1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KINH DOANH QUỐC TẾ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ GIÁN TIẾP FPI

57 477 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 710,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm đầu tư quốc tế gián tiếp hay đầu tư gián tiếp nước ngoài xuất hiện khi Thị Trường Chứng Khoán TTCK phát triển, việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu trở nênphổ biến, nhiều nhà đầu

Trang 1

PHẦN 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ GIÁN TIẾP

1 Đầu tư quốc tế gián tiếp (FPI: Foreign Portfolio Investment) là gì

1.1 Sự hình thành và phát triển của đầu tư quốc tế gián tiếp

Lý thuyết và thực tiễn hoạt động đầu tư đã phân biệt hai hình thức đầu tư chủ yếu:Trực tiếp và gián tiếp Trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tưquốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặcdịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư

Khái niệm đầu tư quốc tế gián tiếp hay đầu tư gián tiếp nước ngoài xuất hiện khi

Thị Trường Chứng Khoán (TTCK) phát triển, việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu trở nênphổ biến, nhiều nhà đầu tư thay vì phương thức đầu tư trực tiếp truyền thống đã lựa chọnphương thức đầu tư thông qua một công ty khác (thường là các tổ chức tài chính) hoặcmua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp, các tổ chức tự trị có hạch toán hoặc củaChính phủ

Vì vậy, đầu tư gián tiếp nước ngoài có thể tạm hiểu theo nghĩa khá rộng thông qua

3 hình thức:

- Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác (kể cả của doanhnghiệp, các tổ chức tự trị được phép phát hành và của chính phủ)

- Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua Quỹ đầu tư chứng khoán

- Thông qua các định chế tài chính trung gian khác

Với nghĩa rộng như vậy, đầu tư gián tiếp nước ngoài được hiểu tương đương vớithuật ngữ Foreign Portfolio Investment (FPI)

1.2 Khái niệm

Như vậy theo Điều 3, Luật Đầu tư của Việt Nam được thông qua năm 2005 và cóhiệu lực từ tháng 7-2006 đã xác định: “Đầu tư gián tiếp (thường được viết tắt là FPI |

Foreign Portfolio Investment) là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu,

trái phiếu, các giấy tờ có giá khác; thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua cácđịnh chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt

Trang 2

động đầu tư” Hay nói cách khác đây là hình thức đầu tư mà chủ tư bản thông qua thịtrường tài chính mua cổ phần hoặc chứng khoán của các công ty ở nước ngoài nhằm thulợi nhuận dưới hình thức cổ tức hoặc thu nhập từ chứng khoán.

2 Đặc điểm của đầu tư quốc tế gián tiếp

- Chủ tư bản nước ngoài không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốnđầu tư

- Chủ đầu tư góp vốn với tỷ lệ nhỏ, họ không được quyền tham gia trực tiếp vàođiều hành, chi phối hoạt động của đối tượng mà chỉ đơn thuần là góp vốn để nhận đượclợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn

- Số vốn mua cổ phần, cổ phiếu ở một chủ đầu tư nước ngoài bị khống chế (ở cácnước khác nhau quy định khác nhau)

- Đầu tư dưới hình thức tiền tệ Nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tàisản vật chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý FPI là đầu tư tài chínhthuần túy trên thị trường tài chính

- Hình thức đầu tư rất đa dạng: trái phiếu, cổ phiếu, giấy nợ thương mại(commercial paper), dưới dạng các công cụ phái sinh kỳ hạn (forward), tương lai (future),quyền chọn (option)…

- Tính thanh khoản cao: Do mục đích của FPI là tỷ suất lợi tức cao với một mức độ

rủi ro nhất định (hoặc tỷ suất lợi tức nhất định với mức rủi ro thấp nhất) chứ không quantâm đến quá trình sán xuất kinh doanh giống như trong phương thức FDI, cho nên NĐTnước ngoài sẵn sàng bán lại những chứng khoán mà họ đang nắm giữ để đầu tư sang thịtrường khác hoặc chứng khoán khác với tỷ suất lợi tức dự tính cao hơn, an toàn hơn

- Tính bất ổn định: Tính thanh khoản cao là nguyên nhân làm cho dòng vốn FPI

mang tính bất ổn định Sự bất ổn định, trong một giới hạn nào đó có thể có lợi do nó làmcho thị trường tài chính nội địa hoạt động năng động và hiệu quả hơn, vốn đầu tư khôngngừng được phân bổ lại, dịch chuyến từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp sang nơi có tỷ suấtlợi nhuận cao Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra với tốc độ quá nhanh, những ảnh hưởng xấuđến hệ thống tài chính và tình trạng bất ổn định của nền kinh tế xảy ra là không thể tránhkhỏi Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn đối với các nước có thị trường tài chính mới hìnhthành và nền kinh tế còn trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam

Trang 3

- Tính dễ đảo ngược: Tính dễ đảo ngược của dòng vốn FPI thực sự gây tác động

xấu đến nền kinh tế, nó là hệ quả của hai đặc tính thanh khoản cao và bất ổn định Do dễđảo ngược cho nên có thể chỉ trong khoảng thời gian ngắn một lượng vốn FPI lớn tháo lui

“bẻ ghi” đầu tư sang thị trường khác để lại hậu quả khôn lường cho nền kinh tế Kinhnghiệm khủng khoảng kinh tế tài chính của các nước châu á vào cuối thập kỷ 90 của thế

kỷ 20 đă cho thấy tác hại của sự đảo ngược dòng vốn FPI khi nền kinh tế của các quốc gianày xuất hiện những khoảng trống, hậu quả là nền kinh tế bong bóng nhanh chóng bị sụp

đổ mà trong ngắn hạn khó có thể khắc phục được

 Kinh nghiệm từ các nước khác

Các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Mêxicô (1994), Thái Lan (1997) là mộtminh chứng rất rõ nét về rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư gián tiếp

Khủng hoảng tài chính châu Á: là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7

năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệlớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á Khi nhận thấy những bất ổnđang xảy ra, các nhà đầu tư gián tiếp đã rút vốn ồ ạt để giảm thiểu rủi ro Suy cho cùngnguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấncông đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á Mặc dù các cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ, có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau (khủng hoảnglòng tin, khủng hoảng các chỉ số kinh tế cơ bản…), nhưng bối cảnh đó, nguồn vốn đầu tưgián tiếp chiếm tỷ trọng cao trong các khoản vay nợ nước ngoài sẽ càng làm trầm trọngthêm mức độ khủng hoảng Như vậy, việc quản lý FPI càng trở nên cấp bách hơn bao giờhết

3 Phân biệt Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) với Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

 Điểm giống nhau:

- Cả FPI và FDI đều đơn thuần là hoạt động đầu tư vốn ra nước ngoài, luồng vốnđược luân chuyển từ nước của người đầu tư sang nước sử dụng vốn đầu tư, và làm tănglượng vốn và dự trữ ngoại tệ cho nước chủ nhà FDI và FPI xuất hiện do nhu cầu hội nhậpkinh tế quốc tế Bên cạnh đó, cả hai hình thức này đều nhằm mục đích tạo lợi nhuận chonhà đầu tư

