Hoạt động du lịch văn hóa thường được phát triển dựa trên những sản phẩm văn hoá đặc trưng như những lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, làng nghề thủ công truyền thống… Vùng đất Tổ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
NGUYỄN TRUNG KIÊN
PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học
ThS.GVC VŨ NGỌC DOANH
HÀ NỘI – 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài: “Phát triển du lịch văn hóa
thành phố Việt Trì”, tác giả khoá luận đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ,
tạo điều kiện của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ Văn và đặc biệt là ThS.GVC Vũ Ngọc Doanh - người hướng dẫn trực tiếp
Tác giả khoá luận xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo đã giúp tác giả hoàn thành khoá luận này
Hà Nội, ngày 17 tháng 4 năm 2010
Tác giả khóa luận
Nguyễn Trung Kiên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS.GVC Vũ Ngọc Doanh Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 17 tháng 04 năm 2010
Tác giả khóa luận
Nguyễn Trung Kiên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp dự kiến 3
7 Bố cục của khóa luận 3
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1 Một số khái niệm 5
1.1.1 Du lịch 5
1.1.2 Văn hoá 6
1.1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá 11
1.1.4 Khái niệm du lịch văn hoá 13
1.2 Mục đích của du lịch văn hóa 14
1.3 Ảnh hưởng của du lịch văn hoá đến đời sống xã hội 15
1.3.1 Ảnh hưởng tích cực 15
1.3.2 Ảnh hưởng tiêu cực 16
1.4 Vai trò, nhiệm vụ của người làm du lịch 16
CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ
Trang 6THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ 18
2.1 Tổng quan thành phố Việt Trì 18
2.1.1 Địa lý 18
2.1.2 Dân số 19
2.1.3 Hành chính 19
2.1.4 Kinh tế 19
2.1.5 Lịch sử 19
2.1.6 Đặc sản 20
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch văn hoá của thành phố 20
2.2.1 Di sản văn hóa Hát Xoan 21
2.2.2 Di tích lịch sử - văn hóa và di tích khảo cổ 23
2.2.2.1 Khu di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng 25
2.2.2.2 Di tích lịch sử quốc gia đình Hùng Lô 32
2.2.2.3 Di tích khảo cổ Làng Cả 32
2.2.2.4 Di tích khảo cổ Gò De 34
2.2.3 Một số lễ hội truyền thống tiêu biểu 35
2.2.3.1 Lễ hội Đền Hùng 36
2.2.3.2 Lễ hội rước ông Khiu, bà Khiu 38
2.2.3.3 Lễ hội Tịch Điền Minh Nông 39
2.2.4 Ẩm thực 40
2.2.4.1 Các món cá 41
2.2.4.2 Hồng Hạc Trì 41
Trang 72.2.5 Dân cư và nguồn lao động 42
2.2.6 Cơ sở vật chất, kỹ thuật và cơ sở hạ tầng 43
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ 46
3.1 Thực trạng 46
3.1.1 Thành tựu 46
3.1.2 Hạn chế 48
3.1.3 Nguyên nhân 49
3.2 Giải pháp 52
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch văn hoá đang là xu hướng phát triển chung ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, mang lại giá trị lớn cho cộng đồng xã hội Hoạt động du lịch văn hóa thường được phát triển dựa trên những sản phẩm văn hoá đặc trưng như những lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, làng nghề thủ công truyền thống…
Vùng đất Tổ Hùng Vương nhất là thành phố Việt Trì là nơi có tiềm năng lớn để phát triển du lịch văn hoá, nhiều hoạt động du lịch văn hoá đã được đầu tư, đẩy mạnh song nhiều tiềm năng chưa được khai thác đúng mức
và phát triển còn thiếu đồng bộ Hoạt động du lịch còn phân bố không đều, sự liên kết lỏng lẻo, hình thức tổ chức đơn điệu
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Phát triển du lịch văn hoá thành phố
Việt Trì tỉnh Phú Thọ” góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về lý thuyết và
thực tiễn trong việc phát triển du lịch văn hoá thành phố Việt Trì
Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng, tiềm năng, hiện trạng của du lịch văn hóa thành phố Việt Trì
Về mặt thực tiễn, một số luận cứ của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo ở các phòng văn hoá, du lịch cũng như ở một số điểm du lịch văn hoá trong thành phố
2 Lịch sử vấn đề
Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến du lịch của thành phố Việt Trì như:
Trang 9Vũ Thế Bình (chủ biên) (1998), Non nước Việt Nam, Nxb Văn hóa
thông tin Hà Nội
Nguyễn Đức Mười (chủ biên) (2005), Phú Thọ chào đón bạn, Nxb
hệ thống về du lịch nói chung và du lịch văn hoá của thành phố nói riêng
Khóa luận “Phát triển du lịch văn hóa thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ” tập trung phân tích những thế mạnh của du lịch văn hóa Việt Trì, từ đó đưa ra những giải pháp để khai thác một cách có hiệu quả hoạt động du lịch văn hóa thành phố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Làm rõ vị trí quan trọng của du lịch văn hoá thành phố Việt Trì trong mối quan hệ với phát triển du lịch văn hoá của cả nước
+ Phân tích tiềm năng phát triển du lịch văn hoá của thành phố qua những di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, những lễ hội dân gian đặc sắc, sống động và những giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu
+ Phân tích những mặt tích cực cũng như hạn chế trong hoạt động du lịch văn hoá của thành phố, từ đó đề xuất những giải pháp cần thiết
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch văn hóa thành phố Việt Trì 4.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu sự phát triển của du lịch văn hóa thành phố Việt Trì qua những di sản văn hóa; những di tích lịch sử văn hóa và di tích khảo cổ quan trọng; những lễ hội dân gian đặc sắc, sống động; những nét văn hóa ẩm thực độc đáo của thành phố ngã ba sông
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích, tổng hợp nguồn tài liệu hiện có về du lịch văn hoá của thành phố
Phương pháp khảo sát thực địa: tiến hành khảo sát một số di tích lịch
sử - văn hóa tiêu biểu, những lễ hội truyền thống đặc sắc trên địa bàn thành phố có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của ngành du lịch văn hóa thành phố
6 Đóng góp dự kiến
Một phần của khóa luận có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo
ở một số địa điểm du lịch quan trọng của thành phố
Đánh giá đúng tiềm năng du lịch văn hóa của thành phố từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng du lịch văn hóa của thành phố
7 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận của đề tài, tập hợp, phân tích khái niệm về du lịch, văn hoá và du lịch văn hoá cũng như mối quan hệ giữa chúng
Trang 11Chương 2 phân tích làm nổi bật những tiềm năng phát triển du lịch văn hóa thành phố Việt Trì qua di sản Hát Xoan, một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, một số lễ hội dân gian truyền thống đặc sắc và một số món ẩm thực hấp dẫn
Chương 3 tập trung phân tích những thành tựu và hạn chế trong hoạt động du lịch văn hoá của thành phố từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển
du lịch của thành phố Việt Trì trong hiện tại và tương lai
