát triển của bộ máy Nhà nước ở phương Đông và phương Tây qua
Trang 26 Phương pháp giảng dạy và đánh giá môn học
- Nội dung và các mục tiêu của môn học sẽ được làm rõ bằng sự kết hợp của các phương pháp như: phương pháp thuyết giảng (nhằm cung cấp những thông tin, kiến thức cơ bản, nền tảng cho người học) và phương pháp thảo luận, tranh luận (nhằm giúp người học kiểm tra lại khả năng tiếp thu và phát triển khả năng đánh giá, phân tích, so sánh và làm việc nhóm) Ngoài ra, các buổi thuyết trình theo các đề tài được giáo viên định hướng sẽ giúp người học có thêm nhiều kỹ năng và kiến thức
- Trong quá trình giảng dạy, giảng viên sẽ đặt ra các câu hỏi dưới nhiều hình thức khác nhau, như: câu hỏi trắc nghiệm giúp người học nhớ lại những nội dung cơ bản của bài, câu hỏi nhận định giúp người học có thể kiểm tra mức độ hiểu bài của mình và câu hỏi tổng hợp, phân tích hay so sánh giúp người học làm quen với dạng đề thi sẽ làm trong kiểm tra cuối môn học
- Mỗi học phần gồm tối thiểu 2 phần đánh giá trong các phần: phần thực hành, đánh giá nhận thức, thảo luận, chuyên cần, kiểm tra giữa kỳ, đồ án, thi kết thúc Phần thi kết thúc là bắt buộc phải có và chiếm tỷ lệ không dưới 50%
- Thực hành 30 %
- Kiểm tra giữa kỳ: 10%
- Thi kết thúc 60 % (tỷ lệ không dưới 50%)
Trang 3CHƯƠNG I NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CỔ ĐẠI PHƯƠNG ĐÔNG
I QUÁ TRÌNH XUẤT HIỆN, PHÁT TRIỂN VÀ SUY VONG Ở CÁC QUỐC GIA PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI
1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
1.1 Điều kiện tự nhiên
+ Nằm trên lưu vực các con sông lớn => đất mềm, nhiều phù sa nhưng phải đối mặt với lũ lụt hàng năm Công tác trị thủy đóng vai trò quan trọng
- Ai Cập: sông Nil
- Lưỡng Hà: sông Tigris và sông Ơphrat
- Ấn Độ: sông Ấn và sông Hằng
- Trung Quốc: sông Trường Giang và sông Hoàng Hà
+ Địa hình xung quanh là sa mạc, rừng núi, biển… => các tộc người sinh sống trong khu vực tập trung về lưu vực các con sông => chiến tranh thường xuyên xẩy ra
để tranh giành nguồn nước
- Ai Cập: phía bắc là địa trung hải; phía nam là vùng rừng núi nubi, phía đông
là hồng hải, phía tây là sa mạc Libi Xung quang ai cập bị bao bọc bởi những
dãi núi đá thẳng đứng
- Lưỡng Hà: đông bắc giáp dãi núi Acmênia và cao nguyên Iran; phía tây giáp thảo nguyên Xiri và sa mạc Arập, phía nam là vịnh Pecxich
- Ấn Độ: phía bắc là dãi núi Hymalaya, phía đông nam và tây nam giáp biển
+ Khí hậu nhiệt đới => mưa nhiều, đa dạng sinh vật => Thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
+ Kinh tế:
- Công cụ lao động bằng đồng xuất hiện
- Ba lần phân công lao động
=> Năng suất lao động tăng, sản phẩm dư thừa
+ Xã hội:
- Công xã thị tộc tan rã : Nguyên nhân: Kinh tế phát triển => Khi công xã thị tộc tan rã, công xã nông thôn xuất hiện và thế chổ – là đơn vị xã hội tồn tại lâu đời và có nhiều ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, chính trị ở phương đông
- Chế độ tư hữu xác lập : Trong quá trình tan rã của công xã thị tộc tan rã, khi các tiểu gia đình tách khỏi “đại gia đình” của mình, họ chiếm đoạt tư liệu sản xuất như: ruộng đất, công cụ lao động của công xã nông thôn làm tài sản riêng của gia đình mình
=> xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất
+ Phân hoá giai cấp trong xã hội
- Trong quá trình chiếm đoạt tài sản công làm của riêng: Đại đa số nông dân công xã giữ được một ít tài sản => nông dân
Trang 4- Một thiểu số chức sắc trong xã hội nguyên thủy như: tộc trưởng, tù trưởng, thủ lĩnh liên minh bộ lạc chiếm được nhiều tài sản hơn Ngoài ra, họ còn dựa vào sức mạnh,
ưu thế của mình để cướp bóc, chiếm đoạt tài sản, ruộng đất của nông dân trong bộ lạc của mình đồng thời tiến hành chiến tranh cướp tài sản của các bộ lạc khác; biến dân cư của những bộ lạc này thành nô lệ nên họ càng ngày càng giàu có => quý tộc thị tộc Do
đó, dân cư trong xã hội lúc này phân hoá thành:
ý chí của họ Tổ chức đó gọi là nhà nước
Nhưng ở các quốc gia phương đông cổ đại, khi trong xã hội đã phân hoá giai cấp, đã xuất hiện mâu thuẫn giai cấp Tuy nhiên, mâu thuẫn ấy chưa đến mức gay gắt, chưa trở thành mâu thuẫn đối kháng nhưng nhà nước đã xuất hiện.) Đây là một ngoại lệ trong học thuyết về nguồn gốc nhà nước của Mac – Lênin vì ở phương đông ngoài hiện tượng
phân hóa giai cấp, quá trình hình thành nhà nước ở vùng này còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
- Công cuộc xây dựng các Công trình thủy lợi: Trong quá trình xây dựng các công
trình thủy lợi, để công việc đạt được hiệu quả cao, cần phải có sự quản lý thống nhất trong một tập thể Chính yếu tố quản lý này là tiền đề của việc quản lý nhà nước sau này
- Chiến tranh: Để tiến hành chiến tranh, cần phải có trật tự, kỷ cương trong 1 tập
thể, đặc biệt cần phải có người thống lĩnh quân đội Nếu chiến thắng, vai trò, quyền lực
và uy tín của người thủ lĩnh này càng tăng cao
Trong bối cảnh chung, khi chế độ tư hữu manh mún xuất hiện thì với quyền lực ngày càng được tập trung cao độ của mình, thủ lĩnh quân sự cùng với những tùy tùng thân tín của ông chiếm giữ được nhiều tài sản hơn các thành viên khác trong công xã Sau mỗi chiến thắng, thủ lĩnh quân sự và tuỳ tùng của ông:
+ Xác định biên giới lãnh thổ;
+ Thiết lập một bộ máy quản lý và quản lý dân cư theo đại bàn lãnh thổ mà họ sinh sống (không còn quản lý theo huyết thống dòng họ như trước đây)
+ Thu thuế để nuôi sống bộ máy đó;
+ Xây dựng pháp luật làm chuẩn mực xử sự cho mọi người theo ý chí của giai cấp cầm quyền
+ Tiếp tục xây dựng và củng cố lực lượng quân đội để bảo vệ vùng lãnh thổ của mình và tiếp tục đi xâm lược các vùng đất khác
=> Các dấu hiệu của nhà nước xuất hiện
Đến một thời điểm nhất định, khi quyền lực tập trung cao độ, thủ lĩnh quân sự tự xưng mình là vua Đây cũng là nguyên nhân để lý giải vì sao trong buổi đầu thành lập nhà nước, chính thể của các nước ở phương đông là Quân chủ tuyệt đối với quyền lực được tập trung vào tay vua ngày càng cao độ
Nhìn chung : Sự ra đời của các quốc gia này không hề mâu thuẫn với học thuyết
về nguồn gốc nhà nước của Mac-Lênin, vì chính sự phân hoá giai cấp trong xã hội mới
Trang 5chính là nguyên nhân chính làm xuất hiện nhà nước Còn yếu tố quản lý và vai trò của người thủ lĩnh trong công cuộc xây dựng công trình thủy lợi và chiến tranh là yếu tố thúc đẩy nhà nước ra đời sớm hơn
Mô hình về quá trình xuất hiện nhà nước của các quốc gia phong kiến cổ đại ở Phương Đông
2 Các quốc gia cổ đại phương Đông
2.1 Ai Cập
Ai Cập nằm ở Đông Bắc châu Phi, dọc vùng hạ lưu của lưu vực sông Nil, sông Nil bắt nguồn từ vùng xích đạo của châu Phi, dài 6700 km, nhưng phần chảy qua Ai Cập chỉ dài 700 km Miền đất đai do sống Nil bồi đắp chỉ rộng 15-25 km, phía Bắc có nơi rộng 50 km vì ở dây sông Nil chia thành nhiều nhánh trước khi đổ ra biển Do đó, nền kinh tế nơi đây phát triển sớm tạo điều kiện cho Ai Cập có thể bước vào xã hội văn minh sớm nhất thế giới Ai Cập được các sử gia chia thành 4 thời kỳ :
- Tảo Vương Quốc (3200-3000 TCN) : do sự phát triển của lực lượng sản xuất
và sự phân hoá giàu nghèo, các công xã nông thôn đã liên hiệp lại thành những nhà
nước nhỏ đầu tiên gọi là châu Dần dần, những châu ấy hợp lại thành hai miền Thương
và Hạ Ai Cập Khoảng năm 3200BC, hai vùng đất được gọi là Thượng và Hạ Ai Cập
đầu tiên được thống nhất bởi Menes Ông ta đã sáng lập ra các luật lệ và triều đại đầu tiên Thủ đô của thời kỳ đó là Memphis lập ra vương triều I và tiếp theo là vương triều
II (không rõ, chưa có tài liệu) gọi chung là thời Tảo Vương Quốc
(Thời đại này để lại cho nhân loại rất nhiều di sản văn hóa : cách tính toán và ngôn ngữ chữ viết được phát triển (Chữ viết tượng hình ), và một nhà thiên văn học ở Heliopolis phát minh ra lịch (calendar), cho phép các nông dân dự đoán được thời tiết, cũng như sự lên xuống của dòng lũ sông Nile)
- Cổ Vương Quốc : Bao gồm các vương triều sau đây :
+ Vương triều thứ ba ( 2815 - 2700 TCN) : Vua Djoser sai Imhotep xây dựng
kim tự tháp có bậc đầu tiên ở Saqqara
+ Vương triều thứ tư ( 2700 - 2400 TCN ) : gồm có các vua Sneferu, Kheops,
Mykerinos, Khephren )
+ Vương triều thứ năm: Vua Sahure, còn gọi là con của thần Rê
+ Vương triều thứ sáu: Vua Pepi I, Pepi II
Trang 6+ Vương triều thứ bảy và thứ tám ( 2400 - 2200 TCN ) là thời kỳ Ai Cập bị phân
chia thành nhiều tiểu vương quốc
+ Vương triều thứ chín, X và XI ( 2200 - 2050 TCN ) là thời kỳ chiến tranh liên
miên giữa các tiểu vương quốc, và kết thúc bằng sự tái thống nhất của Mentouhotep II
- Trung vương quốc : Bao gồm các vương triều sau đây
+ Vương triều thứ XII ( 2000 - 1800 TCN) : : Vua Amenemhat I thống nhất Ai
Cập Kế tục là các vua Sesostris I, Sesostris III và Amenemhat IV tiến hành nhiều cuộc chiến tranh để mở rộng lãnh thổ Ai Cập
+ Vương triều thứ XIII, XIV ( 1800 - 1750 TCN) : là thời kỳ đen tối, hoan lạc
của vương quốc Ai Cập
+ Vương triều thứ XV, XVI, XVII (1700 - 1590 TCN) : là thời kỳ Ai Cập chống
lại sự xâm lược của người Hyksos
- Tân vương quốc : Bao gồm các vương triều sau đây :
+ Vương triều thứ XVIII (1590 - 1310 TCN) : Vua Ahmose I tái thống nhất Ai
2.2 Lưỡng Hà
- Lưỡng Hà là vùng thung lũng giữa 2 con sông Tigris và Euphrates , người Hy Lạp cổ đại gọi là Mesopotamia Từ thưở xa xưa nó đã nổi tiếng là vùng đất phì nhiêu , thuận lợi cho nền sản xuất nông nghiệp trồng nho , ôliu đại mạch và nhiều loại hoa quả khác
- Biên giới phía bắc là dãy núi Armenia, phía tây là sa mạc Syria, phía đông giáp
Ba Tư , phía nam là vịnh Pecxich Cả Lưỡng Hà là một đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu Sông Tigris và Euphrates hàng năm tưới mát cho dải đất mênh mông này, đem lại nguồn nước và phù sa vô tận, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá …
Đó là một thuận lợi để cho cư dân nhiều nơi hội tụ về đây Tuy vậy, sự phức tạp về dân
cư cũng làm cho Lưỡng Hà khó thống nhất lãnh thổ
- Dân cư : người Xumer, từ thiên niên kỉ IV tr CN đã di cư tới và sáng lập ra nền văn minh cổ đại đầu tiên ở lưư vực Lưỡng Hà, kế đến là người Xemites đến đầu
thiên niên kỉ thứ III tr.CN Từ nhũng bộ lạc chăn nuôi, họ dần dần chuyển thành những
bộ lạc nông nghiệp và đồng hóa với người Sumer Ngoài ra còn rất nhiều bộ lạc thuộc nhiều ngữ hệ khác nhau ở các vùng xung quanh di cư đến
Trải qua hàng nghìn năm, qua quá trình lao động, họ đã hòa nhập thành một cộng đồng dân cư đông đúc và xây dựng một quốc gia mạnh nhất ở Tây Á
- Năm 3000 TCN, với sự tồn tại của nhiều quốc gia nhỏ của người Xume như :
Ua, Êriđu, Lagash… khoảng đầu thế kỷ 23 TCN, miền nam Lưỡng Hà thống nhất với sự
cai trị của người Xemites, đặt tên nước là Accat
Trang 7- Vào thế kỷ 21 -20 TCN, quyền thống trị Lưỡng Hà rơi vào tay của vương quốc
Ua của người Xume Thế nhưng, họ không giữ được sự thống nhất lâu Những năm
cuối của thế kỷ 20 TCN, Lưỡng Hà lại bị phân hoá thành những quốc gia nhỏ
- Năm 1894 TCN, Lưỡng Hà thống nhất dưới quyền cai trị của người Amôrit,
thuộc vương quốc Babilon Đây là thời kỳ cực thịnh nhất của Lưỡng Hà, đặc biệt dưới triều đại của Hammurapi Sau khi Hammurapi chết, Babilon bị diệt vong, Lưỡng Hà liên tiếp bị các tộc người bên ngoài thống trị gần 1000 năm Năm 626 TCN, nhà nước Tân Babilon được khôi phục và thống trị Lưỡng Hà trong gần 1 thế kỷ Năm 538 TCN, Lưỡng Hà bị Ba Tư thôn tính
2.3 Ấn Độ
+ Thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn (từ đầu thiên kỷ III đến giữa thiên kỷ II TCN)
Từ khoảng đầu thiên kỷ III TCN, nhà nước Ấn Độ đã ra đời, nhưng cả giai đoạn
từ đó cho đến khoảng giữa thiên kỷ II TCN, trước đây chưa được biết đến Mãi đến năm
1920 và 1921, nhờ việc phát hiện ra hai thành phố Harappa và Môhenjô Đarô cũng rất nhiều hiện vật bị chôn vùi dưới đất ở vùng lưu vực sông Ấn, người ta mới biết được thời
kỳ lịch sử này Những hiện vật khảo cổ học chỉ giúp người ta biết được tình hình phát triển của các ngành kinh tế và văn hóa, qua đó có thể suy ra đây là thời kỳ đã có nhà nước, chứ chưa biết được lịch sử cụ thể, vì vậy người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ văn hóa Harappa hoặc thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn
+ Thời kỳ Vêđa (từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN)
Thời kỳ này, lịch sử Ấn Độ được phản ánh trong các tập Vêđa nên gọi là thời Vêđa Vêđa vốn là những tác phẩm văn học, gồm có 4 tập là: Rich Vêđa, Xama Vêđa, Atácva Vêđa và Yagiva Vêđa, trong đó Rich Vêđa được sáng tác vào khoảng giữa thiên
