Giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa danh nghiệp nhà nước
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Phát triển nền kinh tế thống nhất là một trong những yếu tố quyếtđịnh sự ổn định và phát triển của đất nước Đối với một quốc gia, yêu cầucủa sự phát triển luôn luôn đòi hỏi phải có cơ cấu kinh tế hợp lý và một sựquản lý đúng đắn từ Nhà nước Trong tình hình kinh tế nước ta như hiệnnay (chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thịtrường) thì việc cổ phần hoá là một biện pháp đúng đắn để cải thiện tìnhhình, do đứng trước một cơ cấu kinh tế quá ư là cồng kềnh, trì trệ, làm ănkém hiệu quả: hơn 6000 Doanh nghiệp, nhà nước chiếm 88% tổng số vốncủa các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Hiện nay, chúng ta đã tiến hành cổ phần hoá trên toàn quốc, nhưng mới có
55 tỉnh thành là có doanh nghiệp đã cổ phần hoá.Tuy nhiên có nhiều tỉnhcòn có số doanh nghiệp cổ phần hoá quá chậm và quá ít Vì vậy vấn đề đặt
ra là làm thế nào để tốc độ cổ phần hoá nhanh hơn nữa nhưng vẫn hợp lý
Là một sinh viên của khoa Kế hoạch và Phát triển lại được thực tập
ở Phòng xúc tiến và đổi mới Doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Kếhoạch và Đầu tư Đứng trước một vấn đề đặt ra như trên, tôi đã quyết định
chọn đề tài “Giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước”.
Chuyên đề tốt nghiệp của tôi chia làm ba phần:
và đổi mới Doanh nghiệp nhà nước
Cộng với sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của thầy giáo T.S Phạm Ngọc Linh
Trang 2- Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng cổ phần hoá thực chất là tư nhân hoá.
- Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng cổ phần hoá là nhằm xác định chủ sởhữu cụ thể đối với doanh nghiệp
- Nhóm ý kiến khác cho rằng: cổ phần hoá thực chất là làm đa dạnghoá quỳen sở hữu tài sản của doanh nghiệp
Theo văn bản quy phạm pháp luật nước ta, tại điều 1 Thông tư số 50TC/TCDN ngày 30/8/1996 của Bộ Tài chính về việc bán cổ phần và pháthành cổ phần trong việc chuyển 1 số DNNNl thành công ty cổ phần, cổphần hoá được định nghĩa như sau:
“Cổ phần hoá doanh nghiệp là một biện pháp chuyển doanh nghiệp từ
sở hữu Nhà nước sang hình thức sở hữu nhiều thành phần, trong đó tồntại một sở hữu Nhà nước“
1.1.2 Đặc điểm của cổ phần hoá :
- Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ Doanhnghiệp nhà nước sang cổ phần hoá
- Khi đã chuyển sang Công ty cổ phần thì địa vị pháp lý của doanhnghiệp đó hoàn toàn tuân theo quy định của pháp luật về công ty cổ phầnđược pháp luật thông qua ngày 21/12/1990
- Cổ phần hoá là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ sở hữu Nhànước sang sở hữu nhiều thành phần
Trước khi có cổ phần hoá, toàn bộ tài sản Nhà nước thuộc sỡ hữuNhà nước
Trang 3Sau khi cổ phần hoá , công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phiếu,trái phiếu và bán trên thị trường Mọi cá nhân, tổ chức thuộc mọi thànhphần kinh tế có quyền mua hàng hoá đó sẽ trở thành cổ đông sỡ hữu mộtphần tài sản công ty tương ứng với phần vốn góp, đồng thời phải chịutrách nhiệm khoản nợ tương ứng Cổ phần hoá là biện pháp duy trì sở hữuNhà nước đối với tư liệu sả xuất dưới hình thức Cổ phần hoá.
Theo chủ trương của Đảng, chúng ta chỉ cổ phần hoá một số doanhnghiệp Nhà nước mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn, một sốdoanh nghiệp không giữ vị trí then chốt, trọng yếu trong nền kinh tế quốcdân và có khả năng kính doanh có lãi Tuỳ thuộc vào vị trí vai trò của nó,Nhà nước xác định cổ phần cần nắm giữ Chẳng hạn 100% vốn cổ phầnhoặc số cổ phần lớn hơn hai lần số cổ phần của cổ đông lớn nhất trongcông ty là Nhà nước đã toàn quyền kiểm soát công ty Xét về mục tiêu, tínhchất hoạt động của công ty đó vẫn là Doanh nghiệp nhà nước
1.1.3 Phân biệt cổ phần hoá và tư nhân hóa:
Hiện nay khi nhắc đến cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước người tathường nghĩ một cách đơn giản đó là hình thức tư nhân hóa một doanhnghiệp Nhà nước nào đó Nhưng sự thật không phải như vậy Sự nhầm lẫncũng như mơ hồ về thực chất của hình thức cổ phần hoá là nguyên nhântrực tiếp cản trở cải cách thành công các Doanh nghiệp nhà nước Do đóthực hiện thành công cổ phần hoá các Doanh nghiệp nhà nước, vấn đềđầu tiên là phải đi sâu tìm hiểu đầy đủ và nhất trí các khái niệm cổ phầnhoá và tư nhân hoá
Tư nhân hoá có thể hiểu được theo hai nghĩa Theo nghĩa rộng có mộtđịnh nghĩa của Liên Hợp Quốc như sau: “Tư nhân hoá là sự biến đổi tươngquan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một nướctheo hướng ưu tiên thị trường “
Theo cách hiểu này thì toàn bộ những chính sách, luật lệ, thể chế nhằmkhuyến khích, mở rộng và phát triển khu vực kinh tế tư nhân hay các thànhphần kinh tế ngoài quốc doanh, giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vàocác hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, dành cho thị
Trang 4trường vai trò điều tiết thoả đáng qua tự do giá cả… đều có thể coi là hoạtđộng tư nhân hoá.
Hiểu một cách đơn giản hơn, tư nhân hoá là quá trình giảm bớt quyền
sở hữu Nhà nước hoặc sự kiểm soát của Chính phủ trong các Doanhnghiệp nhà nước Tư nhân hoá nhìn chung có thể được thực hiện bằngnhiều cách như:
- Bán cho tư nhân, cho không cán bộ nhân viên hoặc toàn dân ( nhưLiên bang Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc đã làm ): Hai phương pháp này thường
áp dụng cho doanh nghiệp có quy mô nhỏ, các doanh nghiệp đang làm ănthua lỗ hoặc gặp khó khăn
- Bán đấu giá tài sản, bán một phần tài sản thuộc sở hữu Nhà nướccho các thành phần kinh tế khác: thường áp dụng cho doanh nghiệp cóquy mô vừa và lớn, đang làm ăn có lãi cũng có thể đang gặp khó khăn
Cổ phần hoá là hình thức áp dụng cho doanh nghiệp có quy mô nhỏ,vùa vừa hoặc lớn đang kinh doanh có lãi; cho thuê, hợp đồng kế hoạch,thầu khoán, phương thức BOT: áp dụng cho doanh nghiệp chưa muốnchuyển đổi sở hữu
Như vậy theo phân tích trên cổ phần hoá hẹp hơn và chỉ là một phạm trùcủa Tư nhân hoá
1.1.4 Đối tượng của cổ phần hoá.
