Lao động và ngôn ngữ ≈ kinh tế và xã hội = những thành tố của một thuộc tính chung nhất khu biệt con người với con vật = văn hoá.. Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, thì xem “văn hóa
Trang 1VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
Mb 0918256422
NỘI DUNG
Nhập đề
Nhập đề : Vă h á và Kin d a h
I Vă h á và Vă hoá hoá d a h n hiệp
I - Loại hìn vă h á và Vă hoá d a h n hiệp Thay lời kết
Thay lời kết : Để xây dựn một Vă hoá d a h n hiệp
Nhập đề:
VĂN HOÁ VÀ KINH DOANH
1 Kinh tế, kinh doanh, văn hóa
F Engels: hai đặc điểm quan trọng nhất khu biệt con người với con vật là lao động
và ngôn ngữ
Lao động = một loại hoạt động – hoạt động kinh tế – nhằm đáp ứng một cách chủ
động những nhu cầu thiết thân nhất của con người
Ngôn ngữ = một loại sản phẩm – sản phẩm tinh thần – nhằm liên kết con người lại
với nhau, tạo nên một xã hội
Lao động và ngôn ngữ ≈ kinh tế và xã hội = những thành tố của một thuộc tính
chung nhất khu biệt con người với con vật = văn hoá Con người, một cách chung nhất,
là một động vật có văn hoá
Hoạt động kinh tế phục vụ cho các nhu cầu của chính bản thân mình
→ mở rộng ra phục vụ cho các nhu cầu của những người khác nhằm kiếm lợi để
gián tiếp phục vụ cho các nhu cầu của riêng mình → kinh doanh
Hình thức kinh doanh kiếm lời cổ xưa nhất là buôn bán (người Do Thái ở Tây Nam Á, người nhà Thương ở Đông Bắc Á) Việc kinh doanh kiếm lời thông qua sản xuất hàng hoá chỉ thực sự nở rộ và phát đạt cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở
phương Tây
‘Doanh nhân’, ‘doanh nghiệp’, ‘kinh doanh’ là những khái niệm chỉ con người, tổ
chức và hoạt động gắn liền với sự ra đời của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường và mục đích kiếm lời Chữ “doanh” 營 trong “doanh nghiệp” = ‘quản lý’; chữ “doanh”贏 trong “doanh lợi” = ‘tiền lời’
Trang 2Kinh doanh là hoạt động đem lại lợi nhuận rất cao Việt Nam có thành ngữ “Một vốn bốn lời” Trung Hoa còn có thành ngữ “Nhất bản vạn lợi” → tham vọng của nhà
doanh nghiệp!
Do mục đích của kinh doanh là kiếm lời → hoạt động kinh doanh thường để lại ấn tượng xấu Trong kinh doanh buôn bán: kiếm lời bằng hàng giả, hàng rởm, lừa đảo, buôn lậu, đầu cơ, trốn thuế Trong kinh doanh sản xuất: kiếm lời bằng cách khai thác bừa bãi tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, bóc lột quá mức tài nguyên con người
→ Trong nhận thức chung của nhiều dân tộc, kinh doanh thường đối lập với văn hoá
2 Vai trò của văn hoá trong kinh doanh
Gần đây, người ta bắt đầu nói nhiều đến vai trò của văn hoá trong kinh doanh
Có hai lý do chính dẫn đến hiện tượng này
1) Lý do khách quan: Trào lưu hội nhập và toàn cầu hoá với tốc độ chóng mặt kéo
theo sự nhất thể hoá về mọi mặt và đe doạ nghiêm trọng sự sinh tồn của các nền văn hoá cùng những bản sắc riêng của mỗi dân tộc → Trên phạm vi toàn thế giới xuất hiện
xu hướng đề cao văn hoá, quay trở về với văn hoá dân tộc để tạo thế cân bằng
2) Lý do chủ quan: Sự thất bại của nhiều tập đoàn kinh doanh lớn do cách hành xử
phi văn hóa, thiếu đạo đức
Tập đoàn Nike bị người tiêu dùng Mỹ tẩy chay do sử dụng lao động trẻ em ở Pakistan vào việc sản xuất bóng dùng trong giải vô địch bóng đá thế giới Việc tẩy chay → cổ phiếu của công ty này giảm từ 76 USD năm 1997 xuống còn 27 USD năm
