Tiểu luận Kinh tế quốc tế: Quá trình hình thành, đặc điểm các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Hà Nội và giải pháp phát triển.Trong những năm qua, đầu tư phát triển trong KCN trên các khu vực ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, thu hút khối lượng lớn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng thu nhập quốc dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế… trong đó ở khu vực Hà Nội được đánh giá là vùng đạt được thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, đầu tư phát triển các KCN ở Hà Nội vẫn còn nhiều hạn chế từ khâu xây dựng quy hoạch cho đầu tư phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút đầu tư vào KCN cũng như cơ chế chính sách quản lý, thu hút đầu tư. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng đầu tư phát triển trong các KCN ở Hà Nội là hết sức cần thiết. Mục đích nghiên cứu của đề tàiĐề tài phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư phát triển trong các KCN ở Khu vực Hà Nội, giai đoạn từ năm 2005 2009, phân tích những kết quả đạt được cũng như những hạn chế để từ đó đưa ra những giải pháp để tiếp tục phát huy những thành tựu đạt được và khắc phục những mặt còn hạn chế.Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, đề tài gồm 3 chương:CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤTCHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT Ở HÀ NỘICHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT Ở HÀ NỘI
Trang 1MỞ ĐẦU
Sự cần thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện CNH, các nước đang phát triển như nước ta do xuất phátđiểm thấp, từ nền nông nghiệp lạc hậu thì cần phát triển công nghiệp ở những khu vựcnhất định để tận dụng lợi thế so sánh của từng vùng cũng như phân bố các nguồn lực sảnxuất một cách phù hợp, đảm bảo sự phát triển hài hoà, bền vững của vùng và quốc gia.Nước ta đã có các chính sách phát triển vùng, trong đó vùng kinh tế trọng điểm là một nộidung quan trọng được quan tâm 3 VKTTĐ của nước ta là VKTTĐ Bắc Bộ, VKTTĐmiền Trung và VKTTĐ phía Nam Các VKTTĐ có vai trò là động lực phát triển, có tácdụng lan tỏa sự phát triển tới các vùng khác trên khắp cả nước Vì vậy cần có chính sáchđầu tư phát triển VKTTĐ, trong đó đầu tư phát triển KCN là một tất yếu
Hầu hết các nước đang phát triển đều phát triển công nghiệp tập trung vào nhữngđịa điểm nhất định thông qua việc phát triển các KCN Để phát triển KCN, Nhà nước phảitập trung xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, xây dựng cơ chế chínhsách thông thoáng để thu hút vốn đầu tư, đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanhcũng như nhu cầu tìm kiếm việc làm của người lao động, bên cạnh đó cũng định hướngđào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế
Ở Việt Nam, đầu tư phát triển các KCN đã được khởi xướng từ Đại hội đảng VInăm 1986 Các Nghị quyết của Đại hội Đảng lần VIII năm 1996 càng xác định rõ hợp tầmquan trọng của việc đầu tư phát triển các KCN và chỉ rõ phương hướng phát triển trongthời gian tới
Trong những năm qua, đầu tư phát triển trong KCN trên các khu vực ở nước ta đãđạt được những thành tựu to lớn, thu hút khối lượng lớn vốn đầu tư trong nước và nướcngoài, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùngtrong nước và xuất khẩu, tăng thu nhập quốc dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế… trong đó ởkhu vực Hà Nội được đánh giá là vùng đạt được thành tựu đáng kể Tuy nhiên, đầu tưphát triển các KCN ở Hà Nội vẫn còn nhiều hạn chế từ khâu xây dựng quy hoạch cho đầu
tư phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút đầu tư vào KCN cũng như cơ chế chính sáchquản lý, thu hút đầu tư
Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng đầu tư phát triển trong các KCN ở Hà Nội là hết
sức cần thiết Do vậy, nhóm 12 lựa chọn đề tài “Quá trình hình thành, đặc điểm các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Hà Nội và giải pháp phát triển” để làm đề tài của nhóm.
Trang 2Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư phát triển trong các KCN ở Khu vực
Hà Nội, giai đoạn từ năm 2005 - 2009, phân tích những kết quả đạt được cũng như nhữnghạn chế để từ đó đưa ra những giải pháp để tiếp tục phát huy những thành tựu đạt được vàkhắc phục những mặt còn hạn chế
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng đầu tư phát triển các KCN ở Khu vực HàNội, giai đoạn từ năm 2005 - 2009, đầu tư phát triển hạ tầng trong hàng rào KCN, đầu tưphát triển sản xuất kinh doanh trong các KCN Đề tài cũng phân tích kinh nghiệm pháttriển KCN ở Malaysia để rút ra những bài học cho đầu tư phát triển KCN ở Khu vực HàNội Trên cơ sở những lý luận chung, thực trạng đầu tư phát triển đề tài cũng đưa ra một
số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển vào các KCN ở Khu vực Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: tổng hợp và phân tích hệ thống; mô tả, so sánh để nghiêncứu, thống kê và xử lý số liệu
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đền đề tài
KCN là một mô hình phát triển công nghiệp tập trung được đánh giá là khá thànhcông ở nhiều nước trong đó có nước ta trong quá trình CNH, HĐH, vì vậy KCN đượcnhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu Các vấn đề được nghiên cứu gồm
mô hình KCN, quản lý nhà nước đối với KCN, thu hút FDI vào KCN Một số tác giả vàcông trình như:
- Nguyễn Xuân Trình, năm 1994, “Một số vấn đề về quản lý nhà nước đối vớiKCX ở Việt Nam”, luận án tiến sỹ kinh tế, Viện Kinh tế học, Trung tâm Khoa học
Xã hội và Nhân văn Quốc gia
- Trần Hồng Kỳ, năm 2008, “Phát triển Khu công nghiệp, khu chế xuất gắn vớihình thành, phát triển công nghiệp: kinh nghiệm của một số nước Châu Á và vậndụng vào Việt Nam”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới
Kết cấu của dề tài: “Quá trình hình thành, đặc điểm các KCN, KCX ở Hà Nội và giải pháp phát triển” Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, đề tài gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, KHUCHẾ XUẤT
Trang 3CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHUCÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT Ở HÀ NỘI
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯPHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT Ở HÀ NỘI
Trang 4CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT
1.1 MỘT SỐ VẤN DỀ VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT
1.1.1 Khái niệm Khu công nghiệp, Khu chế xuất
KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệpcông nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống
KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen vớinhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi,giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở về thực chất mô hình này là khu hành chính –
kinh tế, mô hình này đã tồn tại ở một số nước đặc biệt như KCN Bát Tam, In-đô-nê-xi-a,
công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu
Ở Việt Nam, theo Nghị định 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1997, KCN là “khu tậptrung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ chosản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chínhphủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệpchế xuất”
KCX cũng là một dạng KCN KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thựchiện dịch vụ sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới xác định Hàngxuất khẩu sản xuất trong KCX có đặc điểm là đứng ngoài chế độ mậu dịch và thuế quancủa nước thành lập với những điều kiện và yếu tố thuận lợi về mặt pháp lý, quản lý và kỹthuật hạ tầng trên một địa bàn hạn chế để thu hút đầu tư của các nước phát triển, đặc biệt
là công ty xuyên quốc gia
Theo Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1997, “KCX là khu chuyên sảnxuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuấtkhẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủtướng Chính phủ quyết định thành lập Định nghĩa này được xem là giống với định nghĩacủa UNIDO
Mô hình KCX có hạn chế là không được tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nội địanên không hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vì hàng hoá được sản xuất ra phải xuấtkhẩu 100% ra thị trường quốc tế, nếu tiêu thụ ở thị trường nội địa thì phải nộp thuế nhậpkhẩu và các loại thuế khác liên quan tương tự như các hàng hoá nhập khẩu khác và phảituân theo những quy định nhất định về thủ tục hải quan tuỳ theo quy định của mỗi nước.Việc đầu tư vào các KCX còn kém hấp dẫn vì hàng hoá sản xuất ra phải chịu sự cạnh
Trang 5tranh của các nước khác Hàng hoá sản xuất tại các KCX có thuận lợi về chi phí nhâncông, chi phí vận chuyển nhưng lại phải trạnh canh với hàng hoá của các nước trong khuvực được sản xuất với giá thành hạ hơn vì họ có công nghệ tiên tiến, chi phí khấu haothấp hơn do họ đã đi trước một thời gian dài.
Trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽthì mô hình KCX ngày càng tỏ ra kém linh hoạt vì nhà đầu tư phải xuất khẩu toàn bộ sảnphẩm, hơn nữa tác dụng lan toả vào nền kinh tế trong nước thấp Vì vậy, mô hình KCXdần dần bị thay thế bởi mô hình KCN
Sau đây, KCN và KCX được gọi chung là KCN
1.1.2 Vai trò của Khu công nghiệp
Vai trò KCN được xem xét trên góc độ chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư
Đối với nhà đầu tư, khi đầu tư trong các KCN giúp giảm chi phí sản xuất vì hoạtđộng trong KCN được hưởng những ưu đãi riêng của Nhà nước đối với KCN và đượchưởng lợi từ những công trình hạ tầng kỹ thuật sẵn có như hệ thống điện, nước, viễnthông…cho hoạt động đầu tư Bên cạnh đó, các KCN thường được xây dựng ở những vịtrí thuận lợi về giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cungứng nguyên vật liệu cũng như tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp Những điều kiện đógiúp cho việc đầu tư trong KCN đạt được lợi nhuận tối đa do chi phí đầu tư thấp, tăng sứccạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường Hơn nữa, các KCN được xây dựng theo quyhoạch tổng thể về kinh tế xã hội, tại những địa điểm thuận lợi cho việc giao lưu, vậnchuyển hàng hóa và hành khách…nên sẽ tạo địa bàn hoạt động và thực hiện chiến lượcphát triển lâu dài cho chủ đầu tư Xét riêng đối các nhà đầu tư nước ngoài, thì đầu tư vàoKCN còn giúp nhà đầu tư tiếp cận với thị trường trong nước và thị trường khu vực
Đối với nước thành lập, đầu tư phát triển KCN là phương pháp để:
- Thu hút vốn đầu tư để phát triển theo quy hoạch, là mục tiêu quan trọng nhất củađầu tư phát triển KCN Với tính chất là “vùng lãnh thổ” hoạt động theo một cơ chế chínhsách ưu đãi riêng trong môi trường đầu tư chung của cả nước, KCN là một công cụ hữuhiệu thu hút đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là thu hút FDI vào hoạt động sản xuấtkinh doanh trong KCN, tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên đầu tư phát triển KCN phải tuânthủ theo quy hoạch được duyệt, tránh tình trạng đầu tư đầu tư phân tán, dàn trải gây lãngphí vốn, tài nguyên đất và ảnh hưởng đến môi trường
