Tiểu luận Kinh tế quốc tế: Đặc điểm thị trường gạo và cà phê trên thế giới và khả năng mở rộng thị trường của hai mặt hàng này ở Việt Nam.Kết cấu gồm ba chương chính:Chương I: Khái quát chung về thị trường gạo và cà phê trên thế giới.Chương II: Thực trạng xuất khẩu gạo và cà phê ở Việt Nam.Chương III: Định hướng và giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu của gạo và ca phê Việt Nam.
Trang 1hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế phát triển tất yếu trongmỗi quốc gia trong đó hội nhập thương mại là một trong những mũi nhọn của hội nhậpkinh tế quốc tế Do vậy nói đến hội nhập kinh tế là phải đề cập tới sự gắn kết nền kinh tế,thị trường của từng nước với nhau, hoặc giữa các khối kinh tế Những năm qua, gạo và càphê luôn giữ vai trò là hai trong số ít những mặt hàng xuất khẩu trọng yếu của nền kinh tếquốc dân Với tầm quan trọng của mình, gạo và cà phê được xếp vào danh sách 10 mặthàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và được chọn là một trong những mặt hàng trọngđiểm cần phát huy trong giai đoạn 2005-2010
Cũng như nhiều mặt hàng nông sản khác, hoạt động sản xuất và xuất khẩu gạo và cà phêphụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan như thời tiết, khí hậu và sự bấp bênh, không
ổn định luôn là đặc tính cố hữu của thị trường này Có thể nói, Việt Nam là một trongnhững nước chịu hậu quả nặng nề nhất do tính phụ thuộc của ngành gạo và cà phê ViệtNam vào thị trường thế giới rất cao, có tới 98% sản lượng cà phê là dành cho xuất khẩu.Bên cạnh đó cây lúa gạo và cà phê phát triển ồ ạt không theo quy hoạch, khâu chất lượng
và chế biến chưa được chú trọng, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc quảng bágạo và cà phê Việt Nam ra thị trường thế giới và xây dựng thương hiệu cho hai mặt hàngnày của Việt Nam
Chính vì vậy mà nhóm 2 đã thực hiện đề tài : “Đặc điểm thị trường gạo và cà phê trên thếgiới và khả năng mở rộng thị trường của hai mặt hàng này ở Việt Nam”.với kết cấu gồm
ba chương chính:
Chương I: Khái quát chung về thị trường gạo và cà phê trên thế giới
Chương II: Thực trạng xuất khẩu gạo và cà phê ở Việt Nam
Chương III: Định hướng và giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu của gạo và ca phêViệt Nam
Trang 2hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG GẠO VÀ CÀ PHÊ
TRÊN THẾ GIỚII.Giới thiệu chung về gạo và cafe:
1.Cafe:
* Khái niệm café (gốc từ café trong tiếng Pháp):
Là một loại thức uống màu đen có chứa chất caffein và được sử dụng rộng rãi, được sảnxuất từ những hạt cà phê được rang lên, từ cây cà phê Cà phê được sử dụng lần đầu tiênvào thế kỉ thứ 9, khi nó được khám phá ra từ vùng cao nguyên ở Ethiopia Từ đó, nó lan
ra Ai cập và Yemen, và tới thế kỉ thứ 15 thì đến Armenia, Đế quốc Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ
và phía bắc Châu Phi Từ thế giới Hồi giáo, cà phê đến Ý, sau đó là phần còn lại của Châu
Âu, Indonesia và Hoa Kỳ Ngày nay, cà phê là một trong những thức uống thông dụngtoàn cầu
* Các loại cà phê : Vẫn còn nhiều tranh cãi về số lượng loại cà phê, người ta nói rằng cóthể có từ 25- 100 loại cà phê trên thế giới nhưng những loại quan trọng nhất là:
- Cà phê chè (Coffee Arrabica L): Loại này chiếm 65 % số lượng cà phê sản xuất trên thế giới
- Cà phê vối (Coffee canephora pirre): Loại này chiếm 35% lượng cà phê sản xuất trênthế giới
- Cà phê mít (Excelsa) phát hiện lần đầu tiên vào năm 1902 ở Ubangui Chari nên thườngđược gọi là cà phê chari Do có vị đậm nên người ta thường trộn với cà phê chè để có mùithơm hơn
* Lợi ích của cây cà phê:
Cà phê được dùng trong y học, công nghiệp thực phẩm Cà phê còn tạo ra công ăn việclàm và góp phần bảo vệ môi trường Đặc biệt cà phê còn mang lại nguồn thu nhập lớn,hiện nay Kim ngạch xuất nhập khẩu cà phê của nước ta trên toàn thế giới là 2.2 tỉ USD
2 Gạo:
* Khái niệm gạo:Gạo là một sản phẩm lương thực thu từ cây lúa Hạt gạo thường có màu
trắng, nâu hoặc đỏ thẫm, chứa nhiều dinh dưỡng Hạt gạo chính là nhân của thóc sau khitách bỏ vỏ trấu và cám Gạo là lương thực phổ biển của gần một nửa dân số thế giới
* Các loại gạo:
Gạo xuất khẩu ở Thái Lan gồm: gạo thơm và gạo trắng hạt dài
Trang 3hai mÆt hµng nµy ë ViÖt NamGạo ở Việt Nam gồm: gạo nếp (dẻo, dính) và gạo tẻ Việt Nam xuất khẩu các loại gạosau: gạo 5% tấm đánh bóng 1 lần, gạo 5% tấm đánh bóng 2 lần, gạo 10%, 15%, 25% và100% tấm Ngoài ra có gạo sắt, gạo đồ, gạo thơm.