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Du lịch
Từ điển Tiếng Việt 2009 có ghi: “Du lịch là đi chơi đến những nơi xa
để hiểu biết thêm về phong cảnh, con người, cuộc sống”1
Theo lối chiết tự thì “du” trong từ du lịch có nghĩa là di chuyển, thay đổi vị trí, không gian (ví dụ: du canh du cư, du học…) Bên cạnh có, du còn
có nghĩa là chơi, đi chơi (ví dụ: chu du, du khách, du xuân…) còn lịch ở đây
có nghĩa là trải qua, kinh qua, có vốn hiểu biết rộng (ví dụ như: lịch duyệt, lịch lãm… )
Như vậy, du lịch hiểu theo nghĩa khái quát nhất là hoạt động đi, đi chơi
để được trải nghiệm, tăng cường hiểu biết và làm phong phú thêm vốn sống của bản thân
Đến nay, có rất nhiều định nghĩa về du lịch:
GS Hanziber và GS Kapf, hai giáo sư đầu ngành về du lịch đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hoạt động phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” [3, tr.6]
Theo I.I.Pirogionic thì “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư
Trang 13
trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa” [15, tr.6]
Theo kinh tế học thì du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với mục đích chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác
Theo bộ luật du lịch Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1/1/2006, “Du lịch
là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan giải trí, tìm hiểu, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.” (Nguồn: Internet)
Như vậy, tuỳ từng mục đích, góc độ và cách tiếp cận mà người ta đưa
ra nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch Song suy cho cùng thì cái gốc của
du lịch vẫn là tìm đến những không gian, địa điểm khác với nơi ở thường ngày của mình để hưởng thụ các giá trị vật chất cũng như tinh thần ở nơi mình đến nhằm mục đích tăng thêm hiểu biết, vốn sống, vốn kinh nghiệm thực tế của bản thân Đó là tác dụng hết sức to lớn mà du lịch mang lại góp phần làm tăng chất lượng cuộc sống của khách du lịch
Trang 14Nghĩa ban đầu của văn hoá trong tiếng Hán là những nét xăm mình qua
đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị sự quy nhập vào tự nhiên, chiếm lĩnh quyền lực siêu nhiên Theo bộ “Từ Hải” thì văn hoá vốn là một cách biểu thị chung cho hai khái niệm “văn trị”
và “giáo hoá”
Ở Trung Quốc, thời cổ đại, văn hoá được dùng với nghĩa là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng văn hoá để giáo hoá, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hoá con người
Ở phương Tây, từ văn hoá bắt nguồn từ tiếng La Tinh, có nghĩa là vun trồng, tạo ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người Khái niệm văn hoá càng về sau càng phát triển phong phú
Trong cuộc sống hàng ngày, văn hoá thường được hiểu là văn học nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… các trung tâm văn hoá được dùng theo cách hiểu này
Một cách hiểu thông thường khác, văn hoá là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận… Chúng ta nói một người có văn hoá, thiếu văn hoá hay vô văn hoá… thì từ
“văn hoá” được hiểu theo nghĩa này
Trong nhân loại học và xã hội học thì khái niệm văn hoá được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất Văn hoá bao gồm tất cả mọi thứ trong đời sống
xã hội của con người Văn hoá bao gồm cả lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần
Như vậy, tuỳ theo mục đích và hướng tiếp cận khác nhau mà đến nay người ta đã thống kê được hàng trăm định nghĩa các loại về văn hoá
Trang 15Theo thống kê sơ bộ thì đến nay, trên thế giới đã có hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa tuỳ thuộc vào cách tiếp cận cũng như mục đích nghiên cứu
Bản tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26 tháng 7 đến ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại Mêxicô
đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng
ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự
ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra
để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân” [11, tr.7]
Chủ tịch Hồ Chí Minh - người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà văn hóa kiệt xuất đã đưa ra một định nghĩa rất tiến bộ về văn hóa như sau: “Vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện và đòi hỏi của sự sinh tồn”2
2
Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập3, tr.431
Trang 16Như vậy, văn hóa trong định nghĩa trên được hiểu theo nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra; văn hóa là động lực giúp con người sinh tồn và phát triển; văn hóa là mục đích cuộc sống của con người; yêu cầu xây dựng văn hóa dân tộc phải toàn diện, đặt nhiệm vụ xây dựng “tinh thần độc lập tự cường” lên hàng đầu
Dưới đây là một định nghĩa khá hoàn chỉnh về văn hoá của Trần Ngọc Thêm - tác giả cuốn “Cơ sở văn hoá Việt Nam”:
“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [14, tr.10]
Theo cách định nghĩa trên thì nội hàm của khái niệm văn hoá bao gồm: Thứ nhất, đó là những giá trị vật chất và tinh thần con người sáng tạo
và tích luỹ nhằm mục đích phục vụ cho những nhu cầu thực tiễn của con người và vì con người
Thứ hai, những giá trị do con người sáng tạo ra đó phải mang tính nhân văn, tiến bộ Hay nói cách khác, những sản phẩm do con người tạo ra phải vì
sự tiến bộ của loài người thì mới có giá trị văn hoá, bởi vì có những giá trị do con người sáng tạo ra nhưng nó không phải là giá trị văn hoá bởi vì nó không mang tính nhân sinh, nó huỷ hoại cuộc sống của con người, kéo lùi sự tiến bộ của văn minh nhân loại như: bom nguyên tử, vũ khí hạt nhân, vũ khí giết người hàng loạt, chủ nghĩa khủng bố… Đó là những giá trị không được cộng đồng chấp nhận vì nó đi ngược với lợi ích của loài người tiến bộ
Tuy nhiên, các định nghĩa nêu trên đều thống nhất ở một điểm chung là coi văn hoá là cái do con người sáng tạo ra, là sản phẩm đặc trưng của loài người Tóm lại, mọi thứ văn hoá đều là văn hoá thuộc về con người, các thứ
Trang 17trưng căn bản, phân biệt con người với con vật, đồng thời cũng là tiêu chí để phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên
Tóm lại, với cách hiểu văn hoá như trên chúng ta có thể nghiên cứu lối sống, lối suy nghĩ lối ứng xử của một dân tộc hay một cộng đồng người, đồng thời ta cũng có thể phân biệt được đâu là giá trị văn hoá và đâu không phải là giá trị văn hoá Đó cũng là một tiêu chí quan trọng trong việc phát triển du lịch văn hoá Bởi vì, suy cho cùng thì chúng ta phải hiểu bản chất của văn hoá
là gì trước khi có ý định khai thác các giá trị của nó để phát triển kinh tế nói chung và phát triển du lịch văn hoá nói riêng
Trong phát triển du lịch văn hoá thì di sản văn hoá chính là tiền đề, là yếu tố không thể thiếu để hình thành và tổ chức bất kỳ một loại hình du lịch văn hoá nào
Vậy di sản văn hoá là gì và nó bao gồm những yếu tố nào?