- Mở rộng hoạt động ngoại thương: với những ưu đãi vượt trội về cơ chế chínhsách quản lý cũng như cơ sở hạ tầng, đầu tư trong KCN giảm được chi phí, nâng cao tính
Trang 6cạnh tranh của sản phẩm, đặc biệt thu hút đầu tư nước ngoài với công nghệ cao cũng làmtăng tính cạnh tranh của sản phẩm; vị trí địa lý thuận lợi của KCN cũng làm giảm chi phívận chuyển hàng hóa cho hàng hoá
- Tạo việc làm cho người lao động: Trong khi giá nhân công ở các nước phát triểnrất cao thì ở các nước đang phát triển nguồn nhân lực vừa dồi dào lại vừa rẻ, xuất hiệnnhiều tình trạng dư thừa lao động Điều đó khiến các nhà đầu tư lựa chọn nguồn lao độngdồi dào ở các nước đang phát triển
- Kế thừa khoa học kỹ thuât, công nghệ tiên tiến, học tập kinh nghiệm quản lý củacác nhà đầu tư nước ngoài và thử nghiệm các chính sách mới: để tránh tụt hậu về kinh tế,tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế thì các nướcđang phát triển bằng cách này hay cách khác phải nhanh chóng phát triển khoa học côngnghệ, nâng cao năng lực quản lý Thu hút đầu tư nước ngoài là một biện pháp hữu hiệu đểđạt được mục tiêu trên Theo sự phân công và hợp tác sản xuất thì các nhà sản xuất trongnước và nước ngoài sẽ hợp tác với nhau trong việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa
- Là cầu nối hội nhập nền kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, thúc đẩy pháttriển kinh tế trong nước, phát huy tác dụng lan toả, dẫn dắt của KCN
- Tạo động lực cho phát triển vùng, phát triển đô thị công nghiệp, phân bố lựclượng sản xuất hợp lý, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá Đầu tưphát triển sản xuất trong KCN tăng năng lực sản xuất công nghiệp, tăng tỷ trọng ngànhcông nghiệp; tạo việc làm, thu hút lao động từ ngành nông nghiệp sang…làm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH
1.1.3 Nội dung đầu tư phát triển KCN
* Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KCN
Để phát triển công nghiệp thì đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để kết nối, giao lưugiữa các địa phương, các vùng, các quốc gia nhằm vận chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa
Trang 7Đầu tư cơ sở hạ tầng xã hội là hệ thống nhà ở, bệnh viện, trường học, khu vui chơi,giải trí, trung tâm thương mại, chợ để đảm bảo cho cuộc sống của người lao động làmviệc tại các KCN Quá trình đầu tư phát triển các KCN sẽ có tác động lan toả đến sự pháttriển về kinh tế xã hội của vùng, tạo nên hiện tượng di dân và tập trung lao động ở nhữngvùng tập trung các KCN Vì vậy, đầu tư cơ sở hạ tầng xã hội là quan trọng để đảm bảocho cuộc sống của người lao động làm việc trong các KCN.
Đầu tư cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN và đâu tư cơ sở xã hội là những nội dungrộng, trong phạm vi luận án không nghiên cứu mà chỉ xem như những nhân tố ảnh hưởng
* Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp
Đầu tư cơ sở hạ tầng KCN nhằm mục tiêu thu hút đầu tư phát triển sản xuất kinhdoanh trong KCN, đây mới là mục tiêu chính của đầut tư phát triển KCN
Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong KCN là việc các doanh nghiệp trongnước và nước ngoài thuê đất trong KCN của các doanh nghiệp phát triển hạ tầng, xâydựng nhà xưởng, lắp đặt máy móc thiết bị để tiến hành sản xuất kinh doanh sản phẩm vàdịch vụ
Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong KCN gồm đầu tư trong nước và đầu tưnước ngoài, có vai trò quan trọng trong tạo vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, tăngnăng lực sản xuất kinh doanh xã hội, tăng năng lực sản xuất hàng hoá, tăng xuất khẩu, tạoviệc làm, tăng thu nhập người lao động, đóng góp vào ngân sách…
1.2 MỘT SỐ NHÂN TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP
1.2.1 Một số nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng khu công nghiệp
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KCN chịu ảnh hưởng của các nhân tố: vị trí địa lý,
cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào và giá thuê đất, chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng
* Vị trí địa lý: vị trí địa lý là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng KCN Ở những vị trí gần cầu, cảng, đường giao thông, sân bay sẽ làđiều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, vận chuyển hành khách, nguyên vật liệu, hàng hóa
và do đó dễ thu hút đầu tư vào KCN, dễ cho thuê đất, nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển
hạ tầng KCN Những vị trí nằm gần nguồn cung ứng lao động, đặc biệt nguồn lao độngchất lượng tốt, giá rẻ là một lợi thế cho đầu tư phát triển Chất lượng lao động là yếu tốảnh hưởng đến tất cả các khâu, các giai đoạn của qúa trình đầu tư phát triển, do đó ảnhhưởng đến kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển Nước ta nói chung và khu
Trang 8vực Hà Nội nói riêng, là nơi có nguồn lao động dồi dào, chất lượng lao động tốt vì ngườilao động nước ta nói chung có đặc điểm là cần cù, chịu khó, sáng tạo, có trình độ, giánhân công nước ta khá thấp so với các nước trong khu vực Điều đó làm giảm chi phí hoạtđộng của doanh nghiệp mà lại đảm bảo được kết quả và hiệu quả của công cuộc đầu tư.Đây là một lợi thế của nước ta với các nước trong khu vực trong việc thu hút đầu tư, đặcbiệt là đầu tư nước ngoài.