kỷ II đến cuối thiên kỷ II TCN, còn 3 tập Vêđa khác thì được sáng tác vào khoảng đầu thiên kỷ I TCN
Chủ nhân của thời kỳ Vêđa là người Arya (nghĩa là "Người cao quý") mới di cư
từ Trung á vào Ấn Độ Địa bàn sinh sống của họ trong thời kỳ này chủ yếu là vùng lưu vực sông Hằng Trong giai đoạn đầu của thời Vêđa, người Arya đang sống trong giai đoạn tan rã của xã hội nguyên thủy đến khoảng cuối thiên kỷ II TCN, họ mới tiến vào
xã hội có nhà nước Chính trong thời kỳ này, ở Ấn Độ đã xuất hiện hai vấn đề có ảnh hưởng rất quan trọng và lâu dài trong xã hội nước này, đó là chế độ đẳng cấp (varna) và đạo Bàlamôn
- Từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ XII
Các quốc gia ở miền Bắc Ấn Độ và sự xâm lược của Alêchxăngđrơ MakêđôniaBắt đầu từ thế kỷ VI TCN, Ấn Độ mới có sử sách ghi chép về tình hình chính trị của đất nước mình Lúc bấy giờ ở miền Bắc Ấn Độ có 16 nước, trong đó mạnh nhất là nước Magađa hạ lưu sông Hằng
Năm 327 TCN, sau khi tiêu diệt Ba Tư, quân đội Makêđônia do Alêchxăngđrơ chỉ huy đã tấn công Ấn Độ Quân đội của nước họ đã chiến đấu rất dũng cảm nhưng cuối cùng bị thất bại Alêchxăngđrơ định tiến sang phía Đông tấn công nước Magađa nhưng quân sĩ đã quá mệt mỏi sau một cuộc trường trinh nhiều năm nên phải rút lui, chỉ
để lại một lực lượng chiếm đóng ở hai cứ điểm đã chiếm được mà thôi
+ Vương triều Môrya (321 - 187 TCN) : Ngay sau khi Alêchxăngđrơ rút lui, ở
Ấn Độ đã dấy lên phong trào đấu tranh giải phóng chống lại sự chiếm đóng của quân
Trang 8Makêđônia Thủ lĩnh của phong trào này là Sanđragupta, biệt hiệu là Môrya (chim công) Quân Makêđônia bị đuổi khỏi Ấn Độ, Sanđragupta làm chủ được cả vùng Pungiáp Tiếp đó, ông tiến quân về phía Đông giành được ngôi vua ở Magađa; lập nên một triều đại mới gọi là vương triều Môrya, triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Ấn
Độ cổ đại
Đến thời Axôca (273-236 TCN), vương triều Môrya đạt đến giai đoạn cường thịnh nhất Nhưng sau khi Axôca chết, vương triều Môrya suy sụp nhanh chóng, nước Magađa thống nhất dần dần tan rã, đến năm 28 TCN thì diệt vong
+ Nước Cusan: Trong khi tình hình chia cắt ở Ấn Độ đang diễn ra trầm trọng thì
vào thế kỷ I, tộc Cusan (cùng một huyết thống với người Tuốc) từ Trung á tràn vào chiếm được miền Tây Bắc Ấn Độ lập thành một nước tương đối lớn Vua nước Cusan lúc bấy giờ là Canixca (78-123) Sau khi Canixca chết, nước Cusan ngày càng suy yếu, lãnh thổ chỉ còn lại vùng Pungiáp và tồn tại đến thế kỷ V thì diệt vong
+ Vương triều Gupta : HacsaTrong thế kỷ III, Ấn Độ lại bị chia cắt trầm trọng
Năm 320, vương triều Gupta được thành lập, miền Bắc và một phần miền Trung Ấn Độ tạm thời thống nhất một thời gian Từ năm 500-528, phần lớn miền Bắc Ấn Độ bị người Eptalil xâm chiếm và thống trị, đến năm 535, triều Gupta diệt vong
+ Vương triều Hácsa : Năm 606, vua Hácsa lại dựn lên một vương triều tương
đối hùng mạnh ở miền Bắc Ấn Độ ( Chính trong thời kỳ này nhà sư Huyền Trang của Trung Quốc đã sang Ấn Độ để tìm kinh Phật ) Năm 648, Hácsa chết, quốc gia hùng mạnh do ông dựng lên cũng tan rã.Từ đó cho đến thế kỷ XII, Ấn Độ bị chia cắt càng trầm trọng và nhiều lần bị ngoại tộc xâm nhập Đặc biệt từ đầu thế kỷ XI, Ấn Độ thường
bị các vương triều hồi giáo ở Ápganixtan tấn công và đến năm 1200 toàn bộ miền Bắc
Năm 1711 TCN, nhà Thương thay thế nhà Hạ Nhà Thương còn được gọi là nhà
Ân, vì nhà Thương dời đô về đất Ân Khư Vua cuối cùng cùa Nhà Thương là Trụ Vương say mê sắc đẹp của Đắc Kỷ hoang dâm, tàn bạo làm cho vương triều suy yếu Nhà Chu lợi dụng tình hình này tiến quân tiêu diệt nhà Thương Thành lập nhà Chu Nhà Chu thực hiện chính sách phân phong đất đai cho con cháu của mình làm chư hầu
- Nhà Chu có 2 thời kỳ:
+ Tây Chu (1066 – 770 TCN) đóng đô ở hạo Kinh Vua cùng của Tây Chu là U vương
+ Đông chu (771 – 256 TCN), có 2 thời kỳ:
* Xuân Thu (771 – 475 TCN) : Chính quyền trung ương nhà chu hoàn toàn suy
yếu, gần 100 nước chư hầu gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau, xưng bá để khống chế nhà chu và các nước khác Đây là thời ký suy sịp những giá trị đạo đức, xã hội rối ren, loạn lạc… do đó, xuất hiện nhiều tư tưởng, học thuyết chính trị nhằm ổn định xã hội (thời kỳ bách gia chư tử)
Trang 9* Chiến Quốc (475 – 256 TCN) : Trải qua hàng trăm năm chiến tranh thoôn tính
lẫn nhau, các nước nhỏ đã bị các nước lớn tiêu diệt, sang thời chiến quốc chỉ còn lại 7 nước lớn Tề, Yên, Hàn, Sở, Triệu, Nguỵ, Tần và một số nước nhỏ Năm 256, nhà Chu bị nhà Tần tiêu diệt Sau đó, nhà Tần lại lần lượt thôn tính các quốc gia còn lại, thống nhất Trung Quốc Đây là mốc thời gian đánh dấu sự chấm dứt của chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc bước sang chế độ phong kiến
3 Bối cảnh xã hội
3.1 Quan hệ giai cấp: Trong xã hội lúc này hình thành 3 giai cấp chính, đó là chủ
nô, nô lệ và nông dân công xã
- Giai cấp chủ nô: Gồm có quý tộc thị tộc (vua, quan lại); quý tộc tăng lữ và những
người giàu có khác Họ đồng thời là giai cấp thống trị trong xã hội, nắm giữ nhiều ruộng đất, của cải trong cả nước; đồng thời có nhiều quyền lợi chính trị
- Giai cấp nô lệ:
+ Tù binh chiến tranh,
+ Nông dân công xã bị phá sản,
+ Là con của nô lệ…
+ Mâu thuẫn đối kháng giai cấp trong xã hội không phải là mâu thuẫn giữa chủ
nô và nô lệ mà lại là mâu thuẫn giữa chủ nô và nông dân công xã
- Nông dân công xã:
+ Số lượng chiếm đa số và là lực lượng lao động chủ yếu của xã hội Sống trong các công xã nông thôn
+ Phần lớn họ là những người nghèo, ít ruộng đất phải nhận ruộng đất của nhà nước từ các công xã nông thôn để cày cấy và đóng thuế cho nhà nước hoặc thuê ruộng của các chủ nô và nộp tiền thuê đất hay hoa lợi thu hoạch được
+ Họ được quyền làm người nhưng là đối tượng bóc lột chủ yếu của giai cấp chủ nô Ngoài ra, họ còn phải cùng với nô lệ lao động khổ sai để xây dựng các công trình cho vua và nhà nước
- Bên cạnh đó, còn có tầng lớp thợ thủ công, thương nhân, chiếm thiểu số trong dân cư Thành phần của họ khá phức tạp nhưng nhìn chung họ là những người nghèo, chịu sự bóc lột của giai cấp chủ nô
Như vậy, trong xã hội phương Đông cổ đại kết cầu giai cấp đã hoàn chỉnh Giai cấp bóc lột bao gồm chủ nô như vua, quan lại, tăng lữ, người giàu có Giai cấp bị trị bao gồm nô lệ, nông dân công xã, thợ thủ công và thương nhân
Trang 103.2 Chế độ đẳng cấp : Bên cạnh sự phân hoá xã hội thành giai cấp, xã hội phương
Đông còn phân biệt dân cư theo chế độ đẳng cấp:
+ Giai cấp thống trị là đẳng cấp cao quý nhất;
+ Nông dân nghèo, thợ thủ công, nô lệ bị xem là tầng lớp thấp hèn nhất
Đặc biệt, ở Ấn Độ phân biệt thành 4 đẳng cấp (chế độ Vacna):
+ Đẳng cấp Bà La Môn: gồm tăng lữ Bà La Môn, là đẳng cấp cao quý nhất, được sinh ra rừ miệng thần Brama, đọc kinh, giảng đạo, không phải lao động sản xuất vật chất
+ Đẳng cấp Ksatơria: sinh ra từ cánh tay của thần Brahma Đẳng cấp này có nhiệm vụ bảo vệ chế độ (gồm vua, quan lại, và những người trong quân đội) cũng không phải lao động sản xuất
+ Đẳng cấp Vaisia: gồm những người làm nông nghiệp, buôn bán và thợ thủ công, sinh ra từ đùi của thần Brama Họ có nghĩa vụ sản xuất để nuôi sống 2 đẳng cấp trên
+ Đẳng cấp Suđra: gồm những người cùng khổ nhất trong xã hội, là con cháu của những bộ tộc bị thất trận, không có tư liệu sản xuất và ở ngoài công xã, sinh ra từ bàn chân của thần Brama Họ có nghĩa vụ phụ vụ cho 3 đẳng cấp trên
Sự phân biệt đẳng cấp ở Ấn Độ rất khắc nghiệt Người thuộc đẳng cấp dưới phải tôn trọng và phục tùng người thuộc đẳng cấp trên, những người khác đẳng cấp không được kết hôn với nhau, …Nguyên nhân của sự phân biệt đẳng cấp ở Ấn Độ: để duy trì
sự thống trị của những người có trình độ thấp kém hơn những người có trình độ phát triển cao hơn
từ tông chủ (nhà Chu), có nghĩa vụ nộp cống và cử lính tham gia quân đội của nhà vua khi có chiến tranh (chế độ tông pháp)
+ Số ruộng đất ở địa phương Vua giao cho các công xã nông thôn quản lý Công
xã có quyền chia đất cho nông dân cày cấy Nông dân phải nộp tô thuế cho nhà nước thông qua công xã Ở Trung Quốc, Nhà Chu phân phối đất đai ở địa phương theo chế độ tỉnh điền Mỗi hộ nông dân được chia một mãnh ruộng bằng 100 mẫu (2 ha) gọi là một điền Để chia ruộng đất thành những phần như vậy và để đẫnn nước vào ruộng, người ta đắp những bờ vùng, bờ thửa và đảo những con kênh, mương ngang dọc, do dó, tạo thành những hình như chữ điền – gọi là chế độ tỉnh điền
4 Tổ chức bộ máy nhà nước
4.1 Quản lý nhà nước ở trung ương
- Ở trung ương:
+ Vua: là người đứng đầu nhà nước, có quyền lực tối cao
+ Mọi mệnh lệnh của vua có giá trị thi hành như pháp luật
Trang 11+ Vua có quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng của quốc gia, quyết định
bổ nhiệm, cách chức, trừng phạt bất cứ ai
+ Vua là người có thẩm quyền xét xử cao nhất
+ Vua là chỉ huy quân sự cao nhất
+ Bên cạnh đó, vua được thần thánh hoá, vua được xem là con hoặc đại diện hoặc chính là hiện thân của thần linh
+ Quan đầu triều: Là một vị quan hay một hội đồng thân tín nhất của nhà vua, nắm giữ các công việc quan trọng trong triều
+ Hệ thống các cơ quan giúp việc: Gồm một số quan lại cao cấp Tùy từng nơi, từng thời kỳ mà có sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng hay không
4.2 Ở địa phương
Quản lý nhà nước ở địa phương thường dựa vào công xã nông thôn Người đứng đầu là người của chính địa phương đó (vương công, tù trưởng…) Quyền lực của họ như một vị vua nhỏ ở địa phương, có quyền thu thuế, đặt pháp luật, xây dựng quân đội, quyết định mọi vần đề ở địa phương
Do đó, khi chính quyền trung ương suy yếu, họ là những thế lực phản loạn, nổi day chống lại chính quyền trung ương, thành lập nhà nước riêng, tạo nên trạng thái cát
cứ phân quyền
Sau mỗi lần cát cứ như thế, chính quyền trung ương thực hiện nhiều biện pháp để quản lý chặt chẽ hơn địa phương Như: cử quan ở triều đình về giám sát hoặc trực tiếp quản lý, chia nhỏ địa phương và phân cấp quản lý chặt chẽ Ví dụ như ở Ấn Độ.riêng trung quốc, nhà tây chu thiết lập hệ thống các nước chư hầu để thông qua các nước chư hầu quản lý toàn bộ lãnh thổ rộng lớn
+ Về lực lượng: rất đông, rất đa dạng Gồm lính thường trực, lính đánh thuê Được phân loại như quân lính của vua, của địa phương, …
+ Về binh chủng: tương đối đa dạng, gồm bộ binh, kỵ binh, tượng binh, chiến xa + Về chế độ đãi ngộ quân lính; thông thường lính phải tự trang bị vũ khí và có quyền nhận các chiến lợi phẩm Về sau, họ được nhà nước trả lương, cấp đất tuỳ theo chức vị và quân công
4.4.Tôn giáo
Do trình độ khoa học kỹ thuật hạn chế nên tôn giáo là công cụ hổ trợ đắc lực cho việc quản lý của nhà nước
4.4 Cơ quan xét xử
Vua luôn là người có quyền xét xử tối cao Vua có thể xét xử bất kỳ vụ án nào
mà vua muốn, quyết định của nhà vua là quyết định sau cùng
+ Ở trung ương, có cơ quan chuyên trách việc xét xử
+ Ở địa phương, việc xét xử được giao cho người quản lý địa phương đó hoặc giao cho hội đồng công xã hoặc các vị bô lão có uy tín
NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ
Trang 12+ Các nhà nước ở phương đông trong thời kỳ cổ đại xuất hiện “sớm” do sự tác động của công cuộc xây dựng công trình thủy lợi và các cuộc chiến tranh đến quá trình xuất hiện nhà nước
+ Về chính thể nhà nước; luôn là hình thức chính thể quânchủ chuyên chế trung ương tập quyền
+ Bộ máy nhà nước là bộ máy bạo lực lớn, được thần thánh hóa nhằm bảo vệ giai cấp thống trị một cách đắc lực nhất Điều này làm cho bản chất giai cấp của các nhà nước này nổi trội hơn bản chất xã hội của nó
+ Sự tồn tại lâu dài của các công xã nông thôn ảnh hưởng đến tổ chức chức bộ máy nhà nước Nhà nước quản lý địa phương thông qua công xã nông thôn
Tuy nhiên, trong quá trình phục vụ cho giai cấp của mình, nhà nước chiếm hữu
nô lệ phương đông đã làm nồng cốt cho nhân dân sáng tạo, xây dựng và phát triển văn hóa Do đó, các quốc gia phương đông cổ đại đã đạt nhiều thành tựu huy hoàng về văn hoá trở thành một trong những trung tâm của văn minh thế giới cổ đại
II PHÁP LUẬTCÁO QUỐC GIA PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI
1 BỘ LUẬT HAMMURAPI