Các thể loại khác: gạo basmati (Ấn Độ)…
* Lợi ích của việc xuất khẩu gạo: Gạo mang lại giá trị xuất khẩu cao cho nhiều nước, nó
là một loại thực phẩm thiết yếu cho đời sống và phần lớn ở các nước đang phát triển thìnghề nông vẫn là chính và sản xuất gạo là chủ yếu
II.Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo, cà phê trên thế giới:
1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới
1.1 Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới
Sản xuất cà phê trên thế giới hiện tại ở mức trên 120 triệu bao (trên 7,2 triệu tấn) Cụ thể,sản lượng cà phê trên thế giới có xu hướng ngày càng tăng từ vụ mùa 2001/2002-2007/2008 đạt từ 111,91 - 120,16 triệu bao, ước vụ mùa 2008/2009 đạt 147,73 triệu bao.Trong đó, Braxin là quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới với sản lượng 2007/2008đạt 36,86 triệu bao chiếm 30,68% sản lượng thế giới, ước 2008/2009 đạt 54,5 triệu bao,theo sau là Việt Nam với sản lượng 2007/2008 đạt 18,28 triệu bao chiếm 15,21% sảnlượng thế giới, 2008/2009 đạt 21,59 triệu bao và kế đến là Colombia đứng hàng thứ bavới sản lượng 2007/2008 là 12 triệu bao, chiếm 9,99% sản lượng thế giới, 2008/2009 đạt12,5 triệu bao
Braxin là nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, nước này chủ yếu sản xuất cà phêArabica với sản lượng 2007/2008 là 24,36 triệu bao chiếm 34,17% sản lượng Arabica trênthế giới, 2008/2009 đạt 41,2 triệu bao, là nước sản xuất Arabica lớn nhất thế giới, theo sau
là Colombia, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam Mặc dù, xếp vị trí thứ hai về sản xuất cà phênhưng Việt Nam lại là nước dẫn đầu trong sản xuất cà phê Robusta với sản lượng2007/2008 là 17,78 triệu bao chiếm 36,39% sản lượng cà phê Robusta trên thế giới, ước2008/2009 đạt 21 triệu bao nhưng lại đứng thứ năm trong sản xuất cà phê Arabica Trongsản xuất cà phê Robusta, Braxin là nước xếp thứ 2 với sản lượng 2007/2008 đạt 12,5 triệubao chiếm 25,58% sản lượng cà phê Robusta trên thế giới,2008/2009 đạt 13,3 triệu bao,tiếp đến là Indonesia và Ấn Độ Riêng Colombia chỉ sản xuất cà phê Arabica, không sảnxuất cà phê Robusta
Trang 4hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam
Bảng 1.1: Sản lượng cà phê trên thế giới
ĐVT: 1.000 bao cà phê nhân-60 kg/bao
Trang 5hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam
Bảng 1.2: Sản lượng cà phê Robusta trên thế giới
ĐVT: 1.000 bao cà phê nhân-60 kg/bao
Trang 6hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam
Bảng 1.3: Sản lượng cà phê Arabica trên thế giới
ĐVT: 1.000 bao cà phê nhân-60 kg/bao
Trang 7hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam
1.2 Tình hình tiêu thụ cà phê trên thế giới
Cà phê là loại đồ uống phổ biến trên thế giới Nếu năm 1947 tổng lượng tiêu thụ của thếgiới là 27,6 triệu bao thì đến nay tổng lượng tiêu thụ trên thế giới đã tăng lên đáng kể, ướcnăm 2008 đạt 129,898 triệu bao và 2009 đạt 132,432 triệu bao, tăng 4,7 lần so với năm
1947 Sự tăng trưởng này khá ổn định, đây là điều kiện thuận lợi cho ngành cà phê ViệtNam phát triển Mặc dù, sự tăng trưởng trong nhu cầu tiêu thụ khá ổn định nhưng yêu cầu
về chất lượng cà phê thế giới ngày càng cao hơn đó là cà phê được chế biến sâu, sản phẩm
đa dạng hơn Đây chính là cơ hội và thách thức đối với ngành cà phê Việt Nam nói chung
và đối với Tổng Công Ty Cà Phê Việt Nam nói riêng
Đồ thị 1.1: Đồ thị thể hiện lượng tiêu thụ cà phê trên thế giới
Trang 8hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam
17.144
13.825 1.200
17.333
13.950 1.250
18.335
14.770 1.425
19.437
15.745 1.513
20.345
16.510 1.557
21.455
17.400 1.596
22.351
18.103 1.661
22.983
18.368 1.692
14.260
6.819
1.541 584
14.837
6.978
1.618 771
15.477
7.205
1.797 844
15.970
7.255
1.963 891
16.648
7.315
2.150 954
17.514
7.397
2.398 1.042
18.272
7.448
2.689 1.190
18.913
7.482
2.961 1.250
Tổng cộng 110.332 111.762 113.774 117.674 120.707 123.515 126.837 129.898 132.432
(Nguồn: NKG Statistical Unit Quarterly Report, Neumann Kaffee Gruppe)
Trang 9hai mÆt hµng nµy ë ViÖt NamQua bảng 1.4, chúng ta có thể thấy rằng:
Trong các quốc gia tiêu thụ cà phê, Mỹ là nước tiêu thụ nhiều và ổn địnhnhất năm 2001 là 19,139 triệu bao tăng lên 21,513 triệu bao năm 2008 và 27,728 triệu baonăm 2009, chiếm 16,4% thị phần thế giới Đây là thị trường rất lớn và tiềm năng Ở cácnước EU15 (European Union 15), cà phê là thức uống thông dụng, năm 2009 tiêu thụ34,878 triệu bao chiếm 26,34% thị phần thế giới Ở Châu Á, Nhật Bản là nước tiêu thụlớn nhất đạt 6,901 triệu bao năm 2001 và ước đạt 7,482 triệu bao năm 2009, chiếm 5,6%thị trường thế giới
Ngoài xuất khẩu, các nước còn dành cà phê sản xuất được cho nhu cầu tiêudùng nội địa đang ngày càng tăng Braxin và Indonesia có mức tiêu thụ nội địa rất caonăm 2001 là 13,55 triệu bao, tăng lên 18,103 triệu bao năm 2008 và 18,368 triệu bao năm
2009, chiếm khoảng 33,7% sản lượng sản xuất đối với Braxin và đối với Indonesia năm
2001 là 1,451 triệu bao, tăng lên 2,689 triệu bao năm 2008 và 2,961 triệu bao năm 2009,chiếm khoảng 30,28% sản lượng sản xuất
Nhìn chung, ở tất cả các vùng từ châu Âu, Bắc Trung Mỹ, Nam Mỹ, ChâuPhi, Trung Đông đến Châu Á TBD việc tiêu dùng cà phê trong nước đều có xu hướngtăng lên Đây là điểm đáng mừng cho ngành cà phê để tồn tại và phát triển
Qua đây cũng cho thấy, cà phê là đồ uống được nhiều người Việt Nam ưathích nhưng việc dùng cà phê chưa là tập quán như uống trà nên phần lớn cà phê được sảnxuất ra là dành cho xuất khẩu, tiêu thụ nội địa ít, khoảng 1,25 triệu bao năm 2009 chiếm5,79% sản lượng sản xuất Mặc dù vậy, tiêu dùng cà phê ở Việt Nam cũng đã tăng đềuqua các năm Với đà phát triển như hiện nay, mức sống của người dân ngày càng được cảithiện, mặt khác quan hệ quốc tế của ta ngày càng được mở rộng, người nước ngoài vàoViệt Nam làm việc ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng cà phê chắc chắn sẽ tăng nhiềuhơn nữa trong tương lai
Trang 10hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam
Bảng 1.5: Tham khảo sức tiêu thụ cà phê bình quân/người/năm tại một số thị trường nhập khẩu
cà phê trên thế giới năm 2007
(Nguồn: Thông tin thương mại, Bộ Công Thương)
Qua bảng 1.5, chúng ta thấy: Mặc dù, Mỹ là thị trường tiêu thụ cà phê lớn tuy nhiên mứctiêu thụ bình quân/người/năm vẫn còn thấp hơn so với nhiều nước Dẫn đầu trong việctiêu thụ bình quân/người/năm năm 2007 đó là Phần Lan 12,03 kg/người/năm, Na Uy 9,91kg/người/năm, Đan Mạch 8,76 kg/người/năm, Hà Lan 8,64 kg/người/năm, Thụy Điển8,22 kg/người/năm
1.3 Kinh nghiệm xuất khẩu cà phê ở một số nước
Braxin là nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, cung cấp 2 chủng loại cà phê chính
cho thị trường thế giới đó là cà phê Arabica và Robusta Việc sản xuất của quốc gia này đóngvai trò hết sức quan trọng đối với nguồn cung ứng trên thị trường thế giới về cả sản lượng vàchất lượng và vì vậy tác động mạnh đến giá cả trên thị trường thế giới