Di sản văn hóa, hiểu theo cách chung nhất là toàn bộ những thành quả sáng tạo văn hoá của các thế hệ trước để lại Theo UNESCO thì di sản văn hoá bao gồm những di sản văn hoá hữu thể (Tangible) và di sản văn hoá vô thể (Intangible)
Những di sản văn hoá hữu thể như: đình, đền, chùa, lăng tẩm, thành quách, tranh ảnh, gốm sứ
Những di sản văn hoá vô thể như các biểu hiện tượng trưng không sờ thấy được của văn hóa được lưu truyền và biến đổi qua thời gian với quá trình tham gia tái tạo của đông đảo cộng đồng xã hội, ví dụ như: âm nhạc, múa, ngôn ngữ, nghi thức truyền thống, những phong tục tập quán lâu đời, quy trình công nghệ, các nghề thủ công truyền thống
Trang 18Theo “Luật di sản văn hoá Việt Nam” (năm 2001 và được sửa đổi năm 2009) thì di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hoá liên quan; có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo, và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác
Như vậy, cả hai cách hiểu nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc xem xét di sản văn hoá vật chất và di sản văn hoá tinh thần như hai thực thể riêng biệt mà chưa chỉ ra mối quan hệ giữa chúng Thực ra, di sản văn hoá hữu thể và di sản văn hoá vô thể có quan hệ mật thiết, gắn bó hữu cơ với nhau như hai mặt của một tờ giấy, rất khó và cũng không nên tách biệt hai loại di sản này mà nên xem chúng như là hai mặt của một thể thống nhất
1.1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá
Du lịch bao giờ cũng là văn hoá, là trao đổi văn hoá Bởi vì, du lịch tự thân nó trong qua trình phát triển đã là một hoạt động văn hoá Do đó, mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại
và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình tồn tại và phát triển Văn hoá được phát triển trên các phương diện như: truyền thống văn hoá được bảo tồn, phát triển, những giá trị văn hóa truyền thống được tôn vinh, trân trọng Những yếu tố này trở thành những động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển Bởi vì các yếu tố văn hoá ấy trong tương quan với du lịch sẽ trở thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn - sản phẩm du lịch văn hoá, mang lại lợi nhuận không nhỏ, đồng thời, một phần doanh thu từ hoạt động kinh doanh các
Trang 19sản phẩm du lịch văn hoá sẽ được đầu tư trở lại để góp phần nâng cao hơn giá trị của các sản phẩm văn hoá ấy
Các đối tượng văn hóa được đánh giá là một loại tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với phần lớn khách du lịch Nếu tài nguyên thiên nhiên đem đến cho du khách những cảm giác choáng ngợp, thích thú bởi sự hùng vĩ, hoang sơ thì tài nguyên du lịch nhân văn lại đem đến cho du khách những hiểu biết, trải nghiệm thú vị về những nét văn hoá phong phú, đa dạng và hết sức độc đáo của từng địa phương
Bên cạnh đó, du lịch cũng có những tác động nhất định đến văn hoá trên cả hai phương diện: tích cực và tiêu cực
Về mặt tích cực, sự phát triển của du lịch có tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa của quốc gia Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm như nước ta, sự xuống cấp của các di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ xảy ra nhanh chóng, có nguy cơ biến thành phế tích Du lịch tạo điều kiện hỗ trợ việc tôn tạo, ngăn chặn sự xuống cấp của di tích Một phần doanh thu từ hoạt động du lịch sẽ được đầu tư trở lại để trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, khôi phục, bảo tồn và phát triển giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể như các loại hình nghệ thuật truyền thống, các làng nghề thủ công, mỹ nghệ
Ngoài ra, hoạt động du lịch phát triển sẽ góp phần giới thiệu, quảng bá những đặc trưng văn hóa cũng như hình ảnh của quốc gia đến với bạn bè quốc
tế, đồng thời, góp phần củng cố tăng cường lòng tự hào, tự tôn dân tộc, thúc đẩy quá trình giữ gìn và phát huy tính đa dạng, khác biệt của nền văn hóa nước nhà
Trang 20Thêm vào đó, du lịch phát triển cũng thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc qua việc thu hút du khách tham dự các lễ hội dân gian truyền thống, giới thiệu bản sắc văn hóa của cộng đồng, ẩm thực, triển lãm
Tuy nhiên, hoạt động du lịch cũng có nhiều tác động tiêu cực đối với văn hóa Sự tập trung đông đảo của du khách trong một khoảng không gian chật hẹp mang lại nhiều tác động cơ học, vật lý, hóa học (khí thải, tiếng ồn ) gây nên sự xuống cấp, hư hại của những công trình kiến trúc cổ, những di tích lịch sử - văn hóa Sự phát triển nhanh chóng của du lịch làm gia tăng sự mất cắp, thất thoát các cổ vật, những đồ thờ tự quý giá Bên cạnh việc thúc đẩy
sự giao lưu văn hóa, tiếp thu những cái hay, cái đẹp, cái tiến bộ của những nền văn hóa khác, du lịch cũng tạo ra những ảnh hưởng không tốt vì thường kéo theo sự du nhập văn hóa ngoại lai, làm xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc
Nói tóm lại, du lịch và văn hoá có mối liên hệ mật thiết, ảnh hưởng qua lại với nhau Do đó, phát triển du lịch phải chú ý tới việc khai thác bền vững, hợp lý các sản phẩm văn hoá đồng thời phải có kế hoạch bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của cộng đồng, không để mục đích kinh doanh lấn át mục đích văn hoá trong khi tiến hành các hoạt động du lịch văn hoá
1.1.4 Khái niệm du lịch văn hoá
Luật du lịch Việt Nam năm 2005 tại khoản 1, điều 4, chương 1 có ghi:
“Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống” (Nguồn: Internet)
Du lịch văn hoá là một trong những loại hình du lịch bền vững có sức hấp dẫn lớn đối với du khách Loại hình du lịch này có nhiều điều kiện, nguồn lực để phát triển và đang được chú trọng đầu tư phát triển ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở nước ta
Trang 21Du lịch văn hoá là một sản phẩm du lịch sử dụng những giá trị văn hoá đậm đà bản sắc của cộng đồng địa phương, thông qua các giá trị văn hoá mang đến cho du khách cơ hội khám phá, thử nghiệm và đắm mình trong môi trường văn hoá của mảnh đất, con người địa phương, được chiêm ngưỡng sự
kỳ vĩ của những công trình kiến trúc độc đáo, được thấy vẻ đẹp cổ kính, linh thiêng của các di tích lịch sử, được hoà mình vào những lễ hội truyền thống độc đáo, những nghi thức xã hội đặc thù cũng như có được những trải nghiệm thú vị khi thưởng thức những món ăn đặc sản, những buổi biểu diễn âm nhạc,
ca kịch hay có được những kinh nghiệm quý giá về nghệ thuật sản xuất thủ công truyền thống của các làng nghề Tất cả tạo nên một sức hấp dẫn không thể chối từ với những ai ưa thích khám phá những nét đẹp, những tinh hoa của văn hoá nhân loại
1.2 Mục đích của du lịch văn hoá
Việc khai thác những lợi ích của du lịch văn hoá mang những mục đích khác nhau, tuỳ từng đối tượng và mục đích tiếp cận
Đối với những người hưởng thụ các sản phẩm du lịch khi lựa chọn loại hình du lịch văn hoá thì mối quan tâm chủ yếu của họ không phải là vẻ đẹp kỳ
vĩ, choáng ngợp của cảnh sắc thiên nhiên mà là những nét đặc sắc, độc đáo trong truyền thống lịch sử, trong phong tục tập quán cũng như trong nền văn hoá nghệ thuật của địa phương họ đến du lịch Bởi vì mỗi con người đều tồn tại trong những môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội khác nhau
Họ có nhu cầu tìm hiểu cộng đồng dân cư khác, nhu cầu đó đã dẫn đến hoạt động giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng với nhau Họ muốn thoả mãn tính hiếu kỳ, lòng ham học hỏi muốn biết những dân tộc khác với mình sống và sinh hoạt như thế nào từ đó tăng thêm kiến thức cũng như niềm say mê khám
Trang 22phá của bản thân Người làm du lịch cần nắm bắt được tâm lý đó của du khách để tạo nên những điểm du lịch hấp dẫn, những sản phẩm văn hoá có giá trị cao
Nhu cầu đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự lựa chọn các hoạt động du lịch của họ Họ không đến tham quan tại những hang động kỳ vĩ mà chọn những viện bảo tàng - nơi lưu giữ những giá trị lịch sử vô giá Họ không chọn nghỉ tại những khách sạn hạng sang với những tiện nghi thoải mái, đắt tiền mà chọn nghỉ trong những quán trọ đồng quê mộc mạc, đơn sơ nhưng cũng không thiếu đi chất lãng mạn, thi vị Bên cạnh đó thì họ cũng rất thích thú khi được đắm mình trong những sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian của địa phương
Đối với những người tổ chức, quy hoạch thì mục đích chủ yếu của họ là lợi nhuận đồng thời góp phần quảng bá nét văn hoá đặc trưng của địa phương mình đến với du khách thập phương
Để thực hiện được mục đích đó thì những người tổ chức hoạt động du lịch văn hoá cần phải nắm bắt được nhu cầu tâm lý của du khách làm cơ sở để hoạch định những chính sách phát triển, khai thác một cách hiệu quả nhất những giá trị văn hoá độc đáo riêng có của địa phương mình tạo ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn, thu hút Đồng thời cũng cần có những kế hoạch đầu tư,
tu bổ những sản phẩm văn hoá vật thể và tiến hành phục dựng, tái tạo những giá trị văn hoá phi vật thể đã bị mai một song song với việc phát triển những giá trị hiện có đồng thời khai thác những giá trị đó dưới góc độ du lịch mang lại hiệu quả cao nhất Thêm nữa, những người làm công tác tổ chức cần phải hoạch định những chính sách phát triển du lịch văn hoá phù hợp, huy động được sự tham gia đông đảo của cộng đồng địa phương nhằm xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Trang 231.3 Ảnh hưởng của du lịch văn hoá đến đời sống xã hội
1.3.1 Ảnh hưởng tích cực
Du lịch văn hoá mang lại nhiều lợi ích to lớn cho cộng đồng xã hội, đem lại lợi nhuận lớn góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân các địa phương Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch văn hoá còn đóng góp vào công cuộc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá của cộng đồng địa phương, những giá trị đang có nguy