Trang 4

- Để tạo ra lợi ích tốt nhất cho mình, nhà đầu tư có thể chọn cho mình cách thức đầu

tư phù hợp nhất, hoặc kết hợp cả hai hình thức trên Lợi nhuận của nhà đầu tư phụ thuộcvào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và tỷ lệ thuận với số vốn đầu tư Do đó, tìnhhình hoạt động của doanh nghiệp là mối quan tâm chung của cả hai hoạt động đầu tư này

- Cũng như FDI, dòng chảy của FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ bởi cácnhân tố như bối cảnh quốc tế: hòa bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao và môitrường pháp lý quốc tế thuận lợi, nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài,mức độ tự do hóa và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự thân thiện, thuậntiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư trong nước; sự pháttriển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, của các thể chế thịtrường nói chung của nước tiếp nhận đầu tư…

 Điểm khác biệt

Những đặc điểm Đầu tư trực tiếp (FDI) Đầu tư gián tiếp (FPI)

Khái niệm chung

Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) là hình thức đầu tư quốc

tế mà chủ đầu tư nước ngoàiđóng góp một số vốn đủ lớn vàolĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ,cho phép họ trực tiếp tham giađiều hành đối tượng mà họ tự

bỏ vốn đầu tư

Là hình thức đầu tư mà chủ tưbản thông qua thị trường tàichính mua cổ phần hoặc chứngkhoán của các công ty ở nướcngoài nhằm thu lợi nhuận dướihình thức cổ tức hoặc thu nhập

từ chứng khoán, không quantâm đến quá trình quản lý doanhnghiệp

Tầm quan trọng

Đầu tư trực tiếp nước ngoàiđóng vai trò trực tiếp thúc đẩysản xuất

Đầu tư gián tiếp lại có tác dụngkích thích sự phát triển của thịtrường tài chính, tạo điều kiệncho các doanh nghiệp dễ dàngtiếp cận với các nguồn vốn,nâng cao vai trò quản lý và cótác dụng thúc đẩy lành mạnhhóa các quan hệ kinh tế, từ đóthúc đẩy sự phát triển của nền

Trang 5

- Nhà đầu tư trực tiếp kèm theocam kết chuyển giao tài sản vậtchất, công nghệ, đào tạo laođộng và kinh nghiệm quản lý.

- Nhà đầu tư gián tiếp nướcngoài không trực tiếp tham giaquản lý doanh nghiệp

- Nhà đầu tư không kèm theocam kết chuyển giao tài sản vậtchất, công nghệ, đào tạo laođộng và kinh nghiệm quản lý

Hình thức đầu tư

-Đóng góp vốn để xây dựngdoanh nghiệp mới

-Mua lại toàn bộ hoặc từngphần các doanh nghiệp đanghoạt động

-Mua cổ phiếu để thôn tính hoặcsáp nhập

-Đầu tư theo hình thức hợpđồng BCC, BOT, BTO, BT…

-Mua cổ phần, cổ phiếu, tráiphiếu và các giấy tờ có giá khác(kể cả của doanh nghiệp, các tổchức tự trị được phép phát hành

và của chính phủ)

-Nhà đầu tư gián tiếp thực hiệnđầu tư thông qua Quỹ đầu tưchứng khoán

-Thông qua các định chế tàichính trung gian khác

Khả năng san sẽ

rủi ro và mức độ

thoái lui đầu tư

Khả năng san sẻ rủi ro và thoáilui đầu tư chậm và kém linhhoạt

Khả năng san sẻ rủi ro kinhdoanh sang các khu vực khácnhạy bén hơn và đa dạng hơn.Tốc độ luân chuyển vốn của FPIcao hơn nhiều so với FDI Điềunày có thể giúp các nền kinh tếmới nổi tăng tính linh hoạt, thúcđẩy quá trình phát triển củamình

So với FPI, FDI gánh chịu FPI ít gánh chịu những chi phí

Trang 6

-Chi phí chuyển giao: Chủ đầu

tư muốn bán lại dự án thì giáchuyển nhượng chắc chắn sẽthấp hơn giá trị thức của dự án

liên quan đến xây dựng, điềuhành hoạt động, tuy nhiên sovới FDI, mức độ chi phí sẽnhiều hơn nếu có sự bất cânxứng về thông tin

Trên thực tế, mặc dù FPI dùng để chỉ các hình thức đầu tư không phải là đầu tưtrực tiếp nước ngoài truyền thống (tức đầu tư để lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài,lập liên doanh hoặc công ty cổ phần và kinh doanh theo hợp đồng hợp tác kinh doanh…),song sự phân biệt này không phải lúc nào cũng rạch ròi và thống nhất Chẳng hạn, khi nhàđầu tư dùng vốn của mình để mua cổ phiếu của doanh nghiệp, nếu tỷ lệ cổ phiếu do nhàđầu tư nắm giữ thấp hơn mức nhất định (10% theo tiêu chuẩn của IMF và 30% theo tiêuchuẩn của Việt Nam hiện hành) là đầu tư gián tiếp, nhưng khi vượt ngưỡng này lại đượcxếp vào đầu tư trực tiếp và khi đó, nhà đầu tư có thể dùng quyền bỏ phiếu của mình đểcan thiệp trực tiếp vào thực tế quản lý, kinh doanh của doanh nghiệp…

PHẦN 2

Trang 7

QUY CHẾ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ GIÁN TIẾP TẠI VIỆT NAM

1 Quy chế hoạt động của nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Ngày 24/12/2008, Bộ Tài chính đã ban hành Quy chế hoạt động của nhà đầu tưnước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam tại Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC

 Nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam – họ là ai?:

- Cá nhân là người có quốc tịch nước ngoài, cư trú tại nước ngoài hoặc tại ViệtNam

- Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của tổchức này

- Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn nước ngoài

và chi nhánh của các tổ chức này

- Quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và theo pháp luậtViệt Nam có 100% vốn nước ngoài

- Các trường hợp khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ…

 Nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài thực hiện việc đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới các hình thức:

a Trực tiếp thực hiện đầu tư thông qua việc:

- Mua, bán cổ phiếu, trái phiếu, các loại chứng khoán niêm yết khác trên Sở Giaodịch Chứng khoán, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán hoặc đăng ký giao dịch tại cáccông ty chứng khoán

- Mua, bán cổ phần và các loại chứng khoán chưa niêm yết trên Sở Giao dịch Chứngkhoán, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch tại các công tychứng khoán

- Tham gia đấu giá mua chứng khoán, đấu giá mua cổ phần tại các doanh nghiệpthực hiện cổ phần hóa

- Tham gia góp vốn thành lập quỹ đầu tư chứng khoán với tỷ lệ góp vốn của bênnước ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

Trang 8

- Góp vốn tại doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài theoquy định của Thủ tướng Chính phủ

 Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư theo dạng này phải đăng ký mã sốgiao dịch chứng khoán với Trung tâm Lưu ký Chứng khoán

 Cụ thể : Mỗi nhà đầu tư nước ngoài được mở một tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằngđồng Việt Nam tại một ngân hàng lưu ký được phép kinh doanh ngoại hối để thực hiệnhoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam

 Sau đó trung tâm Lưu ký Chứng khoán tiếp nhận hồ sơ, thẩm định và cấp mã số giaodịch chứng khoán cho nhà đầu tư nước ngoài Sau khi ký mã số giao dịch chứng khoán,nhà đầu tư nước ngoài được phép mở duy nhất một tài khoản lưu ký chứng khoán và mọibút toán thanh toán đều phải thực hiện qua tài khoản này

b Thực hiện đầu tư thông qua việc uỷ thác quản lý vốn đầu tư cho công ty quản lý quỹ trên cơ sở Hợp đồng quản lý đầu tư ký với công ty quản lý quỹ.

 Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư theo hình thức này không phảiđăng ký Mã số giao dịch Trong trường hợp này, công ty quản lý quỹ cung cấp dịch vụquản lý danh mục ủy thác cho nhà đầu tư nước ngoài được Trung tâm Lưu ký Chứngkhoán cấp Mã số giao dịch cho hoạt động đầu tư này

 Nhà đầu tư nước ngoài được ủy quyền cho công ty quản lý quỹ thực hiện các hoạtđộng đầu tư nêu tại điểm a trên tài khoản của nhà đầu tư theo Hợp đồng chỉ định đầu tưhoặc Hợp đồng quản lý đầu tư Ngoại trừ công ty quản lý quỹ được cấp phép hoạt độngtại Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài không được ủy quyền cho bất kỳ cá nhân, tổ chứcnào để thực hiện các hoạt động quản lý tài sản, bao gồm các hoạt động lựa chọn loạichứng khoán, khối lượng chứng khoán, mức giá, thời điểm thực hiện giao dịch và đầu tưchứng khoán

Tóm lại: Nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện các nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ

tài chính khác đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật

2 Các FAQs thường gặp cho các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài khi hoạt động tại thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1. Đăng ký Mã số giao dịch chứng khoán cho nhà đầu tư nước ngoài như

thế nào?

Trang 9

 Trung tâm Lưu ký Chứng khoán tiếp nhận hồ sơ, thẩm định và cấp mã số giao dịchchứng khoán cho nhà đầu tư nước ngoài.

 Hồ sơ đăng ký Mã số giao dịch chứng khoán cho nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:Giấy đề nghị cấp Mã số giao dịch chứng khoán do nhà đầu tư nước ngoài và thànhviên lưu ký lập

Đối với nhà đầu tư:

- Cá nhân: Lý lịch tư pháp (đã được công chứng và hợp pháp hóa lãnh sự), Bản

sao hợp lệ Hộ chiếu còn hiệu lực

- Nhà đầu tư là tổ chức thuộc loại hình quỹ đầu tư chứng khoán: Bản sao hợp lệ

Giấy chứng nhận đăng ký lập quỹ, Bản cáo bạch, Biên bản thỏa thuận góp vốn…

- Tổ chức đầu tư là quỹ đầu cơ (hedge fund: ngoài các giấy tờ trên quỹ này phảinộp thêm Điều lệ Quỹ, các tài liệu khác giải thích chi tiết về chiến lược đầu tư củanhà đầu tư tổ chức nước ngoài

- Nhà đầu tư là tổ chức không thuộc loại hình quỹ: Bản sao hợp lệ Giấy phép

thành lập và hoạt động hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Điều lệ Công

ty, Biên bản thỏa thuận góp vốn thành lập Công ty, Giấy đăng ký thuế của cơ quanthuế nước nơi tổ chức đó thành lập hoặc đăng ký kinh doanh

Hồ sơ theo quy định tại khoản 2 điều này được lập hai (02) bộ, một (01) bộ gốc vàmột (01) bộ sao Mỗi bộ hồ sơ gồm hai (02) bản, một (01) bản tiếng Việt và một(01) bản tiếng Anh

Trung tâm Lưu ký Chứng khoán có thể yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ Bản sửađổi, bổ sung phải có chữ ký của những người đã ký trong Hồ sơ đăng ký gửi choTrung tâm Lưu ký Chứng khoán hoặc những người có cùng chức danh với nhữngngười nói trên

Trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp

lệ, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán cấp Mã số giao dịch cho tổ chức đầu tư nướcngoài

Trong thời hạn năm (05) ngày làm việc, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán cấp Mã

số giao dịch cho nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân Trường hợp từ chối, Trung tâmLưu ký Chứng khoán phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do

2.2. Tài khoản vốn đầu tư gián tiếp là gì?

Trang 10

 Mỗi nhà đầu tư nước ngoài được mở một Tài khoản Vốn đầu tư gián tiếp bằng đồngViệt Nam tại một (01) ngân hàng lưu ký được phép kinh doanh ngoại hối để thực hiệnhoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam.

 Mọi giao dịch chuyển tiền để thực hiện việc mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu,chứng chỉ quỹ, chuyển nhượng vốn góp trong các hoạt động đầu tư quy định tạikhoản a, các thanh toán khácliên quan đến hoạt động đầu tư chứng khoán của nhà đầu

tư nước ngoài; nhận và sử dụng cổ tức, lợi tức được chia, mua ngoại tệ tại các tổ chứctín dụng được phép hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Việt Nam để chuyển ra nướcngoài và các giao dịch khác có liên quan đều phải thực hiện thông qua tài khoản này

 Công ty quản lý quỹ mở Tài khoản Vốn đầu tư gián tiếp để tiếp nhận vốn đầu tư gián tiếp của nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư tại Ngân hàng lưu ký Nhà đầu tư nước ngoài uỷ thác quản lý vốn đầu tư trong hoạt động quản

lý danh mục đầu tư cho Cô ng ty quản lý quỹ phải chuyển vốn đầu tư vào Tài khoản Vốn đầu tư gián tiếp của Công ty quản lý quỹ Quy định này không áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài ủy thác quản lý vốn đầu tư dưới danh nghĩa của nhà đầu tư và trên tài khoản của nhà đầu tư theo Hợp đồng chỉ định đầu tư

2.3. Tài khoản lưu ký chứng khoán là gì?

 Sau khi đăng ký mã số giao dịch chứng khoán, nhà đầu tư nước ngoài được phép mởduy nhất một tài khoản lưu ký chứng khoán và mọi bút toán thanh toán đều phải đượcthực hiện qua tài khoản này Trường hợp nhà đầu tư là công ty chứng khoán thành lậptheo pháp luật nước ngoài, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài, nhà đầu tưđược mở hai tài khoản lưu ký chứng khoán theo các quy định về đăng ký, lưu ký, bùtrừ và thanhmtoán chứng khoán do Bộ Tài chính ban hành

 Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản lưu ký tại một thành viên lưu ký khác, nhà đầu tư nước ngoài phải đóng tài khoản lưu ký đã mở, chuyển toàn bộ số dư trên tài khoản này sang tài khoản mới Thủ tục đóng, mở tài khoản lưu ký được thực hiện theo quy định tại Quy chế đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán do

Bộ Tài chính ban hành

Trang 11

2.4. Về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán

Việt Nam ?

Tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được nắm giữ:

-Đối với nhà đầu tư cá nhân trực tiếp trên thị trường chứng khoán: tối đa 49%

tổng số cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch của một tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch trên Trung tâm giao dịch chứng khoán

-Đối với các nhà đầu tư kinh doanh chứng khoán nước ngoài thông qua góp vốn

và mua cổ phần, góp góp vốn liên doanh thành lập Công ty chứng khoán hoặc Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán tối đa là 49% vốn điều lệ

-Nhà đầu tư là một quỹ đầu tư chứng khoán: Tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ

đầu tư niêm yết, đăng ký giao dịch của một quỹ đầu tư chứng khoán

- Đối với trái phiếu: tổ chức phát hành có thể quy định giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối

với trái phiếu lưu hành của tổ chức phát hành

- Đối với NHTM

 Tổng mức sở hữu cổ phần không vượt quá 30% vốn điều lệ

 Các NHTM phải có vốn điều lệ tối thiểu 1.000 tỷ đồng

 Nhà ĐTNN phải có tổng tài sản tối thiểu 20 tỷ đô la Mỹ

- Đối với công ty khác:

Các công ty chưa niêm yết: tối đa 30% vốn điều lệ

3 Quy chế về thành lập công ty chứng khoán

3.1 Những khái quát về thị trường chứng khoán Việt Nam

3.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán (TTCK), theo nghĩa rộng được gọi là thị trường vốn (Capitalmarket) Ở đây các giấy nợ trung, dài hạn (chứng khoán có thời hạn trên 1 năm) và cácloại cổ phiếu được mua bán, là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyểnnhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời

TTCK là thị trường tạo lập và cung ứng vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế

Các công cụ ở TTCK bao gồm: Cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, tráiphiếu chính quyền địa phương, các hợp đồng vay thế chấp

3.1.2 Bản chất của TTCK

Trang 12

Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính được chuyên mônhóa về mua bán các chứng khoán trung và dài hạn Thị trường chứng khoán ra đời là mộttất yếu khách quan Khi nền sản xuất hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao, đòi hỏi sự rađời thị trường chứng khoán nhằm tích tụ và tập trung vốn cho đầu tư phát triển Các hoạtđộng trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán là quá trình vận động vốn.Hay nói cách khác, đó chính là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu về vốn Các quan hệmua đi bán lại chứng khoán trên TTCK phản ánh sự thay đổi về chủ sở hữu chứng khoán.Xét về bản chất, TTCK phản ánh các quan hệ trao đổi, mua bán quyền sở hữu về vốn.

3.1.3 Chức năng của TTCK

Công cụ tập trung vốn cho nền kinh tế: Vai trò quan trọng đầu tiên của TTCK là thuhút các nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để hình thành các nguồn vốn khổng lồ có khảnăng tài trợ cho các dự án đầu tư dài hạn phát triển kinh tế cũng như tài trợ tăng vốn mởrộng sản xuất kinh doanh TTCK là công cụ huy động vốn hết sức hữu hiệu không nhữngtrong nước mà cả nước ngoài Đối với nước ta, các nguồn vốn lớn còn tiềm tàng trongnhân dân chưa được đưa vào sản xuất kinh doanh, thì việc cần có một TTCK song hànhvới sự ra đời của các công ty cổ phần là chiến lược kinh tế trước mắt cũng như lâu dài

3.2 Điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán có sự tham gia góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài

Việc xác nhận tài sản góp vốn đối với cá nhân và tổ chức được quy đinh chặt chẽ cả

về hình thức, số lượng và chất lượng tài sản góp vốn

 Tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được tham gia thành lập công

ty chứng khoán tại Việt Nam như sau:

Chỉ có tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được góp vốn, mua cổ phầnthành lập công ty chứng khoán Tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài tối đa là 49%vốn điều lệ của công ty chứng khoán

- Theo đó, cá nhân góp vốn, dù góp vốn với bất kỳ tỷ lệ nào so với vốn điều lệ củaCông ty chứng khoán phải chứng minh tài sản bằng tiền hoặc chứng khoán (theo quy định

cũ là góp vốn từ 5% trở lên vốn điều lệ của CTCK mới phải chứng minh tài sản)

- Đối với tài sản bằng tiền của cá nhân góp vốn, dự thảo quy định tài sản phải có xácnhận của ngân hàng về số dư tiền đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi có trongtài khoản ít nhất là 3 tháng liên tục

Trang 13

- Đối với tài sản bằng chứng khoán, bắt buộc phải là chứng khoán niêm yết trênSGDCK hoặc TTGDCK và phải có xác nhận của công ty chứng khoán hoặc tổ chức pháthành về quyền sở hữu số chứng khoán

- Các tài sản dùng để chứng minh năng lực tài chính nêu trên không được đangtrong tình trạng cầm cố thế chấp hoặc dùng để chứng minh năng lực tài chính phục vụcho mục đích khác

 Thủ tục cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của CTCK:

- UBCKNN sẽ kiểm tra cơ sở vật chất tại trụ sở CTCK trước khi chính thức cấpGiấy phép thành lập và hoạt động

- Số vốn pháp định phải được gửi vào một tài khoản phong tỏa tại Ngân hàng doUBCKNN chỉ định và phải có xác nhận của Ngân hàng này về số vốn trên tài khoảnphong tỏa Số vốn này chỉ được giải tỏa và phải được chuyển vào tài khoản của công tychứng khoán sau khi được UBCKNN chính thức cấp Giáy phép thành lập và hoạt động

- Việc không hoàn tất cơ sở vật chất và phong tỏa vốn theo thời gian quy định sẽ là

cơ sở cho việc hủy bỏ chấp thuận nguyên tắc

 Văn phòng đại diện của CTCK có 100% vốn nước ngoài:

- Văn phòng đại diện của tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài tại Việt Namchịu sự quản lý, giám sát của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

- Là công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, tổ chức tài chính có hoạt động baogồm một hoặc một số các nghiệp vụ như môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tưvấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý tài sản, quản lý quỹđầu tư chứng khoán

 Trình tự thực hiện

Đối với cá nhân, tổ chức:

+ Tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài gửi hồ sơ đăng ký tới UBCKNN+ Sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu

Đối với cơ quan hành chính nhà nước:

+ Tiếp nhận, xem xét thẩm định hồ sơ

+ Yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ hoặc giải trình vấn đề liên quan (nếu có)

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban Chứng khoánNhà nước cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của văn phòng đại diện công ty quản

Trang 14

lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam Trường hợp từ chối, UBCKNN phải trả lời bằng văn bản

và nêu rõ lý do

4 Quy chế về thành lập và hoạt động của công ty quản lý quỹ đầu tư tại Việt Nam 4.1 Khái quát về công ty quản lý quỹ

Công ty quản lý quỹ: là một loại hình tổ chức trung gian tài chính có tư cách pháp

nhân, hoạt động cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu

tư chứng khoán Ngoại trừ Công ty quản lý quỹ được cấp phép, các tổ chức kinh tế kháckhông được cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu

Công ty quản lý quỹ được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán sau đây: a) Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán;

b) Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán

Nhà đầu tư ủy thác là cá nhân hoặc tổ chức ủy thác cho Công ty quản lý quỹ

quản lý đầu tư tài sản của mình.