TRong giai đoạn đầu của cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước,chúng ta chưa thể tiến hành cổ phần hoá hang loạt được Theo NGhị định44/CP Ra ngày 26/6/1998, các doanh nghiệp được chọn cổ phần hoá phảithoả mãn điều kiện sau:
- Doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ
Theo quy định của Nhà nước thì doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ
là doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước < 200 tỷ (đối với doanh nghiệpsản xuất ) và <100 tỷ (đối với doanh nghiệp dịch vụ ) Có chủ trương trên vìtrong giai đoạn đầu của cổ phần hoá , các bước sẽ khó khăn hơn và nếu
có sai xót
Trang 5sẽ làm thất thoát một số vốn lớn của nhà nước hoặc gây ra nhữnghậu quả mà ta không lường trước được.
- Doanh nghiệp không thuộc diện được Nhà nước đầu tư 100% vốn
- Doanh nghiệp đang làm ăn có lãi hoặc trước mắt tuy gặp khó khănnhưng có triển vọng hoạt động tốt
Bản thân doanh nghiệp Nhà nước hiện nay vẫn còn chứa đựng hàngloạt các yếu tố bất cập như: tham ô nghiêm trọng, lãng phí còn nhiều, có lãithì tỷ suất lợi nhuận rất thấp so với doanh nghiệp cùng nghành của cácthành phần kinh tế khác Do đó muốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh và xoá bỏ các tiêu cực khác thì biện pháp quan trọng nhất là phảithay đổi quyền sỡ hữu bằng việc đa dạng hoá sỡ hữu mà trọng tâm là cổphần hoá
1.1.5 Mục tiêu cổ phần hoá :
Mục tiêu to lớn của chương trình cổ phần hoá là chuyển đổi cácDoanh nghiệp nhà nước không mang tính chiến lược có quy mô vừa vànhỏ thành các công ty cổ phần nhằm huy dộng vốn từ cán bộ, công nhânviên của doanh nghiệp nói riêng và các nhà đầu tư nói chung để đổi mớicông nghệ kỹ thuật và phát triển doanh nghiệp Tại điều 1 Nghị định số64/2002/NĐ-CP.có ghi rõ:
- “Cổ phần hoá góp phần nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh củadoanh nghiệp, đồng thời tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sỡ hữutrong đó có đông đảo người lao động, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chếquản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng hiệu quả vốn, tìa sản củaNhà nước và của doanh nghiệp“
- “Huy động vốn của toàn thể xã hội bao gồm: cá nhân, các tổ chứckinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước để đầu tư mới công nghệ, pháttriển doanh nghiệp“
- “Phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của các cổđông; tăng cường sự giám sát của các nhà đầu tư đối với doanh nghiệp;bảo đảm sự hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư vàngười lao động“
Trang 6Như vậy, ngoài mục tiêu thu hút vốn đầu tư, tạo động lực mới thúcđẩy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh doanh nghiệp, chương trình cổphần hoá còn góp phần từng bước cải tiến và nâng cao đời sống xã hội,giúp cho người dân thấy được vai trò của mình trong công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước
1.1.6 Các hình thức cổ phần hoá:
Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một con đường chông gai,một cuộc cách mạng thực sự Bên cạnh đó các điều kiện hết sức thuận lợinhư đường lối, chính sách của Đảng, các cơ hội mới, các kinh nghiệm củabạn bè thế giới…là vô vàn những khó khăn Đó là các tư tưởng cục bộ, bảothủ, ngại khó… Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng không nên đơn giản hoá
và nóng vội trong công cuộc cổ phần hoá Phải cân nhắc rất kỹ lưỡngnhững ưu điểm của cổ phần hoá để đưa ra những quyết định đúng đắn,bới phương thức cổ phần hoá được ví như kim chỉ nam của hành động cổphần hoá
+ Nhược điểm: Tuy nhiên, mỗi đơn vị trực thuộc khi tiến hành cổ phầnhoá riêng lẻ đều cần tiến hành các thủ tục giống nhau khi tiến hành cổphần hoá như thành lập Ban sáng lập, kiểm kê tài sản, định giá doanh
Trang 7nghiệp, xây dựng phương án cổ phần hoá…Do đó chi phí cổ phần hoáđược nhân lên gấp bội, tốn kém vô cùng
- Hình thức 2:
+ Chuyển Doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần duy nhất.+ Ưu điểm: Phương thức này có ưu điểm rất lớn về chi phí cũng nhưkhả năng hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần Các chi phí cổ phầnhoá, chi phí điều hành nhân sự giảm xuống đáng kể vì mọi chí phí củaCông ty đều tập trung về một nơi Bên cạnh đó, các Công ty lớn dễ dàngthu hút những nhà quản trị có khả năng, uy tín Vốn lớn nên có thể đầu tưvào nhiều lĩnh vực, lợi nhuận bình quân tăng lên, đồng thời có thể thay mớicác dây chuyền công nghệ hiện đại, chú trọng chiến lược con người, mởrộng thị trường tiêu thụ, khuyếch trương thanh thế….Đấy là những yếu tố
cơ bản đảm bảo hiệu quả sản xuất kính doanh cho mỗi doanh nghiệp trongnền kinh tế thị trường động như hiện nay
+ Do có quy mô lớn, khối lượng công việc đồ sộ, phức tạp nên ápdụng phương pháp cổ phần hoá này, doanh nghiệp tốn rất nhiều thời gian
1.2 Vai trò của cổ phần hoá:
1.2.1 Sự cần thiết tiến hành cổ phần hoá:
Cổ phần hoá những Doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước khôngcần giữ 100% vốn là một nội dung quan trọng trong qúa trình đổi mới vànâng cao hiệu quả kinh doanh Doanh nghiệp nhà nước Kết quả đạt được
cổ phần hoá về cơ bản là tích cực Qua đó đã giảm bớt được số doanhnghiệp kính doanh kém hiệu quả, hình thành loại hình doanh nghiệp cónhiều hình thức sở hữu, huy động thêm nguồn vốn của xã hội và phát triểnsản xuất kinh doanh, tạo thêm động lực và cơ chế quản lý có hiệu quả,đảm bảo lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động Sự cần thiếtcủa cổ phần hoá đối với các Doanh nghiệp nhà nước bới các lý do sau:
- Công ty cổ phần có khả năng huy động vốn vô hạn: Sự có mặt củaCông ty cổ phần tao điều kiện cho những gia đình, cá nhân chỉ với những
số tiền bé nhỏ không đủ sức hoặc không muốn tự mình đứng ra kínhdoanh sẽ có cơ hội đầu tư một cách thuận lợi và hết sức an toàn Hình
Trang 8thức cổ phần hoá có sức hấp dẫn riêng mà các loại hình thức khác khôngthể có được vì :
+> Việc mua cổ phần đem lại cổ đông lợi tức cổ phần (bằng hoặc caohơn lãi suất ngân hàng)
+> Cổ phần còn hứa hẹn mang đến cho cổ đông một khoản thu nhậpngầm nhờ việc tăng giá trị cổ phiếu được pháp luật bảo vệ
+> Cổ đông có quyền mua cổ phiếu, trái phiếu ưu đãi trươc khi công
ty cổ phần bán chúng rộng rãi cho dân chúng
Chính những lý do trên làm cho công ty cổ phần có sức hấp dẫnriêng, quyền sỡ hữu của cổ đông trở nên cụ thể và hứa hẹn sinh lời cao.Các cá nhân đổ xô đi mua cổ phiếu, trái phiếu thay cho việc gửi tiết kiệm tạicác ngân hang hay các tổ chức tín dụng như trước đây Các nguồn vốn bénhỏ, bị xé lẻ nay được tập trung lại, tạo cho Công ty cổ phần một lượngvốn khổng lồ
- Tính chất xã hội hoá của các Công ty cổ phần là một ưu thế nổi bậthơn các loại hình công ty khác Tính chất xã hội này được thể hiện ởnhững mặt sau: Chủ sở hữu Công ty không phải những người thân hữucủa gia đình hay Nhà nước là một số lượng các cổ đông, đặc biệt bao gồm
cả những người lao động và các nhà quản trị của Công ty
Người kiểm soát hoạt động của Công ty không chỉ là nhóm thiểu sốcác cổ đông mà chủ yếu là thị trường, là cả xã hội Hằng ngày, các thôngtin về tài chính cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty đượccông khai niêm yết tại các Sở giao dịch chứng khoán và trên các phươngtiện thông tin đại chúng Các nhà đầu tư sẽ xem xét cân nhắc, đánh giá đểchọn ra một danh mục đầu tư trong bạt ngàn các thông tin đó, rồi mới đưa
ra các quyết định cuối cùng là có nên đầu tư vào các Công ty đó haykhông
Hình thức Công ty cổ phần góp phần điều động vốn linh hoạt từ lĩnhvực này sang lĩnh vực khác, tạo những sức ép xã hội to lớn buộc các Công
ty phải thay đổi hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trang 9Thời gian tồn tại của các Công ty cổ phần thường dài hơn khả năngđóng góp của các cổ đông Các cổ đông tham gia sỡ hữu công ty có thểgặp khó khăn về sức khoẻ, tài chính, pháp luật…thì vẫn có thể nhượngbán, di chúc lại cho người khác…Nhờ ưu thế đó mà Công ty cổ phần vẫnhoạt động bình thường và hoàn toàn chủ động trong sản xuất kinh doanh.