cơ bị mai một dần trước nhịp sống hối hả của xã hội hiện đại Ngoài ra, du lịch văn hoá phát triển sẽ mang đến hàng loạt những lợi ích to lớn khác như: các di tích lịch sử, văn hoá, di tích cách mạng được đầu tư tu bổ, sửa sang; nhiều lễ hội đang được phục dựng làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân; rất nhiều làng nghề truyền thống đã, đang và sẽ được khôi phục, phát triển phục vụ cho các hoạt động du lịch văn hoá
1.3.2 Ảnh hưởng tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực như trên thì du lịch văn hoá cũng đem lại những tác động tiêu cực nhất là khi lợi nhuận kinh tế lấn át các lợi ích khác, hoạt động du lịch bị thương mại hoá một cách quá đáng, vì lợi nhuận
mà người ta có thể bất chấp việc khai thác, sử dụng không đúng giá trị của những sản phẩm văn hoá, gây ra những ấn tượng không tốt đối với du khách
về bản sắc văn hoá của địa phương Thêm vào đó, việc khai thác ồ ạt, thiếu những kế hoạch phát triển bền vững đang làm mai một dần nhiều giá trị văn hoá độc đáo
Như vậy, việc phát triển du lịch văn hoá cần phải có những chính sách, chiến lược hợp lý phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực
mà hoạt động này mang lại Đồng thời cần tích cực tuyên truyền để nâng cao
ý thức của người dân trong việc bảo vệ, giữ gìn những di sản văn hoá vô giá
Trang 24mà cha ông đã để lại Có như vậy thì hoạt động du lịch văn hoá mới trở thành một trong những nhân tố quan trọng góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của Việt Nam để chúng ta không bị hoà tan trước sức mạnh đáng sợ của xu hướng toàn cầu hoá
1.4 Vai trò, nhiệm vụ của người làm du lịch
Người làm du lịch trước hết cần hiểu rõ du lịch là một hoạt động không chỉ mang tính chất kinh tế mà còn mang tính xã hội, không chỉ nhằm đem lại lợi nhuận kinh tế mà còn vì sự phát triển của xã hội, cộng đồng Do đó, người làm du lịch cần thực hiện ba nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, người làm du lịch cần khai thác những tiềm năng du lịch tạo
ra những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn làm thoả mãn ở mức cao nhất những nhu cầu chính đáng của khách du lịch, mang lại hiệu quả kinh tế cao, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, tiếp thu những mặt tích cực, hạn chế tối
đa mặt tiêu cực
Thứ hai, người làm trong lĩnh vực du lịch cần tổ chức nhiều loại hình
du lịch khác nhau cùng sự hướng dẫn cụ thể, chi tiết đến với du khách mang đến cho du khách những cảm nhận mới lạ, thích thú
Thứ ba, người làm du lịch cần có kế hoạch bảo vệ môi trường tự nhiên
và xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Tóm lại, người làm du lịch cần có những hiểu biết cặn kẽ về vai trò, trọng trách của mình để có thể vạch ra những chiến lược phát triển du lịch bền vững mang lại hiệu quả kinh tế kết hợp với việc phát triển văn hóa, xã hội
Trang 25CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA THÀNH PHỐ
Với vị trí địa lý thuận lợi về giao thông - là cửa ngõ của các tỉnh, nằm trên hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh (Trung Quốc), Việt Trì
có tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế xã hội, nhất là phát triển du lịch Quy hoạch chung phát triển thành phố Việt Trì đến năm 2020 đã xác định Việt Trì là thành phố du lịch lịch sử, văn hóa của cả nước, thành phố lễ hội về với cội nguồn; là thành phố tỉnh lỵ, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa - khoa học kỹ thuật của tỉnh Phú Thọ và trung tâm kinh tế vùng liên tỉnh
Trang 262.1.4 Kinh tế
Việt Trì là một trong những thành phố công nghiệp đầu tiên của miền Bắc Việt Nam Thành phố có nhiều tiềm năng phát triển công, nông, thương nghiệp và các ngành dịch vụ Thành phố phát triển mạnh các ngành công nghiệp: hóa chất, giấy, thực phẩm…
2.1.5 Lịch sử
Khu vực nằm trong địa giới Việt Trì hiện nay được coi là kinh đô đầu tiên của quốc gia Văn Lang với các triều đại Vua Hùng cách đây trên 4.000 năm, biểu hiện qua những di chỉ khảo cổ nổi tiếng tại Làng Cả và khu di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng Hàng năm, cứ đến ngày 10 tháng 3 âm lịch nhiều người lại hành hương về vùng đất Tổ linh thiêng với lòng thành kính tôn nghiêm Hiện nay, khu di tích lịch sử Đền Hùng đang được đầu tư tôn tạo, trở thành khu du lịch văn hóa, lịch sử đặc biệt quan trọng của thành phố cũng như của cả nước
Trang 27Thị xã Việt Trì được thành lập theo Nghị định số 240 - TTg của Thủ tướng chính phủ, trên cơ sở hợp nhất thị trấn Bạch Hạc thuộc tỉnh Vĩnh Phúc
và thị trấn Việt Trì của tỉnh Phú Thọ Ngày 2 tháng 1 năm 1960 sáp nhập 3 xã Chính Nghĩa, Sông Lô và Trưng Vương thuộc huyện Hạc Trì vào thị xã Việt Trì
Thành phố Việt Trì được thành lập ngày 4 tháng 6 năm 1962, gồm thị
xã Việt Trì cũ và 4 xã Minh Khai, Tân Dân, Lâu Thượng, Minh Phương (trừ
xã Minh Phú) của huyện Hạc Trì
Ngày 13 tháng 1 năm 1984, thị trấn Bạch Hạc trở thành phường Bạch Hạc
Ngày 10 tháng 7 năm 2008, toàn bộ diện tích tự nhiên 454,08 ha và dân
số 2.701 người của xã Tân Đức, thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (cũ) được sáp nhập vào thành phố Việt Trì, theo nghị quyết thứ 3 Quốc hội khóa XII về điều chỉnh địa giới hành chính giữa tỉnh Hà Tây và tỉnh Phú Thọ