4.2 Điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động:

 Có trụ sở và trang thiết bị phục vụ hoạt động nghiệp vụ bao gồm:

a) Quyền sử dụng trụ sở Công ty có thời hạn tối thiểu một năm, các thiết bị bảođảm an toàn, an ninh cho trụ sở làm việc của Công ty;

b) Trang thiết bị tối thiểu bao gồm các thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính cùngcác phần mềm phục vụ cho hoạt động phân tích đầu tư, phân tích và quản lý rủi ro, lưutrữ bảo quản chứng từ

 Đảm bảo có đủ số lượng nhân viên có Chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ theophương án kinh doanh, trong đó tối thiểu phải có 5 nhân viên được cấp Chứng chỉ hànhnghề quản lý quỹ tại trụ sở chính

 Điều kiện đối với cá nhân góp vốn:

 Các cá nhân, tổ chức tham gia góp vốn thành lập Công ty quản lý quỹ chỉ đượcphép sử dụng vốn của chính mình, không bao gồm các nguồn vốn ủy thác đầu tư, vốnchiếm dụng từ các cá nhân, tổ chức khác

4.3 Trình tự cấp Giấy phép thành lập và hoạt động

Bước 1 Sau khi nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ trong thời hạn ba mươi (30) ngày

Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước xem xét chấp thuận nguyên tắc việc cấp Giấy phép thành

Trang 15

lập và hoạt động Công ty quản lý quỹ Trường hợp từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Bước 2 Trong vòng sáu (06) tháng kể từ ngày được chấp thuận nguyên tắc, tổ chức

xin cấp phép thành lập và hoạt động Công ty quản lý quỹ phải hoàn tất việc đầu tư cơ sởvật chất kỹ thuật Tổ chức xin cấp phép thành lập và hoạt động Công ty quản lý quỹ đượctrích phần vốn góp của các cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập để đầu tư cơ sở vật chấtphục vụ cho hoạt động nghiệp vụ của Công ty phù hợp với phương án kinh doanh Phầnvốn góp còn lại phải được gửi vào một tài khoản phong toả tại một ngân hàng do Uỷ banChứng khoán Nhà nước chỉ định và phải có xác nhận của Ngân hàng về số vốn trên tàikhoản phong toả Số vốn này chỉ được giải toả sau khi Công ty được Ủy ban Chứngkhoán Nhà nước chính thức cấp Giấy phép thành lập và hoạt động

Bước 3 Trong thời hạn bảy (07) ngày, kể từ ngày nhận được Giấy xác nhận phong toả

vốn, Biên bản kiểm tra cơ sở vật chất tại trụ sở Công ty và các tài liệu hợp lệ khác theoquy định tại Điều 5 Quy chế này, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép thànhlập và hoạt động cho Công ty quản lý quỹ Trường hợp từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhànước phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do

Bước 4 Nếu có bất kỳ thay đổi nào liên quan đến Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành

lập và hoạt động kể từ khi chấp thuận nguyên tắc cho đến khi chính thức đi vào hoạtđộng, Công ty quản lý quỹ phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong thời hạn ba(03) ngày kể từ khi có sự thay đổi đó

Bước 5 Trong thời hạn bảy (07) ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và

hoạt động, Công ty quản lý quỹ phải công bố Giấy phép thành lập và hoạt động trên trangthông tin điện tử (website) của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và một tờ báo điện tửhoặc báo viết đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam trong ba số liên tiếp Nội dung công

bố Giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm các nội dung sau:

a) Tên của Công ty quản lý quỹ bao gồm tên bằng tiếng Việt và tên bằng tiếngAnh;

b) Địa chỉ đặt trụ sở chính của Công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện (nếu có); c) Số Giấy phép thành lập và hoạt động, ngày cấp, các nghiệp vụ kinh doanh đượcphép thực hiện theo giấy phép;

Trang 16

d) Vốn điều lệ;

e) Người đại diện theo pháp luật

Bước 6 Trong thời hạn sáu (06) tháng kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và

hoạt động, Công ty quản lý quỹ phải gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước các quy trìnhnghiệp vụ quản lý quỹ, quản lý danh mục đầu tư, quy trình quản lý rủi ro và các tài liệutheo quy định tại Khoản 4 Điều 9 Quy chế này Trong thời hạn mười hai (12) tháng kể từngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, Công ty quản lý quỹ phải chính thứchoạt động

Tiếp nhận hồ sơ và xem xét ( 30 ngày xét duyệt)

Không chấp thuận: nêu rõ lý do

Không chấp thuận: nêu rõ lý do

Trang 17

sở vật chất (trong 6 tháng)

Không chấp thuận: nêu rõ

lý do

Không chấp thuận: nêu rõ

lý do

Nếu có thay đổi, tổ chức phải báo UBCK (trong 3 ngày)

Kể từ ngày được cấp giấy phép, trong 7 ngày, tổ chức phải công bố thành lập

Trong thời hạn 6 tháng, công ty phải hoàn tất các thủ tục báo cáo

Trong thời hạn 6 tháng, công ty phải hoàn tất các thủ tục báo cáo

Trang 18

Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của người đầu tư ủy thác chocông ty quản lý quỹ, quản lý và đầu tư tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào chứngkhoán.

5.1.2 Lợi ích khi tham gia vào các quỹ đầu tư

- Có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư mà không cần một lượng vốn lớn Để đầu

tư vào một công ty đòi hỏi nhà đầu tư phải có một quy mô vốn nhất định Vì vậy khôngphải nhà đầu tư cá nhân nào cũng có đủ điều kiện đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình.Khi tập hợp vốn của rất nhiều nhà đầu tư, qũy đầu tư có quy mô đủ lớn để có thể đầu tưnhiều ngành nghề, nhiều khu vực địa lý và nhiều công ty khác nhau…Như vậy với sốvốn khiêm tốn, tham gia vào quỹ đầu tư, nhà đầu tư có thể gián tiếp đa dạng hóa đầu tưcủa mình để giảm thiểu rủi ro và tăng hiệu quả đầu tư

- Có cơ hội sử dụng kiến thức và kinh nghiệm: của các nhà quản lý đầu tư chyên

nghiệp Tham gia vào quỹ đầu tư, nhà đầu tư sẽ không mất thời gian tìm hiểu, cập nhậtthông tin, phân tích thị trường Các nhà quản lý đầu tư sẽ thay mặt nhà đầu tư hoạch định

và thực hiện một cách có kỷ luật những chiến lược đầu tư năng động

- Có thể theo dõi tình trạng khoản đầu tư : nhờ tính minh bạch cao Vì kết quả hoạt

động đầu tư và chi phí của quỹ được báo cáo đầy đủ và thường xuyên cho công chúng.Qua đó nhà đầu tư luôn biết được tình hình hoạt động của quỹ và lợi ích mà quỹ mang lạicho mình

- Có nhiều lựa chọn đầu tư: quỹ đầu tư sẽ giới thiệu nhiều loại quỹ để nhà đầu tư

có thể lựa chọn phù hợp với mục tiêu đầu tư và khả năng chấp nhận rủi ro của mình (quỹđầu tư trái phiếu, cổ phiếu…)

- Thuận tiện trong việc giao dịch: các quỹ đầu tư công chúng được niềm yết trên

trung tâm giao dịch chứng khoán để nhà đầu tư có thể dễ dàng mua bán chứng chỉ quỹđầu tư

5.1.3 Chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán (gọi tắt là chứng chỉ quỹ):

Trang 19

Là một loại chứng khoán dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ do công tyquản lý quỹ thay mặt Quỹ đại chúng phát hành, xác nhận quyền sở hữu hợp pháp củangười đầu tư đối với một hoặc một số đơn vị quỹ của một Quỹ đại chúng