- Công ty cổ phần có các ưu điểm nổi bật:
Công ty cổ phần là loại công ty tiên tiến nhất, có trình độ cao nhất ưuviệt nhất Băng chứng là sự đóng góp to lớn của nó trong sự phát triển kinh
tế văn hoá xã hội của quốc gia trong nền kinh tế thị trường, mà trước đókhông một hình thái kinh tế nào sánh kịp:
+> Công ty cổ phần tạo ra một chế độ phân bố rủi ro đặc thù
+> Các cổ đông tham gia sở hữu Công ty cổ phần và chỉ chịu tráchnhiệm cũng như quyền lợi trong phạm vi vốn góp Với một số lượng lớn
cổ đông tham gia thì khi có biến cố vỡ nợ hay kinh doanh thua lỗ thì rủi
ro sẽ được phân tán, tránh những ghánh nặng đè lên vai một hoặc mộtvài cá nhân, ngăn chặn những hành vi tiêu cực có tác dụng xấu hơn vớicộng đồng
- Cổ phần hoá tạo điều kiện cho người lao động thực sự làm chủdoanh nghiệp
Một trong những vấn đề vướng mắc mà các Doanh nghiệp nhà nướcthường gặp là việc giải quyết quyền làm chủ người lao động Chúng tachưa có những chính sách, cơ chế cụ thể để người lao động thực sự làmchủ về kinh tế Từ đó quyền làm chủ mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc, khẩuhiệu chứ chưa đi vào thực chất
Với việc cổ phần hoá các Doanh nghiệp nhà nước, tất cả các cán bộcông nhân viên trong doanh nghiệp đều có thể tham gia mua cổ phiếu công
ty Họ trở thành người chủ thực sự của doanh nghiệp, có quyền bỏ phiếu
và tham gia bầu cử vào Hội đồng quản trị Họ cống hiến cho Công ty cũngchính vì lợi ích của họ, điều này sẽ kích thích sự sáng tạo và niềm say mêtrong công việc, đảm bảo kết quả mỹ mãn nhất
Trang 10- Cổ phần hoá tác động tích cực đến việc cải tiến híệu quả hơn: Trước đâygiám đốc là người quản lý và điều hành mọi hoạt động trong Doanh nghiệpnhà nước, do Nhà nước bổ nhiệm và hoàn toàn ngoại phạm trước vậnmệnh của doanh nghiệp Chính căn bệnh vô chủ đó đã gặm nhấm và pháhuỷ các Doanh nghiệp nhà nước Khi tiến hành cổ phần hoá, cấu trúc trongdoanh nghiệp được hoàn toàn cách tân Nay chủ nhân của doanh nghiệp
đã hoàn toàn được xác định, đó là Hội động quản trị, bao gồm các cổ đông
sở hữu phần lớn cổ phần của Công ty, là cơ quan quyền lực tối cao quyếtđịnh mọi hoạt động của Công ty và phải chịu trách nhiệm về hiệu quả vốn,hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với tất cả cổ đông góp vốn Họ làm việc
để bảo vệ chính quyền lợi bản thân họ, những người có tỷ lệ vốn góp caonhất nên việc không ngừng cải tiến kỹ thuật, phương pháp công nghệ cũngnhư tận dụng thủ thuật trong kinh doanh nhằm tối đa hoá giá trị tài sảncông ty là một tất yếu Chính cơ chế này cho phép tìm và thay thế một nhàquản trị tài giỏi hơn Đấy là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển đi lêncủa các Công ty cổ phần trong nền kinh tế hiện đại
1.2.2 Các điều kiện để tiến hành cổ phần hoá
- Điều kiện về kinh tế
Như đã nói, các Doanh nghiệp nhà nước dù muốn hay không muốn cổphần hoá đều thuộc đối tượng quy hoạch của Chính phủ Và để tiến hành
cổ phần hoá phải có những yếu tố nhất định hứa hẹn và đảm bảo cổ phầnhoá thành công Trong các yếu tố đó, điều kiện kinh tế được nêu ra đầutiên và được coi là vấn đề mang tính chất quyết định, bao gồm chi tiết như:
- Các báo cáo tài chính có số dương và đã được kiểm toán xác nhậntính trung thực và lành mạnh
- Các tài sản hữu hình còn giá trị sử dụng
- Các tài sản vô hình còn thời gian sử dụng có giá trị
- Các điều kiện kinh doanh:
Trang 11Thứ nhất, sản phẩm còn có thị trường tiêu thụ và hứa hẹn nhiều thịphần tiềm năng.