2000 Công ty phải đưa ra bản Hiến chương về đạo đức đối với các nhà cung ứng ở châu Á
Tập đoàn khổng lồ Daewoo phá sản năm 1999 với số nợ là 75 tỷ USD Chủ tịch và người sáng lập Kim Woo-chung từ một nhân vật huyền thoại sau 6 năm trốn chạy ở nước ngoài đến 14-6-2005 đã bị bắt
Các vụ thảm hoạ về môi trường, nạn rửa tiền, tệ tham nhũng đã cuốn vào vũng bùn biết bao công ty và tập đoàn kinh tế hùng mạnh, biết bao chính khách và cả các ngân hàng
Do vậy, ngày nay các doanh nghiệp thức thời dù muốn làm ăn có uy tín hay chỉ
đơn thuần muốn có uy tín để làm ăn đều phải quan tâm, hoặc chí ít là tỏ ra quan tâm
đến VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP Các hội thảo được tổ chức, các câu lạc bộ được mở
ra, các trung tâm được thành lập
3 Cách hiểu phổ biến về văn hoá doanh nghiệp
Khái niệm văn hoá doanh nghiệp thường được hiểu một cách rất sơ lược, đơn giản
Một số người lý giải khái niệm “văn hoá doanh nghiệp” thông qua cặp quan hệ
“văn hoá trong kinh doanh” và “kinh doanh có văn hoá”
Trong giới nghiên cứu phương Tây phổ biến quan niệm coi “văn hoá doanh
nghiệp” là một dạng của “văn hoá tổ chức” (organizational culture)
“Văn hoá tổ chức”, “văn hoá doanh nghiệp” thường được hiểu là một tập hợp của những biểu hiện hình thức như khẩu hiệu, logo; cách chào hỏi, nói năng; các sinh hoạt
Trang 3văn hoá nghệ thuật trong doanh nghiệp như ca hát, nội san; các truyền thuyết, huyền thoại, tín ngưỡng của doanh nghiệp
Để có một quan niệm đầy đủ về văn hoá doanh nghiệp, cần bắt đầu từ việc tìm hiểu một cách nghiêm túc xem văn hoá là gì?
I- VĂN HOÁ VÀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm "văn hóa"
1.2 Bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa 1.3 Nhận diện “chất văn hoá”
1.4 Khái niệm Văn hoá doanh nghiệp 1.4 Các chức năng của văn hoá và văn hoá doanh nghiệp 1.5 Cấu trúc của văn hoá và văn hoá doanh nghiệp
1.1 Khái niệm "văn hóa"
Văn hoá được hiểu theo rất nhiều cách khác nhau Ở mức chung nhất, có thể phân biệt hai cách hiểu: văn hoá theo nghĩa hẹp và văn hoá theo nghĩa rộng
Xét về phạm vi thì văn hoá theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất với văn hoá tinh hoa Văn hoá tinh hoa là một tiểu văn hoá chứa những giá trị đáp ứng các nhu cầu
bậc cao của con người Quy luật chung là những giá trị đáp ứng các nhu cầu càng xa
những đòi hỏi vật chất, đời thường, nhất thời bao nhiêu thì tính giá trị, tính người càng
cao bấy nhiêu, và do vậy càng mang tính tinh hoa về văn hoá Theo nghĩa này, văn hoá thường được đồng nhất với các loại hình nghệ thuật, văn chương
Xét về hoạt động thì văn hoá theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất với văn hoá ứng xử Theo hướng này, văn hóa thường được hiểu là cách sống, cách nghĩ và cách
đối xử với người xung quanh
Trong khoa học nghiên cứu về văn hoá, văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng Theo
nghĩa này, định nghĩa văn hoá cũng có rất nhiều Chẳng hạn, định nghĩa đầu tiên của E.B.Tylor năm 1871 xem văn hóa là “một phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được” TS Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, thì xem “văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động.”