- Về mặt nguồn gốc, Bộ luật Hammurabi được xây dựng trên cơ sở pháp điển hoá nhiều văn bản trước đó và trên cơ sở kế thừa luật lệ của người Xu-me, người Amôrít Bộ luật Hammurapi được các nhà khảo cổ người Pháp tìm ra vào năm 1901 - đây là bộ luật thành văn sớm nhất được phát hiện trong lịch sử nhân loại Luật được khắc trên tảng đá Bazan cao 2 mét Phần trên cùng của tấm đá có hình Hammurapi đứng trước thần mặt trời Samat (vị thần bảo vệ tòa án) Điều này chứng tỏ Hammurapi đã ý thức được hiệu quả của việc kết hợp giữa vương quyền, thần quyền và pháp quyền để tiến hành cai trị dân chúng
1.1 Về nguồn của bộ luật:
+ Nguồn của bộ luật là những tiền lệ pháp, các tập quán pháp của người Xume trong xã hội trước đó : Về mặt nguồn gốc, Bộ luật Hammurabi được xây dựng trên cơ sở pháp điển hoá nhiều văn bản trước đó và trên cơ sở kế thừa luật lệ của người Xu-me, người Amôrít Bộ luật Hammurabi được phát hiện năm 1901 của đoàn khảo cổ người Pháp, khắc trên đá bazan cao 2,25 m và dựng tại quảng trường thành phố cho nhân dân đọc mà thi hành
+ Phần mở đầu : Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã trao đất nước cho nhà vua thống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ Ở phần kết luận Hammurabi tuyên bố sẽ trừng trị tất cả những ai xem thường và định huỷ bỏ đạo luật
+ Phần mở đầu và phần nội dung : Khẳng định rằng đất nước Babilon là một
vương quốc do các thần linh tạo ra Và chính các thần linh này đã trao đất nước cho Hammurapi thống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ Hammurapi kể công lao của mình đối với đất nước Riêng ở phần nội dung Hammurapi tuyên bố sẽ trừng trị tất cả những ai xem thường và có ý định hủy bỏ bộ luật
- Phần nội dung : Bộ luật Hammurabi là Bộ luật tương đối hoàn chỉnh thời kỳ
cổ đại, gồm 282 điều (hiện chỉ đọc được 247 điều) bao gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận Đây là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình, bao gồm các qui phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài, chủ yếu điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích của giai cấp thống trị
Điều 1 đến điều 4 : về thủ tục tố tụng;
Trang 13Điều 6 –11: về tội trộm cắp;
Điều 15 – 16: về tội xâm phạm nô lệ của người khác;
Điều 21 – 25: tội xâm phạm tài sản của người khác;
Điều 26 – 41: chế độ ruộng đất của Rêdum và Bairum;
Điều 42 – 66: thuê ruộng và trách nhiệm của người cày cấy;
Điều 98 – 107: về việc vay tiền;
1.2 Các chế định trong bộ luật :
a) Chế định hợp đồng:
Hợp đồng mua bán Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
+ Người bán phải là chủ thật sự của tài sản (Điều 7)
+ Tài sản phải bảo đảm giá trị sử dụng (Điều 108)
+ Khi ký kết hợp đồng, phải có người làm chứng (Điều 7)
Thiếu 1 trong 3 điều kiện trên, hợp đồng không có giá trị, người vi phạm sẽ bị xử phạt bằng hình phạt
+ Khi gởi giữ phải có người làm chứng (Điều 122) nếu không, người nhận giữ
sẽ bị xem là ăn trộmvà bị xử tử (Điều 7)
+ Mức thù lao gởi giữ (Điều 121)
b) Chế định hôn nhân gia đình
+ Thủ tục kết hôn: phải có giấy tờ (Điều 128)
+ Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng giữa nam và nữ Đề cao vai trò và bảo vệ quyền lợi của người chồng Người vợ bị xem là tài sản của người chồng (Điều
141, 143, 129)
Tuy nhiên trong một số trường hợp, luật cũng bảo vệ quyền lợi của người phụ
nữ (Điều 130, 148) Ngoài ra, luật còn bảo vệ một số giá trị đạo đức trong xã hội (Điều 155)
c) Chế định thừa kế
+ Có 2 hình thức thừa kế: theo luật và theo di chúc (Điều 165)
+ Căn cứ để chia thừa kế theo cha, không theo mẹ (Điều 162, 163, 167)
+ Có sự phân biệt trong việc hưởng thừa kế giữa con trai, con gái, con của nữ
nô lệ nếu được người tự do thừa nhận (Điều 170, 179, 180, 182, 183)
+ Điều kiện tước quyền thừa kế (Điều 169)
Trang 14d) Chế định hình sự
+ Bảo vệ các quan hệ xã hội như: quyền sở hữu (Điều 6,7,8,…) bảo vệ chế độ
nô lệ (Điều 15, 16, 226), bảo vệ nhân phẩm, danh dự, của con người
+ Quan niệm hình phạt là sự trừng trị tội lỗi, mang tính chất trả thù ngang bằng nhau ( đồng thái phục thù) (Điều 196, 197, 229) Tuy nhiên, do bộ luật cũng thừa nhận sự phân biệt đẳng cấp, giai cấp tính chất đồng thái phục thù chỉ là tương đối (Điều
Tố tụng là thủ tục giải quyết các vụ án Bộ luật đã có nhiều qui định về thủ tục bắt giữ, giam cầm, qui định những nguyên tắc khi xét xử như xét xử phải công khai, phải coi trọng chứng cứ, phán quyết phải được thi hành nghiêm minh Có hai qui định rất đặc thù về tố tụng của Bộ luật này:
- Thứ nhất, qui định về trách nhiệm của thẩm phán.”Nếu thẩm phán xử một vụ kiện mà ra phán quyết bằng văn bản, nếu sau đó phát hiện lỗi trong văn bản là do lỗi của thẩm phán, thẩm phán sẽ phải trả 12 lần giá trị tiền phạt mà ông ta đã yêu cầu bồi thường trong vụ kiện, đồng thời ông ta sẽ bị buộc phải rời khỏi ghế thẩm phán vĩnh viễn
và không bao giờ có thể trở thành thẩm phán lần nữa”
- Thứ hai, về hình thức xét xử : Nếu một người kiện một người khác, bị đơn sẽ phải đi đến một dòng sông và nhảy xuống, nếu anh ta chìm, bị dòng nước cuốn đi, nguyên đơn sẽ sở hữu nhà của bị đơn Nhưng ngược lại, nếu dòng sông chứng minh rằng bị đơn là không có tội, tức là anh ta còn sống sót, thì nguyên đơn sẽ bị giết chết, và
bị đơn sẽ sở hữu nhà của nguyên đơn”
2 BỘ LUẬT MANU
2.1 Đặc điểm của bộ luật Manu
+ Là bộ luật hoàn chỉnh nhất trong tất cả các luật lệ cổ ở Ấn độ, được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ II – I TCN bởi các giáo sĩ Bà La Môn Thực chất nó là những luật lệ, những tập quán pháp của giai cấp thống trị được các giáo sĩ Bà La Môn tập hợp lại dưới dạng trường ca, được trình bày dưới dạng câu song vần
+ Gồm 2685 điều, chia thành 12 chương Nội dung của bộ luật không chỉ là những quan hệ pháp luật mà còn là những vấn đế khác như chính trị, tôn giáo, quan niệm về thế giới và vũ trụ Nhưng xét trên phương diện pháp lý, chúng ta có thể phân bộ luật Manu thành những chế định cụ thể
2.2 Các chế định pháp luật :
a) Chế định quyền sở hữu
+ Đối với ruộng đất: giống như phần chế độ ruộng đất đã trình bày Đối với đất thuộc quyền sở hữu của tư nhân thì được quyền mua bán nhưng phải chịu sự giám sát của nhà nước (nếu người bán động sản nhận được số tiền nhiều hơn giá quy định thì nhà nước sẽ thu hồi số tiền dư đó)
Trang 15+ Đối với những tài sản khác, nhà nước chỉ thừa nhận quyền sở hữu khi có chứng cứ cụ thể chỉ rõ nguồn gốc của nó (mua bán, thừa kế, ban thưởng)
b) Chế định hợp đồng
+ Quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: Không được ký với người điên, người say rượu, người già yếu, người chưa đến tuổi thành niên Không được lừa dối hay dùng áp lực để ký hợp đồng
+ Phải được ký công khai
Đề cập nhiều đến hợp đồng vay mượn, cầm cố:
+ Trong đó quy định mức lãi tối đa phải trả mỗi tháng, mức lãi suất này tùy thuộc theo từng đẳng cấp trong xã hội
+ Bà la Môn: 2% - Ksatơria: 3% - Vaisia: 4% - Suđra: 5%
+ Nếu con nợ không trả được nợ thì bị biến thành nô lệ Hoặc nếu con nợ có khả năng trả nợ nhưng không chịu trả thì chủ nợ có quyền đánh đập, hành hạ con nợ cho đến khi đòi được nợ
c) Chế định hôn nhân gia đình
+ Hôn nhân mang tính chất mua bán Người vợ được chồng mua về và tất cả của hồi môn của người vợ thuộc quyền sở hữu của chồng
+ Thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng:
+ Lúc nào người phụ nữ cũng phải chịu sự bảo hộ của đàn ông (tam tòng) + Vợ không được quyền ly dị chồng trong mọi trường hợp Người chồng dù tàn bạo, ngoại tình vợ cũng phải tôn trọng và xem như một thánh nhân của đời mình
+ Ngược lại, chồng có quyền ly dị vợ nếu vợ không có con hoặc sinh toàn con gái Ngoài ra chồng được quyền đánh đập hành hạ vợ con mà không bị tội
+ Bộ luật quy định chỉ được kết hôn trong cùng đẳng cấp Tuy nhiên, đàn ông vẫn có thể lấy vợ thuộc đẳng cấp dưới
d) Chế định thừa kế
+ Ban đầu, ở Ấn Độ chỉ thừa nhận hình thức thừa kế theo pháp luật (khi người cha chết, mọi tài sản được chia đều cho các con còn sống) Về sau, do ảnh hưởng của văn hoá phương tây, người Ấn cũng lập di chúc Đẳng cấp Bà La Môn ủng hộ tục lệ mới này vì điều này làm cho tài sản của giáo hội tăng lên, nếu người dân lập di chúc để lại tài sản cho giáo hội
+ Tất cả các con đều có quyền thừa kế tài sản của người cha Con gái nhận tài sản thừa kế để làm của hồi môn
e) Chế định hình sự
+ Những chế đình sự đề ra theo nguyên tắc: khoan dung đối với những người chà đạp lên quyền lợi của kẻ dưới, trừng trị thẳng tay đối với những người xâm phạm đến tính mạng, quyền lợi, nhân phẩm của đẳng cấp trên
+ Các hình phạt trong bộ luật rất dã man:
+ Luật quy định hình phạt rất nặng đối với tội trộm cắp Trộm cắp vào ban đêm hay khoét ngạch vào nhà thì bị chặt tay hoăïc ngồi trên chiếc cọc nhọn, nếu phạm tội lần thứ ba thì bị tử hình Nếu trộm cắp tài sản của vua hay của đến chùa thì bị xử tử
mà không cần xét xử
+ Phạm tội gây rối trong dân chúng sẽ bị thiêu chết
+ Cũng giống như luật Hammurapi, chế định hình sự của luật Manu cũng mang tính trả thù ngang bằng nhau
+ Sử dụng phép thử tội: dầu sôi + phân bò hay rắn độc
Trang 16f).Chế định tố tụng
+ Rất coi trọng chứng cứ (nhân chứng, vật chứng)nhưng giá trị của chứng cứ lại phụ thuộc vào đẳng cấp và giới tính
+ Người làm chứng phải cùng đẳng cấp và giới tính với bị can
+ Khi có sự mâu thuẫn giữa các chúng cứ thì chứng cứ của đẳng cấp trên thì
có giá trị hơn so với đẳng cấp dưới
3 PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC
Đến ngày nay, người ta vẫn chưa tìm thấy bộ luật cổ đại nào ở trung quốc Người
ta chỉ biết đến nó thông qua các sách sử cổ
a) Thời Hạ, Thương:
+ Hình thức pháp luật chủ yếu là mệnh lệnh của nhà vua
+ Hình pháp đã rất được chú trọng với nhiều hình phạt dã man như: đóng dấu nung đỏ, cắt mũi, gông cùm, xữ tử bằng các hình thức: chôn sống, mổ bụng, xẻo từng mãnh nhỏ bỏ vào nước sôi, bỏ vào cối giã
b).Thời nhà Chu:
Do cơ chế chính trị nhà Chu dựa trên chế độ tông pháp (quan hệ đẳng cấp huyết thống) nên Nhà Chu đặt ra Lễ Lễ dùng để phân biệt sang hèn, trật tự tôn ty trong xã hội, những nghi thức về ăn, ở, hội họp, ma chay cúng lễ, cưới xin… do đó, người ta làm theo
lễ một cách tự nguyện Lễ trở thành quy tắc sử xự của mọi người trong xã hội, nếu ai không tuân theo lễ sẽ bị cười chê là không có chính nghĩa, không biết lễ…
Hệ thống Lễ gồm 5 loại, gọi là Ngũ Lễ:
+ Cát lễ: lễ tế các thần linh
+ Cung lễ:lễ cúng tế, ma chay, mất mùa
+ Quân lễ: lễ ra quân
+ Tân lễ: lễ tiếp đón các chư hầu
+ Gia lễ: lễ hôn nhân, lễ đặt con trưởng
Chính vì đặc điểm đó của lễ nên Nhà Chu dựa vào lễ để quản lý xã hội và hình pháp lúc này dùng để trừng trị những ai không tuân theo Lễ Dần dần Lễ trở thành một
cơ chế chính trị trong nhà Chu Hình phạt của nhà Chu rất tàn bạo, gồm 5 thang bậc, gọi
là phép Ngũ Hình:
+ Mặc: thích chữ vào trán
+ Tỵ : cắt mũi
+ Phị: chặt chân
+ Cung: thiến hoặc nhốt vào nhà kín
+ Đại tịch: tử hình (mổ tim, bêu đầu, xẻo thịt thành từng mãnh nhỏ…)
- Thời Xuân Thu, nước Trịnh soạn ra Hình Thư và khắc lên đỉnh đúc bằng sắt (công bố pháp luật thành văn đầu tiên ở Trung Quốc) Thời Chiến Quốc, để tranh thủ ủng hộ của các tầng lớp địa chủ mới xuất hiện, các nướcc ban hành một loạt các bộ luật như:
Trang 17+ Nước Hàn tổng hợp kinh nghiệm lập pháp của các nước soạn ra bộ Pháp Kinh Bộ luật này đã thất truyền nhưng theo sử sách thì đây là bộ luật hoàn chỉnh và
nổi tiếng nhất của Trung Quốc cổ đại Nội dung của nó gồm 6 chương:
+ Đạo pháp: quy định về tội cướp
+ Tặc pháp: quy định về tội giả mạo
+ Tư pháp; quy định vvề tố tụng, xét xử
+ Bộ pháp: quy định về bắt giam
+ Tạp pháp: tạp luật
+ Bối pháp: quy định những nguyên tắc chung
Theo Pháp Kinh, những hành vi xâm phạm đến vua và làm nguy hại đến triều đình đều bị coi là trọng tội, bị xử tru di cả họ
Nhận xét và đánh giá
+ Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ giai cấp, đẳng cấp bảo vệ quyền lợi và địa vị của giai cấp chủ nô và những người thuộc đẳng cấp trên trong xã hội nhằm củng cố sự thống trị tuyệt đối của giai cấp chủ nô
+ Trong quan hệ gia đình, thừa nhận sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa các con với nhau, do ảnh hưởng của chế độ thống trị gia trưởng
+ Trọng hình, khinh dân, ranh giới giữa hình sự và dân sự rất mờ nhạt
+ Mang tính chất đồng thái phục thù
+ Có dấu hiệu của sự phân biệt lỗi cố ý và vô ý
+ Bị ảnh hưởng bởi tôn giáo, lễ và các hệ tư tưởng chính trị
+ Về hình thức, không có tính hệ thống, từ ngữ sử dụng rất cụ thể, không mang tính khái quát
CÂU HỎI :