Thứ hai, hiện trạng công nghệ không quá lạc hậu, còn có thể sử dụng
và tiếp tục đầu tư hiện đại thêm
Thứ ba, nghành hoạt động không bế tắc
Thứ tư, các nguông cung cấp nguyên liệu vật liệu ổn định
Thứ năm, cơ sở hạ tầng không bị giải toả
Thứ sáu, cán bộ công nhân viên đa số chưa hết hạn hợp đồng làm việccho doanh nghiệp
- Điều kiện pháp lý
Bên cạnh các yếu tố nói trên, điều kiện pháp lý đặt ra cho mỗi doanhnghiệp như là một điều kiện tất yếu khách quan, đảm bảo sự quản lý chặtchẽ của hệ thống pháp luật cũng như tạo hành lang pháp lý an toàn, môitrường kinh doanh lành mạnh cho tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội.Đồng thời các điều kiện pháp lý này là cơ sở quan trọng đánh giá thựctrạng và tư cách pháp nhân của mỗi doanh nghiệp Cụ thể:
+> Tất cả các tài sản (hữu hình và vố hình ) của doanh nghiệp đều có đủcác văn kiện pháp lý chứng minh chủ quyền hợp pháp của doanh nghiệp.+> Làm rõ các ràng buộc pháp lý: Thứ nhất giải toả các cam kết nghĩa
vụ Thứ hai, thanh lý các hợp đồng không cần thiết duy trì Thứ ba, thươnglượng lại các bên có liên quan đến việc tiếp tục duy trì các hợp đồng cũ xét
ra còn thấy cần thiết
- Những điều kiện đặc thù của doanh nghiệp
Nền kinh tế thị trường được ví như một cơ thể sống thì mỗi doanhnghiệp được coi như một bộ phận, có cầu trúc, chức năng và đặc điểmriêng biệt Do đó khi tiến hành cổ phần hoá phải trú trọng đến những điềukiện đặc thù của doanh nghiệp, tạo điều kiện phát huy tối đa cái “tôi” cũngnhư để quá trình cổ phần hoá diễn ra một cách chỉn chu cặn kẽ
+> Đối với tài sản
Trang 12Thứ nhất, lập danh mục đối với tài sản không cần dùng, tài sản chờthanh lý cần được nhượng bán và thanh lý ngay Nếu trước khi cổ phầnhoá chưa xong thì sau khi cổ phần hoá, Công ty Chính phủ kế thừa và tiếptục xử lý.
Thứ hai, lập danh mục tài sản thiếu hụt, mất mát và bắt đương sự phảibồi thường Phần chênh lệch thiếu hụt trừ vào quỹ của doanh nghiệp trướckhi cổ phần hoá, nếu không chuyển vào thiệt hại do đánh giá lại tài sản.+> Đối với các khoản nợ
Thứ nhất trước khi cổ phần hoá, doanh nghiệp phải có biện pháp xử lý
nợ Nếu chưa giải quyết được phải đề ra các phương hướng để Công ty cổphần kế thừa và tiếp nhận
Thứ hai, các doanh nghiệp tham gia hợp tác kinh doanh với các đối tácthì phần vốn góp của họ có thể chuyển thành giá trị cổ phần của Công ty
cổ phần
+> Các hợp đồng
Những hợp đồng được ký kết giữa doanh nghiệp và đối phương vẫnđược duy trì trừ trường hợp do ý muốn của chính họ hoặc giải quyết theochế độ chính sách đã quy định
+> Các quỹ
Thứ nhất, quỹ phúc lợi còn lại, giá trị còn lại quỹ được chia đề cho toàn
bộ cán bộ công nhân viên đang làm việc cho doanh nghiệp tính đến thờiđiểm cổ phần hoá
Thứ hai, số dư của quỹ phải tính vào những thiệt hại do cổ phần hoá tàisản của doanh nghiệp
1.2.3 Quy trình tiến hành cổ phần hoá:
Vấn đề cổ phần hoá các Doanh nghiệp nhà nước được đặt ra từ năm
1991, nhưng cho đến nay tốc độ cổ phần hóa còn diễn ra chậm chạp, yếu
ớt Có nhiều nguyên nhân và các vấn đề phát sinh trong quá trình cổ phầnhoá dẫn đến cổ phần hoá chậm: từ chủ trương, chính sách, quan điểm, cho
Trang 13đến những vấn đề triển khai thực hiện cổ phần hoá ở từng doanh nghiệp
cụ thể Tất cả tạo ra sự mâu thuẫn, lộn xộn và làm không ít dân chúng hiểusai về chủ trương cổ phần hoá của Đảng và Chính phủ Nhận biết đượcthực tế trên, để tạo ra sự thống nhất chung cho quá trình cải cách cácDoanh nghiệp nhà nước, giúp các Bộ, nghành, địa phương cũng như các
tổ chức kinh doanh hiểu rõ các công việc cần thực hiện, không ngừng đẩynhanh quá trình cổ phần hoá, Chính phủ đã ban hành công văn số3395/VPCP-ĐMDN ngày 29/8/1998 hướng dẫn quy trình chuyển đổi Doanhnghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần Theo công văn này, việc chuyểnsang Công ty cổ phần có 4 bước:
-Bước 1: Chuẩn bị cổ phần hoá
Bước chuẩn bị cổ phần hoá do cơ quan quản lý Doanh nghiệp nhànước và các doanh nghiệp trong danh sách cần tiến hành cổ phần hoá Vấn
đề quan trọng trong bước này là lựa chọn doanh nghiệp để cổ phần hoá.Theo quy định hiện hành, Bộ chuyên nghành và UBND địa phươngcăn cứ vào điều kiện, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng nhưnguyện vọng của các doanh nghiệp Nhà nước để đề xuất lên cấp cao hơn
Cơ quan quản lý sẽ thông báo cho từng doanh nghiệp được lựa chọn biết
là sẽ tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp tại đó, sau đó ra quyết địnhthành lập Ban cổ phần hoá tại doanh nghiệp
Ban cổ phần hoá doanh nghiệp có các nghĩa vụ sau:
+> Phổ biến các chính sách và quy định về cổ phần hoá của Chínhphủ thông qua giải thích các chính sách, quy định này cho người lao động.+> Chuẩn bị một các báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong banăm hoạt động gần nhất
+> Chuẩn bị bản báo cáo về nhân sự doanh nghiệp, nêu rõ tráchnhiệm, chất lượng công việc và thâm niên của từng người
Trang 14+> Chuẩn bị một bảng kê các tài sản doanh nghiệp bao gồm các tàisản đang sử dụng, tài sản không cần sử dụng, tài sản cần thanh lý và dịch
vụ xã hội cần được chuyển giao cho công đoàn công ty
+> Giám đốc của doanh nghiệp đồng thời làm trưởng ban cổ phầnhoá có trách nhiệm vụ thực hiện các công việc sau: Ký kết một hợp đồngvới cơ quan kiểm toán được tin cậy để kiểm toán các báo cáo của doanhnghiệp, theo đó thiết lập cho việc định giá của doanh nghiệp Thanh toáncác khoản nợ, làm rõ tình trạng nguyên vật liệu ế đọng, thanh lý các tài sản
đã được xác định là phải thanh lý trong mức độ thẩm quyền của giám đốc
Mở một tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để gửi các khoản tiền thu được từviệc bán cổ phiếu của doanh nghiệp cổ phần hoá Lập danh sách đăng kícác cổ đông tiềm năng
- Bước 2: Xây dựng phương án cổ phần hoá
Bước này được thực hiện bới cơ quan quản lý doanh nghiệp, Bộ tàichính và Ban cổ phần hoá tại doanh nghiệp Mục đích cơ bản trong bướcnày nhằm xây dựng phương án cổ phần hoá, xác định giá trị thực tế củadoanh nghiệp
Căn cứ vào kết quả kiểm toán và hướng dẫn của Bộ tài chính, Ban cổphần hoá lập Hội đồng xác định giá trị doanh nghiệp Sau khi Hội đồng làmviệc, gửi kết quả lên cấp trên phê duyệt, giá trị thực tế của doanh nghiệp đãđược xác định thì Ban cổ phần tiến hành lập phương án cổ phần hoá.Phương án cổ phần hoá có nội dung chính:
+> Đánh gía thực trạng và dự kiến phương hướng phát triển củadoanh nghiệp từ 3-5 năm sau khi cổ phần hoá Gồm: Tình hình chung củadoanh nghiệp hiện nay (đặc điểm nghành nghề kinh doanh, thuận lợi vàkhó khăn ) Kết quả kinh doanh 3 năm gần nhất Đánh giá thực trạng pháttriển doanh nghiệp và dự kiến phương hướng sau 3 năm thực hiện cổ phầnhoá: Kế hoạch kinh doanh, lợi nhuận, phân phối cổ tức, tái đầu tư
+> Phương án tiến hành cổ phần hoá: xác định lại mục tiêu cụ thể vàhình thức cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước, giá trị doanh nghiệp, số
Trang 15vốn cần huy động thêm…Xác định tỷ lệ phần vốn góp của cổ đông trongdoanh nghiệp sau khi cổ phần hoá ( tỷ lệ vốn của Nhà nước, người laođộng trong doanh nghiệp và cổ đông nước ngoài ) Mức phân phối ưu đãi
về tài chính cho người lao động hưởng cổ tức
+> Dự kiến một số nội dung của dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt độngcủa công ty cổ phần: Hình thức công ty cổ phần Quy định cử, bãi nhiệmngười quản lý
+> Tổ chức thực hiện các phương án phê duyệt: Thời gian chuyểnDoanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Vấn đề còn tiếp tục giảiquyết sau khi cổ phần hoá Dự kiến nhân sự trực tiếp quản lý phần vốn củaNhà nước tại công ty cổ phần
- Bước 3: Duyệt và triển khai phương án cổ phần hoá:
Duyệt và triển khai phương án thực hiện cổ phần hoá được thực hiệnbởi các cơ quan quản lý doanh nghiệp, Bộ tài chính và Ban cổ phần hoá tạidoanh nghiệp
Thẩm quyền xét duyệt phương án cổ phần hoá của Doanh nghiệp nhànước là Bộ quản lý nghành kinh tế, kỹ thuật, UBND tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương, thậm chí còn báo cáo lên Bộ tài chính để trình Chính phủphê duyệt
Nhiệm vụ của cơ quan chủ quản là:
+> Tiến hành các biện pháp phê duyệt phương án cổ phần hoá cuốicùng theo quy định trong “ phê duyệt cổ phần hoá “
+> Cử đại diện thay mặt cho số cổ phiếu Nhà nước nắm giữ vào Hộiđồng quản trị của các công ty cổ phần
+> Hướng dẫn Ban cổ phần hoá doanh nghiệp tổ chức Đại hội đồng
cổ đông đầu tiên
+> Ra quyết định về chuyển đổi Doanh nghiệp nhà nước thành công
ty cổ phần
Nhiệm vụ của Ban cổ phần hoá doanh nghiệp là:
Trang 16+> Công bố công khai tình hình tài chính của doanh nghiệp trước khitiến hành cổ phần hoá.
+> Công bố việc bán cổ phiếu và chuẩn bị việc đăng kí của các cổđông tiềm năng trong và ngoài doanh nghiệp
+> Tổ chức việc bán cổ phiếu theo kế hoạch cổ phần hoá và chuyển
số tiền thu được và tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước
+> Báo cáo với các cơ quan chủ quản về các kết quả
+> Giới thiệu các ứng cử viên cho Hội đồng quản trị và xin ý kiến của
cơ quan chủ quản
+> Triệu tập Đại hội động cổ đông lần thứ nhất để bầu Hội đồng quảntrị và thông qua điều lệ công ty cổ phần
- Bước 4: Ra mắt công ty cổ phần, đăng kí kinh doanh:
Sau khi phương án cổ phần hoá được phê duyệt, Ban Giám đốc cũ sẽbàn giao cho Hội đồng quản trị của công ty cổ phần toàn bộ hồ sơ, số liệu
về vốn tài sản, nhân công…dưới sự chứng kiến của cơ quan chủ quản củaBan cổ phần hoá tại doanh nghiệp Hội đồng quản trị sẽ hoàn tất nhữngcông việc để ra mắt công chúng, gồm:
+> Đăng kí con dấu mới cho công ty cổ phần
+> Hoàn thành các thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp từNhà nước sang công ty cổ phần
+> Tổ chức khai trương công ty cổ phần
1.3 Kinh nghiệm ở một số nước:
Chương trình chuyển đổi sở hữu trong tiến trình cải cách Doanh nghiệpnhà nước trên thế giới đã diễn ra mạnh mẽ và sôi động ngay từ đầu thậpniên với xuất phát điểm là Anh, sau đó lan rộng sang các nước khác Ở cácnước Đông Âu, phong trào cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu Doanhnghiệp nhà nước được phát động từ ngay đầu thập niên 90 và hiện đangtiếp diễn khá sôi động Mỗi quốc gia khi tiến hành cổ phần hoá đều đặt chomình những tham vọng riêng cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội Từ
Trang 17thực tiễn của quá trình cổ phần hoá ở các nước trên thế giới ta sẽ rút ranhững bài học kinh nghiệm bổ ích.
Tại Trung Quốc, sau hơn 20 năm tiến hành cổ phần hoá Doanh nghiệpnhà nước dưới nhiều cấp độ và quy mô khác nhau, thành tựu cơ bảnkhông thể phủ nhận là Trung Quốc đã có nhiều bước đi tương đối vữngtrên cả hai mặt lý luận và thực tiễn Việc thực hiện cổ phần hoá Doanhnghiệp nhà nước và thành lập các doanh nghiệp đa sở hữu đã góp phầnđáng kể trong việc duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao trong nhiều năm liêntục ở Trung Quốc Tuy nhiên quá trình cổ phần hoá ở Trung Quốc đượctíên hành khá thận trọng, điều này cho thấy Chính phủ Trung Quốc thời kỳđầu còn lo ngại những ảnh hưởng tiêu cực của cổ phần hoá Cộng với sựchuẩn bị thiếu chu đáo khi sức ép cải cách gia tăng, việc cổ phần hoá một
số lượng lớn Doanh nghiệp nhà nước đã tạo nên cú sốc cho xã hội TrungQuốc Thực tế này cho thấy cổ phần hoá chỉ được tiến hành thành công khi
đã có sự chuẩn bị chu đáo cả về cơ chế, chính sách vật chất để giải quyếtnhững hậu quả do cải cách Doanh nghiệp nhà nước gây nên
Ở Đài Loan, đứng trước sự cạnh tranh của thị trường tăng lên, các doanhnghiệp công đã phải tự đổi mới cấu trúc bên trong để vươn lên Một giảipháp hữu hiệu mà Chính phủ đặt ra là tiến hành Tư nhân hóa kết hợp vớihợp lý hoá và thương mại hoá nhằm đề cao tính cạnh tranh và tính thựchiện, Để đẩy mạnh tiến trình tư nhân hoá, ngày 25/7/1989, Chính phủ ĐàiLoan đã thành lập một Uỷ ban khuyến khích tư nhân hoá được hình thànhgồm một số cơ quan chủ chốt của Chính phủ như: Bộ kinh tế, Bộ tài chính
Có thể nói tiến trình tư nhân hoá ở Đài Loan ngày càng thăng tiến trên conđường phát triển Chính phủ Đài Loan quan niệm cho đến nay tất cả cácdoanh nghiệp công đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nên nóichung đều được Tư nhân hoá Đối với doanh nghiệp lớn mà sự Tư nhânhóa ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội thì phải Tư nhân hoá từ từ,từng bước một, không nóng vội chủ quan Các Doanh nghiệp nhà nước
Trang 18thực hiện tư nhân hoá theo từng đợt một chứ không ồ ạt và đồng loạt.Chính phủ Đài Loan chủ trương tư nhân hoá theo 2 giai đoạn :