2.1.6 Đặc sản
Việt Trì nổi tiếng với cá Anh Vũ, loại cá nước ngọt chỉ thấy xuất hiện tại ngã ba sông, ngày xưa thường dùng để cung tiến lên vua Ngoài ra, những quán cá Lăng ven sông đang là những địa điểm hấp dẫn khách du lịch đến với thành phố ngã ba sông
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa thành phố Việt Trì
Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh Phú Thọ, có vị trí địa lý thuận lợi, là cầu nối giao thông giữa các tỉnh trung du miền núi phía Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh khác thuộc đồng bằng sông Hồng
Trang 28Với bề dày lịch sử, văn hoá lâu đời và hào hùng, Việt Trì xứng đáng là vùng đất địa linh nhân kiệt, “đất cội nguồn nuôi chí lớn ông cha” Nơi đây còn bảo tồn, lưu giữ được những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể quan trọng gắn liền với truyền thuyết về lịch sử dựng nước của dân tộc Đó là di sản văn hoá Hát Xoan, một loại hình nghệ thuật đặc trưng của vùng đất Tổ đã hoàn thành hồ sơ trình lên UNESCO để được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại Đó là những công trình kiến trúc, nghệ thuật, những di tích độc đáo mang đậm giá trị lịch sử, nghệ thuật, và tín ngưỡng tâm linh như: khu
di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng, quần thể di tích phường Bạch Hạc, di tích lịch sử quốc gia đình Hùng Lô, quần thể di tích xã Kim Đức Đó là những lễ hội dân gian truyền thống đa dạng, đặc sắc, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc như lễ hội Đền Hùng, hội bơi chải Bạch Hạc, lễ hội rước ông Khiu, bà Khiu Đó là văn hoá ẩm thực vùng đất Tổ với những đặc sản thơm ngon nổi tiếng như cá Anh Vũ, cá Lăng, hồng Hạc Trì… Tất cả tạo nên một bức tranh sống động, nhiều gam màu của văn hoá vùng đất cội nguồn dân tộc Việt Nam Đây thực sự là những điều kiện vô cùng thuận lợi để thành phố có thể phát triển các ngành du lịch, dịch vụ, đặc biệt là du lịch văn hóa nhằm giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, đồng thời giới thiệu quảng bá bản sắc văn hoá đặc trưng của đất và người nơi đây đến với đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước
2.2.1 Di sản văn hóa Hát Xoan
Việt Trì là cố đô đầu tiên của Nhà nước Văn Lang, là cội nguồn của dân tộc, mảnh đất kết tụ hồn thiêng sông núi Việt, nơi tập trung đầy đủ cơ sở
và tiềm năng để phát triển thành khu du lịch văn hóa tâm linh và truyền thống hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước
Trang 29Như đã đề cập ở trên, thành phố Việt Trì là nơi có những di sản văn hóa nổi tiếng, những di tích lịch sử, văn hóa và di tích khảo cổ hết sức giá trị, những lễ hội truyền thống mang đậm tính tâm linh, huyền ảo và cũng là nơi
có những đặc sản thơm ngon nổi tiếng Tất cả tạo nên những ấn tượng khó phai đối với bất kỳ du khách nào đã có dịp đến với thành phố ngã ba sông
Trong số những di sản văn hóa của vùng đất Tổ thì Hát Xoan là một trong những di sản văn hóa phi vật thể có giá trị nhất, sản phẩm đặc trưng của vùng đất Tổ đem đến cho du khách những trải nghiêm rất riêng biệt, thú vị
Hát Xoan là một loại hình dân ca nghi lễ - phong tục, sản phẩm văn hóa dân gian của cư dân vùng đất Tổ Hùng Vương xưa và của Phú Thọ ngày nay Phần lớn các phường Xoan nổi tiếng tập trung ở địa bàn thành phố Việt Trì như: phường Xoan An Thái, phường Xoan Kim Đức…
Hát Xoan là sản phẩm văn hóa độc đáo gắn liền với những truyền thuyết của thời đại Hùng Vương Hát Xoan còn có tên gọi khác là “Khúc môn đình” (hát cửa đình), thường được tổ chức vào dịp đầu xuân năm mới Các họ Xoan lần lượt khai Xoan ở các đình, miếu làng Ngày mùng 1 Tết, các họ Xoan hát ở các đình An Thái, Kim Đức, Phù Đức, Thét Từ ngày mùng 5 Tết
cả 4 phường Xoan đề hát ở các đình, nơi các làng chạ “kết nước nghĩa” Các phường Xoan đi biểu diễn từ ngày mùng 5 tháng giêng đến mùng 10 tháng 3
Trang 30nhiên hoặc kể những câu chuyện cổ tích từ thuở xa xưa Mỗi quả cách lại có cấu trúc 3 phần: giao cách (phần mở đầu), đưa cách (phần giữa) và kết cách (phần cuối) Phần hát hội mang đậm tính chất trữ tình giao duyên, là khúc hát tâm tình của tình yêu nam nữ Đây là giai đoạn ứng tác như hát ví, trống quân… cùng các tiết mục múa hát, trò chơi Như vậy, Hát Xoan không chỉ đơn thuần là một lề lối ca hát mà thực sự là một hội Hội Xoan có dân ca giao duyên, đối đáp, xin hoa, đố chữ bên cạnh những tiết mục độc đáo, lôi cuốn như cài hoa, mó cá… Ca từ trong hát xoan được kết hợp khéo léo, thể hiện cái hay, cái đẹp của hai phong cách bình dân và bác học, tạo nên tiết tấu nhịp nhàng, khỏe khoắn rất gần với tiết tấu của những bài ca lao động Vì vậy, những giai điệu mượt mà của những làn điệu Hát Xoan rất dễ đi vào lòng người, để lại những ấn tượng khó phai trong lòng của người thưởng thức