Dựa vào những định nghĩa đã có, năm 1995 chúng tôi đã đề xuất một định nghĩa văn hoá như sau:
Văn hoá là một hệ thống của các giá trị do con người sáng tạo và tích luỹ qua
quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và xã hội của mình
Định nghĩa này hàm chỉ một hệ toạ độ ba chiều mà trong đó văn hoá tồn tại: con
người là chủ thể văn hoá; môi trường tự nhiên và xã hội là không gian văn hoá; quá
Trang 4trình hoạt động là thời gian văn hoá Việc cụ thể hoá ba thông số của hệ toạ độ này sẽ cho ta những nền văn hoá khác nhau
Định nghĩa này còn chứa đựng bốn đặc trưng thỏa mãn yêu cầu cần và đủ để
phân biệt văn hóa với những khái niệm, hiện tượng có liên quan Đó là Tính hệ thống, Tính giá trị, Tính nhân sinh, và Tính lịch sử Bốn đặc trưng này chính là cơ sở cho
phép nhận diện “chất văn hoá” ở một đối tượng nghiên cứu
1.2 Bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa
1- Tính hệ thống của văn hóa
Mọi sự vật, khái niệm quanh ta tự thân đều là những hệ thống Tuy nhiên, văn hoá như một hệ thống lại quá phức tạp, đến mức tính hoàn chỉnh của nó thường bị che lấp bởi các thành tố bộ phận
Nhiều định nghĩa lâu nay coi văn hóa như phép cộng của những tri thức rời rạc từ nhiều lĩnh vực Định nghĩa văn hóa của E.B Taylor (1871) cũng thuộc loại này: văn hoá = một “phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục…”
Do vậy, cần thiết nhấn mạnh đến TÍNH HỆ THỐNG của văn hóa Cần xem xét mọi giá trị văn hóa trong mối quan hệ mật thiết với nhau Tính hoàn chỉnh cho phép phân biệt một nền văn hoá hoàn chỉnh với một tập hợp rời rạc các giá trị văn hoá
2- Tính giá trị của văn hóa
Song, không phải mọi hệ thống đều là văn hóa mà chỉ có những hệ thống giá trị
mới là văn hóa Văn hóa chỉ chứa cái hữu ích, cái tốt, cái đẹp Nó là thước đo mức độ nhân bản của con người
Cuộc sống là quá trình tìm kiếm các giá trị để thoả mãn các nhu cầu Giá trị là
kết quả thẩm định dương tính của chủ thể đối với đối tượng theo một hoặc một số thang độ nhất định (như “đúng-sai”, “tốt-xấu”, “đẹp-xấu” )
Vạn vật đều có tính hai mặt, đồng thời chứa cả cái giá trị và phi giá trị Ngay cả những hiện tượng tưởng như xấu xa tồi tệ nhất như ma tuý, mại dâm, chiến tranh, chửi nhau cũng có những mặt giá trị của nó Và ngay cả những hiện tượng tưởng như tốt đẹp nhất như thành tựu y học, thuỷ điện cũng có những mặt phi giá trị của nó
Do vậy, giá trị là khái niệm có tính tương đối Nó phụ thuộc vào chủ thể, không gian và thời gian Vì vậy, muốn xác định được giá trị của một sự vật (khái niệm) thì
phải xem xét sự vật (khái niệm) trong bối cảnh “không gian - thời gian - chủ thể” cụ thể, trong mối tương quan giữa mức độ “giá trị” và “phi giá trị” trong nó
Tính giá trị là đặc trưng quan trọng nhất giúp đi sâu vào bản chất của khái niệm văn hóa Nó cho phép phân biệt văn hóa với cái phi văn hóa, vô văn hoá; phân biệt văn hoá thấp với văn hoá cao; phân biệt văn hoá theo nghĩa hẹp và văn hoá theo nghĩa rộng Nhờ tính giá trị, ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời
3- Tính nhân sinh của văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của con người Văn hóa và con người là hai khái niệm không tách rời nhau Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời chính bản thân con người cũng là một sản phẩm của văn hóa
Trang 5Tính nhân sinh tạo ra những khả năng không có sẵn trong bản thân sự vật (hiện tượng) mà được con người gán cho để đáp ứng các nhu cầu của con người, đó là giá trị
biểu trưng Tính nhân sinh kéo theo tính biểu trưng của văn hoá
Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hoá với tự nhiên Văn hóa là sản phẩm trực tiếp của con người và gián tiếp của tự nhiên Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, là một “tự nhiên thứ hai”
4- Tính lịch sử của văn hóa
Tự nhiên được biến thành văn hóa là nhờ có hoạt động xã hội - sáng tạo của con người Nhờ có hoạt động này mà các giá trị được tích lũy và tạo thành văn hoá Bản
thân các hoạt động cũng chính là các giá trị văn hoá Sự tích lũy các giá trị tạo nên đặc
điểm thứ ba của văn hoá là tính lịch sử
Tính lịch sử tạo ra tính ổn định của văn hoá
Tính lịch sử cần để phân biệt văn hóa như cái được tích lũy lâu đời với văn minh
như cái chỉ trình độ phát triển ở một thời điểm nhất định
1.3 Nhận diện “chất văn hoá”
Để nhận diện một đối tượng có phải là văn hoá hay không, cần phải dựa vào định nghĩa văn hoá với bốn đặc trưng nêu trên
Bốn đặc trưng ấy cho phép
ta xem xét đối tượng nghiên cứu
trên hai bình diện: bình diện yếu
được khu biệt với một bên
là Tự Nhiên và bên kia là Văn
Minh
Vă
là nhờ có tính nhân sinh
Thiếu tính nhân sinh, tự nhiên
chưa phải là văn hóa
Văn hóa khu biệt với văn
minh là nhờ có tính lịch sử
Thiếu tính lịch sử, văn minh
cũng chưa phải là văn hoá
Như vậy, đây là sự khu biệt có hay không có chất văn hoá, có hay không có yếu tố văn
hiên, có chất văn hoá vẫn chưa hẳn đã đủ cơ sở để xếp một sự vật (hiện tượng) vào
hoá
Tuy n
văn hoá Vịnh Hạ Long, hòn Vọng Phu, đều có bàn tay và khối óc của con người, chúng đều có tính biểu trưng Nhưng để khu biệt và quyết định xếp đối tượng này vào
tự nhiên, đối tượng kia vào văn hóa, cần so sánh mức độ tỷ lệ giữa “chất con người” và
“chất tự nhiên” trong mỗi đối tượng
Trang 6Văn hoá đứng giữa tự nhiên và văn minh Tính nhân sinh chưa có hoặc quá ít thì
thuộc về tự nhiên Tính nhân sinh (nhân tạo) quá nhiều thì thuộc về văn minh Khi tính nhân sinh có liều lượng thì thuộc về văn hoá
Văn hoá còn phân biệt với văn minh ở tính giá trị, tính dân tộc, đặc trưng khu vực
Thiên về giá trị vật chất
Thiên về giá trị vật chất - kỹ thuật
Có bề dày lịch sử Chỉ trình độ phát triển
Gắn bó nhiều với phương Đông nông nghiệp
Gắn bó nhiều với phương Tây đô thị
b) Bình diện Quan hệ: khu biệt ít-nhiều
Trên bình diện Quan hệ, văn hóa được phân biệt với Tập hợp giá trị và Phản văn hoá
Văn hóa phân biệt với tập hợp giá trị là nhờ có tính hệ thống Một tập hợp giá trị