- Giai đoạn 1 cho doanh nghiệp không cần có sự sở hữu Nhà nướclâu hơn nữa
- Giai đoạn 2 cho doanh nghiệp hoạt động vì các mục tiêu xã hội,chính trị phục vụ phúc lợi công cộng không vì lợi nhuận
Năm 1989, nước cộng hoà nhân dân Ba Lan chuyển thành nướcCộng hoà Ba Lan Vào thời điếm đó, kinh tế Ba Lan đang gặp khó khăn, cơ
sở sản xuất làm ăn thua lỗ liên miên, thất nghiệp tăng, giá cả tăng vọt, thunhập giảm, đời sống khó khăn, xã hội có phần kém ổn định Trước tìnhhình trên, Ba Lan tiến hành cải cách kinh tế, chuyển cơ chế tập trung sang
cơ chế thị trường, dựa hẳn vào các nước phương tây để phát triển đấtnước Nội dung chuyển đổi sở hữu của các Doanh nghiệp nhà nước ở BaLan khá đa dạng Có hình thức Tư nhân hoá hoàn toàn, Tức là Nhà nướcbán 100% một số Doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ và không quantrọng cho tư nhân Phần còn lại chủ yếu áp dụng hình thức cổ phần hoácho doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn, trong đó cổ phần Nhà nướcchiếm từ 30 đến 60%
Trên đây là một số kết quả của tiến trình cổ phần hoá Doanh nghiệpnhà nước tại một số nước Để tiến trình cổ phần hoá được diễn ra tốt đẹp,chúng ta cần nghiên cứu và ứng dụng một cách hợp lý các kinh nghiệmtrên thế giới phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế của từng quốc gia
- Từ kinh nghiệm của các nước trên ta có thể rút ra một số kinhnghiệm bổ ích cho Việt Nam:
Bắt đầu từ cuộc đổi mới kinh tế năm 1986 đã mở ra cơ hội phát triểncho nước ta Đặc biệt là khu vực kinh tế Nhà nước ngày càng phát triểnmạnh mẽ về số lượng với gần 6000 doanh nghiệp, Nhà nước nắm giữ 88%tổng số vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Với số lượng Doanhnghiệp nhà nước lớn như thế, lại làn ăn không hiệu quả, thậm chí một sốDoanh nghiệp nhà nước còn có nguy cơ phá sản Vì vậy, để khắc phục
Trang 19những khó khăn trên, thì giải pháp cổ phần hoá là một biện pháp lớn có thểkhắc phục được Tuy nhiên chúng ta cần phải học hỏi kinh nghiệm củanhiều nước cổ phần hoá đi trước, để rút những gì cần làm trước những gìcần làm sau Hạn chế tối đa nhược điểm của cổ phần hoá có thể gây nên,đồng thời phát huy ưu điểm của cổ phần hoá một cách tối đa nhất.
+> Kinh nghiệm từ Trung Quốc: Trong thời kỳ đầu chúng ta phải tiếnhành cổ phần hoá thận trọng, không nóng vội, phải có cơ chế chính sáchhợp lý -> tạo ra: “hành lang” đúng đắn, đưa quá trình cổ phần hoá vào quỹđạo Phải phát hiện kịp thời những gì không hợp lý trong “hành lang” để có
kế hoạch chỉnh sửa Thứ hai, kiên quyết xử lý những hành vi làm lệch cổphần hoá ra khỏi quỹ đạo (có thể làm chậm tiến độ cổ phần hoá, lợi dụng
cổ phần hoá để trục lợi… )
+> Kinh nghiệm từ Đài Loan: Đúng vậy, chúng ta tiến hành cổ phầnhoá nhằm mục đích gì Điều này chúng ta cần tham khảo qua quá trình cổphần hoá ở Đài Loan Chúng ta tiến hành cổ phần hoá nhằm nâng cao tínhcạnh tranh và tính thực hiện Tuy nhiên theo như tôi đã trình bày ở trên,phần phân biệt cổ phần hoá và Tư nhân hoá Đối với điều kiện xuất phátđiểm thấp như nước ta hiện nay, việc tư nhân hoá hoàn toàn thì ta khôngthể làm được, nó sẽ dẫn đến mâu thuẫn rất lớn giữa lợi ích cá nhân và lợiích cộng đồng, sẽ xuất hiện nhiều thủ đoạn gian lận trong sự cạnh tranhkhốc liệt mà không có sự điều tiết của Nhà nước Vì vậy chúng ta cần cânnhắc trong quá trình cổ phần hoá chỗ nào tư nhân hoá hoàn toàn, chỗ nào
tư nhân hoá một phần
Như vậy, để cổ phần hoá được diễn ra một cách tốt đẹp Chúng taphải nghiên cứu và ứng dụng một cách hợp lý các kinh nghiệm trên thế giớiphù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của từng quốc gia
Trang 21
PHẦN II THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY
2.1 Tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước:
Ngay từ đầu thập niên 90 , cùng với cơ chế đổi mới chính sáchkinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã sớm có chủ trương cổ phầnhoá các Doanh nghiệp nhà nước Như vậy tính cho hết thời gian này,tiến trìn cổ phần hoá đã diển ra hờn 10 năm và đã đạt được nhữngthành công nhất định
2.1.1 Giai đoạn thí điểm cổ phần hoá (1992 đến 05/1996 ).
Ngày 8/6/1992, Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chínhphủ) đã ban hành Quyết định số 202/CT về thí điểm một số Doanh nghiệpnhà nước thành công ty cổ phần Theo quyết định này có 07 doanh nghiệpđược chọn tổ chức triển khai thí điểm cổ phần hoá nhưng đã rút khỏi danhsách Rút kinh nghiệm, sau đó chỉ chọn những doanh nghiệp có đủ điềukiện để tiến hành cổ phần hoá Kết quả là có 5 Doanh nghiệp nhà nướcthuộc Bộ, 2 địa phương và 1 Tổng công ty chuyển thành công ty cổ phần.Tổng vốn điều lệ tại thời điểm đó là 38, 393 tỷ đồng
Nhìn chung, các Doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hoá tronggiai đoạn này thuộc diện vừa và nhỏ, vốn ít, hầu hết mang tính chất dịch
vụ, thương mại, kinh doanh có hiệu quả và không thuộc diện Nhà nướcnắm giữ 100% vốn, tập thể cán bộ công nhân viên tự nguyện tham gia thíđiểm cổ phần hoá Tuy nhiên do còn nhiều vướng mắc cho nên cần tiếp tụcnghiên cứu bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế từ việc chọn doanhnghiệp cho đến xác định giá trị doanh nghiệp và trách nhiệm, quyền hạncủa các Bộ, nghành, địa phương
2.1.2 Giai đoạn mở rộng thí điểm (từ cuối năm 1996 đến 6/1998).
Trên cơ sở đánh giá kết quả của giai đoạn thí điểm, ngày 7/5/1996,Chính phủ đã ban hành nghị định 28/CP Theo như nghị định này quá trình
Trang 22cổ phần hoá sẽ được tiến hành nhanh hơn Đối tượng, mục tiêu cổ phầnhoá, nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp, chế độ ưu đãi doanh nghiệp
và người lao động được quyết định cụ thể rõ ràng hơn Kết quả sau hơn 20năm thực hiện đã có 25 Doanh nghiệp nhà nước thuộc 2 Bộ, 11 địaphương và 2 Tổng công ty 91 tiến hành cổ phần hoá thành công với tổng
số vốn tại thời điểm cổ phần hoá là: 243,042 tỷ đồng Trong đó có 6 doanhnghiệp trên 10 tỷ đồng (chiếm 20,8%) Tuy nhiên kết quả này vẫn chưa đápứng được yêu cầu đổi mới doanh nghiệp Vì vậy ta cần phải có nhữngnghị định thay thế cho phù hợp hơn nữa
Bảng 1 Tình hình cổ phần hoá các Doanh nghiệp nhà nước trong
giai đoạn mở rộng thí điểm.