5.2 Trình tự cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho quỹ đầu tư chứng khoán

Bươc 1: Lập hồ sơ và đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ

 Điều kiện chào bán chứng chỉ quỹ:

 Giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán ít nhất 50 (năm mươi) tỷ đồng Việt Nam

 Có phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chào bánchứng chỉ quỹ

 Có quy trình nghiệp vụ quản lý quỹ, quy trình kiểm soát nội bộ, quy trình quản lýrủi ro phù hợp

 Hồ sơ gồm những giấy tờ sau:

 Giấy đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng

 Phương án chào bán chứng chỉ quỹ kèm theo phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chào bán

 Điều lệ quỹ

 Bản cáo bạch

 Hợp đồng giám sát giữa ngân hàng giám sát và công ty quản lý quỹ

 Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có)

Bước 2: Trong thời hạn mười (10) ngày sau khi kết thúc đợt chào bán chứng chỉ quỹ

(nếu là trường hợp phát hành lần đầu ra công chúng), và trong thời hạn năm 05 (nếu làtrường hợp phát hành chứng chỉ quỹ để tăng vốn cho các lần tiếp theo )

Công ty quản lý quỹ phải gửi Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Hồ sơ báo cáo kết quả chào bán và thực hiện việc đăng ký lập quỹ (trường hợp phát hành lần đầu) khi đáp ứng các điều kiện sau:

a) Có ít nhất một trăm (100) nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyênnghiệp, tham gia góp vốn;

b) Tổng giá trị chứng chỉ quỹ đã bán đạt ít nhất là năm mươi (50) tỷ đồng Việt Nam.Giá trị chứng chỉ quỹ đã bán so với mức vốn dự kiến huy động của Quỹ phải vượt một tỷ

Trang 20

lệ tối thiểu đã được quy định rõ trong Điều lệ Quỹ và Bản Cáo bạch Tỷ lệ tối thiểu nàyphải không thấp hơn 80% mức vốn dự kiến huy động của Quỹ trong đợt chào bán

Bước 3: Nếu đáp ứng các điều kiện trên, công ty quản lý quỹ tiến hành lập hồ sơ đăng

ký lập quỹ đầu tư gồm:

- Giấy đăng ký lập Quỹ

- Báo cáo tóm tắt về kết quả đợt chào bán kèm theo bản xác nhận của Ngân hànggiám sát về số tiền thu được trong đợt chào bán

- Danh sách nhà đầu tư ghi rõ họ tên nhà đầu tư, số Chứng minh nhân dân hoặc số

hộ chiếu còn hiệu lực đối với cá nhân; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với

tổ chức, số tài khoản ngân hàng (nếu có), địa chỉ liên lạc đối với nhà đầu tư cá nhân hoặctrụ sở của tổ chức, số lượng đơn vị quỹ và tỷ lệ sở hữu, ngày đăng ký mua chứng chỉ quỹ

Bước 4: Trong thời hạn mười (10) ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban

Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy chứng nhận đăng ký lập quỹ (trong trường hợp pháthành lần đầu) hoặc xác nhận đợt chào bán thêm chứng chỉ quỹ đã hoàn tất (trong trườnghợp phát hành thêm) Trường hợp từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước phải trả lờibằng văn bản và nêu rõ lý do

Bước 5: Hoàn tất các thủ tục sau đăng ký

- Trong vòng năm (05) ngày làm việc sau khi Giấy chứng nhận đăng ký lập quỹ cóhiệu lực (trong trường hợp phát hành lần đầu) hoặc sau khi Ủy ban Chứng khoán Nhànước xác nhận đợt chào bán thêm chứng chỉ quỹ đã hoàn tất (trong trường hợp phát hànhthêm), Công ty quản lý quỹ phải xác nhận quyền sở hữu chứng chỉ quỹ cho nhà đầu tư,lập và lưu trữ Sổ đăng ký nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ

- Trong vòng bốn mươi lăm (45) ngày kể từ khi Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấpGiấy chứng nhận đăng ký lập Quỹ (trong trường hợp phát hành lần đầu) hoặc sau khi Ủyban Chứng khoán Nhà nước xác nhận đợt chào bán thêm chứng chỉ quỹ đã hoàn tất (trongtrường hợp phát hành thêm), Công ty quản lý quỹ phải gửi Uỷ ban Chứng khoán Nhànước danh sách và Sơ yếu lý lịch của các thành viên Ban đại diện Quỹ hoặc của thànhviên Ban đại diện Quỹ mới (nếu có)

Trang 21

Hồ sơ đăng ký thành lập quỹ đầu tư

UBCKNN cấp giấy chứng nhận đăng ký lập quỹ (trong vòng

10 ngày)

UBCKNN cấp giấy chứng nhận đăng ký lập quỹ (trong vòng

10 ngày)

UBCKNN cấp giấy chứng nhận đăng ký lập quỹ (trong vòng

10 ngày)

Hoàn tất các thủ tục sau đăng ký

Trang 22

PHẦN 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

GIÁN TIẾP VÀO VIỆT NAM

1 Tác động hai mặt của đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI đối với Việt Nam

Cũng như dòng vốn FDI, dòng FPI đã, đang và sẽ có tác động cả tích cực và tiêu cựcđến đời sống kinh tế nước ta, thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu sau:

1.1 Những tác động tích cực

 Thứ nhất: Dòng vốn FPI khi đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng lượng FPI

trên thị trường vốn trong nước như một phép cộng đương nhiên vào tổng số dòng vốnnày Hơn nữa, khi FPI gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyền đếndòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước Nói cách khác, các nhà đầu tư trong nước sẽ “nhìngương" các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư gián tiếp củamình, kết quả tổng đầu tư gián tiếp xã hội sẽ tăng lên

 Thứ hai: Phát triển thị trường tài chính nói riêng, hoàn thiện các thể chế và cơ chế

thị trường nói chung Việc gia tăng và phát triển bộ phận thị trường FPI sẽ làm cho thịtrường tài chính (đặc biệt là thị trường chứng khoán) Việt Nam trở nên đồng bộ, cân đối

và sôi động hơn, khắc phục được sự thiếu hụt, trống vắng và trầm lắng, thậm chí đơnđiệu, kém hấp dẫn kéo dài của thị trường này trong thời gian qua Hơn nữa, sự gia tăngdòng FPI tạo điều kiện cho sự phát triển nở rộ các định chế và dịch vụ tài chính – chứngkhoán, trước hết là các loại quỹ đầu tư, công ty tài chính, và các thể chế tài chính trunggian khác, cũng như các dịch vụ tư vấn, bổ trợ tư pháp và hỗ trợ kinh doanh, xác định hệ

số tín nhiệm, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán và thông tin thị trường Đồng thời, kéo theo sựgia tăng yêu cầu và hiệu quả áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường, trước hết trênthị trường chứng khoán…