Trang 11hai mÆt hµng nµy ë ViÖt NamThật vậy, không chỉ dẫn đầu thế giới về số lượng mà cả chất lượng cà phê của quốc gianày cũng đạt ở mức tốt và rất ổn định Sở dĩ, Braxin đạt được điều này là nhờ Braxin có
hệ thống quản lý chặt chẽ từ sản xuất đến thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu
Ở Braxin, hầu hết cà phê được sản xuất ở những nông trại lớn, chuyên biệt và cà phêBraxin được chế biến bằng phương pháp khô (giống Việt Nam) nhưng do công nghệ thuhọach và bảo quản tốt nên chất lượng tốt hơn và ổn định hơn Bên cạnh đó, cà phêArabica lại có hương vị đặc trưng rất được người tiêu dùng ưa chuộng
Việc sản xuất cà phê ở Braxin tập trung vào các nông trường, các tập đoàn lớn và các tậpđoàn này khống chế thị trường xuất khẩu Chính phủ Braxin cũng có những biện pháp hỗtrợ giá cho nông dân bằng việc dự trữ hợp lý hoặc tổ chức đấu thầu mua cà phê với mứcgiá sàn, đặc biệt là vào thời điểm thu họach rộ
Colombia là một nước sản xuất cà phê đứng thứ ba trên thế giới (sau Braxin và
Việt Nam) Không giống như những quốc gia khác, tăng sản xuất bằng cách mở rộng diệntích trồng, Colombia tăng sản lượng bằng cách thay thế những vùng trồng cà phê cũ,trồng lại những giống mới có khả năng kháng bệnh và cho năng suất cao hơn cùng với kỹthuật chăm bón hiện đại đã giúp cho cà phê của quốc gia này có chất lượng cao và ổnđịnh Điều đặc biệt của quốc gia này là khí hậu, địa hình rất thuận lợi cho việc sản xuất càphê Arabica, vì vậy họ chỉ sản xuất cà phê Arabica Hầu hết sản lượng cà phê nhân xuấtkhẩu đều được chế biến bằng công nghệ chế biến ướt nên có giá trị cao
Đặc trưng của việc sản xuất cà phê ở quốc gia này là những nông trại hầu hết là của tưnhân, họ tự thu hoạch và chế biến cà phê Một vài nông trại nhỏ bán cà phê tươi nguyên
vỏ cho những hợp tác xã hoặc những nông trại láng giềng, những người khác lại bóc vỏ
và bán cà phê chưa phân loại cho những thương gia hay Liên đoàn cà phê Quốc giaColombia Liên đoàn này điều hành ngành công nghiệp cà phê
2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới
2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Diễn biến thời tiết bất thường đã ảnh hưởng lớn tới sản lượng thu hoạch của nhiều nướcsản xuất chính trên toàn thế giới Ở cấp độ khu vực, thiên tai xảy ra liên tiếp từ động đất,
lở đất đến mưa bão đã gây thiệt hại nhiều cho vụ mùa năm nay Do vậy, sản lượng thócthế giới dự kiến chỉ đạt khoảng 675 triệu tấn (vào khoảng 451 triệu tấn gạo), giảm 1,9%
Trang 12hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam(tương đương với 13 triệu tấn) so với năm 2008 Tuy vậy, mức sản lượng này vẫn đượcxem là mức cao kỷ lục thứ 2 sau vụ mùa bội thu 2008.
Diện tích và sản lượng lúa gạo thế giới 2000-2009
550 600 650 700 750
00 01 02 03 04 05 06 07 08 09
125 135 145 155 165
Sản lượng Diện tích
Nguồn: FAOSTAT
Châu Á là địa bàn cung cấp lúa gạo lớn nhất của thế giới với 609 triệu tấn tuy có giảmhơn năm trước 15 triệu tấn do sự sụt giảm sản lượng của Ấn Độ vì ảnh hưởng của nhữngcơn mưa mùa bất thường, bắt đầu là hạn hán, lượng mưa thấp hơn mức trung bình vàsau đó là mưa xối xả và lũ lụt Năm 2009 sản lượng của nước này ước đạt 128 triệu tấnthóc giảm tới 21 triệu tấn (tương đương 14%) so với năm 2008 Mức cung ở một sốnước cũng thấp hơn như Bănglađét, Đài Loan, Irắc, Nhật Bản, Nêpan, Pakistan, Philipin