2.1.3 Giai đoạn triển khai (07/1998 đến 12/2001):
Việc thực hiện cổ phần hoá chỉ thực sự thu lại kết quả rõ rệt và đángkhích lệ từ khi có Nghị định 44/NĐ-CP Ngày 29/6/1998 Sự ra đời của Nghịđịnh này đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp Nhà nướcthực hiện cổ phần hoá Bởi ngoài việc kế thừa nhiều mặt tích cực của Nghịđịnh 28/CP, Nghị định 44/CPcòn có nhiều sự bổ sung và phát triển thêmnhiều điểm mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn cổ phần hoá
Theo đó, Chính phủ đã có những quy định rõ ràng hơn danh mục cácloại hình doanh nghiệp Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn, Doanh nghiệpnhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt và các Doanh nghiệp nhànước khác được chuyển đổi sở hữu Đổng thời các chính sách khuyếnkhích, ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp
cổ phần hoá cũng rõ ràng và chi tiết hơn Ngoài ra Chính phủ còn tiến hànhphân cấp cụ thể và mạnh mẽ đối với các cấp quản lý trong quá trình triển
Trang 23khai thực hiện cổ phần hoá Các Bộ, cơ quan chủ quản đã ban hành nhiềuvăn bản hướng dẫn việc thực hiện Nghị định 44/NĐ-CP, giao quyền chủđộng cho các Tổng công ty và công ty tự lựa chọn, tổ chức triển khai thựchiện quy trình và kế hoạch cổ phần hoá Phương pháp xây dựng doanhnghiệp được xây dựng có tính khả thi cao Việc ( giảm 30% ), đặc biệt làngười nghèo trong doanh nghiệp được vay trong 10 năm không phải trả lãisuất; tạo điều kiện cho người lao động sỡ hữu cổ phần sau khi trả tiền vay
có thể tự do chuyển nhượng, thừa kế Công tác hướng dẫn, phổ biến,tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cổphần hoá được trú trọng và triển khai tích cực Công tác cổ phần hoá đãđược diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, sau ba năm thực hiện, tiếntrình cổ phần hoá đã có bước nhảy vọt về số chất lượng, có 742 doanhnghiệp và bộ phận doanh nghiệp Nhà nước hoạt động hầu hết trên các lĩnhvực kinh tế của Việt Nam chuyển thành công ty cổ phần Trong đó 110doanh nghiệp có vốn điều lệ trên 10 tỷ đồng
phương
Tỷ lệ (%)
Các địa phương có số Doanh nghiệp nhà
Các địa phương có số Doanh nghiệp nhà
nước cổ phần hoá từ 10 đến 30 15 27,27%Các địa phương có số Doanh nghiệp nhà
Bảng 2 Số lượng các tỉnh và thành phố thực hiện chương trình cổ
phần hoá (nguồn: Vụ doanh nghiệp- Bộ Kế hoạch và Đâu tư, 2002 ).
Qua bảng số liệu trên ta thấy Số lượng các địa phương được cổ phầnhoá còn rất chậm Trong 64 tỉnh thành phố, mới có 4 địa phương có sốDoanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá trên 30 (Mà trong đó Hà Nội và
Trang 24Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước Nhưvậy cho thấy các địa phương ngoại thành tốc độ cổ phần hoá còn rấtchậm) Chúng ta có thể điểm qua một số nguyên nhân :
- Đứng từ phía góc độ quản lý:
+> Bộ máy quản lý ở các địa phương còn quá cồng kềnh, lạc hậu, nănglực của các cán bộ quản lý còn chưa cao, kinh nghiệm còn chưa có nhiều +> Việc chuyển đổi doanh nghiệp cổ phần hoá còn khá mới mẻ, vì vậyban lãnh đạo doanh nghiệp còn chần chừ chưa dám quyết định ngay
- Đứng từ phía góc độ người lao động: Do quá trình tuyên truyền phổbiến chậm, dẫn đến nhận thức của người lao động có phần nào bị hạn chế
=> Người lao động khi chưa hiểu biết rộng rãi về cổ phần hoá sẽ hoài nghi,không dám mạnh tay đầu tư vốn mua cổ phần, dẫn đến làm chậm tốc độ
cổ phần hoá
Trong 4 địa phương có doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá thì có 2trung tâm kinh tế quan trọng cuả cả nước là Hà Nội và Thành phố Hồ ChíMinh Điều này chứng tỏ chủ trương cổ phần hoá của Đảng và Nhà nước
đã được tuyên truyền sâu rộng ở 2 thành phố này => nhận thức về cổ phầnhoá của người lao động vì thế ngày càng được nâng cao Do là trung tâmkinh tế quan trọng của cả nước, vì vậy được Chính phủ quan tâm và chỉđạo sát sao, nên có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi Bên cạnh đócác cán bộ quản lý có năng lực và trình độ chuyên môn cao, được đào tạo
kỹ càng về các kiến thức cổ phần hoá
2.2 Thành tựu đạt được:
2.2.1 Cổ phần hoá được triển khai đúng định hướng, từng bước vững chắc:
Từ năm 1992 đến nay, trong phạm vi cả nước đã cổ phần hoá được
2242 Doanh nghiệp nhà nước và bộ phận Doanh nghiệp nhà nước Cácnăm 1992-1998 cổ phần hoá được 123 doanh nghiệp Từ 1999 đến 2004
cổ phần hoá được 2119 Cụ thể cổ phần hoá các năm l : à:
9
200 0
200 1
200 2
200 3 200 4
Trang 25Số lượng các doanh nghiệp cổ
Trong các doanh nghiệp cổ phần hoá nói trên, các doanh nghiệpthuộc các nghành công nghiệp, giao thông, xây dựng là 1469 doanhnghiệp, chiếm 65,5%; các doanh nghiệp thuộc các nghành thương mại,dịch vụ là 643 doanh nghiệp, chiếm 28,7%; và các nghành nông, lâm, ngưnghiệp là 130 doanh nghiệp, chiểm 5,8%
Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cổ phần hoá được 1473doanh nghiệp, chiếm 65,7%; các Bộ, ngành trung ương cổ phần hoá được
578 doanh nghiệp, chiếm 25,8%; các tổng công ty 91 cổ phần hoá được
191 doanh nghiệp, chiếm 8,5%