thiếu tính hệ thống thì vẫn đã thuộc văn hoá rồi, nhưng do rời rạc, không có liên hệ với nhau nên nó chưa trở thành được một đối tượng (một nền) văn hoá riêng biệt
Văn hóa phân biệt với phản văn hoá là nhờ tính giá trị Phản văn hoá không phải là
không có chất văn hoá, không có tính giá trị, mà là ở chỗ tính giá trị của nó có thể bộc
lộ trong một toạ độ văn hoá khác Một sự vật, hiện tượng có thể có giá trị trong hệ toạ
độ này, nhưng lại là phản văn hoá trong một hệ toạ độ khác
Như vậy, việc một tập hợp giá trị, một phản văn hoá có là một (nền) văn hoá hay không là do các mối quan hệ của chúng quyết định
1.4 Khái niệm Văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp không chỉ giới hạn đơn thuần trong phạm trù văn hoá tổ chức, hay trong cặp quan hệ “văn hoá trong kinh doanh” và “kinh doanh có văn hoá”
Văn hoá doanh nghiệp là một tiểu văn hoá (subculture)
Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống của các giá trị do doanh nghiệp sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong mối quan hệ với môi
trường xã hội và tự nhiên của mình
Là một tiểu văn hoá, nó cũng có đầy đủ các đặc trưng và được xác lập trong một
Hệ toạ độ:
Tính hệ thống: cho thấy tính tổ chức của doanh nghiệp, phân biệt một doanh
nghiệp có văn hoá với một doanh nghiệp chỉ có tập hợp giá trị
Tính giá trị: khu biệt một doanh nghiệp có văn hoá với một doanh nghiệp phi văn
hoá Giá trị văn hoá của doanh nghiệp có giá trị nội bộ; giá trị vùng; giá trị quốc gia;
Trang 7giá trị quốc tế Doanh nghiệp càng tôn trọng và theo đuổi những giá trị chung cho những cộng đồng càng rộng lớn bao nhiêu thì vai trò của nó càng lớn bấy nhiêu
Tính nhân sinh: đây là đặc trưng cơ bản về chủ thể cho phép phân biệt văn hoá
doanh nghiệp với các tiểu văn hoá khác Chủ thể văn hoá ở đây không phải con người nói chung, mà là doanh nghiệp như một loại chủ thể văn hoá đặc biệt (bên cạnh văn hoá làng xã, văn hoá đô thị, văn hoá cơ quan ) Đặc biệt vì có doanh nghiệp gia đình; doanh nghiệp vùng; doanh nghiệp dân tộc, quốc gia; lại có cả doanh nghiệp đa/xuyên quốc gia
Tính lịch sử (thời gian văn hoá): Quá trình hoạt động kinh doanh
Không gian văn hoá: Môi trường xã hội: khách hàng, bạn hàng / đối tác Môi trường tự nhiên: nơi tồn tại và hoạt động, nơi cung cấp nguyên liệu
1.4 Các chức năng của văn hoá và Văn hoá doanh nghiệp
Bốn đặc trưng trên là cần và đủ không chỉ cho việc làm căn cứ để định nghĩa văn hoá mà còn để xác định các chức năng của văn hoá và văn hoá doanh nghiệp
Đặc trưng VH Chức năng VH Chức năng VHDN
Tính hệ thống Tổ chức xã hội Tổ chức doanh nghiệp
Tính giá trị Điều chỉnh xã hội Điều chỉnh doanh nghiệp
Tính nhân sinh Giao tiếp Làm cơ sở giao tiếp trong và
ngoài doanh nghiệp Tính lịch sử Giáo dục Giáo dục- đào tạo trong
doanh nghiệp
Là cơ sở cho sự tồn tại ổn định
và bền vững của chủ thể (dân tộc) Làm cơ sở cho sự thành công bền vững của doanh nghiệp
Các đặc trưng và chức năng khác (chức năng nhận thức, chức năng giải trí, v.v.) đều phái sinh từ 4 đặc trưng và chức năng cơ bản này