Những vị trí gần nguồn nguyên liệu, gần trung tâm đô thị lớn sẽ thuận lợi cho việccung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho hoạt động của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởngđến khả năng thu hút vốn đầu tư vào KCN, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả của việc đầu tưphát triển hạ tầng KCN Ngoài ra ở những vị trí thuận lợi cho việc cung cấp nguyên vậtliệu xây dựng cũng là một thuận lợi cho việc đầu tư phát triển các KCN
Bên cạnh đó, những vị trí có quy hoạch rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ổnđịnh lâu dài của hoạt động đầu tư và do đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng KCN
* Cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào: Cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào ảnh hưởng rất
lớn đến việc phát triển KCN, không chỉ ảnh hưởng đến việc vận chuyển nguyên vật liệucho xây dựng KCN mà còn ảnh hưởng đến khả năng giao lưu của doanh nghiệp hoạt độngtrong KCN nên ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư vào KCN, ảnh hưởng đến khảnăng thu hồi vốn của đầu tư phát triển KCN
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN thường đòi hỏi một lượng vốnlớn, thời gian thu hồi vốn chậm, lợi nhuận thấp nên không hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân
mà thông thường do nhà nước đảm nhận Một số KCN đã xây dựng cơ sở hạ tầng và thuhút đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhưng phải mất hàng năm, tốn nhiều công sức liên hệ,kiến nghị lên các cơ quan nhà nước và thậm chí nhiều trường hợp doanh nghiệp phát triển
hạ tầng phải tự bỏ tiền để xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN, công việc đáng lẽ
là của các cơ quan nhà nước có liên quan thực hiện Sự chậm trễ trong việc quy hoạchhoặc đã có quy hoạch nhưng chậm thực hiện quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng ngoàihàng rào KCN đã làm giảm tính hấp dẫn của việc đầu tư vào trong các KCN
* Giá đất, chi phí đền bù, giải tỏa, san lấp mặt bằng
Muốn có mặt bằng để xây dựng KCN, chủ đầu tư phải đền bù cho phần đất xâydựng KCN theo giá đất mà nhà nước quy đinh, bên cạnh đó, còn có rất nhiều khoản chiphí khác theo thỏa thuận giữa chủ đầu tư và người dân như chi phí hỗ trợ di dời, chi phí
hỗ trợ định cư, tìm việc làm…, chi phí thủ tục giấy tờ…., khi những chi phí này cao thìbuộc chủ đầu tư phải cho thuê lại hạ tầng KCN với giá cao, do đó sẽ ảnh hưởng đến khả
Trang 9năng cho thuê đất Không chỉ chi phí bằng tiền mà ở những vùng khó đền bù, giải tỏa mặtbằng thì chủ đầu tư còn mất chi phí về thời gian , ảnh hưởng đến các cơ hội thu hút đầu tưvào KCN, ảnh hưởng khả năng thu hồi vốn.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp
Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong KCN chịu ảnh hưởng bởi một số nhân
tố như: cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN, giá thuê đất trong KCN và môitrường đầu tư trong KCN
* Cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN: như đã phân tích ở trên, cơ sở hạ
tầng ngoài hàng rào KCN ảnh hưởng đến khả năng giao lưu, vận chuyển hành khách,hàng hóa, nguyên vật liệu nên ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp KCN, do đóảnh hưởng đến thu hút đầu tư trong KCN Cơ sở hạ tầng trong hàng rào ảnh hưởng đếnchi phí đầu tư, thời gian chuẩn bị đầu tư, khả năng cung cấp dịch vụ cho sản xuất kinhdoanh của chủ đầu tư Đối với các KCN đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng, nhà đầu tư khilàm xong thủ tục thuê đất sẽ triển khai xây dựng nhà xưởng, lắp đặt máy móc thiết bị đểtiến hành sản xuất kinh doanh mà không tốn thời gian chờ đền bù, giải phóng mặt bằng,không phải bỏ tiền để xây dựng đường trong KCN…nên tiết kiệm được chi phí
* Giá thuê đất trong KCN: khi hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN, doanh
nghiệp phải bỏ ra không chỉ chi phí xây dựng nhà xưởng, máy móc thiết bị…mà chi phíthuê đất cũng là một khoảng đáng kể trong tổng chi phí của doanh nghiệp Giá thuê đấtcao sẽ làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp và do đó giảm khả năng sinh lời.Ngược lại, giá thuê đất thấp sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư
* Môi trường đầu tư:
Môi trường đầu tư ảnh hưởng rất lớn đến thu hút đầu tư trong KCN Các KCN với
hệ thống chính sách ưu đãi đầu tư như hệ thống các chính sách thuế…sẽ là một thuận lợihấp dẫn các nhà đầu tư Năng lực quản lý của chính quyền địa phương, sự giản đơn củacác thủ tục hành chính, sự trong sạch của bộ máy chính quyền ảnh hưởng đến chi phí vềthời gian và tiền bạc của nhà đầu tư nên cũng ảnh hưởng tới khả năng thu hút đầu tư
Phong tục tập quán của địa phương nơi có các KCN cũng ảnh hưởng tới quyết địnhđầu tư của các nhà đầu tư Vì lao động địa phương chiếm một phần không nhỏ trong cácdoanh nghiệp KCN vì vậy phong tục tập quán ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của cácdoanh nghiệp KCN
Trang 101.3 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP
1.3.1 Chỉ tiêu thu hút vốn đầu tư
- Chỉ tiêu vốn đầu tư đăng ký: là tổng vốn đầu tư đăng ký vào một hay một sốKCN nhất định trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường là 01 năm
- Chỉ tiêu vốn đầu tư thực hiện: là tổng số tiền đã chi để tiến hành đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng KCN như chi phí đền bù, san lấp mặt bằng, chia lô…và đầu tư sản xuất kinhdoanh trong KCN như xây dựng nhà xưởng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và cácchi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán và được ghi trong dự án đầu tư đượcduyệt
- Tỷ lệ tư thực hiện/vốn đăng ký: phán ánh bao nhiêu đơn vị vốn thực hiện trên 100đơn vị vốn đăng ký
1.3.2 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp trong KCN
- Tổng giá trị xuất khẩu: Là tổng giá trị xuất khẩu tính bằng triệu USD hoặc tỷđồng của các doanh nghiệp KCN trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường là
01 năm
- Chỉ tiêu này nhìn chung càng cao càng tốt, nó phản ánh khả năng xuất khẩu haynăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, vị thế của thương hiệu cũng như đất nước trên thịtrường thế giới
- Tổng giá trị nhập khẩu: là tổng giá tri nhập khẩu của các doanh nghiệp KCNtrong một khoảng thời gian nhất định, thông thường là 01 năm
- Các doanh nghiệp KCN thường nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ từ nướcngoài do đó chỉ tiêu này phần nào phản ánh mức độ thu hút công nghệ từ nước ngoài vàotrong nước
- Nộp ngân sách Nhà nước: là tổng nộp Ngân sách của các doanh nghiệp KCN,như nộp các khoản thuế, phí…
Trang 11- Thu ngân sách là một trong những mục tiêu quan trọng của Nhà nước, đặc biệt làcác khoảng thu từ thuế, vì vậy nhìn chung chỉ số này nhìn chung càng cao càng tốt.