Những đơn vị có nhiều Doanh nghiệp nhà nước hoàn thành cổ phầnhoá là: Thành phố Hồ Chí Minh-182 doanh nghiệp, chiếm 8,1%; Bộ Xâydựng-163 doanh nghiệp, chiếm 7,3%; Thành phố Hà Nội- 157 doanh
Trang 26nghiệp, chiếm 7%; Bộ nụng nghiệp và phỏt triển nụng thụn-124 doanhnghiệp, chiếm 5,5%; Bộ cụng nghiệp-113 doanh nghiệp, chiếm 5%; BộGiao thụng Vận tải-81 doanh nghiệp, chiếm 3,6%; Thanh Hoỏ-69 doanhnghiệp, chiếm 3,1%; Hải Phũng-66 doanh nghiệp, chiếm 3%; Nghệ An-56doanh nghiệp, chiếm 2,5%; Nam Định-51 doanh nghiệp, chiếm 2,3% Mườiđịa phương, Bộ này là những nơi cú nhiều doanh nghiệp Nhà nước nhất và
số lượng doanh nghiệp cổ phần hoỏ cũng chiếm tỷ lệ cao nhất, tới 47,4%tống số doanh nghiệp được cổ phần hoỏ
Bắt đầu từ cuối năm 2001, thực hiện nghị quyết trung ương 3, Thủtướng Chớnh phủ đó chỉ đạo cỏc Bộ, nghành, địa phương, tổng cụng ty 91xõy dựng đề ỏn tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, trọngtõm là cổ phần hoỏ và Thủ tướng Chớnh phủ đó phờ duyệt 104 đề ỏn, làmcăn cứ phỏp lý ch cỏc nghành, địa phương, Doanh nghiệp nhà nước thựchiện Theo cỏc đề ỏn này, trong tổng số 4724 doanh nghiệp Nhà nước(năm 2002) sẽ cpj 2053 doanh nghiệp( Nhà nước giữ cổ phần chi phối
1042 doanh nghiệp, giữ cổ phần thường hoặc khụng giữ cổ phần 1011doanh nghiệp) Các Bộ, nghành, địa phơng, tổng công ty 91 đã có nhiều cốgắng trong chỉ đạo, xử lý những vớng mắc, khó khăn đẩy mạnh và đatj kết quả tốt hơn trong công tác cổ phần hoa so với thời kỳ trớnc đó nh với trình bày ở trên Nhiều đơn vị đã đạt đợc kết quả nổi bật, thực hiện tốt lộ trình cổ phần hoá, Thủ tớng Chính phủ đã phê duyệt , điển hình là: Bộ Xây dựng đạt (125%), Bộ Công nghiệp (106%), Bộ Nông nghiệp và phát trỉên nông thôn (81%), tổng công ty Bu chính viễn thông (182%), Tổng công ty Dệt may (133%), Tổng công ty Hoá chất (100%), Tổng công ty Đờng sắt (100%), Tỉnh An Giang (130%), Tỉnh Hải Dơng (1165), Tỉnh Vĩnh Phúc (115%), thành phố Hồ Chí Minh (109%), Cần Thơ (109%), Nam Định (109%), Hà Tây (1o3%), Hà Nội (95%), Cao Bằng (92%), Quảng Bình (92%), Quảng Ninh (92%).
Mới đây, Thủ tớng Chính phủ đã quyết định phê duyệt đề án cổ phần hoá toàn Tổng công ty Thơng mại và Xây dựng thuộc Bộ Giao thông vận tải
và Tổng công ty điện tử và tin học thuộc Bộ công nghiệp Trong đó Tổng công ty Thơng mại và Xây dựng theo hình thức giữ nguyên giá trị vốn nhà n-
ớc tại tổng công ty và phát hành cổ phiếu để thu hút vốn; Tổng công ty Điện
Trang 27tử và tin học theo hình thức bán một phần giá trị vốn nhà nớc tại tổng công ty Việc chuyển hai Tổng công ty này sang hoạt động theo loại hình tổng công ty
cổ phần, đa sở hữu là bớc quan trọng triển khai thực hiện tinh thần đẩy nhanh
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc, kể cả tổng công ty nhà nớc, theo tình thần nghị quýêt trung ơng 9 (khoá IX).
Trong 2242 doanh nghiệp nhà nớc đã đợc cổ phần hoá, các doanh nghiệp có vốn nhà nớc đới 5 tỷ đồng là 1327 doanh nghiệp, chiếm 59,2%, tập trung ở các nghành thi công xây lắp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, th-
ơng mại dịch vụ, chế biến nông phẩm do các địa phơng quản lý, các doanh nghiệp có vốn nhà nớc từ 5-10 tỷ đồng là 500 doanh nghiệp,chiếm 22,3%; còn lại doanh nghiệp có vốn đầu t trên 10 tỷ đồng là 415 doanh nghiệp , chỉ
có 18,5% Nghị quyết trung ơng 9 đã có chủ trơng mở rộng quy mô và diện doanh nghiệp cổ phần hoá nên đã triển khai trên thực tế cổ phần hoá một số doanh nghiệp có quy mô lớn, có giá trị doanh nghiệp tới hàng nghìn tỷ đồng, vốn nhà nớc hàng trăm tỷ đồng nh Công ty Sữa Việt Nam ( giá trị doanh nghiệp 2500 tỷ đồng, vốn nhà nớc 1500 tỷ đồng ), Nhà máy thuỷ điện Sông Hinh- Vĩnh Sơn ( giá trị doanh nghiệp 2114 tỷ đồng, vốn nhà nớc 1253 tỷ
đồng ), Công ty Bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh ( Giá trị doanh nghiệp
1311 tỷ đồng, vốn nhà nớc 650 tỷ đồng )…
Vốn nhà nớc theo sổ sách kế toán của các doanh nghiệp cổ phần hoá nói trên là 17700 tỷ đồng, bằng 8,2% toàn bộ vốn tại các doanh nghiệp nhà nớc (214 nghìn tỷ đồng) Trong quá trình cổ phần hoá, mặc dù hầu hết các doanh nghiệp đều đợc xử lý tài chính (tài sản không dùng đến, thanh lý; hàng hoá tồn kho kém phẩm chất, h hỏng, nợ tồn đọng; … ), có những doanh nghiệp phần vốn nhà nớc thấp hơn sổ sách, thậm chí hầu nh không còn, nhng xét trên tổng thể, tính chung đối với toàn bộ 2242 doanh nghiệp nhà nớc đã cổ phần hoá, giá trị vốn nhà nớc đợc đánh giá lại, cha kể giá trị quyền sử dụng đất là
20961 tỷ đồng, tăng 18,4% (3261 tỷ đồng ) so với giá trị trên sổ sách (17700
tỷ đồng) Vốn điều lệ của toàn bộ doanh nghiệp đã đợc cổ phần hoá là 23203
tỷ đồng.
Các hình thức cổ phần hoá theo quy định đều đợc áp dụng Trong đó
hình thức bán một phần vốn nhà nớc có tại doanh nghiệp kết hợp với phát hành thêm cổ phiếu là 973 doanh nghiệp, chiếm 43,4%; hình thức bán một phần vốn nhà nớc có tại doanh nghiệp là 583 doanh nghiệp, chiếm 26%; hình thức bán toàn bộ vốn nhà nớc có tại doanh nghiệp là 347 doanh nghiệp, chiếm 15,5%; hình thức giữ ngyên vốn nhà nớc và phát hành thêm cổ phiếu là 339