1 Quá trình hình thành và tồn tại nhà nước Ai Cập cổ đại?
2 Quá trình hình thành và tồn tại nhà nước Lưỡng Hà cổ đại?
3 Quá trình hình thành và tồn tại nhà nước Ấn Độ cổ đại?
4 Quá trình hình thành và tồn tại nhà nước Trung Quốc cổ đại?
5 Tổ chức nhà nước các quốc gia phương đông cổ đại?
6 Nội dung căn bản của bộ luật Hămmurabi?
7 Nội dung căn bản của bộ luật Manu?
8 Trình bày nội dung pháp luật Trung Quốc
Trang 18CHƯƠNG II NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
I QUÁ TRÌNH XUẤT HIỆN, PHÁT TRIỂN VÀ SUY VONG Ở CÁC QUỐC GIA PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
1 HY LẠP
1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư : Hy Lạp xưa rất rộng hơn, bao gồm 3 vùng :
- Hy Âu: Ở miền nam bán đảo Balcan, có hơn 80% là núi, có vịnh Corinthe chia
ra bốn phía: Bắc là dãy Pinde, tây là Eùpia, đông là bình nguyên Thessalie, nam là bán đảo Péloponèse có hình bàn tay với bốn ngón xòe gồm các vùng dất phì nhiêu
- Hy Á: Gồm những tỉnh dựng lên ở những bình nguyên hẹp ven bán đảo Tiểu
Á
- Quần đảo và đảo: Biển Eùgée có nhiều đảo lớn hợp thành dãy đảo Quan trọng nhất là đảo Crèce ở phía nam là trung tâm của nền văn minh tối cổ Crèce -Mycène Bờ biển đông và tây bán đảo Balcan và Tiểu Á có hình răng cưa gồ ghề lởm chởm, có nhiều vịnh và hải cảng an toàn, thuận lợi cho sự phát triển hàng hải
Với địa hình phức tạp đó của Hy Lạp đã ảnh hưởng lớn đến xu hướng phát triển của lịch sử xã hội Hy Lạp thời cổ đại Trước hết là xu hướng phát triển ngành mậu dịch hàng hải của họ Người Hy Lạp cổ đã biết lợi dụng mặt biển Eùgée phẳng lặng để đi rất
xa ra khơi,
Dân cư Hy Lạp : Trước thiên niên kỷ thứ III TCN, trên một số vùng đất của Hy Lạp và các quần đảo lớn ở biển Êgiê đã có con người sinh sồng Chính họ là người sản sinh ra nền văn minh Crét và Mycène
+ Người Đorien định cư ở bán đảo Polopone, đảo Crete…
+ Người Ionien thì định cư ở vùng đồng bằng Attich, đảo Ôbe
+ Người Akean chủ yếu định cư ở miền trung Hy Lạp
1.2 Nền văn minh Crece và Mycenae
Vào Thời kỳ Đồ Đồng, tại Hy Lạp đã xuất hiện hai nền văn minh lớn là nền văn minh Minos trên đảo Crece và nền văn minh Mycenae trên bán đảo Peloponnese thuộc miền nam Hy Lạp (thế kỉ XI-IX TCN) Nền văn minh Crece và Mycene được phản ánh qua hai bộ sử thi Iliad và Odyceseey của Homer Qua hai tập Iliad và Odyseey, người ta nhận thấy xã hội Hy Lạp được mô tả trong giai đoạn này là một xã hội nguyên thuỷ đang trên đường tan rã, xã hội có nhà nước đang hình thành
Khoảng năm 1200 TCN, trước sự đe dọa của ngoại xâm, các thành trì tại Mycenae đã bị bỏ phế, buôn bán với nước ngoài bị đình trệ Nền văn minh Mycenae sụp
đổ đã dẫn tới một thời kỳ khủng hoảng tại Hy Lạp kéo dài hơn 3 thế kỉ với tên gọi kỷ nguyên bóng tối
+ Thời kỳ thành bang ( thế kỉ VII I- IV TCN): Khoảng thế kỉ 8 trước Công nguyên, Hy Lạp bắt đầu thoát ra khỏi kỷ nguyên bóng tối Nền kinh tế phát triển đã khiến Hy Lạp trở nên rất giàu có Đơn vị hành chính cơ bản ở Hy Lạp cổ đại là các
Trang 19thành bang Thông thường giữa các thành bang hay xảy ra xung đột với nhau để tranh giành lãnh thổ, trong đó hai thành bang Athena và Sparta là có ảnh hưởng khá lớn trong lịch sử của Hy Lạp Đây là thời kì hình thành ở Hy Lạp hàng trăm nhà nước nhỏ mà người ta gọi là các thành bang Trong hàng trăm thành bang thời đó thì quan trọng nhất
là Xpác và Athèn
1.3 Nhà nước Spác ( Sparta )
Nhà nước Spác có quá trình hình thành khác biệt hơn so với đại đa số các thành bang còn lại của Hy Lạp, do đó, tổ chức bộ máy nhà nước của nó cũng khác so với các thành bang khác, đặc biệt là thành bang Aten
Vào giữa thế kỷ thứ 9 TCN, bộ lạc người Đôrian xâm nhập vào vùng đồng bằng Lacôni thuộc bán đảo Pêlôpône nơi sinh sống của người Akêan Khi xâm nhập vào đây,
người Đôrian có trình độ văn hoá, xã hội thấp kém hơn so với người Akêan, nhưng với
đội quân hùng mạnh, được rèn luyện trong chiến đấu và cuộc sống du mục gian khổ, nên họ chiến thắng được người Akêan và làm chủ vùng đất này Đất đai, dân cư vùng Lacôni thuộc quyền sở hữu chung của người chiến thắng Mỗi gia đình người Đôrian được chia một mãnh đất bằng nhau (khoảng 20 ha)
Sau khi đã củng cố vững chắc nền thống trị ở vùng Lacôni, giữa thế kỷ 8 TCN, người Đôrian lại xâm nhập sang vùng đồng bằng Métxini và biến toàn bộ dân cư ở đây
thành nô lệ, gọi là nô lệ Hillôt Lúc này, trong xã hội Spac hình thành 3 hạng người khác
nhau:
+ Người Spac (người Đôrian): là giai cấp thống trị, công việc của họ là cai trị và
đánh giặc Họ không phải lao động, tuy nhiên họ được nô lệ Hillôt nuôi sống bằng việc nộp lại ½ số hoa màu thu hoạch được trên phần đất được công xã chia
+ Người Pêriet: là người Akêan bị chinh phục, họ là người tự do, có ruộng đất
để cày cấy và tài sản riêng, nhưng không có quyền lợi về chính trị và không được quyền kết hôn với người Spac Họ phải cống nạp và đi lính cho người Spac, nhưng trong quân đội họ được tổ chức thành đội ngũ riêng
+ Người Hillôt: là nô lệ chung của cả xã hội người Spac, họ không lệ thuộc vào
cá nhân chủ nô nào Họ phải cày cấy trên những cánh đồng của người Spac và nộp ½ sản phẩm thu hoạch, phần còn lại họ được quyền giữ lại làm tài sản, (thân phận của họ giống nông nô trong thời kỳ phong kiến hơn)
- Tổ chức bộ máy nhà nước: Nhà nước Sparte có chính thể cộng hòa quý tộc
chủ nô, với cơ cấu tổ chức gồm: hai vua, Viện nguyên lão, Đại hội nhân dân và Hội đồng 5 Giám chế quan
+ Hai Vua : Đồng thời là thành viên của Hội đồng trưởng lão Chức vụ này
theo chế độ thế tập, được tôn kính hết mực Tuy nhiên, quyền lực của nhà Vua bị hạn chế nhiều Thời bình, vua chỉ lo việc tế lễ và xét xử; thời chiến, thì thống lĩnh quân đội
+ Hội đồng trưởng lão : Gồm 30 vị bô lão từ 60 tuổi trở lên, là những quý tộc
danh vọng nhất trong hàng ngũ quý tộc Spac Đây là cơ quan soạn thảo pháp luật và thảo luận trước mọi vấn đề trước khi đưa ra quyết định tại Đại hội nhân dân
+ Đại hội nhân dân : Thành viên của đại hội gồm những công dân nam, người
Spac từ 30 tuổi trở lên Đại hội chỉ được tổ chức khi có lệnh triệu tập của nhà vua
Về hình thức, đây là cơ quan có quyền lực cao nhất, có quyền thông qua những văn bản luật do Hội đồng trưởng lão soạn thảo, có quyền phê chuẩn những nghị quyết của Hội đồng trưởng lão Tuy nhiên, khi thông qua những vấn đề này, đại hội nhân dân
Trang 20không được quyền bàn bạc, thảo luận, họ chỉ được quyền biểu quyết bằng cách hô to :
“Đồng ý” hay “Phản đối” hoặc đối với những vấn đề quan trọng thì được biểu quyết bằng cách xếp hàng Do đó, Đại hội nhân dân chỉ có quyền lực vể mặt hình thức, trên thực tế, quyền lực thuộc về Hội đồng trưởng lão
+ Hội đồng 5 quan giám sát : Về sau, do mâu thuẫn quý tộc và bình dân Spac
ngày càng gay gắt, thể hiện thông qua mâu thuẫn giữa Hội đồng trưởng lão và Đại hội nhân dân Giai cấp quý tộc Spac (Hội đồng trưởng lão) nắm quyền lực thực tế (quyền phân chia ruộng đất, quyền lực kinh tế…) nên trong cuộc đấu tranh này, giai cấp quý tộc Spac bảo vệ quyền lợi cho mình bằng cách thành lập một cơ quan mới, có nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ chế độ chiếm hữu nô lệ, bảo vệ nền cộng hoà quý tộc chủ nô, cơ quan đó
là Hội đồng năm quan giám sát
Thành viên của cơ quan này là những quý tộc bảo thủ nhất, danh vọng nhất của giai cấp quý tộc Có chức năng và quyền hạn rất lớn, là cơ quan lãnh đạo tối cao, nhằm tập trung quyền lực vào tay giai cấp quý tộc chủ nô :
+ Giám sát vua, hội đồng trưởng lão
+ Triệu tập và chủ trì cuộc họp hội đồng trưởng lão, hội nghị công dân
+ Giải quyết mọi công việc quan trọng (ngoại giao, tài chính, tư pháp…) + Kiểm tra tư cách công dân
Nhận xét về nhà nước cộng hoà quí tộc chủ nô Xpác :
Nhà nước Xpác là nhà nước của thế lực chủ nô lạc hậu và phản động, chống lại những thành bang theo chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô Quyền lực nhà nước được tập trung đến mức tối đa vào tay tầng lớp quí tộc chủ nô Ngược lai, quyền dân chủ của người tự do bị hạn chế đến mức tối thiểu Do đó, đây được xem là nước cộng hoà quí tộc chủ nô điển hình
- Thứ nhất, về cơ sở kinh tế :
+ Ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước
+ Người bình dân Xpác được chia ruộng đất nhưng phụ thuộc tầng lớp quí tộc Mặc khác, sự thiết lập nhà nước theo quá trình phân hoá giai cấp, nhằm hạn chế tầng lớp Pêriet làm giàu, phát triển thế lực, nhà nước Xpác thi hành chính sách hạn chế công thương nghiệp, mà chỉ tập trung vào nông nghiệp, do đó nhà nước Xpác được xem là quốc gia nông nghiệp
- Thứ hai, về chính trị và xã hội : nhà nước Xpác là kết quả của quá trình chiến tranh và xâm lược, cho nên quyền lực nhà nước chỉ tập trung trong tay một số ít người ( quí tộc ) Người Xpác chỉ có quyền chính trị, còn những người khác thì không có Chính
do cơ sở kinh tế và đặc thù về chính chính trị - xã hội, nên ở Xpác phát sinh và tồn tại chính thể cộng hoà quí tộc chủ nô
2 Nhà nước Cộng hoà Dân chủ chủ nô Athena ( Thế kỷ VII – VI TCN)
Cũng như nhiều vùng khác ở Hy Lạp, khoảng thế kỷ thứ VIII – VI TCN, Aten dần dần bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước Athena ( Aten ) là trung tâm của vùng đồng bằng Attích, thuộc miền trung Hy Lạp Bờ biển phía tây của Aten có nhiều hải cảng tốt Do đó, ở Aten, công thương nghiệp phát triển rất sớm và với tốc độ nhanh; bên cạnh tầng lớp quí tộc chủ nô củ đã xuất hiện tầng lớp chủ nô mới – đó là ( chủ xưởng, chủ thuyền, thương nhân…xuất hiện ngày một nhiều
Trước khi nhà nước Aten ra đời, ở bán đảo Attích có 4 bộ lạc, mỗi bộ lạc bao gồm
30 thị tộc sinh sống ở 4 khu vực khác nhau Theo truyền thống, “ đại hội nhân dân “ là
Trang 21cơ quan quyền lực cao nhất của bộ lạc Ngoài ra, mỗi bộ lạc đều có một hội đồng quí tộc ( gồm các tộc trưởng của 30 thị tộc )
Qua quá trình phát triển của kinh tế - xã hội, 4 bộ lạc liên kết thành liên minh bộ lạc, lấy Aten làm thủ phủ Đây là điều kiện và tiền đề cho việc xuất hiện xã hội có giai cấp, và hình thành nên nhà nước
bị thủ tiêu một cách triệt để
+ Nhà nước Aten được xây dựng và hoàn thiện theo hướng xây dựng thiết chế nhà nước dân chủ chủ nô Một thiết chế hết sức được đề cao, và đảm bảo những quyền lợi kinh tế, chính trị của công dân tự do
=> Theo lịch sử Hy Lạp, người đặt nền móng xây dựng nhà nước Aten là Thésée
Đó là việc thống nhất tòan bộ dân cư ở 4 bộ lạc ( vốn sống ở 4 khu vực khác nhau ) theo nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng
+ Thésée đã chia toàn xưa Attích thành 48 địa khu ( gọi là nôcơrari ), mỗi bộ lạc
Có thể nói rằng Thésée là người đầu tiên thiết lập trật tự xã hội mới ở Aten : trật
tự xã hội có giai cấp Với cải cách của mình, Thésée cũng đã bước đầu tấn công vào chế
độ thị tộc
+ Hội đồng trưởng lão : gồm những đại biểu quí tộc thị tộc, là người có nhiều
quyền hành nhất Họ bầu ra Hội đồng quan chấp chính Mặt dù Ðại hội nhân dân vẫn tồn tại nhưng nó đã biến thành một cơ quan tư vấn
+ Hội đồng trưởng lão có quyền lập pháp, tư pháp, giám sát và quyết định mọi công việc quan trọng của đất nước
+ Người thủ lĩnh quân sự bị bãi miễn, thay vào đó bằng 9 thành viên quan chấp chính ( được cử ra từ tầng lớp quí tộc )
Như vậy là tổ chức thị tộc của người Aten đã bị tan rã và nhường chổ cho một xã hội có giai cấp; nền chính trị toàn dân của chế độ bộ lạc cũ đã nhường chổ cho nền chuyên chính của gia cấp quí tộc thị tộc
a) Cải cách của Xôlông
Năm 549 TCN, Xôlông - người đại diện cho tầng lớp chủ nô công thương được bầu làm quan chấp chính Ông thực hiện chính sách cải cách như sau :
+ Tuyên bố xóa bỏ những nợ nần, nhổ hết những thẻ cầm cố ruộng đất khắp đồng bằng Attích
Trang 22+ Giải phóng cho những người nô lệ vì nợ nần và cấm quí tộc biến những người nông dân không trả được nợ thành nô lệ Cấm không cho ký kết những văn tự lấy bản thân con nợ làm bảo đảm
+ Xôlông chia dân cư tự do thành 4 đẳng cấp, theo cải cách đó thì tất cả công dân A-ten không phân biệt thành phần quí, tiện, đều chia thành 4 đẳng cấp căn cứ theo mức thu nhập hàng năm của mỗi người cao hay thấp
- Đẳng cấp thứ nhất : bao gồm những công dân hàng năm có thu nhập từ 500