Như vậy, Hát Xoan là một loại hình dân ca nghi lễ phong tục, đáp ứng nhu cầu về thờ lễ và vui chơi của cộng đồng Hát Xoan thường gắn với lễ hội thờ thành hoàng làng, với mục đích “mở tiệc thờ thần” và yêu cầu “Đại vương phù hộ muôn dân đời đời” Hát Xoan là lễ ca nhằm dâng lên thần linh những lời thành kính, đón rước thần linh về hưởng tế và phù hộ cho làng Vì vậy, Xoan là tiếng hát cầu chúc, khấn nguyện, cầu cho họ Xoan, dân nơi Xoan đến hát được mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, kinh tế phát triển, con đàn cháu lũ đến muôn đời Các hội Xoan thường thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương Đây là cơ hội để giới thiệu, quảng bá di sản văn hóa mang đậm bản sắc của văn hóa dân gian đất Tổ không chỉ ở phạm vi địa phương mà còn lan rộng đến với bạn bè quốc tế
2.2.2 Di tích lịch sử - văn hóa và di tích khảo cổ
Di tích lịch sử - văn hóa là “… những công trình xây dựng, địa điểm,
đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật cũng
Trang 31như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử quá trình phát triển văn hóa xã hội” (Pháp lệnh “bảo vệ và sử dụng di tích văn hóa, lịch
sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh” ngày 4 tháng 4 năm 1984) [7, tr.32]
Theo các tác giả cuốn “Tổ chức lãnh thổ du lịch” thì di tích lịch sử văn hóa là “những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa do tập thể hoặc cá nhân con người tạo
ra trong lịch sử để lại”.[15, tr.20]
Như vậy, chỉ những di tích nào có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật
và giá trị văn hóa thì mới được coi là di tích lịch sử văn hóa Đó thực sự là tài sản vô cùng quý giá của địa phương quốc gia của cả nhân loại, nó chứa đựng những giá trị tốt đẹp về truyền thống văn hóa, lịch sử của mỗi địa phương, những tinh hoa văn hóa, tài năng, sức sáng tạo vô hạn của con người
Di tích khảo cổ là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu… “ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về một thời kỳ lịch sử xa xưa” [15, tr.20] Những di tích loại này chủ yếu nằm trong lòng đất, tuy nhiên, cũng có những di tích tồn tại trên mặt đất như các bức trạm, bức tranh được khắc, vẽ trên những hang động, vách đá…
Di tích lịch sử - văn hóa và di tích khảo cổ là những bằng chứng xác thực nhất về đặc điểm văn hóa lịch sử của mỗi địa phương, tạo nên sức hút rất lớn đối với du khách đặc biệt là những du khách đi du lịch với mục đích nhằm nâng cao hiểu biết về văn hóa, lịch sử, điều kiện kinh tế, đời sống kinh tế, xã hội… của một vùng đất Đó là điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch tham quan cung cấp cho du khách những kiến thức về lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như nét đặc sắc trong văn hóa của địa phương Những người làm du lịch văn hóa cần nắm bắt rõ tâm lý của khách du lịch để có những kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao sức hút của các di tích lịch sử - văn hóa và di tích
Trang 32khảo cổ của địa phương thỏa mãn nhu cầu tham quan tìm hiểu kết hợp với nghiên cứu chuyên đề cũng như nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu quá khứ, lịch sử, vùng đất, con người, những đặc trưng văn hóa của địa phương mình, quảng bá hình ảnh của địa phương đến với đông đảo du khách trong nước và du khách nước ngoài
Việt Trì là vùng đất tập trung rất nhiều di tích lịch sử văn hóa và di tích khảo cổ có giá trị, đặc biệt là khu di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng - khu di tích có tầm quan trọng đặc biệt được Nhà nước xếp hạng A1 Đây là điều kiện thuận lợi để ngành du lịch văn hóa phát triển
2.2.2.1 Khu di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng
Đền Hùng là di tích lịch sử - văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia được xây dựng trên núi Hùng, thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Núi Hùng cao 175m so với mực nước biển, còn có nhiều tên gọi khác nhau như: Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn… Di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng là một hệ thống kiến trúc - tín ngưỡng thờ các vua Hùng, người đã có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam Đền Hùng vừa là thắng cảnh đẹp, vừa là một di tích lịch sử văn hóa đặc biệt của người Việt Nam Từ xa nhìn lại, núi Hùng tựa như chiếc đầu rồng khổng lồ hướng về phía Nam, mình uốn khúc thành dãy núi Trọc, núi Vặn ở phía sau, tạo thành hình thể hùng vĩ, chứa đựng khí thiêng sông núi
Từ núi Hùng nhìn ra, ta thấy:
Phía trước, ngã ba Việt Trì có hàng chục quả đồi thấp tựa như đàn rùa đang bò từ dưới ao nước lên
Phía sau, mảnh đất làng Hy Sơn (Tiên Kiên) trông giống như hình một con phượng đang dang rộng cánh cắp lá thư
Trang 33Phía bên phải, quả đồi Khang Phụ (Chu Hóa) tựa hồ một con hổ phục Phía bên trái, quả đồi An Thái (Phượng Lâu) giống hình vị tướng quân đang giương cung bắn
Làng Cổ Tích bên chân núi êm đềm, hiền hòa như đang nằm trên lưng một con ngựa ghì cương
Dãy đồi dài từ Phú Lộc đến Thậm Thình tựa như 99 con voi phục chầu
về đất Tổ
Xa xa phía Tây là dòng sông Thao đỏ nặng phù sa, phía Đông là dòng
