Nội dung của học thuyết lợi thế so sánh David Ricardo đã chỉ ra rằng lợi thế tuyệt đối của Ađam Smith không phải là điều kiện cần thiết đảm bảo cho sự trao đổi có lợi giữu 2 quốc gia mà
Trang 1Họ và tên : Cao Thị Thu Hà
Lớp : KTNNE - 53
MSV : 531994
TIỂU LUẬN KINH TẾ QUỐC TẾ
I LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, để có thể có được một nền kinh tế phat triển ổn định thì mỗi nước đều phải chú trọng đến các chính sách phát triển cuả mình Đặc biệt là chính sách về trao đổi thương mại quốc tế Từ giữa thế kỉ 15 đã có rất nhiều học thuyết về vấn đề thương mại quốc tế như: học thuyết trọng thương, học thuyết của Ađam Smith, học thuyết của David Ricardo Mỗi học thuyết đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, và đều có thể vận dụng để liên hệ thực tế với Viêt Nam Nhưng trong ba mô hình này em chọn nghiên cứu vè tìm hiểu về học thuyết của David Ricardo để từ đó có thể hiểu và liên hệ vào thực tế của nước ta hiện nay
II NỘI DUNG
A Vài nét về David Ricardo
Đầu tiên trước khi nghiên cứu về học thuyết của David Ricardo thì chúng ta tìm hiểu đôi nét về ông:
David Ricardo (1772 - 1823 ) là nhà kinh tế học người Anh ( gốc Do Thái) Ông được Marx đánh giá " đạt đến đỉnh cao nhất của kinh tế chính trị
tư sản cổ điển " Nếu Ađam Smith được coi là cha đẻ của kinh tế học thì David Ricardo được coi là nhà kinh tế học cổ điển xuất sắc nhất
Trang 2Tác phẩm nổi tiếng của ông là " Nguyên lý kinh tế chính trị và thuế".
Ở đó ông đã đưa ra một lý thuyế tổng quát và chính xác hơn vầ cơ chế lợi ích trong TMQT Đó chính là lợi thế so sánh mà chúng ta sẽ ngiên cứu và tìm hiểu ngay bây giờ
B Nội dung của học thuyết
1 Nội dung của học thuyết lợi thế so sánh
David Ricardo đã chỉ ra rằng lợi thế tuyệt đối của Ađam Smith không phải là điều kiện cần thiết đảm bảo cho sự trao đổi có lợi giữu 2 quốc gia mà
là lợi thế so sánh
Ở đây thì lợi thế so sánh chỉ sự khác biệt về năng suất lao động Mô hình David Ricardo thảo luận sự khác biệt về năng suất lao động giữa các quốc gia là nguyên nhân dẫn đến TMQT và đem lại lợi ích cho các quốc gia khi tham gia vào TMQT
Sự khác biệt về NSLĐ được giải thích bằng sự khác biệt về công nghệ Và ông chỉ ra rằng một quốc gia có lợi thế so sánh trong việc sản xuất
ra 1 hàng hóa nếu năng suất lao động của ngành sản xuất ra hàng hóa đó cao hơn năng suất lao động của ngành sản xuất ra cùng hàng hóa ở quốc gia đó
2 Mô hình TMQT của David Ricardo
Một quốc gia sử dụng nguồn lực có hiệu quả khi nó tập trung nguồn lực để sản xuất ra hàng hóa mà nó có lợi thế so sánh Cụ thể, theo lý thuyết
so sánh , mỗi quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu những sản phẩm mà mình không có lợi thế so sánh
=> Có 1 số vấn đề nảy sinh trong học thuyết lợi thế so sánh
Mô hình David Ricardo sử dụng học thuyết tính giá trị bằng lao động
để giải thích TMQT Khi nghiên cứu lợi thế so sánh, trong chi phí sản xuất,