và Sri Lanka Ngược lại, bức tranh sản lượng tại các nước như Trung Quốc lục địa,Afghanistan, Cămpuchia, Hàn Quốc, Indonesia, Iran, Lào, Myanmar, Triều Tiên, TháiLan và Việt Nam có phần sáng sủa hơn, chủ yếu nhờ thu nhập từ sản xuất lúa gạo nămnay cao hơn so với những cây trồng khác nên khuyến khích nông dân mở rộng diện tích.Trong khi đó nguồn cung tại châu Phi bị tác động không tốt của yếu tố thời tiết cũngnhư sự cắt giảm diện tích gieo trồng của Ai Cập khiến cho sản lượng thu hoạch năm
2009 giảm khoảng 3% xuống còn 24,6 triệu tấn Hạn hán trên diện rộng dự kiến sẽ làmcho sản lượng tại phía Đông châu Phi đặc biệt là của Tanzania giảm mạnh Tuy nhiên,triển vọng vụ mùa tại phía Tây có phần tươi sáng hơn nhờ những chương trình trợ cấpgiống và phân bón năm trước của nhiều chính phủ Ước tính sản lượng sẽ tăng cao tạicác nước như Ghana, Guinea, Mali, Nigeria và Senegan Các nước thuộc miền Namchâu Phi như Madagascar, Môdămbíc và Dămbia cũng có được những vụ mùa bội thu
Trang 13hai mÆt hµng nµy ë ViÖt NamTrái ngược với tình trạng ảm đạm của châu Á, triển vọng vụ mùa ở các châu lục khácsáng sủa hơn Tại Mỹ Latinh và Carbibe, dự kiến sản lượng thu hoạch năm 2009 sẽ đạtmức 27,4 triệu tấn, tăng gần 4% so với năm trước Tại Nam Mỹ, trừ Guyana, Urugoay
và Venezuela, sản lượng của các nước khác dự kiến tăng cao, nhất là ở Áchentina, Bolivia,Braxin, Côlômbia và Pêru Tuy nhiên, với sự xuất hiện trở lại của El Nino, dự kiến sảnlượng thu hoạch năm 2010 của khu vực này sẽ giảm Trên thực tế, việc gieo cấy vụ mớiđang diễn ra, thời tiết khô hạn và mực nước tại các hồ trữ thấp hơn mức bình quân đã làmgiảm diện tích gieo cấy ở Áchentina, Braxin và Urugoay Tại Bắc Mỹ, dự báo mới nhất chothấy sản lượng của Mỹ tăng 7%, chủ yếu là tăng sản lượng gạo hạt vừa Tại châu Âu, ướctính sản lượng thu hoạch của Liên minh châu Âu (EU) và Nga tăng cao và được xem là vụmùa bội thu nhất trong 1 thập niên qua Tại châu Đại Dương, sản lượng cũng tăng cao ởÔxtrâylia Tuy vậy, triển vọng vụ mùa 2010 không mấy khả quan do lượng mưa trong mùađông ở những vùng sản xuất lớn thấp hơn mức bình quân
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng gạo tăng cao ở một
số nước, gồm ba nhà sản xuất chủ chốt là Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan Sảnlượng gạo Trung Quốc niên vụ 2009/10 dự báo tăng 1 triệu tấn lên 137 triệu tấn Đây làmức sản lượng cao nhất của nước này kể từ niên vụ 1999/2000 nhờ năng suất dự kiếnđạt mức cao kỷ lục mặc dù diện tích thực tế giảm Diện tích lúa tăng là nguyên nhân chủyếu giúp tăng sản lượng gạo Thái Lan niên vụ 2009/10 lên 20,5 triệu tấn Giá gạo nộiđịa cao và chương trình trợ giá kéo dài của Chính phủ Thái Lan đã khuyến khích nôngdân trồng nhiều lúa hơn Tổng diện tích lúa của Thái Lan ước đạt kỷ lục 10,9 triệu ha.Sản lượng gạo Philippin dự báo giảm 100.000 tấn xuống còn 10,3 triệu tấn, do bị ảnhhưởng nặng nề bởi các cơn bão lớn Sản lượng gạo Triều Tiên dự báo giảm 110.000 tấnxuống còn 1,7 triệu tấn do đầu tư kém và thời tiết xấu
Trang 14hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam
do tốc độ tăng dân số của thế giới và vì thế dự kiến sẽ giữ vững mức bình quân tiêu thụđầu người khoảng 57,3kg/người/năm
Theo những số liệu dự báo mới đây, sản lượng gạo thế giới năm 2009 có khả năng sẽ thấphơn lượng gạo tiêu dùng trong năm 2010 khoảng 3 triệu tấn Do đó, lượng gạo tồn khochuyển sang năm sau dự kiến sẽ chỉ đạt 121 triệu tấn, thấp hơn mức 124 triệu tấn của năm