1.3.3 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng đất khu công nghiệp
- Vốn đầu tư/ha: là chỉ tiêu phản ánh lượng vốn đầu tư trung bình của một diện tíchđất KCN tại một thời điểm nhất định
Công thức tính:
Vốn đầu tư/ha =
Đơn vị tính: triệu USD/ha hoặc tỷ đồng/ha
Chỉ tiêu vốn đầu tư/ha càng lớn càng tốt, nó phản ánh khả năng thu hút vốn đầu tư
và khả năng sử dụng đất càng cao Vốn đầu tư càng lớn thì càng có khả năng đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng, mua sắm máy móc thiết bị, đặc biệt là đầu tư dây chuyền công ghệhiện đại Tuy nhiên, hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư mới là yếu tố quyết định đến sựthành công của công cuộc đầu tư Nếu khối lượng vốn lớn, sẽ cho chỉ tiêu vốn đầu tư /hacao, nhưng nếu sử dụng vốn sai mục đích, lãng phí vốn thì chỉ tiêu này dù cao cũng không
Trang 12KCN, chỉ tiêu này sẽ phản ánh chính xác hơn mức độ sử dụng lao động trí thức và laođộng tay nghề Tuy nhiên, với một nước có lực lượng lao động dồi dào như nước ta, trình
độ lao động ở mức phổ thông chiếm đa số thì cũng thu hút nhiều dự án sử dụng nhiều laođộng nên chỉ số này nhìn chung cao là hợp lý,
- Doanh thu, lợi nhuận/ha: là chỉ tiêu phản ánh doanh thu hoặc lợi nhuận bình quân
mà các doanh nghiệp KCN tạo ra trong 1 thời gian nhất định, thường là một năm, trênmột đơn vị diện tích đất KCN
Công thức tính:
Doanh thu, lợi nhuận/ha =
Đơn vị tính: tỷ đồng/ha hoặc triệu USD/ha
Doanh thu, lợi nhuân/ha càng cao càng phản ánh hiệu quả sử dụng đất trong KCN.Lợi nhuân cao là mục tiêu mà bất cứ nhà đầu tư nào cũng mong muốn, muốn vậy, họ phảitiết kiệm chi phí đầu vào, trong đó có tiết kiệm chi phí sử dụng đất, do đó nâng cao hiệuquả sử dụng đất Đây là chỉ số đang quan tâm vì nó phản ánh hiệu quả hoạt động cuốicùng của doanh nghiệp
1.4 KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KCN Ở MALAYSIA
1.4.1 Kinh nghiệm đầu tư phát triển KCN của Malaysia
Ma-lai-xi-a bắt đầu thực hiện công nghiệp hoá từ năm 1986, bằng cách phát triểncác KCN, Ma-lai-xi-a hi vọng ngăn chặn sự tự phát phát triển các cơ sở công nghiệp,giảm chi phí về cơ sở hạ tầng đối với các KCN mới Ma-lai-xi-a được đánh giá là tươngđối thành công trong việc chuyển các cơ sở công nghiệp từ trong các đô thị ra các vùngbán đô thị và nông thôn Thứ nhất Ma-lai-xi-a thành lập KCN ở gần các thành phố chính
Trang 13để khuyến khích việc di chuyển các ngành sản xuất ở vùng thung lũng Klang và các trungtâm đô thị có mật độ công nghiệp cao vào các vùng kém phát triển, đặc biệt là các bangven biển phía tây Ma-lai-xi-a thực hiện các chính sách ưu đãi về thuế như miễn, giảmthuế và xây dựng các KCN, khu thương mại tự do đã được sử trở thành công cụ thực hiệnchính sách này Thứ hai, Ma-lai-xi-a xúc tiến phát triển các đô thị hoặc trung tâm côngnghiệp Tập trung công nghiệp trở thành công cụ thúc đẩy các bang nghèo nhờ việc toàndụng các nguồn lực của địa phương, sử dụng lớn lao động thất nghiệp, thúc đẩy việc pháttriển cơ sở hạ tầng, cộng đồng và tăng cường sự liên kết vật chất giữa các vùng Về lâudài các trung tâm phát triển này sẽ hình thành các đô thị và thúc đẩy đô thị hoá.
Nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung và phát triển KCN nói riêng, xi-a đầu tư mạnh vào xây dựng cơ sở hạ tầng bao gồm (i) hệ thống giao thông đường bộ,đường sắt, đường biển và đường hàng không được xây dựng theo quy hoạch thuận tiệncho việc lưu thông và phát triển kinh tế hiện tại cũng như lâu dài
Ma-lai-Ngoài việc xây dựng cơ sở hạ tầng chung, Ma-lai-xi-a còn xây dựng các KCN với
hạ tầng sẵn có Ban đầu, các KCN chủ yếu tập trung ở khu vực gần các thành phố và doNhà nước thực hiện, sau đó, số lượng các KCN tăng nhanh chóng kể cả những bang kémphát triển lân cận và Nhà nước khuyến khích tư nhân cùng tham gia xây dựng, phát triểncác KCN Đến cuối năm 2002, Ma-lai-xi-a đã thành lập được 222 KCN với tổng diện tíchquy hoạch hơn 32.500 ha, nổi trội có các KCN với diện tích lớn như: KCN TạnungLángat với hơn 1800 ha ở bang Johor, KCN Kuala Baram – 1564 ha ở bang Sarawak,KCN Telok Kalong -1429 ha ở bang Terengganu
Ma-lai-xi-a chủ trương phát triển KCN ở 15 bang:
Bang Johor là bang có vị trí thuận lợi cho phát triển công nghiệp do gần cảng, gầnXinh-ga-po, In-đô-nê-xi-a với 34 KCN được thành lập và co diện tích hơn 5500 ha và 4KCN thành lập mới với diện tích gần 700 ha Các KCN phần lớn tập trung gần đường caotốc, đường sắt, sân bay, hải cảng và thành phố, tập trung nhiều ở khu vực đối diện vớiSing-ga-po Với những thuân lợi trên, các KCN Johor đều đã được phát triển hạ tầng hếtdiện tích và đã cho thuê được gần 60% diện tích đất
Bang Pahang thành lập được 15 KCN với tổng diện tích gần 6250 ha, là bang cótổng diện tích KCN lớn nhất nước Tuy nhiên tỷ lệ diện tích đất đã phát triển hạ tầng mớiđạt khoảng 40% và diện tích đất có thể cho thuê mới đạt khoảng gần 2300 ha trong đó tỷ
lệ diện tích đất đã cho thuê đạt khá cao khoảng 81% (1.870ha)
Bang Selangor gần Kualalumpur, có số KCN chỉ đứng sau bang Johor với 28 KCNchiếm tổng diện tích hơn 3850 ha trong đó diện tích đất đã cho thuê là 2657ha, chiếm
Trang 1489% diện tích đất có thể cho thuê Trong khi đó, ở Kualalumpur chỉ có 8 KCN nhở chiếmdiện tích 133 ha, qua đó cho thấy Ma-lai-xi-a không chủ trương phát triển nhiều KCN vàKCN với quy mô lớn tại thủ đô.