Trong quân đội, những người thuộc đẳng cấp 1 & 2 được phép tham gia vào những đội kỵ binh; còn đẳng cấp 3 & 4 chỉ được tham gia vào bộ binh
Đẳng cấp thứ 4 chỉ được tham gia đại hội nhân dân để bầu cử những quan chức trong bộ máy nhà nước
+ “ Hội đồng 400 người “: Trên cơ sở 4 bộ lạc cũ ( Đôrien, Iônien; Akeên,
Êôlien ) Xôlong thành lập Hội đồng 400 người, mỗi bộ lạc được cử 100 người thuộc các đẳng cấp trên
“ Hội đồng 400 người “ có chức năng như một cơ quan thường trực của đại
hội nhân dân, để giải quyết công việc hàng ngày của nhà nước Bên cạnh đó, để tránh lối xét ử tuỳ tiện, Xôlông cho thành lập toà án nhân dân có nhiều bồi thẩm, thảo luận, xét
xử
* Nhận xét về cải cách của Xôlông :
+ Cải cách của Xôlông đã giáng một đòn khá mạnh vào chế độ thị tộc, căn bản là thủ tiêu quyền lực của quí tộc thị tộc; bước đầu xác lập được một trật tự xã hội mới theo thể chế dân chủ
+ Cải cách của Xôlông phần nào đã hy sinh quyền lợi của giai cấp quí tộc thị tộc ( nhất là quí tộc ruộng đất ) để giành lại quyền sở hữu ruộng đất về cho nông dân; tạo điều kiện cho lớp bình dân duy trì cuộc sống của họ, ngăn cản sự phá sản của nông dân và thủ tiêu chế độ nô lệ vì nợ, tạo cơ sở xã hội cho sự tồn tại của thể chế dân chủ
+ Cải cách trên của Xôlông đã thay đổi hẳn cơ cấu chính trị của nhà nước A-ten
Trên cơ sở 4 bộ lạc củ, Xôlông thiết lập cơ quan quyền lực mới -Hội đồng bốn trăm
Hội đồng bốn trăm này song song tồn tại với hội đồng quí tộc nhưng khác hẳn về thành phần với hội đồng này Ðại hội nhân dân trong thời kỳ quí tộc thị tộc nắm chính quyền,
đã gần hết vai trò chính trị của nó thì nay được khôi phục lại quyền lực cũ
+ Cải cách của Xôlông cũng đem lại nhiều quyền lợi và ưu thế cho quí tộc chủ nô công thương - tầng lớp quí tộc ủng hộ thể chế dân chủ - tạo điều kiện cho kinh tế công thương nghiệp Aten phát triển mạnh mẽ
b) Cải cách của Clixten ( Clisthène ) :
Trang 23Do cải cách của Xôlông không triệt để Ông không đoạn tuyệt hẳn với giai cấp quí tộc thị tộc, mà cũng không hoàn tòan thỏa mãn những yêu sách của quần chúng nhân dân Vì vậy, vào năm 560 TCN, Pisistrate tổ chức một cuộc đảo chính và thành công Pisistrate nắm quyền ở Aten
Năm 527 TCN, Pisistrate chết, liên minh hai đảng Miền núi và Duyên hải, đã đưa
thủ lỉnh đảng Duyên hải là Clisthènes giữ chức đệ nhất chấp chính quan Nền dân chủ
được phục hưng Từ năm 508 –506 TCN, Clisthènes thực hiện một cuộc cải cách chính trị quan trọng nhất, nhằm dân chủ hóa trình độ cao hơn một chế độ chính trị và xã hội ở Aten
+ Cải cách quan trọng nhất của Clisthènes là việc phân chia công dân Aten theo những khu vực hành chính ( không dựa vào khu vực cư trú của 4 bộ lạc cũ ) Toàn bộ
xứ Áttích được chia thành 10 khu hành chính Sau đó, mỗi khu chia thành 10 tiểu khu
Cư dân sống ở mỗi tiểu khu phải đăng ký vào sổ hộ tịch để nhà nước theo dõi, quản lý Lối gọi tên người theo dòng họ thị tộc bị bác bỏ thay bằng lối gọi theo tên riêng của từng người
Như vậy, cải cách của Clixten thì ranh giới, bộ lạc, ( cùng với thế lực của tập đoàn quí tộc thị tộc ) bị xoá bỏ hẳn Tàn tích cuối cùng của chế độ thị tộc bị thủ tiêu Clixten cải tổ các cơ quan quyền lực nhà nước Aten theo hướng dân chủ
+ “Hội đồng 500 người “ : Clixten thay thế Hội đồng 400 người dưới thời Xôlông
bằng Hội đồng 500 người
Theo qui chế, tất cả các công dân tự do nam giới Aten, tuổi từ 18 trở lên đều có
quyền tham gia vào Hội đồng 500 người Mỗi tiểu khu bầu 50 người Đây là cơ quan hành chính cao nhất ở Aten
Hội đồng 500 người, thay mặt toàn thể công dân, giải quyết thường trực các công việc của nhà nước suốt cả năm Ngoài ra, Hội đồng 500 người, còn có nhiệm vụ kiểm tra tư cách của công dân và tư cách cách thành viên trong bộ máy nhà nước
+ Hội đồng 500 người được phân chia thành 10 uỷ ban thường trực ( mỗi uỷ ban
50 người với nhiệm kỳ 1/10 của năm ( khoảng 36 –39 ngày ) có chức năng thay mặt Hội đồng giải quyết các công việc hàng ngày
+ Đại hội nhân dân : Clixten đã tăng cường vai trò của Đại hội nhân dân Đây
được xem là cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước Aten Đại hội nhân là đại hội của toàn thể công dân Aten từ 18 tuổi trở lên Đại hội nhân dân có quyền thảo luận và biểu quyết tất cả những vấn đề hệ trọng của đất nước, thông qua hay phủ quyết các dự luật, chính sách của Hội đồng 500 người; Chọn cử những viên chức của bộ máy nhà nước
+ Hội đồng 10 tướng lĩnh : được bầu hàng năm, theo cách biểu quyết trong hội
nghị công dân.Thành viên của hội đồng có thể được bầu nhiều nhiệm kỳ Nhiệm vụ của Hội đồng 10 tướng lĩnh là :
- Chỉ huy quân đội
- Thực hiện chính sách đối ngoại, nhưng chịu sự giám sát của hội nghị công dân
Để ngăn chặn âm mưu đảo chính hoặc phá hoại, Clixten cho thực hành chế độ “ bỏ phiếu bằng võ sò “ Bất kỳ công dân Aten nào ( kể cả người có chức vụ ) nếu bị nghi ngờ là có những âm mưu, hành vi đe doạ an ninh, xã hội, nền dân chủ nhân dân… thì toàn thể công dân sẽ tham gia tiến hành bỏ phiếu kín, bằng cách ghi tên người mà họ nghi ngờ lên võ sò hoặc mãnh gốm Nếu có 6.000 phiếu cùng ghi tên một người, thì 10 ngày sau, người có tên đó phải rời Aten trong thời hạn 10 năm
* Nhận xét về cải cách của Clixten :
Trang 24+ Những cải cách của Clixten đã tạm thời hoà hoản được những xung đột và thoả mãn hầu hết các quyền lợi của các phe phái tạo nên xã hội ở Aten một khối công dân tự
do có quyền lợi chính trị ngang nhau, cùng thống trị, bốc lột sức lao động của nô lệ + Cải các của Clixten mở đường cho nền kinh tế nói chung và kinh tế công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ, tạo ra một Aten hùng cường về kinh tế và quân sự; tiến bộ
về thể chế dân chủ, góp phần cho Aten chiến thắng sự can thiệp, xâm lươc của để quốc
Ba Tư trong những thế kỷ tiếp theo ( Chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư ( 492 – 448 TCN ) )
2.2 Chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô phát triển đến đỉnh cao :
Giai cấp thống trị ở Aten gồm 2 bộ phận : Quí tộc chủ nô ruộng đất và quí tộc chủ
nô công thương Quí tộc chủ nô ruộng đất chủ trương thiết lập nền chuyên chính theo chính thể cộng hoà quí tộc; ngược lại, quí tộc chủ nô công thương chủ trương xây dựng
bộ máy nhà nước theo thiết chế dân chủ, chủ nô Sự đối lập và xung đột giữa hai chủ trương của hai bộ phận thuộc giai cấp thống trị đã diễn ra ngày càng quyết liệt Tuy nhiên, xu hướng dân chủ ngày càng lấn át và thắng thế trước xu hướng bảo thủ của quí tọc ruộng đất, nhờ vậy nên nền dân chủ chủ nô Aten được củng cố và hoàn thiện và đạt đến đỉnh cao của nó, thành niềm tự hào vĩnh cửu của nhân loại
a) Cải cách của Ephiatét ( Ephialtes ) :
Năm 462 TCN, sau khi nắm quyền, Ephiatét bắt đầu thực hiện công cuộc cải cách
theo hướng dân chủ Trước hết, ông tước bỏ quyền lực của Hội đồng trưởng lão - một tổ chức, mà theo Ephiatét là phản dân chủ về thành phần cũng như chức năng và quyền hạn Do đó, Hội đồng trưởng lão dưới thời Ephiatét có chức năng điều hành các nghi lễ, xét xử các vụ án tôn giáo
+ Quyền lập pháp : (Trước đây do Hội đồng trưởng lão nắm giữ), nay được trao
cho Đại hội nhân dân
+ Quyền hành pháp : được trao cho Hội đồng 500 người
+ Quyền tư pháp : được trao về cho toà án
Một điều đáng quan tâm trong cải cách của Ephianét đó là việc qui định cho các nhà soạn luật phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về nội dung và hậu quả của những
dự luật mà họ soạn thảo Cải cách của Ephianét đã ngăn chặn những mưu đồ phá hoại nền dân chủ Tuy nhiên, phái bảo thủ đã tìm mọi cách để ngăn chặn việc cải cách và họ
đã tổ chức mưu sát ông vào năm 461 TCN
b) Cải cách của Pêriclét :
Pêriclét ( Pecricles 499 – 429 TCN ) đại diện cho tầng lớp chủ nô mới đồng thời
cũng là nhà lãnh đạo cao nhất cuả Aten lúc bấy giờ Pêriclét chủ trương tiếp tục duy trì
và phát triển các tổ chức và sinh hoạt dân chủ vốn đã có từ trước
Để thực sự mở rộng quyền dân chủ cho các công dân Aten, ông đã thực hiện chế
độ bầu cử các quan chức nhà nước bằng hình thức bốc thăm Nhờ đó mà các công dân Aten đều có cơ hội nắm giữ các chức vụ của bộ máy nhà nước, kể cả các chức vụ cao nhất : quan chấp chính
Mặt khác, ông còn thực hiện chế độ trả lương cho viên chức nhà nước; thực hành rộng rãi chế độ phúc lợi trợ cấp đối những công dân gặp khó khăn Nhìn chung, dưới thời Pêriclét, Aten trở thành một thành bang phát triển nhất về kinh tế, có một thiết chế nhà nước tiến bộ nhất Nền dân chủ chủ nô đạt đến mức độ hoàn hảo nhất, đỉnh cao của văn minh cổ đại, là cội nguồn của văn minh châu Âu, niềm tự hào và kinh nghiệm của nhân loại
Trang 25Nhận xét chung về nhà nước Aten :
+ Nền dân chủ Athena được xác lập trên kết quả của quá trình đấu tranh giữa quí tộc mới và quí tộc cũ; giữa quí tộc với người bình dân, thông qua các cuộc cải cách + Nền dân chủ trong thời kỳ cực thịnh mang đặc trưng của nền dân chủ trực tiếp, mọi công dân thực hiện quyền của mình thông qua Đại hội nhân dân hoặc tham gia vào
bộ máy của mình bằng cách rút thăm Quyền công dân được đảm bảo thực hiện bằng sự giám sát của Hội đồng nhân dân, bằng rút thăm giữ các chức vụ và việc thực hiện chi trả lương cho các “ công chức “ trong bộ máy nhà nước
+ Nếu như ở chính thể cộng hoà quí tộc chủ nô, quyền lực nhà nước tập trung vào hội đồng nguyên lão, thì ở chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô, quyền lực nhà nước thể hiện ở Hội nghị công dân Đó là điểm khác nhau giữa hai chính thể - hai hình thức nhà nước cộng hoà Tuy nhiên, Nhà nước Aten, về hình thức là cộng hoà dân chủ nhưng bản chất của nó vẫn là chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô
+ Về bản chất nhà nước : Cũng như các nhà nước khác, nhà nước Aten xây dựng trên cơ sở chế độ tư hữu và quan hệ bóc lột nô lệ Nó bảo vệ quyền lợi và địa vị chủ nô Chỉ có bọn chủ nô và rất ít người lao động tự do mới được hưởng quyền chính trị, còn phụ nữ, kiều dân, nô lệ thì ở ngoài vòng sinh hoạt chính trị Luật pháp qui định, ai có cha mẹ là người Aten mới được hưởng quyền công dân Đối với những người lao động ngheo khó, ở vùng Át-tích xa xôi khó có thể thực hiện quyền công dân của mình Trên thực tế, chỉ có khoảng 30% công dân tự do thực hiện quyền công dân đầy đủ Ngoài ra, hoạt động bầu cử, hội họp chỉ diễn ra ở thành thị và chỉ trong thời gian nhất định, cho nên chỉ có những công dân ở thành thị mới có thể tham gia
Thời kì Hy Lạp hoá ( từ năm 337 đến 30 TCN):
Dưới thời Alexander Đại đế, một vị vua của Vương quốc Macedonia, Các thành bang Hy Lạp biến thành chư hầu của đế quốc Makêđônia.Vua Makêđônia là Alechxăngđơ thống lĩnh quân đội tấn công Ba Tư, thôn tính được đế quốc này và một phần của Ấn Độ Sau khi Alechxăngđơ chết, các tướng lĩnh của ông ta tranh giành quyền lực với nhau Vào thế kỷ 3 TCN, đế quốc Makêđônia bị chia thành 3 nước lớn :
+ Makêđônia và Hy Lạp do dòng họ Antigôn cai trị + Xini do dòng họ Xêlơcút cai trị
+ Ai Cập do dòng họ Prôtêmê nắm chính quyền
2 LA MÃ
2.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư :
a) Điều kiện tự nhiên :
La Mã (Rôma) là tên của một quốc gia cổ đại mà nơi phát nguyên là ở bán đảo Italia Đây là một bán đảo dài và hẹp ở Nam Âu hình chiếc ủng vươn ra Địa Trung Hải, diện tích khoảng 300.000 km2, phía Bắc có dãy núi Anpơ ngăn cách Italia với châu Âu, phía Nam có đảo Xixin, phía Tây có đảo Coócxơ và đảo Xacđenhơ
Italia có nhiều đồng bằng màu mỡ và nhiều đồng cỏ thuận tiện cho việc chăn nuôi gia súc Italia có nhiều kim loại như đồng, chì, sắt để chế tạo công cụ sản xuất và
vũ khí Bờ biển phía Đông không thuận tiện cho thuyền bè đi lại nhưng bờ biển phía Nam có nhiều vịnh và cảng tốt, do đó có quan hệ sớm với Hy Lạp
Trang 26Bán đảo Italia lớn gấp 5 lần bán đảo Hy Lạp nhưng nó không bị chia cắt thành những vùng biệt lập như Hy Lạp mà là một đơn vị địa lí thuận lợi cho sự thống nhất về lãnh thổ và chính trị Sau khi làm chủ bán đảo Ý, La Mã còn xâm chiếm bên ngoài lập thành một đế quốc rộng lớn bao gồm đất đai của ba châu Âu, Á, Phi nằm bao quanh Địa Trung Hải
b) Điều kiện dân cư :