Trang 3David Ricardo chỉ mới tính đến một yếu tố duy nhất là lao động và yếu tố này là đồng nhất ở các ngành và các nước
- Trong thực tế thì lao động không phải là yếu tố đồng nhất trong tất
cả các ngành sản xuất Các ngành sản xuất khác nhau có cơ cấu lao động khác nhau, năng suất lao động khác nhau, mức lương khác nhau nên chi phí lao động khác nhau do đó chi phí sản xuất khác nhau
Do đó việc so sánh hàm lượng lao động của các hàng hóa khác nhau
sẽ đưa ra nhận định sai lệch về giá trị tương đối của các mặt hàng, bởi vì mỗi mặt hàng khác nhau thì đòi hỏi sản xuất ra chúng phải có sự kết hợp khác nhau về các yếu tố sản xuất
- Tỷ lệ sử dụng lao động cũng không phải là cố định mà thay đổi phụ thuộc khả năng thay thế giữa lao động, vốn và các yếu tố khác trong quá trình sản xuất ra sẩn phẩm
- Lao động không phải là đồng nhất mà có sự khác nhau rất lớn về kinh nghiệm, trình độ tay nghề, năng suất lao động
=> Lý thuyết tính giá trị bằng lao động là không phù hợp với thực tế, cần bác bỏ Như thế cũng có nghĩa là cần phải bác bỏ sự giải thích của David Ricardo về lợi thế so sánh, nhưng không có nghĩa là bác bỏ chính quy luật lợi thế so sánh của ông
2 Ví dụ minh họa cho mô hình của David Ricardo
Giả sử có bảng số liệu về năng suất lao động trong sản xuất lúa mì và vải
Trang 4Bây giờ chúng ta sẽ sử dụng lợi thế so sánh để áp dụng vào mô hình Chúng ta hãy xác định mô hình của TMQT Các quốc gia và nền kinh
tế thế giới thu được những gì từ TMQT
* Ta có cơ sở của mô hình TMQT
Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy nếu dùng lợi thế tuyệt đối của Ađam Smith thì chúng ta không thể giải thích được TMQT có xảy ra trong trường hợp này hay không Đối với mô hình lợi thế so sánh của David Ricardo thì ta có thể thấy dù Mỹ có lợi thế tuyệt đối ở cả 2 măt hàng ( Chi phí sản xuất của Mỹ ở cả 2 mặt hàng đều nhỏ hơn nước Anh) vì ở đây thì TMQT phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối
Ta có thể thấy :
- Chi phí cơ hội để sản xuất ra 1 tấn lúa mì của Mỹ là 4/6 m vải
- Chi phí cơ hội để sản xuất một tấn lúa mì của Anh là 2m vải
Vì 4/6 < 2 => Mỹ có lợi thế so sánh trong sản xuất lúa mì
Anh có lợi thế so sánh trong sản xuất vải
* Mô hình TMQT
Theo mô hình lợi thế tuyệt đối của David Ricardo thì TMQT sẽ xảy ra như sau :
- Mỹ sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu lúa mì , nhập khẩu vải
- Anh sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu vải, nhập khẩu lúa mì
* Lợi ích của TMQT
Ở đây David Ricardo khẳng định TMQT có đem lại lợi ích cho cả 2 quốc gia và cả nền kinh tế của thế giới, thể hiện qua quy luật của lợi thế so sánh
- Quy luật lợi thế so sánh : " Khi mỗi quốc gia thực hiện chuyên môn
hóa sản xuất mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế so sánh thì tổng sản lượng
Trang 5tất cả các mặt hàng của toàn thế giới sẽ tăng lên và tất cả quốc gia sẽ trở nên sung túc hơn."