Tiếp đến là bang Terengganu, khá phát triển với 21 KCN có tổng diện tích là 3800
ha, trong đó diện tích đã phát triển hạ tầng là 3550 ha và diện tích đất có thể cho thuê là
3000 ha Chỉ tính đến năm 2002 thì diện tích đất có thể cho thuê đã đạt 2657 ha, chiếmgần 89% diện tích đất có thể cho thuê
Ở các bang khác, các KCN được thành lập nhưng với quy mô không lớn
Bảng 1.2 : Số lượng và diện tích KCN đã thành lập ở Ma-lai-xi-a đến hết năm 2002
Nguồn: trang Web của cơ quan đầu tư Malaysia
Bên cạnh phát triển KCN theo các bang, thì các KCN ở Ma-lai-xi-a được bố trí tậptrung phát triển dọc theo các trục đường cao tốc xuyên quốc gia hoặc các đường giaothông chính Các KCN được xây dựng ở các khu vực ven biển, nơi có điều kiện thuận lợi
về giao thông như gần hải cảng, sân bay, đường cao tốc xuyên quốc gia và các khu vực có
Trang 15vị trí thuận lợi cho tiếp cận thị trường trong nước và nước ngoài như khu vực biên giớivới Thái Lan, Singapore.
Ma-lai-xi-a đã đầu tư các công trình hạ tầng như điện, năng lượng, cấp thoát nước,viễn thông, đường giao thông, sân bay, cảng điều này đòi hỏi một lượng vốn lớn mà tưnhân khó có thể đảm đương nổi nên Nhà nước đã phải bỏ ra một lượng vốn lớn để đầu tư.Sau khi các công trình phát huy tác dụng tốt, có khả năng thu hồi vốn và có lợi nhuận thìhuy động nguồn vốn từ khu vực tư nhân tham gia
Bên cạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng thì Ma-lai-xi-a cùng ban hành các chínhsách ưu đãi đầu tư trong KCN
Trong giai đoạn 1999-2003, đầu tư nước ngoài vào các KCN đạt được là 78,2 tỷ
RM (tương đương 20,6 tỷ USD), chiếm 63% tổng vốn đầu tư vào các ngành sản xuất củaMa-lai-xi-a; đầu tư trong nước khoảng 45,1 tỷ RM (tương đương khoảng 11,9 tỷ USD)chiếm 37% tổng vốn đầu tư vào khu vực sản xuất trong KCN đã đóng góp tương ứng là30% và 80% vào GDP và xuất khẩu của Ma-lai-xi-a Các KCN đã có ảnh hưởng tích cựcđến việc cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, tạo ra một lượng hàng hoá lớn,tăng chất lượng sản phẩm, đến phát triển kinh tế vùng nhưng chưa có sự liên kết với côngnghiệp địa phương do có sự khác nhau về trình độ phát triển trong và ngoài KCN Sự pháttriển của KCN cũng dẫn tới hiện tượng di cư lao động từ khu vực nông thôn có thu nhậpthấp đến vùng tập trung KCN và tái định cư tại vùng này, kéo theo sự gia tăng về nhu cầunhà ở nên đã hình thành các khu nhà ở và khu dân cư
Bên cạnh đó, sự phát triển các ngành công nghiệp cũng gây ô nhiễm môi trườngnhư không khí, nguồn nước, cây cối, rừng Vì vậy, Ma-lai-xi-a gần đây đã rất quan tâmđến vần đề này như tạo lập môi trường công nghiệp, môi trường sống cho cộng đồng đápứng được yêu cầu về môi trường sinh thái bằng cách trồng các vùng cây xanh, ban hànhcác tiêu chuẩn môi trường để khống chế ô nhiễm môi trường từ các cơ sở công nghiệp
1.4.2 Một số bài học kinh nghiệm cho đầu tư phát triển các khu công nghiệp ở khu vực Hà Nội
Qua phân tích trên ta rút ra được một số bài học kinh nghiệm từ việc đầu tư pháttriển các KCN ở Ma-lai-xi-a
- Chia thành các vùng kinh tế để chủ trương đầu tư phát triển KCN Tạo hành langphát triển trong chiến lược đầu tư phát triển KCN của mình và hợp tác với các nước trongkhu vực để phát triển, phát triển các KCN theo các bang có điều kiện thuận lợi và phùhợp
Trang 16- Nhà nước tập trung vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản để tạo hấp dẫn chocác KCN, đồng thời khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư phát triển hạ tầng KCN nhằmtạo cực phát triển.