+ Cư dân chủ yếu và cũng là thành phần cư dân có mặt sớm nhất ở bán đảo Italia gọi là người Italia Trong đó, bộ phận sống ở vùng Latium goi là người Latinh
+ Về sau, một nhánh của người Latinh đã dựng lên thành La Mã ở trên bờ sông Tibrơ, từ đó họ được gọi là người La Mã
+ Ngoài ra, còn có người Gôloa, người Êtơruxcơ, người Hy Lạp Người Gôloa cư trú ở miền Bắc cực bán đảo, người Êtơrucơ ở miền Bắc và miền Trung, còn người Hy Lạp thì ở các thành phố ven biển phía Nam và đảo Xixin
Lịch sử Roma có thể chia làm ba thời kỳ: thời kỳ Vương chính , thời kỳ Cộng hòa (
từ thế kỷ 4 trCN đến thế kỷ 1 sau CN ), và thời kỳ Đế chế ( từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 5) a) Thời kỳ Vương chính ( thế kỷ7 trCN đến thế kỷ 4 trCN )
Vào thế kỷ 8 TCN, xã hội La Mã đang sống trong giai đoạn tan rã của công xã nguyên thủy.Trên đồng bằng Latium là nơi sinh sống của 3 bộ lạc, gọi họ là người Latinh Mỗi bộ lạc có 10 bào tộc (Curi) Mỗi Curi lại chia thành 10 thị tộc Để quản lý
xã hội, các bộ lạc cùng nhau thiết lập một tổ chức gồm các cơ quan sau:
+ Viện nguyên lão (Senat): gồm thủ lĩnh của 300 thị tộc Mỗi thị tộc cử 1 người
tham gia, thông thường là những người thuộc những gia đình giàu có, danh vọng nhất trong thị tộc Viện nguyên lão có thẩm quyền quyết định các công việc quan trọng giữa hai kỳ họp của Đại hội nhân dân, thảo luận các đạo luật trước khi trình trước đại hội công dân
Về sau, quyền lực của Viện nguyên lão dần dần lớn mạnh và trở thành cơ quan chính quyền trọng yếu của La Mã
+ Đại hội nhân dân (Đại hội Curi): gồm tất cả các công dân nam của cả 3 bộ
lạc Có quyền quyết định các vấn đề quan trọng như tuyên chiến hay nghị hoà, thông qua hoặc bác bỏ những đạo luật do Viện nguyên lão thảo luận trước, bầu vua và các chức quan cao cấp khác, có vai trò là toà án tối cao Khi tham gia đại hội, các công dân nam của mỗi Curi sẽ tập hợp lại thành một đơn vị Khi biểu quyết, mỗi curi được quyền
có một lá phiếu
+ Vua (rex): do Đại hội Curi bầu ra, thực tế chỉ là tù trưởng liên minh bộ lạc
Thời chiến là tổng tư lệnh quân đội, thời bình chỉ lo việc tế lễ và xét xử Thời kỳ này còn là thời kỳ dân chủ quân sự
b) Thời kỳ Cộng hòa ( từ thế kỷ 4 trCN đến thế kỷ 1 sau CN )
* Cải cách của Xecvius Tutius :
Giữa thế kỷ thứ 6 TCN, vua Xecvius Lutius tiến hành cải cách xã hội với những nội dung như sau:
+ Ba bộ lạc trước kia bị xoá bỏ, thay vào đó là 4 bộ lạc mới, thực chất là 4 khu vực hành chính Căn cứ theo tài sản, ruộng đất, ông chia dân cư thành 5 đăng cấp, cứ 5 năm đăng ký lại đẳng cấp một lần
Trang 27- Đẳng cấp 1: là những người có từ 20 jujêra đất trở lên (1 jujêra đất = 52,5 ha)
+ Đẳng cấp 1: được tổ chức thành 80 Xenturi bộ binh và 18 Xenturi kỵ binh + Đẳng cấp 2,3,4: mỗi đẳng cấp được tổ chức thành 20 Xenturi bộ binh
- Đại hội nhân dân : Centuries họp mỗi năm hai lần tại quảng trường Thần Chiến
tranh Mars, để quyết định các vấn đề cơ bản của nhà nước như: chiến tranh, hòa bình, và bầu chọn các quan chức nhà nước Hai quan chấp chính ( consul ) cũng do đại hội bầu ra với nhiệm kỳ 1 năm
- Đại hội bình dân : ra đời muộn hơn các cơ quan khác của nhà nước Roma, là kết
quả của cuộc đấu tranh giữa các cư dân mới tới ( Plebs ) đòi hỏi phải có tiếng nói của mình bên cạnh Đại hội dân nhân Centuries của cư dân Roma bản địa Do người bình dân chiếm tỉ lệ cao trong số cư dân Roma nên họ tự coi đại hội của mình là đại hội của toàn thể cư dân Roma, những quyết nghị của đại hội này có hiệu lực như pháp luật với toàn thể công dân Roma, nhưng Đại hội bình dân Plebs chỉ quyết định các vấn đề liên quan tới các bộ lạc hay liên quan tới các đơn vị hành chính lãnh thổ
- Viện nguyên lão ( Senate) bao gồm 300 thành viên, là các quý tộc giàu có, hoạt
động theo nguyên tắc: Đại hội Centuries là cơ quan quyền lực tối cao, nhưng mọi quýet định đều phải thông qua sự phê chuẩn của Viện nguyên lão; các quan chức của bộ máy nhà nước cũng chỉ được chọn ra từ những nghị viện của Viện, bởi vậy, thực tế Viện nguyên lão chính là cơ quan đại diện thường trực của Đại hội nhân dân Centuries để quyết định những vấn đề thường xuyên của nhà nước như: hành chính, ngân sách, ngoại giao, lễ nghi tôn giáo
- Hai chấp chính quan do Đại hội Centuries bầu ra nắm trong tay quyền hành
pháp, ngoài ra, còn có một số quyền lập pháp nhất định Trong nhiệm kỳ 1 năm, nếu xảy
ra trường hợp Tổ quốc lâm nguy thì một trong số hai chấp chính quan sẽ được chọn cử
Trang 28làm Dictato - hay Độc tài, trong thời hạn 6 tháng Trong thời gian này, Dictato nắm giữ quyền hành tối cao về mọi vấn đề
- Hội đồng các quan bảo dân lúc đầu chỉ gồm 2 người, rồi là 4, 6 và 10 người, để
bảo vệ, bênh vực người dân trước những quyết định đi ngược lại lợi ích nhân dân của Viện nguyên lão hay của các qun chấp chính, giám sát và có ý kiến đối với những dự luật và việc làm cụ thể của chính quyền Roma, ngoài ra, còn giải quyết các vụ án dân
sự Hội đồng này tương ứng với cơ quan tư pháp
c) Thời kỳ quân chủ : ( từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 5)
Cuộc cải cách của vua Xecvius Tutius đánh dấu sự sụp đổ của chế độ công xã thị tộc và sự ra đời của nhà nước Song song với cuộc đấu tranh giữa bình dân Pơlép và quý tộc thị tộc, còn có cuộc đấu tranh của người La Mã nhằm lật đổ ách thống trị của người Êtrucxơ Năm 509 TCN, người La Mã đánh đuổi vị vua cuối cùng của người Êtrucxơ là Taccanh II và thiết lập nhà nước La Mã
II PHÁP LUẬT CÁC QUỐC GIA PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
1 Pháp luật Hy Lạp :
Luật Đracông :
Năm 621 TCN, hội đồng quí tộc đã giao cho quan chấp chính Đracông khởi thảo
và ban hành bộ luật thành văn, gọi là Luật Đracông” Đạo luật này có tiếng bởi tính tàn bạo, ví dụ tội trộm cắp rau quả cũng được ví như là tội giết cha - tử hình Những nhà làm luật lúc bấy giờ cho rằng, các tội dù nhỏ cũng đáng xử như vậy
Đây là bộ luật đút kết từ tập quán và thể lệ hà khắc từ xưa để thành luật bảo vệ tư hữu tài sản của quí tộc thị tộc Sau khi ra đời, bộ luật được ghi trên các tấm đá và đặt ở quảng trường thành phố Đến thời Xôlông, một số đạo luật này được bãi bỏ
Dù khắc nghiệt, nhưng sự ra đời của bộ luật Đracông đánh dấu một bước tiến bộ trong lịch sử pháp chế của nhà nước Athen Nó hạn chế phần nào sự xét xử độc đoán của quí tộc
2 Những pháp lệnh của quan chấp chính :
a) Pháp lệnh của Xôlông : Bộ luật Đra-công được ban hành nhưng không đề cập
đến cải cách xã hội Trong khi đó quần chúng yêu cầu phải cải cách giải phóng họ khỏi những món nợ, chia lại ruộng đất và dân chủ hoá nhà nước Cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp diễn Các quan chấp chính đã ban hành các pháp lệnh để chống lại quí tộc, để cải cách xã hội và dân chủ Năm 549 TCN, Xôlông đã ban hành những pháp lệnh sau đây :
+ Pháp lệnh về ruộng đất : Trả lại cho nông dân những thửa ruộng trước đây đã
làm vật thế chấp vì không trả được nợ cho quí tộc Đồng thời qui định mức chiếm hữu ruộng đất tối đa
+ Pháp lệnh về nô lệ và nợ : Theo sắc lệnh này những người do nợ nần bị biến
thành nô lệ được trả tự do, nghiêm cấm việc lấy bản thâm nình hoặc vợ con để trừ nợ, cấm ky kết những văn bản vay nợ trong đó lấy bản thân người vay nợ làm vật bảo đảm
+ Pháp lệnh về phân chia đẳng cấp : Theo pháp lệnh này, dựa theo tài sản, công
dân Aten được chia thành 4 đẳng cấp có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau :
Đẳng cấp thứ nhất : bao gồm những người thu hoạch hàng năm từ 500 mêđim lúa mì trở lên ( 1 mêđim = 52,5 lít ) thì được giữ các chức vụ cao nhất như quan chấp chính, được tham gia hội đồng trưởng lão, gia nhập kỵ binh, đồng thời có nghĩa vụ cung cấp tiền để xây dựng hạm đội và tế lễ
Trang 29Đẳng cấp thứ hai : từ 300 mêđim trở lên thì được giữ các chức vụ cao trong bộ máy nhà nước - trừ chức vụ quan chấp chính và Hội đồng trưởng lão, được tham gia kỵ binh
Đẳng cấp thư ba : gồm những người thu hoạch 200 mêđim trở lên Họ được vào hội đồng 400 người ( tức HDND ), chỉ tham gia bộ binh và mang vũ khí hạng nặng
Đẳng cấp thứ tư : gồm những người thu nhập dưới 200 mêđim, được tham gia đại hội nhân dân, chỉ được bầu cử, không được ứng cử vào các chức vụ, trong quân đội chỉ được vào bộ binh và mang vũ khí nhe
+ Pháp lệnh về thành lập Hội đồng 400 người và Toà án nhân dân : Theo sắc lệnh
này, vào thời đó Aten có 4 bộ tộc, mỗi bộ tộc cử 100 đại biểu từ những người thuộc đẳng cấp thứ 3 tạo thành Hội đồng 400 người có chức năng giải quyết công việc hàng ngày giữa hai nhiệm kỳ của đại hội nhân dân Sắc lệnh này cũng qui định lập toà án tối cao của nhà nước Aten
b) Pháp lệnh của Clixten :
+ Pháp lệnh chia lại khu vực hành chính : Theo sắc lệnh này, Clixten xoá 4 bộ tộc
cũ, chia Aten thành 10 phân khu nhằm xoá bỏ triệt để thế lực quí tộc
+ Pháp lệnh Hội đồng 500 và Hội đồng 10 tướng lĩnh : Pháp lệnh này qui định
cách thức bầu cử, trách nhiệm và quyền hạn của Hội đồng 500 và Hội đồng 10 tướng lĩnh
+ Pháp lệnh trục xuất : Theo đó, những kẻ nguy hiểm đối với nề tự do, dân chủ,
có âm mưu độc tài, đảo chính Những người này được đại hội công dân bất thường bỏ phiếu kín thăm dò, nếu có trên 6000 phiếu ghi có âm mưu trên thì bị trục xuất ra khỏi Aten trong 10 năm, nhưng không bị tịch thu tài sản Mãn hạn thì người đó trở lại Aten
và được phục hồi quyền công dân
+ Pháp lệnh về mở rộng số đông công dân tự do : Pháp lệnh này cho phép một số
kiều dân có công trong quá trình đấu tranh chống chế độ chuyên quyền được thành công dân Aten và giải phóng một số nô lệ thành công dân tự do
c) Những pháp lệnh của Ephiantét và Pêriclet :
+ Pháp lệnh về qui định chức năng của các cơ quan nhà nước về quyền dân chủ của nhân dân Theo đó, các cơ quan nhà nước dân chủ Aten có 4 cơ quan chủ yếu : Đại hội nhân dân, Hội đồng 500 người, Toà án nhân dân và Hội đồng 10 tướng lĩnh
+ Pháp lệnh về chính sách lương bổng và phúc lợi : Theo chính sách này, lần đầu tiên trong lịch sử, Pêriclet ban hành chế độ trả lương cho các thành viên hội đồng, cho quan chấp chính, cho toà án và binh lính
3 Hiến pháp Aten :
Lần đầu tiên trong lịch sử nhà nước và pháp quyền, nhà nước Aten đã ban hành Hiến pháp Cơ sở của hiến pháp là nền kinh tế công thương nghiệp thành thị và nhà nước cộng hoà dân chủ Hiến pháp gồm 3 nội dung :
+ Nội dung thứ nhất là qui định cơ cấu tổ chức bộ máy : Bộ máy nhà nước gồm 3
cơ quan chính : lập pháp : đại hội nhân dân; hành pháp : thuộc hội đồng nhân dân và quyền tư pháp thuộc về toà án nhân dân
Hai cơ quan hành pháp và tư pháp có nguồn gốc không từ cơ quan lập pháp, nhưng các quan chức của 2 cơ quan này phải chịu trách nhiệm trước cơ quan lập pháp nhằm để tăng cường quyền giám sát của nhân dân đối với các quan chức nhà nước + Nội dung thứ hai của hiến pháp qui định cách thức bầu cử các quan chức nhà nước và bầu cử vào các cơ quan nhà nước, phổ biến là bầu cử theo cách thức bốc thăm
Trang 30+ Nội dung thứ ba của hiến pháp qui định quyền và nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước
Nhận xét : Cho đến thời cận hiện đại, hiến pháp của các nhà nước tư sản hoặc nhà nước XHCN cũng chỉ bao gồm 3 nội dung như hiến pháp Aten cổ đại, cho dù nội dung
cụ thể có thay đổi khác nhau Phải chăng hiến pháp Aten là khuôn mẫu cho tất cả các bản hiến pháp về sau này trong lịch sử ? Nếu quả như vậy, thì công lao, tài năng và sự đóng góp của các chính khách, các nhà làm luật Aten cho nền khoa học pháp lý nhân loại thật đáng được ghi nhận
Hiến pháp Aten đã xác định chế độ chính trị xã hội mới tiến bộ, song vẫn phải lưu
ý đó là pháp luật về nhà nước của giai cấp chủ nô Vì thế, cho nên trong nhà nước và trong pháp luật đó chỉ có những người được thừa nhận là công dân Aten và đàn ông mới được hưởng quyền dân chủ Số này chiếm 20% dân số, còn 80% dân số là phụ nữ, là những người dân tự do nhưng không đủ tiêu chuẩn thành công dân ( Theo pháp lệnh năm 451 TCN : cha mẹ phải là công dân Aten thì con đến 18 tuổi mới là công dân ) Những ngoại kiều và người nô lệ không phải là công dân và không được hưởng nền dân chủ