- Giả sử tỷ lệ trao đổi quốc tế là 1W:1C( C là vải, W là lúa mì )
- Lợi ích mà cả 2 quốc gia đạt được khi tham gia TMQT
+ Nếu Mỹ chuyên môn hóa sản xuất lúa mì: Mỹ sẽ chuyển 1 lao động
ra khỏi ngành vải, khi đó Mỹ sẽ mất đi 4C nhưng lại sản xuất được thêm 6W
Giả sử Mỹ trao đổi với Anh, 6W lấy 6C
Ta có thể thấy nếu Mỹ tự sản xuất thì trong 1 giờ lao động chỉ có thể tạo ra 4C Như thế Mỹ sẽ được lợi 2C hay nói cách khác là Mỹ tiết kiệm được 1/2h lao động từ việc trao đổi
+ Còn đối với nước Anh họ sẽ chuyên môn hóa sản xuất vải Sau đó
họ sẽ trao đổi với nước Mỹ để lấy 6W Nếu để Anh tự sản xuất 6W thì phải mất 6 giờ đồng hồ Nhưng nếu bây giờ Anh không dùng thời gian sản xuất
đó vào để sản xuất vải thì Anh sẽ sản xuất ra được 12C
Sau đó Anh đem trao đổi với Mỹ 6C để lấy 6W Như thế thì Anh sẽ lợi 6C hay nói cách khác là tiết kiệm được 3 giờ lao động từ việc trao đổi
=> Thông qua TMQT thì Anh có lợi hơn so với nước Mỹ Nhưng điều quan trọng không phải ở chỗ đó mà quan trọng là cả 2 quốc gia đều có lợi, ngay cả nếu một trong hai quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất bất kỳ sản phẩm nào Rõ ràng Anh không có lợi thế tuyệt đối nhưng khi tham gia vào TMQT lại thu được nhiều lợi ích hơn
- Lợi ích từ thế giới
+ Anh chuyển toàn bộ lao động sang khu vực sản xuất vải
+ Mỹ chuyển toàn bộ lao động sang khu vực sản xuất láu mì
Với quá trình chuyên môn hóa, sản lượng vải và lúa mì tạo ra bởi 2 quốc gia lớn hơn trước
Trang 6Mỹ Anh Thế giới
Sản
lượng/
lao động
Chi phí
cơ hội
Nền kinh tế tự cung tự cấp
Lượng
lao động
Sản
lượng
Nền kinh tế trao đổi
Lượng
lao động
Sản
lượng
* CHÚ Ý:
1 Về tỉ lệ trao đổi :
Chúng ta thấy rằng cả 2 quốc gia đều có lợi khi trao đổi với tỉ lệ 1W : 1C Tuy nhiên đó không phải là tỉ lệ trao đổi duy nhất mà ở đó 2 quốc gia cùng có lợi
Đối với Mỹ chỉ cần đổi 6W lấy 1 số lớn hơn 4C điều đó là đã có lợi hơn so với việc sản xuất trong nước
Trang 7Còn đối với nước Anh để có được 6W phải mất 12C nếu sản xuất trong nước Do đó Anh sẵn sàng trao đổi với Mỹ một số nào đó nhỏ hơn 12C
để có được 6W
Như vậy để đảm bảo lợi ích cho cả hai nước thì tỉ lệ trao đổi quốc tế phải nằm trong khoảng 2 tỉ lệ trao đổi nội địa: 4C < 6W < 12C
2 Về trường hợp ngoại lệ
Trường hợp ngoại lệ đối với quy luật lợi thế so sánh là trường hợp lợi thế cân bằng Để dễ hiểu chúng ta cùng xem ví dụ sau:
Ở đây thì chúng ta không thể xác định được nước nào có lợi thế so sánh về mặt hàng nào Tuy nhiên trong thực tế thì lợi thế cân bằng này rất ít xảy ra vì thế điều này không làm ảnh hưởng quan trọng tới học thuyết này
Nếu 1 sản phẩm nào đó có lợi thế so sánh thì lợi thế đó có thể là lợi thế
tuyệt đối, nhưng 1 sản phẩm có lợi thế tuyệt đối không nhất thiết là có lợi thế so sánh
3 Ưu điểm và nhược điểm của học thuyết
* Ưu điểm
- Đã khắc phục được những hạn chế của học thuyết Ađam Smith
* Nhược điểm
- Trong phân tích của David Ricardo thì sản phẩm trao đổi giữa các nước phụ thuộc vào yếu tố duy nhất là chi phí sản xuất ra nó, hoàn toàn không tính tới nhu cầu tiêu dùng sản phẩm đó ở trong và ngoài nước, nghĩa là chỉ tính đến cung chứ không tính đến cầu của sản phẩm ( đặc biệt là cầu trong nước không xác định giá cả tương đối của sản phẩm khi đưa ra trao đổi trong nước )
Trang 8- Ngoài ra ông không tính đến chi phí vận tải, bảo hiểm và hàng rào bảo hộ ngày càng tăng trong khi các yếu tố này lại có tính chất quyết định đến hiệu quả thương mại quốc tế
- Vận dụng lí thuyết tính giá trị bằng lao động trong mô hình mậu dịch quốc
tế
- Trong lí thuyết so sánh của David Ricardo đã mô tả nền kinh tế thế giới ở mức độ chuyên môn hóa quá mức mà chúng ta không thấy có ở trong hiện thực