- Bên cạnh xây dưng các KCN lớn, xây dựng cùng các cơ sở hạ tầng xã hội để đápứng nhu cầu người lao động
- Xây dựng chính sách ưu đãi cho đầu tư phát triển trong các KCN như các chínhsách thuế…và cơ chế quản lý thông thoáng Xây dựng chế độ ưu đãi đầu tư vào các KCNtheo từng vùng, đặc biệt ưu đãi ở những khu vực có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn
- KCN được xây dựng ở những vị trí thuận lợi về giao thông vận tải, cung cấp laođộng, tiêu thụ sản phẩm và có khả năng tạo trọng tâm cho phát triển kinh tế của vùng
- Việc xây dựng KCN gắn với việc kiểm soát chặt chẽ với xây dựng và bảo vệ môitrường Hạn chế đầu tư phát triển trong các KCN ở các thành phố lớn để tránh ô nhiễmmôi trường cũng như sự phát triển quá tải ở các khu vực này
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT Ở HÀ NỘI 2.1 Khái quát về vị trí địa lý và tình hình phát triển kinh tế của Hà Nội
Hà Nội nằm ở Trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng với diện tích 3.324,92 km2gồm 1 thị xã, 10 quận và 18 huyện với số dân năm 2009 là 6.448.837 người Hà Nội có vịtrí chính trị quan trọng, có ưu thế đặc biệt so với cả nước Hệ thống giao thông thuận lợi
để Hà Nội tiếp nhận kịp thời các thông tin, thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới, thamgia vào quá trình phân công lao động quốc tế, khu vực và cùng hội nhập vào quá trìnhphát triển của khu vực
Thời gian, Hà Nội đã đạt được nhiều thành tự quan trọng trong các lĩnh vữ nhưkinh tế, văn hóa, hệ thống cơ sở hạ tầng được cải thiện một cách đáng kể, đặc biệt là cácKCN đóng góp vào sự tăng trưởng của thủ đô Sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp đãphát huy và khai thác tốt những lợi thế sẵn có về năng lực, nguồn nhiên liệu trong nước.Nhiều cơ sở sản xuất được đổi mới công nghệ, nhiều sản phẩm mới có chất lượng cao vàxuất khẩu tương đối lớn Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đạt mức 25-26%,đây là mứcvẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của Hà Nội Trước tình hình như vậy, đểđẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp và nâng cao hiệu quả sản xuất công nghiệp làyêu cầu cấp thiết đối với thành phố trong những năm tới
Các mục tiêu cần đạt:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đảm bảo tăng trưởng GDP là 10 – 11%
Trang 17- Tăng tỷ lệ GDP công nghiệp mở rộng trong GDP lên 41 – 42% năm 2010, giữvững ổng định cơ cấu của ngành công nghiệp trong GDP của thành phố trong quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng bình quân về giá trị sản xuất công nghiệp 5 năm ( 2006 2010) là 9,5 – 10%
Nâng cao tỷ trọng các ngành công nghiệp chủ lực lên 83% năm 2010 trong tổngGDP công nghiệp
- Kim ngạch xuất khẩu tăng 16 – 18% đóng góp 80 – 83% tổng kim ngạch xuấtkhẩu của thành phố
- Thu hút 30 – 40% lao động xã hội, năng suất lao động tăng khoảng 2,4 lần so vớihiện nay
- Đóng góp vào tổng thu ngân sách Nhà nước 27 – 30%
2.2 Tình hình đầu tư phát triển vào các khu công nghiệp của Việt Nam
2.2.1 Tình hình phát triển
Từ ngày 24/09/1991 ủy ban hợp tác và đầu tư (nay là bộ Kế hoạch và đầu tư) đượcThủ tướng Chính phủ ủy nhiệm cấp giấy phép số 245 thành lập khu chế xuất đầu tiên vớiquy mô 300ha đất tại Tân Thuận Đông, huyện Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh, đến hết 12/2001trên địa bàn cả nước đã có 69 dự án KCN, KCX được hình thành phát triển hoặc đượcChính phủ cấp phép thành lập đang trong quá trình triển khai, giải phóng mặt bằng, xâydựng hạ tầng Trong số đó có 65 KCN tập trung, 3 KCX,1 khu công nghệ cao với tổngdiện tích lên tới 10.500 ha bình quân KCN có diện tích 160 ha Các khu công nghiệp đượchình thành tại 27 tỉnh thành trong đó các tỉnh miền Bắc là 15 KCN, miền Trung có 13KCN
Về loại hình, có 16 KCN hình thành trên cơ sở đã có một số doanh nghiệp côngnghiệp đang hoạt động, 10 KCN phục vụ di dời, 22 KCN có quy mô nhỏ ở các tỉnh đồngbằng Bắc Bộ, duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long, 21 KCN mới đượcxây dựng quy mô khá lớn, trong đó có 13 KCN có hợp tác với nước ngoài để thu hút vốnvào phát triển cơ sở hạ tầng
2.2.2 Những đóng góp của mô hình khu công nghiệp tập trung ở Việt Nam
Tính đến thời điểm năm 2000 đã có 914 doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạtđộng trong các khu công nghiệp với tổng vốn kinh doanh đăng ký là 7,8 tỷ USD, Trong
đó cs 596 doanh nghiệp nước ngoài thuộc 24 quốc gia và vùng lãnh thể trên thế giới, có
Trang 18tổng vốn đầu tư đăng ký là 6,4 tỷ USD chiếm 82% tổng vốn đăng ký trong các khu côngnghiệp 345 doanh nghiệp trong nước được cấp giấy phép với tổng vốn đăng ký 18.000 tỷ,chiếm 36% số dự án Số voond thu hút hiện tại khoảng 40% số vốn đăng ký Ngành nghềphát triển kinh doanh trong các KCN gồm có các doanh nghiệp thuộc các ngành CN nhẹ,điện tử, hóa chất, cơ khí chế tạo, luyện thép, dầu khí, chế biến thức ăn gia súc, phân bón,dịch vụ thương mại xuất khẩu,…