Hiến pháp dành ưu tiên cho thành thị nhiều hơn so với nông thôn Ngay cả những người công dân Aten mà ở ngoại vi cũng không đủ điều kiện để thực hiện được đầy đủ quyền dân chủ ( Lưu ý Đại hội nhân dân 10 ngày họp 1 lần tại thủ đô và công dân phải
(tiếng La Tinh: digesta hay pandectae), các đạo luật do hoàng đế ban hành (Codex Iustinianus, công bố năm 534) và các đạo luật đã được sửa đổi bổ sung (novellae)
Để ngăn chặn tình hình mất ổn định trong quan hệ xã hội ở nhà nước La Mã, vào năm 450 TCN, Các thành viên của Đại hội nhân dân đã yêu cầu viết luật thành văn thay vì từ trước vẫn sử dụng tập quán của người La Mã để giải quyết những tranh chấp trong xã hội Từ lý do đó, một uỷ ban đặc trách được đại hội nhân dân thành lập với nhiệm vụ soạn thảo ra các điều luật thành văn bản
Uỷ ban đặc trách soạn thảo gồm 10 người ( gồm 5 người đại diện cho lớp bình dân
và 5 người đại diện cho tầng lớp quí tộc) Uỷ ban này đã soạn thảo ra các điều luật được hợp thành 12 bảng và phổ biến công khai tới từng người dân La Mã
Trang 31- Luật 12 bảng ra đời như một sự đòi hỏi nhu cầu của xã hội La Mã, nhằm kịp thời giải quyết những tranh chấp, mâu thuẩn trong xã hội La Mã thời kỳ đó Đồng thời nó như một giải pháp kịp thời làm giảm bớt những xung đột giữa lợi ích giữa các giai tầng của nhà nước La Mã
- Luật La Mã là công cụ bảo vệ mọi quyền, lợi ích của tất cả mọi người sống ở La
Mã có quốc tịch La Mã trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của nhà nước La Mã
- Luật La Mã là công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền về tài sản, về nhân thân của công dân La Mã
Luật 12 bảng của nhà nước La Mã là kết quả của hệ thống quá trình chuyển hoá các tập quán, các qui ước, các thói quen của người La Mã lên thành các nguyên tắc có tính hệ thống bắt buộc đối với mọi công dân La Mã trong các quan hệ phù hợp với những nguyên tắc của pháp luật Do đó, luật 12 bảng ra đời như một nhu cầu của xã hội
La Mã và nó là chuẩn mực pháp luật buộc mọi công dân phải tuân theo và được bảo vệ theo đúng nội dung của nó đươọc uỷ ban soạn thảo luật 12 công bố
Nội dung luật 12 bảng :
a) Chế định hình sự :
- Vẫn còn sử dụng các hình phạt mang tính dã man, tàn bạo
- Thừa nhận nguyên tắc đồng thái phục thù
b) Chế định hợp đồng:
Hợp đồng mua bán Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
+ Phải có mặt 5 người làm chứng :” Nếu người nào bán mình hay cầm cố đồ vật , phải có mặt 5 người làm chứng và người cân lường thì lời nói đó không được xoá
bỏ “ ( điều 1 - Bảng VI ) Và sau khi hợp đồng được ký kết nếu người nào đã nói mà lại chối lời thì phải chịu phạt gấp đôi”
Hợp đồng vay mượn : Lần đầu tiên luật 12 Bảng qui định không ai được cho vay
lấy lãi quá 1% trong một tháng Nếu kẻ cho vay nặng lãi thì phải chịu phạt gấp 4 lần phần lãi thu được ( điều 18a Bảng VIII )
Hợp đồng lĩnh canh ruộng đất : Đối với ruộng đất canh tác là 2 năm, đối với các
đồ vật khác thì 01 năm ( Điều 3 Bảng VI)
c) Chế định về quyền sở hữu :
- Bộ luật 12 bảng bảo vệ quyền tư hữu bằng nhiều biện pháp, mà chủ yếu là bằng hình phạt nghiêm khắc Ví dụ : “Theo luật XII tội bí mật phá hoại mùa màng bị xử nặng hơn tội giết người”( điều 23 Bảng VIII )
d) Chế định về hôn nhân gia đình
Trong quan hệ hôn nhân gia đình, thừa nhận quyền gia trưởng của người chồng, người chồng được quyền quyết định các vấn đề quan trọng trong gia đình và đại diện gia đình trong các quan hệ xã hội “ Người chồng đã ra lệnh cho vợ cầm lấy mọi đồ vật thuộc riêng mình, rồi thu lấy chìa khoá ( ở người vợ ) và đuổi vợ đi “ Hoặc người cha
có quyền bán con của mình nhưng nếu bán 3 lần thì người con không thuộc quyền về người cha nữa ( tự do )
e) Chế định về thùa kế : Trong quan hệ thừa kế, quy định hình thức thừa kế theo
pháp luật và thừa kế theo di chúc, người chết được quyền để lại thừa kế cho bất cứ người nào (không nhất thiết phải là con của họ) Hội nghị công dân có quyền giám sát việc chia tài sản Chế định thừa kế được qui định trong Bảng V
f) Chế định tố tụng: Quy định thủ tục xét xử rườm rà, máy móc gây nhiếu khó khăn
cho công tác xét xử ( Thể hiện ở Bảng I & II của bộ luật )
Trang 322.2 Thời cộng hoà hậu kỳ (thế kỷ 3 TCN – thế kỷ 1)
+ Ius Naturale, hay "luật tự nhiên", bao gồm tất cả các luật trong tự nhiên và được xem như áp dụng cho tất cả mọi người
- Nguồn luật :
+ Tập quán pháp
+ Quyết định của hoàng đế la mã
+ Quyết định của toà án các cấp
+ Quyết định của viện nguyên lão
+ Quyết định của quan thái thú các tỉnh
+ Các công trình nghiên cứu, công trình hệ thống hoá pháp luật của các luật gia La Mã
2.2.1 Chủ thể của luật La Mã : Một cá nhân có thể đầy đủ năng lực chủ thể phải có
đủ 3 điều kiện :
+ Địa vị tự do : phân biệt công dân tự do và người nô lệ
+ Địa vị công dân : công dân La Mã và người ngoại tộc
+ Địa vị gia đình : nhằm xác định sự chi phối quyền lực trong gia đình như người cha hoặc người chủ khác
đở đầu vào thời điểm đó
+ Không có năng lực hành vi : trẻ em dưới 7 tuổi
- Hạn chế năng lực của chủ thể :
+ Người bị tước danh dự do phạm tội và bị kết án
+ Người vi phạm về chế độ hôn nhân gia đình Ví dụ “ người đàn goá mà kết hôn với người khác trong thời hạn một năm, kể từ khi người chồng chết Trường hợp này được coi là người vô lương tâm , sẽ không được bảo hộ về mặt danh dự
a) Chế định về quyền sở hữu : Đưa ra khái niệm quyền sở hữu bao gồm quyền
chiếm hữu, sử dụng định đoạt; quy định căn cứ xuất phát, nội dung của các quyền này Các hình thức chiếm hữu:
- Chiếm hữu hợp pháp : là chủ sở hữu đích thực mới có quyền chiếm hữu
- Chiếm hữu bất hợp pháp : người chiếm hữu coi vật đó là của mình nhưng không
có quyền chiếm hữu Chiếm hữu bất hợp pháp có hai loại : ngay thẳng và không ngay thẳng Theo luật La Mã, chiếm hữu bất hợp pháp ngay thẳng khi người chiếm hữu không biết, hoặc không buộc họ biết họ không có quyền chiếm hữu ( mua một vật từ
Trang 33một người không phải là chủ sở hữu ) Ngược lại, chiếm hữu bất hợp pháp không ngay thẳng là biết, có thể biết hoặc cần phải biết mình là người không có quyền chiếm hữu ( tài sản trộm cắp, mua đồ gian )
- Quyền sở hữu : căn cứ phát sinh quyền sở hữu được phân chia thành 2 nhóm : căn
cứ nguyên sinh và căn cứ kế tục
+ Căn cứ nguyên sinh ( ban đầu ) : là lần đầu tiên xác lập đối với vật - vật đó không phụ thuộc của ai
+ Căn cứ thế tục : quyền sở hữu được xác lập phụ thuộc vào ý chí chủ sở hữu trước đó
- Chấm dứt quyền sở hữu : Quyền sở hữu được chấm dứt sau đây :
+ Vật bị tiêu hủy hay do qui định của pháp luật
+ Chủ sở hữu từ bỏ tquyền sở hữu tài sản
+ Chủ sở hữu bị tước bỏ quyền sở hữu
b) Chế định về hợp đồng : Khi quy định về hợp đồng, pháp luật đưa ra điều kiện và
phân loại hợp đồng, quy định quyền và nghĩa vụ của hai bên khi không thực hiện hợp đồng
- Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng : Do sự thoả thuận của 2 bên tham gia hợp đồng, phải phù hợp với quy định của pháp luật Các hình thức hợp đồng :
+ Hợp đồng miệng : thực hiện bằng hình thức dạng câu hỏi và trả lời,
+ Hợp đồng thề : thể hiện qua sự giao kết bằng lời thề
+ Hợp đồng viết : thể hiện bằng hình thức chữ viết
- Phân loại hợp đồng
+ Hợp đồng thực tại: quyền và nghĩa vụ của các bên chuyển giao tại thời điểm
giao vật Loại này gồm các hợp đồng bảo quản, vay mượn
+ Hợp đồng thoả thuận: quyền và nghĩa vụ của các bên chuyển giao tại thời
điểm ký hợp đồng Loại này gồm hợp đồng mua bán, cho thuê sức lao động, súc vật, nhà cửa, ruộng đất…
- Nội dung của hợp đồng :
Nội dung của hợp đồng được phân định các thành tố cấu thành Nếu mà thiếu
nó thì hợp đồng không có ý nghĩa, không thể tồn tại ví dụ : hợp đồng mua bán không có
ý nghĩa nếu không có việc mua, bán gì ?
Nếu một bên vi phạm hợp đồng thì phải thực hiện trái vụ (bồi thường hợp đồng) Biện pháp để bảo đảm trái vụ: cầm cố vật, sự bảo lãnh của người trung gian Trái
vụ sẽ chấm dứt khi :
Hai bên thoả thuận chuyển khoản nợ cũ sang trái vụ mới
Người chủ nợ từ chối quyền đòi hỏi của mình
Hết thời hiệu đưa đơn kiện
Người mắc nợ gặp thiên tai, địch hoạ không thể cưỡng lại được
c) Chế định về quan hệ hôn nhân gia đình : Quy định quan hệ hôn nhân một vợ
một chồng, do sự tự nguyện của hai người
+ Tài sản của vợ chồng là riêng biệt Mọi chi phí trong thời gian chung sống do người chồng gánh vác
+ Người vợ có quyền ly hôn chồng nếu có lý do chính đáng
+ Cha không được quyền bán con
Trang 34d) Chế định thừa kế : Là những người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, nếu
“người thừa kế” là thai nhi thì phải được sinh ra sau khi người để lại tài sản chết 300 ngày (10 tháng) Luật XII bảng quy định: “Tôi được biết rằng khi người đàn bà sinh đẻ vào tháng thứ mười một sau khi chồng chết thì (ở đó) có việc dường như người đàn bà
có thai sau khi chồng chết, bởi vì Ủy ban mười người đã ghi rằng con người sinh ra vào
tháng thứ mười chứ không phải vào tháng thứ mười một (bảng IV)”
- Người thừa kế có quyền sở hữu tài sản thừa kế, có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của người chết trong phạm vi di sản được hưởng, có quyền từ chối không nhận di sản
+ Thừa kế theo di chúc: Luật La Mã quy định trong di chúc không được phép
“im lặng bỏ qua” đối với hàng thừa kế thứ nhất (các con, nếu con chết thì các cháu) Nếu “im lặng bỏ qua” thì di chúc vô hiệu mặc dù tuân thủ đầy đủ các điều kiện khác
- Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào Nếu có người lập nhiều di chúc thì di chúc sau có giá trị hơn di chúc trước
- Luật La Mã quy định khá chặt chẽ các điều kiện để một di chúc có hiệu lực như: người lập di chúc phải có khả năng lập di chúc (con gái từ 12 tuổi, con trai từ 14 tuổi trở lên, không bị tâm thần, không phạm trọng tội);
- Hình thức di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật (di chúc viết phải được quan tòa, quan chấp chính chứng thực, di chúc miệng phải có bảy người làm chứng, người thừa kế phải được chỉ định rõ ràng, chính xác); người được chỉ định trong
di chúc phải là người có khả năng trở thành người thừa kế (thai nhi sinh vào tháng thứ mười một, đàn ông từ 25 đến 60 tuổi, đàn bà từ 20 đến 50 tuổi mà không lập gia đình thì không được hưởng thừa kế…)
Dưới thời Hoàng đế Justinian việc phân chia kỷ phần bắt buộc rất chi tiết với nguyên tắc sau: nếu như một suất thừa kế được chia lớn hơn ¼ di sản thừa kế thì kỷ phần bắt buộc là 1/3 một suất thừa kế; nếu như một suất thừa kế nhỏ hơn hoặc bằng ¼ giá trị di sản thì kỷ phần bắt buộc bằng ½ một suất thừa kế
Di tặng : Là một phần tài sản mà người lập di chúc dành riêng cho một hoặc
nhiều người Ở thời kỳ đầu luật La Mã không hạn chế phần tài sản di tặng dẫn đến tình trạng lợi dụng di tặng để trốn tránh nghĩa vụ Đến thời Justinian di tặng được quy định không quá ¼ tổng di sản Di tặng không tính vào khối di sản Việc quy định di tặng không quá ¼ di sản là rất hợp lý và được pháp luật nhiều nước trên thế giới kế thừa
+ Thừa kế theo pháp luật: Trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc vô
hiệu thì di sản của người chết để lại được chia theo luật So với luật dân sự Việt Nam, luật La Mã có sự khác biệt về việc phân chia hàng thừa kế mà cụ thể là quy định theo hàng, bậc như sau:
- Hàng thứ nhất: Các con (các cháu nếu các con chết)
- Hàng thứ hai: Bố mẹ (nếu bố mẹ chết thì ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột)
- Hàng thứ ba: Anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha
- Hàng thứ tư: Họ hàng nội, ngoại theo nhánh ngang tính từ gần đến xa, từ nội đến ngoại trong phạm vi sáu đời
- Hàng thứ năm: Nếu không có những người ở bốn hàng trên thì quan tòa có quyền quyết định cho vợ hưởng một phần di sản
Trang 35e) Các chế định hình sự : Hình phạt mang tính độc đoán, tàn bạo, chủ yếu là sự
dụng nhục hình Tùy theo người bị phạt thuộc giai cấp nào mà hình phạt sẽ được áp dụng khác nhau
f) Chế định tố tụng : Quy định việc xét xử phải do hội đồng toà án đặc biệt đảm
nhiệm Trong mỗi vụ án, người ta sẽ chọn ra thẩm phán xét xử bằng các bóc thăm.Các thẩm phán tiến hành bỏ phiếu để quyết định bản án Thẩm phán vừa tiến hành điều tra, vừa xét xử, kết tội, tuyên bố hình phạt
CÂU HỎI :