2009 Tuy nhiên, mức dự trữ này vẫn tương đối cao so với con số bình quân 110 triệu tấngiai đoạn 2002-2009 Góp phần cho sự suy giảm mạnh này là Ấn Độ Dự kiến, để bù đắpkhoảng cách giữa sản xuất và tiêu dùng, Ấn Độ sẽ lấy hơn 9 triệu tấn từ các kho dự trữ Vìthế, lượng gạo dự trữ chuyển sang năm 2010 của nước này sẽ vào khoảng 12 triệu tấn, thấphơn mức 21 triệu tấn của năm trước Các nước như Bănglađét, Ai Cập, Myanmar, Philipin
và Việt Nam dự kiến cũng giảm lượng gạo trong các kho dự trữ Ngược lại, nhờ sản lượngthu hoạch cao trong năm 2009 nên dự kiến lượng gạo dự trữ của Trung Quốc, Côlômbia,Indonesia, Mali, Hàn Quốc và Mỹ sẽ tăng cao Tương tự, với lượng gạo nhập khẩu nhiều
dự kiến lượng gạo trong các kho dự trữ của Braxin, Liên minh châu Âu, Ả rập Xê út vàcác nước Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất sẽ tăng đáng kể
Với con số dự kiến 121 triệu tấn gạo dự trữ, tỷ lệ dự trữ - tiêu dùng của thế giới vàokhoảng 20,5% trong năm 2010, thấp hơn so với năm 2009 nhưng vẫn duy trì tình hình anninh lương thực thế giới ở mức cao Tuy nhiên, lượng tồn kho giảm dự kiến sẽ có ảnhhưởng lớn tới nhóm 5 nước xuất khẩu gạo chính (Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan, Việt Nam
và Mỹ) Tỷ lệ dự trữ - tiêu dùng ở nhóm nước này sẽ giảm mạnh từ 21% năm 2009 xuống14% năm 2010 - mức thấp nhất kể từ năm 2005 trở lại đây Điều này cho thấy thị trườnggạo thế giới năm 2010 có dấu hiệu khan hiếm
Tỷ lệ dự trữ - tiêu dùng của thế giới 1999/2000-2009/10
Trang 15hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam
Theo FAO, thương mại gạo thế giới năm 2010 dự kiến đạt 31,2 triệu tấn, tăng 2,7% tương đươngvới 800.000 tấn so với mức đạt được của năm 2009 và cao hơn so với con số dự kiến đưa ra hồitháng 6 do lượng nhập khẩu nhiều hơn của một số nước Nếu đạt được con số này, thương mạigạo của năm tới sẽ đạt mức cao kỷ lục thứ 2 sau năm 2007 Mức tăng phần lớn do nhu cầu nhậpkhẩu lớn ở châu Á, ước đạt 14,8 triệu tấn, tăng gần 7% so với năm ngoái Nhu cầu nhập khẩu củanhững nước cận Đông như Irắc, Ả Rập Xê-út và các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất cũng tăngnhanh trong khi thương mại gạo của Iran có xu thế giảm do nguồn cung trong nước lớn và dothuế đánh vào loại gạo basmati mới tăng gần đây Những nước viễn Đông như Bănglađét, Nêpan
và đặc biệt là Philipin dự kiến sẽ tăng cường nhập khẩu để bù đắp lại phần thiệt hại do thiên taigây ra Ước tính Philipin sẽ nhập khoảng 2,3 triệu tấn gạo trong năm tới, tăng 28% so với năm
2009 này, trong đó hơn 2 triệu tấn đã đấu thầu xong trong năm nay và sẽ tiến hành giao nhận vàonăm sau Lượng gạo nhập khẩu của Ấn Độ dự kiến sẽ chỉ ở mức 100.000 tấn do giá thế giới caohơn so với giá trong nước và một phần là do chính phủ nước này có thể lấy bớt gạo từ các kho dựtrữ lúa gạo và lúa mỳ lớn của quốc gia bù đắp lại phần suy giảm sản lượng trong năm 2009.Trong khi đó, triển vọng vụ mùa tốt nên nhu cầu nhập khẩu của các nước thuộc châu Phi, nhất làGuinea, Mali, Môdămbíc và Senegal dự kiến giảm khoảng 3% Tại Mỹ Latinh và các nước thuộc
Trang 16hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Namvùng Caribe, dự kiến nhập khẩu gạo sẽ tăng nhẹ, chẳng hạn như Braxin và Mêhicô, do sản lượngthu hoạch thấp cùng với sự tăng giá của đồng nội tệ Trong khi các nước như Côlômbia, Cuba vàPeru nhập khẩu gạo ước tính giảm Lượng gạo nhập khẩu của EU dự kiến tăng khoảng 100.000tấn lên 1,3 triệu tấn trong năm 2010 đưa khu vực này lên vị trí thứ 3 trong thương mại gạo sauPhilipin và Nigeria, ngang bằng với Ả rập Xê út.