 Thứ ba: Việc phát triển thị trường vốn đầu tư gián tiếp cả về bề rộng và bề sâu sẽ

mang lại những cơ hội mới và sự đa dạng hóa trong lựa chọn các phương thức đầu tư chocác nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài và trong nước Đông đảo các nhà đầu tư nước ngoài

và cả trong nước, từ người dân, các doanh nhân đến các tổ chức và pháp nhân đầu tưchuyên nghiệp và không chuyên nghiệp sẽ có thêm điều kiện lựa chọn hình thức sử dụng

Trang 23

vốn của mình dưới các hình thức trực tiếp tự mình hay thông qua các định chế tài chínhtrung gian để mua - bán các cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán có giá khác của ViệtNam trên thị trường tài chính Việt Nam và nước ngoài Hơn nữa, thông qua quá trìnhtham gia đầu tư gián tiếp này, các nhà đầu tư trong nước và người dân sẽ được dịp “cọxát", rèn luyện và bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, bản lĩnh đầu tư, nâng caotrình độ bản thân nói riêng, chất lượng nguồn nhân lực nói chung, phù hợp yêu cầu vàđiều kiện kinh doanh thị trường hiện đại

 Thứ tư: Góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước theo các

nguyên tắc và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế nhất là sau khi Việt nam trởthành thành viên chính thức của WTO Sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

và phát triển thị trường tài chính sẽ đặt ra những yêu cầu mới và cũng tạo các công cụ,khả năng mới cho quản lý nhà nước nói chung và quản lý, quản trị doanh nghiệp nóiriêng

Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực hiệnnghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và minh bạchhóa, cập nhật hóa thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp đã và sẽ pháthành Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ lựa chọn đầu tư vào chứng khoán củacác doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển vọng phát triển tốt trong tương lai.Chính điều này sẽ cho phép quá trình "chọn lọc nhân tạo", "bỏ phiếu" cho sự hỗ trợ vàphát triển các doanh nghiệp này trở nên khách quan và phù hợp cơ chế thị trường hơn Hệthống luật pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhànước liên quan đến thị trường tài chính, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phảiđược hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc điểmcủa thị trường này, cũng như theo các cam kết hội nhập quốc tế Đồng thời, thông qua tácđộng vào thị trường tài chính, Nhà nước sẽ đa dạng hóa các công cụ và thực hiện hiệu quảviệc quản lý của mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp Trên cơ sở đó, năng lực vàhiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, thị trường tài chính nói riêng sẽđược cải thiện hơn

1.2 Những tác động tiêu cực

 Thứ nhất, làm tăng mức độ nhạy cảm và bất ổn về kinh tế có nhân tố nước ngoài.

Khác với FDI là nguồn vốn đầu tư lâu dài chủ yếu dưới dạng vật chất (xây dựng nhà máy,

Trang 24

mua sắm thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu dùng cho sản xuất), khó chuyển đổi hoặcthanh khoản, FPI được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính thuần túy với các chứngkhoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản cao trên thị trường tài chính, nên cácnhà đầu tư gián tiếp nước ngoài dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chíđột ngột rút vốn đầu tư của mình về nước, hay chuyển sang đầu tư dưới dạng khác, ở địaphương khác tùy theo kế hoạch và mục tiêu kinh doanh của mình Đặc trưng nổi bật nàycũng chính là nguyên nhân hàng đầu gây nên sự nhạy cảm và bất ổn kinh tế Trong tìnhhuống như vậy, một sự đổ vỡ, một cuộc khủng hoảng đầu tư - tài chính - tiền tệ, thậm chí

là khủng hoảng kinh tế là hoàn toàn có thể xảy ra đối với nước tiếp nhận đầu tư nếukhông có và triển khai tốt các phương án phòng ngừa hiệu quả

 Thứ hai, làm gia tăng nguy cơ bị mua lại, sáp nhập, khống chế và lũng đoạn tài

chính đối với các doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán Sự gia tăng tỷ lệ nắmgiữ chứng khoán, nhất là các cổ phiếu, cổ phần sáng lập, được biểu quyết của các nhà đầu

tư gián tiếp nước ngoài đến một mức “vượt ngưỡng” nhất định nào đó sẽ cho phép họtham dự trực tiếp vào chi phối và quyết định các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cácchủ quyền khác của doanh nghiệp, tổ chức phát hành chứng khoán, thậm chí lũng đoạndoanh nghiệp theo phương hướng, kế hoạch, mục tiêu riêng của mình, kể cả các hoạtđộng mua lại, sáp nhập doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là, tính chất gián tiếp của vốn đầu

tư nước ngoài đã chuyển hóa thành tính trực tiếp Nhà đầu tư gián tiếp sẽ chuyển hóathành nhà đầu tư trực tiếp Thậm chí, về lô-gích, quá trình "diễn biến hòa bình" này đạttới quy mô và mức độ nào đó còn có thể làm chuyển đổi về chất quyền sở hữu và tínhchất kinh tế ban đầu của doanh nghiệp và quốc gia

 Thứ ba: Làm tăng quy mô, tính chất và sự cấp thiết đấu tranh với tình trạng tội

phạm kinh tế quốc tế Đầu tư gián tiếp quốc tế không chỉ làm gia tăng các nguy cơ và táchại của các hoạt động đầu cơ, lũng đoạn kinh tế vi phạm các quy định pháp lý của nướctiếp nhận đầu tư, mà còn là mảnh đất màu mỡ sinh sôi và phát triển các loại tội phạm kinh

tế có yếu tố nước ngoài, thậm chí xuyên quốc gia, như hoạt động lừa đảo, hoạt động rửatiền, hoạt động tiếp vốn cho các kinh doanh phi pháp và hoạt động khủng bố, cùng cácloại tội phạm và các đe dọa an ninh phi truyền thống khác

Sự cộng hưởng của các hoạt động tội phạm và tác động mặt trái của dòng FPI kểtrên, nhất là khi chúng diễn ra một cách "có tổ chức" của giới đầu cơ hay lực lượng thù

Trang 25

địch chính trị quốc tế, sẽ ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt và lâu dài gây tổn hạitới hoạt động kinh tế lành mạnh và làm tăng tính dễ tổn - thương của nền kinh tế nướctiếp nhận đầu tư trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay; thậm chí trong một số trường hợp,chúng còn làm mất uy tín nhà nước và gây sụp đổ một nội các chính phủ…

Tóm lại: Nước ta cần phải chủ động đổi mới và sử dụng hiệu quả các công cụ

quản lý kinh tế của mình theo nguyên tắc thị trường hơn, trong đó có việc sử dụng bảolãnh nhà nước, quy định tỷ lệ và sử dụng các công cụ dự phòng, dư nợ cũng như các công

cụ khác của các định chế tài chính – tiền tệ quốc gia và địa phương… Tất cả những điềunày là cần thiết để đảm bảo sự thu hút và khai thác có hiệu quả các tác động tích cực củadòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

2 Các rào cản thu hút FPI ở Việt Nam

Trong thời gian vừa qua đầu tư gián tiếp nước ngoài có xu hướng tăng nhưng vẫn còn chậm, tỷ lệ vốn FII trên FDI thấp và quy mô nhỏ, do có những rào cản thu hút FPI :

 Chưa có chính sách thu hút vốn và quản lý đầu tư gián tiếp nước ngoài hiệu quả

Do các nhà hoạch định chính sách còn khá e ngại trước dòng vốn FPI biểu hiện thông qua

sự phân biệt đối xử, và các quy định nhằm hạn chế ngành nghề, và tỷ lệ cổ phần của cácnhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam

 Việt Nam đang trong quá trình hội nhập cao độ, doanh nghiệp đang trong quá trìnhđổi mới, hệ thống pháp lý và các quy phạm đang từng bước hoàn thiện, khả năng quản trịdoanh nghiệp của các công ty còn thấp, một số tiêu chí đánh giá chưa theo chuẩn quốc tế,

hệ thống kế toán kiểm toán còn nhiều bất cập, hệ thống thông tin còn thiếu và yếu, cácbáo cáo tài chính doanh nghiệp chưa trung thực… là hàng loạt nguyên nhân dẫn đến thịtrường tài chính không minh bạch Đối với các nhà đầu tư nước ngoài chuyên nghiệp thìđầu tư vào thị trường tài chính không minh bạch sẽ là một quyết định không khôn ngoan

 Tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp còn chậm (khoảng 8% các doanh nghiệptrong tổng số các doanh nghiệp nhà nước phải cơ cấu lại), quy mô của các doanh nghiệpnhỏ Các doanh nghiệp cổ phần hóa phần lớn chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán

 Các nhà đầu tư trên thế giới chưa có nhiều thông tin và hiểu biết về Việt Nam

Trang 26

 Quy mô và chất lượng các sản phẩm thị trường tài chính Việt Nam còn hạn chế.Đây là nguyên nhân cơ bản khiến các quỹ đầu tư chưa thật nhiều và chưa tương xứng vớitiềm năng thị trường.

3 Thực trạng hoạt động đầu tư quốc tế gián tiếp vào Việt Nam

Trong những năm qua, tuy Việt Nam đã khá thành công trong việc thu hút dòng vốnđầu tư gián tiếp, nhưng dòng vốn này chảy vào nước ta còn khá khiêm tốn Có thể chia

thành 5 giai đoạn như sau:

 Giai đoạn 1 (1988 – 1997)

Là thời kỳ mở đầu cho dòng vốn FPI vào Việt Nam theo xu hướng đổi mới và mở cửathu hút đầu tư nước ngoài diễn ra trong phạm vi cả nước và tạo động lực, hy vọng chungcho các nhà đầu tư nước ngoài Trong giai đoạn này, ở Việt Nam đã có 7 Quỹ đầu tưnước ngoài được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng 400 triệu USD

Quỹ Đầu Tư

Thời gian đầu tư vào Việt Nam

Vốn huy động (triệu USD)

Hình thức đầu tư

Dạng Quỹ

1 Vietnam Fund 10/1991 75 -Mua cổ phiếu của các công

ty không được niêmyết, các công ty được cổ phần hoá

- Bất động sản

- Vật liệu xây dựng

- Sản phẩm nông nghiệp, chếbiến thực phẩm

Trang 27

Quỹ đầu tư không có sự lựa chọn nào hơn là đầu tư vào những công ty không niêm yết.

 Giai đoạn 2 (1998 – 2002)

Là thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á khiến các dòngvốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài đổ vào châu Á bị chững lại và Việt Namcũng chịu ảnh hưởng chung của xu hướng này với việc giảm sút và thu hẹp đáng kể quy

mô thu hút của cả FDI và FPI Trong số 7 Quỹ đầu tư kể trên có 5 Quỹ rút khỏi ViệtNam, 1 Quỹ thu hẹp trên 90% quy mô quỹ, chỉ còn duy nhất Quỹ Vietnam EnterpriseInvestment Fund được thành lập tháng 7-1995 với quy mô vốn 35 triệu USD là còn hoạtđộng cho đến nay

Ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghị định số 48/CP ban hành về chứng khoán vàTTCK chính thức khai sinh cho Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời Cùng ngày,Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán đặt tạiTP.HCM và Hà Nội Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM)được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đivào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000.Khi mới đi vào hoạtđộng, tại TTGDCK TP.HCM chỉ có 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) và một số ít trái phiếuChính phủ được niêm yết giao dịch

 Tính đến tháng 6-2006, cả nước đã có 9 Quỹ đầu tư nước ngoài với tổng vốn 1,9 tỉUSD đang hoạt động ở Việt Nam Gồm quỹ VEIL, VGF, VDF, VOF, PXP, VEEF, BVF,

Trang 28

VEF và Vinaland Trong đó VDF, VEEF, VEF và Vinaland là những quỹ mới được thànhlập vào cuối năm 2005 và đầu năm 2006.

 Tổng cộng FPI mà Việt Nam thu hút được bằng 2-3% so với tổng vốn FDI trongcùng thời kỳ (còn rất khiêm tốn so với 30-40% của các nước trong khu vực)

 Giai đoạn 4 (2006-2007): Thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) hậu WTO

 Năm 2006 đánh dấu thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, đây là một dấu mốc quantrọng cho đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam

 Ở giai đoạn này, cùng với sự đi lên của thị trường chứng khoán, luồng vốn liên tụctăng nhanh và liên tục thu hoạch thành công

 Có 19 công ty quản lý quỹ được hình thành và trên 1000 nhà đầu tư trên khắp thếgiới đăng ký tài khoản tại Việt Nam, trong đó có nhiều công ty đa quốc gia Chỉ riêng thờiđiểm cuối năm 2006, vốn FPI là trên 2 tỷ USD, cao hơn tất cả các giai đoạn trước cộnglại Việc bùng nổ FPI góp phần thúc đẩy hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển mạnh

 Đến năm 2007, số quỹ đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam là khoảng trên

60, với số vốn mai phục khoảng 6 tỷ đô la Trong số đó, chỉ riêng ba quỹ là DragonCapital, Vina Capital và Indochina Capital đã có số vốn tròm trèm 4 tỷ đô la Mỹ

 Năm 2007, theo SSC, trong số vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) có 7,6 tỉ USDtham gia trên thị trường chứng khoán chính thức (HOSE và HASTC), phần còn lại đượcthực hiện trên thị trường tự do (OTC) Có khoảng 7.500 tài khoản của nhà đầu tư nướcngoài, trong đó 300 tài khoản là nhà đầu tư tổ chức

 Giai đoạn 5 (2008-nay): Giai đoạn này chứng kiến nhiều bước thăng trầm của

nguồn vốn FPI vào Việt Nam Cùng với sự sụp giảm của thị trường chứng khoán vàkhủng hoảng kinh tế toàn cầu, FPI từ tháng 5-2008 đến khoảng tháng 3-2009 đã có giảm

rõ rệt, lần lượt các nhà đầu tư rút ra khỏi thị trường Việt Nam, đỉnh điểm là vào cuối năm

2008, giao dịch gần như đóng băng Giá trị danh mục của các nhà đầu tư nước ngoài trênthị trường chứng khoán Việt Nam vào khoảng 8,4 tỉ đô la đến đầu 2008, nhưng đến đầutháng 1-2009 giá trị này chỉ còn khoảng 4,6 tỉ đô la, giảm gần 4 tỉ đô la so với năm đầu

Ngày đăng: 13/08/2015, 15:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức đầu tư - TIỂU LUẬN KINH DOANH QUỐC TẾ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ GIÁN TIẾP FPI
Hình th ức đầu tư (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w