1.5 Cấu trúc của văn hoá và Văn hoá doanh nghiệp
Định nghĩa văn hoá nêu trên cho phép nhận diện văn hoá, phân biệt văn hoá với những khái niệm có liên quan, nhưng chưa cho ta thấy được các bộ phận cấu thành của
nó
Về mặt cấu trúc, văn hoá có thể xét từ góc độ động thái và tĩnh trạng
* Từ góc độ động thái (dinamique), văn hoá là một hệ thống bao gồm ba thành tố
là giá trị của con người/tổ chức cùng các thuộc tính và năng lực của nó; giá trị của các hoạt động, quan hệ của con người; giá trị của các sản phẩm do con người tạo ra Đó là một bộ ba: chủ thể – hoạt động – sản phẩm
Trong văn hoá doanh nghiệp, đó là một hệ giá trị bộ ba:
GIÁ TRỊ CỦA DOANH NGHIỆP: tổ chức của doanh nghiệp, truyền thống của doanh nghiệp, triết lý và kinh nghiệm của doanh nghiệp, các nhân tài của doanh nghiệp
Trang 8GIÁ TRỊ CỦA HOẠT ĐỘNG:
Để đảm bảo có lời, đặc điểm của hoạt động kinh doanh là phải dự đoán trước được kết quả Hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm tinh thần (như phát minh khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật) mang tính ngẫu nhiên và mơ hồ, không dự đoán trước được (về chi phí thời gian, tiền bạc, kết quả, giá trị ), nên không thuộc phạm trù kinh doanh (phân biệt hoạ sĩ sáng tác và thợ chép tranh)
Các loại hoạt động kinh doanh xét theo công đoạn thì có: đầu tư, sản xuất, tiếp thị,
tư vấn, lưu thông, phân phối, bảo hành; xét theo nhóm loại thì có: sản xuất, thương mại
và dịch vụ Kinh doanh sản xuất và dịch vụ luôn tạo ra giá trị Kinh doanh thương mại đặt hàng hoá vào những hệ toạ độ mới, làm dịch chuyển giá trị, thay đổi giá trị, do vậy cũng tạo ra giá trị Những hoạt động này, mỗi doanh nghiệp có những cách thức riêng, tạo nên những giá trị đặc thù của doanh nghiệp
Trong ba hình thức kinh doanh trên thì thương mại là hình thức hoạt động kiếm lời xuất hiện sớm nhất Cũng bởi vậy mà nói đến kinh doanh người ta thường nghĩ ngay đến thương mại và thường đồng nhất chúng với nhau
GIÁ TRỊ CỦA SẢN PHẨM: sản phẩm của mỗi doanh nghiệp có đặc thù riêng Những hình thức kinh doanh nào càng liên quan nhiều đến con người thì cái đặc thù tạo nên văn hoá riêng này càng rõ nét Sản xuất < Thương mại < Dịch vụ
* Từ góc độ tĩnh trạng (statique), văn hoá là một hệ thống quy định bởi một loại
hình văn hoá nhất định, bao gồm ba thành tố là văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức và văn hoá ứng xử
Văn hoá nhận thức xét theo đối tượng thì bao gồm nhận thức về vũ trụ và nhận thức về con người; còn xét theo mức độ thì bao gồm nhận thức khái quát, nhận thức chuyên sâu và nhận thức cảm tính
Văn hoá tổ chức cộng đồng xét theo đối tượng tổ chức thì bao gồm văn hoá tổ chức đời sống tập thể và văn hoá tổ chức đời sống cá nhân
Văn hoá ứng xử xét theo đối tượng ứng xử thì bao gồm ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội
Trang 9
Trong mỗi thành tố ấy đã có tính đến quan hệ bộ ba: chủ thể – hoạt động – sản phẩm
Đối với doanh nghiệp, cấu trúc văn hoá này được cụ thể hoá như sau:
Nhận thức khái quát Triết lý kinh doanh, đạo đức, trách nhiệm của doanh nghiệp
Nhận thức chuyên sâu Các kinh nghiệm kinh doanh và tri thức nghề
nghiệp mà doanh nghiệp tích luỹ được
Văn hoá
nhận thức
Nhận thức cảm tính Tín ngưỡng (tổ nghề, giỗ tổ ) và những quan
niệm mang tính tín ngưỡng (huyền thoại )
Tổ chức đời sống tập thể Văn hoá quản lý trên mọi mặt hoạt động của
doanh nghiệp Văn hoá
tổ chức
Tổ chức đời sống cá nhân TC đời sống vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại) và
tinh thần (vui chơi, giải trí, thông tin ) Ứng xử với MT xã hội Ứng xử với khách hàng, bạn hàng, đối tác và cộng đồng cư dân nơi cư trú Văn hoá
ứng xử
Ứng xử với MT tự nhiên Ứng xử với MT tự nhiên nơi cư trú, với
nguồn nguyên nhiên liệu
II- LOẠI HÌNH VĂN HOÁ
VÀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP
Con người trong cuộc đời luôn hướng tới hai giá trị thường được xem là cao nhất:
DANH và LỢI Danh là địa vị, Lợi là giàu có Danh là quan trường, Lợi là thương trường Những thái độ khác nhau đối với hai giá trị này tạo nên những nét đặc thù cho
các loại hình văn hóa và văn hóa doanh nghiệp khác nhau
2.1 Phương Đông và phương Tây
Phương Đông và phương Tây như những khái niệmvăn hoá được hình thành trong khu vực cựu lục địa Á-Âu (Eurasia) Phương Đông = Đông Nam; phương Tây = Tây Bắc
TÂY BẮC: Lạnh, khô, băng tuyết, địa hình đơn giản ĐÔNG NAM: Nóng, ẩm, sông nước, địa hình phức tạp
Từ sự khác biệt ban đầu về điều kiện tự nhiên này dẫn đến hàng loạt khác biệt về văn hoá
Phương Tây khởi thuỷ sống bằng chăn nuôi Ngày xưa, người Hy Lạp chỉ nuôi dê
và cừu, ít người làm nghề nông, phần đông lo việc mục súc và hàng hải; người La Mã
thì uống sữa bò, áo quần dệt bằng lông cừu hoặc bằng da thú vật Bộ Luật Salica cho
biết vào đầu thế kỷ VI, người Frăng làm nông nghiệp nhưng vẫn đặc biệt coi trọng chăn nuôi, công xã có bãi chăn nuôi chung
Trang 10PHƯƠNG ĐÔNG PHƯƠNG TÂY Đông – Nam Tây - Bắc
Thương nghiệp Kinh tế
TC xã hội Nông thôn
Công nghiệp Kinh tế
VĂN HOÁ TRỌNG TĨNH VĂN HOÁ TRỌNG ĐỘNG
Trong Hồi ký về cuộc chiến tranh ở Gôlơ, J Cesar viết rằng vào thế kỷ II trCN,
người Giécmanh vẫn sống cuộc đời du mục, đến giữa thế kỷ I trCN, người Giécmanh
đã cấy trồng, song họ “không chí thú với cuộc sống định cư, sau mỗi năm lại chuyển đi nơi khác”
Hai loại hình kinh tế trồng trọt và chăn nuôi này đã để lại dấu ấn rất đậm nét trong truyền thống văn hóa hai khu vực:
Cuộc sống thực vật & trồng trọt Động vật & chăn nuôi
Nghệ thuật Rồng, phượng, rùa hình cây lá Bình nước, con dấu, đồng tiền hình bò, ngựa Tôn giáo Thực vật: cỗ chay Gia súc: người chăn chiên, con chiên
Ngôn ngữ
Tiếng Việt có mấy chục từ chỉ
lúa: mạ, lúa, rạ, rơm; đòng, cốm, thóc, gạo, cám, trấu, tấm, cơm, xôi, cháo, bỏng
Chữ A Latinh & α (alpha) Hylạp đều có nguồn gốc từ hình đầu bò
Văn hóa gốc nông nghiệp sống trong làng xã, đời sống ổn định, nên thiên về tinh thần, trọng Danh hơn Lợi Văn hoá gốc du mục thường xuyên dịch chuyển, đời sống luôn thay đổi, nên thiên về vật chất, trọng Lợi hơn Danh