Xuất khẩu gạo của một số nước lớn Nhập khẩu gạo phân theo khu vực
Châu Á Châu Phi Châu Âu Châu Mỹ
dự kiến cũng sẽ thấp hơn so với năm 2009 do những điều kiện thị trường khắt khe hơntrong năm tới
2.4 Biến động giá
Sau một vài tháng suy giảm mạnh, giá gạo thế giới đã phục hồi trở lại từ tháng 11 saunhững tuyên bố của Philipin cho biết tổ chức đấu thầu mua khoảng 2 triệu tấn gạo từ cácnước Thị trường cũng được cải thiện bởi những thông tin cho biết chính phủ Ấn Độ tìmmua một vài tấn gạo từ các nước xuất khẩu chính nhằm đảm bảo an ninh lương thực Mặc
dù chưa thể khẳng định việc Ấn Độ có thâm nhập thị trường thế giới và thu mua khốilượng lớn hay không nhưng những tin đồn này đã phần nào giúp giá gạo thế giới vượt qua
Trang 17hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Namđược thời kỳ ảm đạm Xu thế tăng giá được thể hiện ở loại gạo chất lượng thấp hơn Indica
- loại gạo Philipin đang mua Chỉ trong tháng 10-11, chỉ số giá của loại gạo này đã tăng14% Gạo Indica 25% tấm, FOB Việt Nam chào bán với giá 433 USD/tấn trong tháng11/09, tăng mạnh so với 360 USD/tấn của tháng 10 Các loại gạo khác cũng theo đà tăngcao, khoảng 7-10% so với những tháng trước
Chỉ số giá gạo FAO (2002-2004 = 100)
Trang 18hai mÆt hµng nµy ë ViÖt NamHiện nay, gạo xuất khẩu của Việt Nam đang được chào bán ở mức 530-540 USD/tấn, caohơn so với những tháng trước từ 100-120 USD/tấn Mặc dù vậy, giá vẫn thấp hơn khoảng
70 USD/tấn so với gạo Thái nên có ưu thế cạnh tranh hơn
Giá gạo hạt dài xuất khẩu của Mỹ tiếp tục tăng cao Loại gạo miền Nam chất lượng cao(gạo số 2, 4% tấm), đóng gói được chào bán với giá 562 USD/tấn, tăng 33 USD so vớiquý 3/09 và được xem là mức giá cao nhất kể từ đầu tháng 2/09 Hiện nay, gạo xuất khẩucủa Mỹ chào với giá thấp hơn gạo Thái khoảng 34 USD Trong khi đó, gạo hạt vừaCalifornia gần như không biến động nhiều Giá bán trên thị trường nội địa tuần đầu tháng12/09 vào khoảng 816 USD/tấn không đổi so với cùng kỳ tháng trước Giá chào xuất khẩugiảm khoảng 20% so với tháng 8/09
Giá gạo thế giới tăng do nhu cầu mua lớn từ Philipin Nguồn: FAS - USDA
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
GẠO, CÀ PHÊ VIỆT NAM
I THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU GẠO VÀ CÀ PHÊ VIỆT NAM
1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê của Việt Nam
1.1 Sản xuất
a Diện tích gieo trồng cà phê
Nước ta có khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi cho cây cà phê 70% diện tích cà phê ViệtNam được trồng trên vùng đất đỏ bazan có độ phì nhiêu cao, tầng dày, tơi xốp Mặc dù,
Trang 19hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Namkhí hậu Việt Nam tuy có mùa khô hơi khắc nghiệt nhưng do giải quyết tốt công tác thủylợi nên điều này là không đáng kể Ngành cà phê đã có những bước phát triển vượt bậcnhanh chóng, khoảng nửa triệu ha cà phê được trồng trong 15 năm
Bảng 1.6: Diện tích gieo trồng cà phê Việt Nam
ĐVT: Diện tích: 1.000 ha; tỷ lệ tăng, giảm: %
(Nguồn: Tổng Công Ty Cà Phê Việt Nam)
Diện tích giảm từ 500-450 ngàn ha năm 2001-2003, cụ thể, năm 2002 diện tích giảm0,04% so với năm 2001 và 2003 giảm 0,06% so với 2002, do ngành cà phê thế giới rơivào giai đoạn khủng hoảng thừa Giá cà phê giảm đến mức kỷ lục vào 2001, 2002 Điềunày đã đẩy người dân trồng cà phê đối mặt với cảnh nghèo, nợ nần, thậm chí có trườnghợp phá sản Người dân bỏ mặc diện tích cà phê không chăm sóc, có nơi họ lại chặt bỏvườn cây cà phê và thay thế bằng loại cây trồng khác Trước tình hình rớt giá kỳ lục do sựkhủng hoảng thừa này, ban lãnh đạo ngành cà phê Việt Nam đã chủ trương không mởrộng diện tích gieo trồng mà thay thế một phần diện tích này bằng các cây trồng có giá trịkinh tế cao khác như: cao su, tiêu, điều,…