Tính đến năm 2009, các KCN đóng góp 27% giá trị sản lượng công nghiệp và 17%giá trị của cả nước, thu hút gần triệu lao động, tạo thêm sức mua thị trường các nướckhoảng 2.000 tỷ đồng/năm Ngay trong các KCN phần lớn các nhà máy có công nghệ tiêntiến, chất lượng sản phẩm cao đã trực tiếp đưa tỷ lệ xuất khẩu của KCN đạt hơn 70%, cácKCN đã thực sự tiếp nhận được một số phương pháp quản lý tiến bộ, kinh nghiệm tổ chứckinh doanh của nhiều nước công nghiệp hàng đầu thế giới
2.3 Khái quát quá trình hình thành và phát triển các KCN tại Hà Nội
2.3.1 Các KCN hình thành trước thời kỳ đổi mới
Trong thời kỳ này, việc hình thành các KCN hay nói đúng hơn là các cụm CN tậptrung bao gồm một số nhà máy và doanh nghiệp quốc doanh trên một số khu vực nhấtđịnh như KCN Thượng Đình (76ha), KCN Cầu Bươi (14ha), Vĩnh Tuy – Minh Khai(81ha)… tạo lên 70% giá trị sản lượng công nghiệp quốc doanh của Thành phố Tuynhiên, việc hình thành các KCN này đã bộc lộ nhiều hạn chế: Đó là tình trạng thiếu quyhoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng không đồng bộ cả trong và ngoài KCN Các KCN chungsống với các khu dân cư đã ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày và đặc biệt là vấn đềgiao thông đô thị
Nguyên nhân là do việc hình thành và phát triển KCN là một vấn đề khá mới mẻlúc đó, do trình độ phát triển kinh tế khoa học kỹ thuật còn thấp cơ chết tập trung quanliêu bao cấp vẫn còn đè nặng lên tư tưởng hoạt động và phát triển kinh tế lúc bấy giờ
2.3.2 Các KCN hình thành sau thời kỳ đổi mới
Sau khi đất nước tiến hành đổi mới năm 1986, Hà Nội bắt đầu cho chiến lược pháttriển công nghiệp của mình Kể từ khi quy chế KCN, KCX được chính phủ ban hành kèmtheo nghị định số 36/CP ngày 2404/1997 đến năm 2000 thì Hà Nội có 05 KCN được cấpgiấy phép hoạt động, đó là các KCN: KCN Sài Đồng B, KCN Nội Bài, KCN Hà Nội –Đài Tư, KCN Daewoo – Halen, KCN Thăng Long với tổng diện tích là 632 ha Hiện nay
đã có gần 20 KCN cơ bản được hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật và thu hút được nhiềunhà đầu tư nước ngoài KCN Thăng Long và Sài Đồng đã được phê duyệt mở rộng vàogiai đoạn 2
Trang 19Bên cạnh các KCN do chính phủ thành lập nhằm giải quyết bức xức của doanhnghiệp trong nước trong về mặt bằng sản xuất Thành phố cũng đã quy hoạch và đầu tưxây dựng các KCN vừa và nhỏ Hiện nay HN đã phát triển gần 10 cụm CN nhỏ như: Cụmcông nghiệp Từ Liêm, Toàn Thắng, Phú Minh –Từ Liêm,…
Tuy mới được hình thành nhưng các KCN của Hà Nội đã thể hiện được vai trò củamình trong việc phát triển công nghiệp của Thành phố Riêng năm 2002 có 50 doanhnghiệp đi vào hoạt động, các doanh nghiệp đã tạo ra giá trị sản lượng bằng 11% tổng giátrị sản lượng công nghiệp trên địa bàn, giá trị xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD
2.4 Tình hình hoạt động và phát triển các khu công nghiệp ở Hà Nội
Với những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng thuận lợi,tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ nhất là khi Hà Nội lại được mở rộng vào năm 2008thì Hà Nội đã hình thành và phát triển hệ thống các KCN với số lượng và diện tích, cơ sở
hạ tầng KCN có nhiều bước phát triển so với các vùng khác trong cả nước
a) Giá trị sản lượng và xuất khẩu của các khu công nghiệp
Thành phố Hà Nội hiện có khoảng gần 20 KCN-CX và khu công nghệ cao đượcThủ tướng chính phủ cho chủ trương thành lập với tổng diện tích gần 3.500ha Trong đó
đã có 8 KCN với tổng diện tích gần 1.200 ha đã đi vào hoạt động với trên 400 dự án,trong đó có 232 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đây là các doanh nghiệp có quy
mô sản xuất lớn, công nghệ hiện đại Vì vậy, mặc dù phải chịu tác động của khủng hoảngtài chính và suy thoái kinh tế quốc tế nhưng trong năm 2009 doanh thu từ sản xuất côngnghiệp của các KCN thành phố vẫn đạt hơn 3,1 tỷ USD, tăng 7,2%, chiếm gần 50% giá trịsản xuất công nghiệp và gần 20% GDP của Thành phố; giá trị xuất khẩu đạt 1,8 tỷ USD,tăng 11%, chiếm 55% kim ngạch xuất khẩu của địa phương; giải quyết việc làm cho gần
10 vạn lao động (tăng 1,2 vạn người) với mức thu nhập bình quân hơn 1,5 triệuđồng/tháng, nộp ngân sách tăng trên 10% Nhiều doanh nghiệp đã tích cực đổi mới côngnghệ, nâng cao năng suất lao động, mở rộng đầu tư nên vẫn giữ được tốc độ tăng trưởngkhá, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động và đóng góp nguồn thu cho ngân sáchlớn Điển hình là các doanh nghiệp: Marumitsu (KCN Quang Minh I) đầu tư thêm 12triệu USD, tăng thêm 800 công nhân; Công ty MHI Acrospale Việt Nam (KCN ThăngLong) khánh thành dây chuyền sản xuất linh kiện máy bay Boeing; Công ty Cheewah(KCN Phú Nghĩa) đầu tư thêm 3 triệu USD tăng thêm 600 công nhân; Công ty Yamaha(KCN Nội Bài) đầu tư thêm 32 triệu USD; Công ty điện tử Hanel (KCN Sài Đồng B) đầu
tư tăng 105 tỷ đồng; Công ty điện tử Meiko (KCN Thạch Thất - Quốc Oai) đưa dâychuyền 1 vào hoạt động Các doanh nghiệp đầu tư mới và mở rộng sản xuất đã tạo thêm
Trang 20hàng vạn việc làm cho người lao động trong và ngoài Thành phố; cung cấp một số lượnghàng hóa công nghiệp, nhu cầu thiết yếu cho sản xuất và đời sống nhân dân, cho xuấtkhẩu.