1 Sự ra đời và tổ chức bộ máy nhà nước Cọng hoà quí tộc chủ nô ở Xpác?
2 Sự ra đời và tổ chức bộ máy nhà nước Cọng hoà Dân chủ chủ nô ở Athen?
3 So sánh giữa hai hình thức chính thể nhà nước ở Xpác và ở Athen?
4 Sự hình thành và tổ chức nhà nước ở La Mã cổ đại?
5 Nguồn và những nội dung chủ yếu của luật La Mã cổ đại?
6 Luật dân sự La Mã và tác động lớn lao của nó?
Trang 36CHƯƠNG III NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHONG KIẾN PHƯƠNG TÂY
I ĐIỀU KIỆN VÀ SỰ HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN PHƯƠNG TÂY
1 Điều kiện và sự hình thành nhà nước phong kiến phương Tây
1.1 Các yếu tố tác động từ bên trong
- Sự suy yếu của đế quốc La Mã : Từ thế kỷ thứ 3 đến 5 sau công nguyên, chế độ
chiếm hữu nô lệ ở La Mã rơi vào khủng hoảng trầm trọng Nhiều cuộc khởi nghĩa của
nô lệ diễn ra khắp nơi một cách mạnh mẽ, làm cho thành thị tiêu điều, ruộng vườn hoang vu, những cuộc chiến tranh cướp nô lệ buộc phải dừng lại Do đó, nguồn nô lệ can kiệt dần, giá bán nô lệ lên rất cao nên việc sử dụng nô lệ với quy mô lớn không còn mang lại lợi nhuận cao như trước mà còn trở nên nguy hiểm Kinh tế theo đó bị đình trệ, nền kinh tế công thương nghiệp một thời phát triển cũng nhanh chóng suy sụp, cư dân thành thị thưa thớt dần, mối liên hệ kinh tế giữa các vùng trong đế quốc không còn chặt chẽ như trước nữa
- Ở Tây La Mã, quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ tỏ ra không còn phù hợp
Những mầm mống của quan hệ sản xuất phong kiến dần dần hình thành, mà biểu hiện
cụ thể của quá trình đó thể hiện qua 2 mặt : Lãnh địa hóa toàn bộ ruộng đất trong xã hội; Nông nô hóa giai cấp nông dân
Họ bắt đầu chia đất của mình ra 2 phần : Phần nhỏ hơn (1/3)do chủ đất trực tiếp quản lý; Phần lớn hơn (2/3) họ lại chia thành nhiều mãnh nhỏ, phát canh cho những
nông dân tự do thậm chí cho cả nô lệ của mình Những người này lĩnh canh ruộng đất và
có nghĩa vụ nộp lại cho chủ đất một khoảng tiền hay hiện vật (gọi là địa tô); ngoài ra, họ còn phải đến lao động không công trên phần đất của chủ đất trong một số ngày nhất định (gọi là lao dịch) Họ chính là tiền thân của nông nô trong thời kỳ phong kiến
Trong thời kỳ này, xã hội La Mã vẫn còn tồn tại một số nông dân tự do Trước nạn cướp bóc hoành hành khắp nơi, họ không thể tự bảo vệ cho mình, nhà nước La Mã thì đã quá suy yếu cũng không thể bảo vệ được cho họ, họ lâm vào tình cảnh khó khăn, nguy cơ bị cướp đất, trắng tay ngày càng hiện hữu Trong khi đó, lợi dụng tình trạng hổn loạn của xã hội và địa vị của mình, các chủ đất lớn tổ chức quân đội riêng để bảo vệ ruộng đất, giữ gìn an ninh trật tự trong phần đất của mình Do đó, những nông dân tự do thường tìm đến những chủ đất này xin được bảo hộ bằng cách biến đất của mình thành đất của chủ đất rồi lĩnh canh lại phần đất đó, và trở thành lệ nông Do đó, đất đai của những chủ đất lớn ngày càng lớn hơn Dần dần, chúng nắm cả quyền thu thuế, lập toà án riêng và nhà tù, thế lực của chúng ngày càng mạnh, có xu hướng thoát ly sự kiểm soát của chính quyền trung ương Nếu chúng ta xem những lệ nông là tiền thân của nông nô thời trung cổ thì cũng có thể xem những tên chủ đất này là tiền thân của các lãnh chúa phong kiến tương lai
Như vậy, trong xã hội lúc bấy giờ đã hình thành 2 giai cấp tiền thân của giai cấp đặc trưng cho chế độ phong kiến là địa chủ và lệ nông Phương thức bóc lột sức lao động trong thời kỳ này cũng đã thay đổi và chuyển sang phương thức bóc lột của chế độ phong kiến là “địa tô”
Trang 371.2 Các yếu tố tác động từ bên ngoài
Bên cạnh đó, ở phía đông đường biên giới sông Ranh và sông Đanuyp của đế quốc La Mã là địa bàn cư trú của người Giecmanh gồm nhiều tộc người như người Iaraniêng, người Frăng,… Lúc này, họ vẫn đang sống trong thời kỳ công xã thị tộc mạt
kỳ, nên người La Mã gọi họ là “Man tộc”
Từ thế kỷ 5, những Man tộc này tràn vào chinh phục đế quốc Tây La Mã và giành đuợc một vai chiến thắng có ý nghĩa quan trọng Chiến thắng này làm cho xã hội người Giecmanh cũng như xã hội của người La Mã có nhiều thay đổi lớn
Khi chinh phục được những người La Mã có trình độ văn hoá, xã hội cao hơn
mình, người Giecmanh không thể dung nạp họ vào các tập đoàn thị tộc của họ, cũng
không thể dùng những tập đoàn này để quản lý họ Do đó, các cơ quan quản lý thị tộc buộc phải nhanh chóng chuyển hoá thành những cơ quan nhà nước phù hợp để thống trị, quản lý được những người La Mã
Nhà nước đó không thể là nhà nước chiếm hữu nô lệ, vì hình thức nhà nước này
đã tỏ ra không còn phù hợp trong xã hội người La Mã Lực lượng sản xuất đã phát triển đến một giai đoạn mới, dần trở thành lực lượng sản xuất của chế độ phong kiến Do đó, buộc các quan hệ sản xuất cũng như kiến trúc thượng tầng cũng phải phù hợp theo Cho
nên, nhà nước mà người Giecmanh có thể thành lập để quản lý được người La Mã chỉ
có thể là nhà nước phong kiến Do tình thế thúc đẩy nên các cơ quan của tổ chức thị tộc người Giecmanh chuyển hoá hành cơ quan nhà nước rất nhanh chóng
Trong quá trình chuyển hóa này, các thủ lĩnh quân sự đoạt lấy quyền lực, thay thế
cho các tù trưởng bộ lạc, lại được sự ủng hộ của lực lượng quân đội nên đã trở thành vua
với quyền lực tối cao Nhà vua tuyên bố tất cả đất đai chiếm được đều thuộc sở hữu của vương triều và đem đất đai đó phong tặng cho những tùy tùng của mình như các quý tộc quân sự, quý tộc thị tộc, tăng lữ, những quan chức La Mã cũ nhận giúp chính quyền mới
và cả những bình dân nô lệ được giải phóng để phục vụ cho nhà vua.như vậy, người giecmanh đã xây dựng nhà nước phong kiến với hình thức quân chủ chuyên chế trên đất nước Tây La Mã
Về phần xã hội Tây La Mã, đang manh nha phát triển thành xã hội phong kiến thì xuất hiện cuộc chiến của các tộc người Giecmanh, đóng vai trò như nhân tố xúc tác làm cho xã hội chuyển biến sang xã hội phong kiến một cách nhanh hơn, dứt khoát hơn
+ Cùng với sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã, Nhiều vương quốc của người Giecmanh được thành lập như: Vương quốc Vidigôt; Vương quốc Frăng; Vương quốc Buôcgiôngđơ; Vương quốc Aênglô - Săcxông; Vương quốc Xuyevơ; Vương quốc Ôxtrôgôt; Vương quốc Lôngba Tuy nhiên, phần lớn các vương quốc này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn Chỉ có Vương quốc Frăng tồn tại lâu dài và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lịch sử Tây Aâu trong suốt giai đoạn sơ kỳ của chế độ phong kiến
2 Kết cấu xã hội
Trong xã hội lúc này, đã hình thành nên 2 giai cấp cơ bản : đại địa chủ – chiếm hầu hết ruộng đất, là giai cấp thống trị; nông nô – không có ruộng đất và lệ thuộc vào lãnh chúa, là giai cấp bị trị
2.1 Giai cấp thống trị : Chia thành 2 loại: lãnh chúa thế tục (phần nhiều xuất thân
từ tầng lớp võ sĩ) và lãnh chúa tăng lữ Hai loại này lại chia thành nhiều thang bậc khác nhau tạo nên một hệ thống đẳng cấp phong kiến
- Lãnh chúa thế tập:
Trang 38+ Đứng đầu trong hệ thống này là Vua Dưới Vua gồm có những cận thần là Công tước và Bá tước, nhận đất trực tiếp từ Vua Như vậy, Vua là lãnh chủ, còn Công tước và Bá tước là thần thuộc của nhà vua
+ Đến lượt mình, Công tước, Bá tước cấp ruộng đất lại cho các thần thụôc của mình (Nam tước và Kỵ sĩ) và trở thành lãnh chủ của họ
+ Ngoài ra, các Nam tước và Kỵ sĩ có thể có thần thuộc riêng, gọi là Tiểu Kỵ sĩ Trên phần đất đã phong cho Công tước và Bá tước, nhà Vua không có quyền hạn
gì nữa, kể cả các thần thuộc của họ cũng không được xem là thần thuộc của nhà Vua
Như vậy, giai cấp phong kiến đã hợp thành những bậc thang phong kiến, trong
đó, mỗi thành viên của chế độ này trong quan hệ với cấp trên là thần thuộc, trong quan
hệ với cấp dưới là lãnh chủ Dần dần đất phong ấy được thế tập và truyền lại cho người con trai trưởng, nhưng vẫn là thần thuộc của lãnh chủ Về nguyên tắc, thần thuộc phải phục tùng lãnh chủ, phải tham gia vào những cuộc chiến của lãnh chủ, tham gia những hội nghị do lãnh chủ triệu tập Còn lãnh chủ có nghĩa vụ giúp đỡ thần thuộc, bảo vệ ruộng đất cho thần thuộc Bọn lãnh chúa tăng lữ cũng chia ra nhiều đẳng cấp: đại giáo chủ, giáo chủ, giáo phụ các tu viện đều là những đại lãnh chủ có nhiều thần thuộc không thua gì các lãnh chủ thế tục
2.2 Giai cấp bị trị : Giai cấp nông nô là người trực tiếp sản xuất và đối tượng bóc
lột chủ yếu trong xã hội phong kiến Học có nguồn gốc là những nô lệ, lệ nông, và nông dân tự do
Về kinh tế, nông nô được lãnh chúa giao đất để cày cấy, nộp tô cho chủ, có thể là
tô lao dịch, tô hiện vật hay tô tiền Ngoài ra, còn nộp nhiều thứ thuế như: thuế xay bột, thuế nước, thuế qua cầu, qua đò… nếu là tín đồ cơ đốc giáo, họ còn phải nộp thuế 1/10
và nhiều khoản khác thường khác
Về chính trị, nông nô chưa hoàn toàn mất tự do Họ có gia đình riêng, tài sản riêng Lãnh chúa có thể mua bán nông nô nhưng không được tuỳ tiện giết nông nô như chủ nô giết nô lệ, tuy vậy họ vẫn có quyền đánh đập nông nô miễn không nguy hại đến tính mạng Tuy họ phải làm việc cho chủ, nộp một phần lớn hoa lợi cho chủ nhưng họ được giữ lại một phần thu hoạch cho mình Vì thế họ có hứng thú hơn nô lệ trong lao động sản xuất, do đó, lao động của họ có năng suất cao hơn so với nô lệ
Tuy nhiên, nông nô bị trói chặt vào ruộng đất, họ không thể tự tiện rời bỏ ruộng đất mà chủ giao cho, thậm chí con cháu họ cũng phải kế thừa mãnh đất ấy để tiếp tục làm nông nô cho lãnh chúa Bên cạnh đó, nông nô không có quyền tự do kết hôn, mà phải có sự đồng ý của lãnh chúa Nếu nữ nông nô lấy chồng là nông nô của lãnh chúa khác, thì phải nộp một khoảng tiền phạt, gọi là tiền ngoại hôn, con cái của họ sinh ra phải chia cho cã 2 lãnh chúa
Ngoài 2 giai cấp cơ bản trên, trong xã hội phong kiến còn có tầng lớp tiểu nông,
là những nông dân có chút ít ruộng đất Tuy nhiên, đời sống của họ rất bấp bênh, luôn bị bọn quý tộc chèn ép, có nguy cơ bị phá sản và mất đất để trở thành nông nô
Trang 39Nền quân chủ đại diện đẳng cấp (thế kỷ 14-15) khi quyền lực của nhà vua suy yếu, và tỏ ra mâu thuẫn với quyền lợi của các lãnh chúa phong kiến nhưng lại được sự ủng hộ của thị dân và kỵ sĩ Do đĩ, nhà vua dung nạp cả những đại biểu của thị dân và
kỵ sĩ vào các kỳ đại hội quan trọng, bên cạnh tăng lữ và quý tộc
Nền quân chủ chuyên chế vào giai đoạn suy yếu của chế độ phong kiến (thế kỷ 15-16), khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện Do cần cĩ một thị trường rộng lớn và thống nhất, cần cĩ một chính quyền mạnh để bảo hộ kinh doanh sản xuất và buơn bán, giai cấp tư sản đã liên minh và gíup đỡ nhà vua, chống lại bọn lãnh chúa phong kiến cát cứ và xây dựng nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền
1 VƯƠNG QUỐC FRĂNG
a) Quá trình phát triển của Vương quốc Frăng : Trong số các quốc gia Man
tộc xây dựng ở Tây Aâu vào thời kỳ đầu của chế độ phong kiến ở Tây âu, vương quốc Frăng là lớn mạnh nhất Cĩ ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với các nước Tây Âu sau này Vương quốc Frăng trải qua 3 giai đoạn phát triển chủ yếu sau:
+ Triều đại Merovingen :
Năm 486, Clovic, là một thủ lĩnh liên quân người Frăng, ơng liên kết với nhiều liên minh khác đánh bại quân La Mã Năm 507, Hồng đế của đế quốc Đơng La Mã cử Clơvic giữ chức Chấp chính quan, nghĩa là Clơvic được cơng nhận là quốc vương của cả nước Frăng Mở đầu triều đại Mêrovingen
Do cịn chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán trong xã hội cơng xã nguyên thủy, khi vua cha mất, quốc gia được đem chia đều cho những người con trai, hình thành nên các quốc gia nhỏ, tranh chấp với nhau do đĩ, lãnh thổ của vương quốc Frăng cứ thống nhất rồi lại bị phân chia, thống nhất, phân chia Khi quyền lực của nhà vua suy yếu, thế lực của các quý tộc tăng lên , người nắm thực quyền trong cả nước là các Tể tướng hay vị quan tổng quản của triều đình
+ Triều đại Carolingen
- Năm 714, Saclơmacten ( Charle Martin )giữ chức Tể tướng Khi làm Tể tướng, ơng lập được nhiều cơng cho quốc gia bằng cách đấu tranh vũ trang, thống nhất tồn bộ vương quốc Frăng hùng mạnh xưa kia và mở rộng thêm lãnh thổ
- Năm 737, khi Quốc vương của gia tộc Merovingen chết, triều đình khơng lập
vua mới Vương quốc Frăng do Saclơmacten thống trị
- Năm 741, Saclơmacten bị bệnh chết Ơng chia lãnh thổ của mình cho 2 đứa con, Caloman và Pepin lùn Năm 751, Pepin Bref được cử làm vua, mở đầu cho vương triều Carơlanhgiêng
- Năm 768, Pepin Bref chết Con ơng là Charlermagne đã thống nhất cả vương quốc Frăng và cịn mở rộng vương quốc ra gấp đơi, bao gồm cả các nước Pháp, Đức, Hà Lan, Bỉ, Aùo, Ý và một phần của Tây Ba Nha ngày nay Do vậy, ơng được xem như là
vị đại đế Saclơ hay Saclơmanhơ (Charlemagne)
Giai đoạn suy yếu của Frăng và tình trạng phân quyền cát cứ
- Năm 824, Saclơmanhơ chết, người con trai của ơng là Louis ngoan đạo lên ngơi nhưng ơng chỉ suốt ngày lo việc tơn giáo mà khơng lo việc triều chính Chính vì vậy, trong 3 năm lên ngơi, Louis ngoan đạo đem đất nước chia cho 3 đứa con của mình, đĩ là: Lothair, Pepin, Louis
- Nhưng đến năm 829, Louis ngoan đạo phủ nhận quyết định nĩi trên để cắt một phần đất cho người con trai của bà vợ sau là Charle ( hĩi) Ba người con trai của Louis
Trang 40ngoan đạo đều không đồng ý, thế là cha con họ đã tiến hành một cuộc nội chiến kéo dài gần 10 năm
- Năm 840, Louis ngoan đạo chết, ba năm sau cả ba anh em họ ngồi lại với nhau
để ký hoà ước Vecđoong (Verdun) Theo hoà ước này, ba người con trai của Louis ngoan đạo sẽ chia nhau cai trị lãnh thổ vương quốc Frăng, tạo thành 3 nước Đức, Pháp
và Ý ngày nay
b) Đặc điểm bộ máy nhà nước
Mêrôvanh giêng : Bộ máy nhà nước được tổ chức còn rất thô sơ
+ Ở Trung ương
- Đứng đầu bộ máy nhà nước là Vua;
- Bên dưới vua là các quan lại cao cấp phụ trách các việc như quân sự, tư pháp, tài chính, văn thư, kho rượu… song sự phân công ấy chưa thật rõ ràng và cố định
Ví dụ: Quan Chưởng ấn hoặc Thị vệ có khi làm cả nhiệm vụ ngoại giao hoặc quân sự; Quan thống chế có khi phụ trách cả việc ăn uống hoặc tiệc tùng…
- Ngoài ra còn có các viên quan quản lý trông coi các trang viên của nhà vua Đứng đầu và quản lý các viên quan này là quan quản lý cung đình, tức Tể tướng Trong thời kỳ vua lười, Tể tướng là người cầm quyền thực tế
+ Đến thời Carôlanhgiêng : Trong thời kỳ của vương triều Carôlanhgiêng, quan
trọng nhất là thời kỳ trị vì của Saclơmanhơ, bộ máy nhà nước của vương quốc Frăng ngày càng hoàn chỉnh hơn
- Đứng đầu bộ máy nhà nước vẫn là Vua Bộ máy quan lại dưới Vua là các chức: Thừa tướng, Tổng Giám mục và Đại thần cung đình
+ Thừa tướng giữ chức vụ bí thư và chưởng ấn của nhà vua
+ Tổng Giám mục quản lý giáo sĩ trong cả nước
+ Đại thần cung đình thì gần giống như quan Tể tướng trước kia, có nhiệm vụ quản lý các công việc hành chính của triều đình
Chức tể tướng trước kia đến thời kỳ này bị bãi bỏ
- Bên dưới có các quan lại khác như: Quan Thống chế, Quan Chánh án, Quan coi quốc khố, Quan quản lý kho rượu…
Ở địa phương :
- Ở thời kỳ Mêrôvanhgiêng, cả nước chia thành nhiều đơn vị hành chánh địa phương Đứng đầu mỗi đơn vị đó là Quan Bá tước nên đơn vị hành chính này còn được gọi là “Khu quản hạt Bá tước”
Quyền hạn của Bá tước :
Các bá tước được toàn quyền về hành chính, tư pháp, tài chính, quân sự ở địa phương
Họ được nhà vua ban cho một số ruộng đất và giữ lại 1/3 tiền án phí
- Từ thời Saclơmanhơ trở về sau, quan hệ giữa vua và các bá tước trở thành quan hệ giữa tôn chủ và bồi thần Dần dần, chức vụ này (Bá tước) biến thành cha truyền con nối
Ở các vùng biên giới : Từ thời Carôlanhgiêng, vua còn thành lập những đơn
vị hành chính đặc biệt ở các biên giới, gọi là Biên trấn Ở đây, nhà vua cho xây dựng những pháo đài kiên cố nhằm mục đích phòng ngự các cuộc chiến tranh từ bên ngoài và làm căn cứ để tiến hành chiến tranh xâm lược mở rộng lãnh thổ
Đứng đầu biên trấn là : Bá tước, hoặc Hầu tước, hoặc Công tước