Mặc dù, giá cà phê đã được khôi phục và đạt ở mức cao nhất năm 2007 nhưng diện tíchvẫn được duy trì ở mức 450 ngàn ha bởi vì đây là mức hợp lý nhất hiện nay nhằm tránhgiai đoạn khủng hoảng thừa lặp lại như trong lịch sử Hiện nay (năm 2007), diện tích 450ngàn ha và năm 2008 diện tích vẫn là 450 ngàn ha
b Giống cà phê Việt Nam
Việt Nam trồng hai loại cà phê chính là cà phê vối (cà phê Robusta) và cà phê chè (cà phêArabica) nhưng chủ yếu là cà phê vối, với 90% sản lượng và tỷ lệ xuất khẩu lên đến 97%.Dưới đây là một số chỉ tiêu so sánh hai lọai giống cà phê Arabica và Robusta:
Chỉ tiêu Giống cà phê Arabica Giống cà phê Robusta
Trang 20hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam-Giá trị xuất khẩu cho 1
tấn
-Yêu cầu thâm canh
-Yêu cầu tưới nước
-Yêu cầu phân bón
- Nhiều định kỳ
Nhận xét:
- Mật độ cây trồng cà phê Arabica cũng như năng suất cao hơn nhiều so với cà phêRobusta
- Các yêu cầu kỹ thuật canh tác nhìn chung là tương đương
- Cà phê Arabica có giá trị kinh tế cao hơn cà phê Robusta 1.5 lần
Cà phê vối (cà phê Robusta) được trồng ở Việt Nam chủ yếu là vùng Tây Nguyên(Đaklak, Gia Lai, Lâm Đồng) và Đồng Nai… , chất lượng cà phê Robusta có hương vịriêng so với các nước khác trên thế giới
Cà phê chè (cà phê Arabica) có sản lượng rất thấp (xấp xỉ 5%), được trồng tập trung ởcác khu vực từ miền Bắc Trung Bộ (Cao Bằng, Lạng Sơn) có khí hậu và ở độ cao thíchhợp cho năng suất và chất lượng tốt Hiện nay, ở khu vực tỉnh Bình Phước và Lâm Đồng
đã trồng được cà phê Arabica nhưng số lượng còn rất ít
Năng suất thu hoạch bình quân dao động khoảng 1,5-2,5 tấn/ha Tuy nhiên, có sự chênhlệch năng suất giữa các vùng tương đối lớn: vùng cho năng suất cao đạt đến mức 4 tấn/ha,trong khi có vùng năng suất thấp khoảng 1-1,5 tấn/ha
c Sản lượng cà phê
Bảng 1.7: Sản lượng cà phê Việt Nam
ĐVT: Sản lượng: 1.000 tấn; tỷ lệ tăng, giảm: %
Trang 21hai mÆt hµng nµy ë ViÖt Nam Mặc dù, với diện tích không đổi nhưng sản lượng cà phê qua các năm đều tăng, cụ thể2003-2007, diện tích 450 ngàn ha, sản lượng 720-975 ngàn tấn, dự kiến năm 2008 đạt1.150 ngàn tấn; tốc độ tăng 2007 là 0,15% so với 2006, 2008 là 0,18% so với 2007 Sỡ dĩ,ngành cà phê Việt Nam đạt được điều này là do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Giá xuất khẩu phục hồi và đang ở mức cao Đây chính là điều kiện đầu tiên và rất quantrọng giúp người dân trồng cà phê phấn khích hơn
- Do chú trọng đầu tư thâm canh nên cà phê Việt Nam có năng suất và sản lượng cao hơn
- Kinh nghiệm sản xuất của người dân đã được nâng tầm từ khâu gieo trồng đến khâu thuhoạch và bảo quản cà phê
d Chế biến và bảo quản cà phê
Chế biến cà phê
Hiện nay, ngành cà phê đang sử dụng hai phương pháp chính để chế biến cà phê nhân là
“phương pháp chế biến khô” và “phương pháp chế biến ướt”
- Phương pháp chế biến khô: sau khi thu hoạch đem phơi cả quả trên sân, không qua khâu
sát tươi
- Phương pháp chế biến ướt: gồm sát tươi loại bỏ phần thịt sau lên men hay sát bỏ lớp vỏ
nhớt bám ở xung quanh vỏ trấu, ngâm rửa rồi đem phơi
Ngoài ra, còn có phương pháp trung gian là nửa khô, nửa ướt Đặc điểm của phương phápnày là cà phê đem sát tươi còn lẫn cả vỏ quả đem phơi không qua công đoạn lên men vàngâm rửa
Ở Việt Nam hiện nay chủ yếu chế biến cà phê nhân theo phương pháp khô Theo ướclượng, khả năng chế biến công nghiệp đáp ứng được từ 300.000 tấn đến 350.000 tấn càphê xuất khẩu, còn lại là các cơ sở chế biến lẻ, nông dân tự chế biến bằng các phươngpháp thủ công
Bảo quản cà phê
Hiện nay, ở Việt Nam khâu bảo quản cà phê chưa được quan tâm đúng mức Một mặt, là dokhông đủ cơ sở vật chất, kho bãi để lưu trữ cà phê ; mặt khác, quan trọng hơn đó là do thóiquen Thực tế, cà phê sau khi hái về bị ủ đóng, khi phơi lại phơi tầng dày và được bảo quảnkhi độ ẩm còn cao hơn mức cho phép (cao hơn 14%) (độ ẩm cà phê tối đa có thể chấp nhận