Lô xanh biếc giống như hai dải lụa màu mềm mại uốn quanh núi Hùng càng làm tăng thêm vẻ huyền ảo, cổ tích của không gian cố đô
Cụm di tích lịch sử Đền Hùng gồm có 4 ngôi đền, 1 ngôi chùa và một lăng được kết hợp hài hòa với thiên nhiên trên địa thế cao, hùng vĩ
Cổng đền được xây dựng vào năm Khải Định thứ hai (1917) theo kiểu kiến trúc vòm cuốn, có chiều cao 8,5m, rộng 4,5m, nóc cổng có tám mái nhỏ Tầng dưới có 1 cửa vòm cuốn lớn, đầu cột trụ cổng tầng trên có cửa vòm nhỏ hơn, 4 góc tầng mái được trang trí Rồng, đắp đổi 2 con Nghê Giữa cột trụ và cổng có đắp phù điêu hai võ sỹ, một người cầm đao, một người cầm chùy, mặc áo giáp, ngực trang trí hổ phù Ở giữa tầng một có bức đại tự đề: “Cao sơn cảnh hành” (Lên núi cao nhìn xa rộng), còn được đọc là “Cao sơn cảnh hạnh” (Đức lớn như núi cao) Sau cổng có đắp hai con hổ là hiện thân vật canh giữ thần
Đền Hạ được xây dựng vào thế kỷ thứ XVII - XVIII, theo kiểu chữ nhị gồm hai tòa tiền bái và hậu cung, mỗi tòa ba gian, cách nhau 1,5m, kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo khiến mái sau dài hơn mái trước đốc được xây liền tường với đốc hậu cung, hai bên có đắp phù điêu, một bên
Trang 34là voi, bên kia là ngựa Bờ nóc phẳng không trang trí gì Đền lợp ngói mũi hài rất đẹp Tương truyền nơi đây mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở thành 100 người con, đó là nguồn gốc của hai tiếng thiêng liêng: “đồng bào”
Ở dưới chân đền Hạ có nhà bia kiến trúc hình lục giác 6 mái, trên đỉnh
có đắp hình nậm rượu, bên trong 6 mái có lợp gạch bìa, bên ngoài láng xi măng, có 6 cột bằng gạch xây tròn, phía dưới có lan can Trước đây, trong nhà bia có đặt tấm bia ghi lại việc tu sửa đường lên núi Hùng, nay đặt bia đá ghi lại lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi người về thăm Đền Hùng ngày 19/9/1945:
“Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Ở phía bên phải đền Hạ có một ngôi chùa, xưa có tên là “Sơn cảnh thừa long tự” sau đổi thành “Thiên Quang thiền tự” Chùa được xây dựng vào thời
Lý và thời Trần, được dựng lại vào thời Lê (1427- 1573) Kiến trúc chùa theo kiểu “nội công ngoại quốc”, chủ yếu là cột gỗ có đá kê Phía trước chùa là các nhà: tiền đường (5 gian), thiêu hương (3 gian), tam bảo (3 gian), phía sau là dãy hành lang và nhà thờ Tổ Chùa thờ Phật theo phái Đại Thừa Trước cửa chùa còn có cây thiên tuế trên 700 năm tuổi, nơi Bác Hồ nói chuyện với cán
bộ và đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội
Trước sân chùa còn có hai tháp sư hình trụ bốn tầng, xây rỗng cửa vòm nhỏ, nóc đắp hình hoa sen rất đẹp Trong tháp có bát nhang và bia đá khắc tên những vị hòa thượng đã tu hành và viên tịch tại chùa
Ngoài ra, chùa còn có một gác chuông được xây dựng vào thế kỷ XVII, gồm 3 gian, 2 tầng mái, 4 vì kèo cột kiểu chồng giường, kết hợp với bẩy lẻ để trơn không chạm trổ Trên gác chuông có quả chuông, không ghi rõ niên đại
Trang 35nào mà chỉ ghi: “Đại Việt quốc, Sơn Tây đạo, Lâm Thao phủ, Sơn Vi huyện,
Hy Cương xã, Cổ Tích thôn cư phụng”
Từ đền Hạ theo 168 bậc đá nữa là lên đến đền Trung Đền Trung còn
có tên gọi là Hùng Vương tổ miếu là ngôi đền được xây dựng trước tiên trên núi Nghĩa Lĩnh Đến thế kỷ XVII đền được xây dựng lại như ngày nay Đền được xây dựng theo kiểu hình chữ nhật, có 3 gian quay về hướng Nam, dài 7,2m, rộng 3,7m Mái hiên cao 1,8m, không có cột kèo, cầu quá giang gối vào tường, bít đốc tường hậu, phía trước mở 3 cửa Tương truyền đây là địa điểm các vua Hùng họp bàn việc nước Đền Trung cũng là nơi Hùng Vương thứ 6 truyền ngôi cho hoàng tử Lang Liêu, người đã làm ra bánh chưng, bánh giầy, một sản vật đặc biệt, kết tinh tinh hoa của trời đất và lòng người
Qua đền Trung, thêm 102 bậc nữa là đến đền Thượng Đền Thượng còn gọi là “Kính Thiên Lĩnh Điện”, đền Thượng được làm theo kiểu chữ
“Vương”, kiến trúc đơn giản, kèo cầu, không có chạm trổ, được xây dựng qua bốn cấp khác nhau gồm: nhà chuông trống (cấp I), đại bái (cấp II), tiền tế (cấp III) và hậu cung (cấp IV) Phía trước đền có bốn cột trụ được trang trí theo tích “Lưỡng long chầu nguyệt” Tương truyền, Đền Thượng là nơi các vua Hùng làm lễ tế trời đất, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, muôn dân được no đủ, hạnh phúc Phía phải của đền còn có cột đá thề của An Dương Vương dựng nên với lời thề sẽ suốt đời giữ gìn non sông gấm vóc của ông cha để lại Ngoài ra, Đền Thượng còn là nơi thờ Thánh Gióng, người anh hùng có công đánh tan giặc Ân, cứu đất nước khỏi họa ngoại xâm
Lăng Vua Hùng nằm ở phía Đông Đền Thượng tương truyền là mộ của Hùng Vương thứ 6 Lăng có địa thế đầu đội sơn, chân đạp thuỷ, mặt quay theo hướng Đông Nam Xưa nơi đây là mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây dựng lăng Năm Khải Định thứ 7 (1922) lăng được trùng tu
Trang 36lại Lăng được xây theo hình vuông, cột liền tường, có tám mái có đao cong, tạo thành hai tầng mái Tầng dưới bốn góc đắp bốn con rồng tư thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp hình “quả ngọc” theo tích “cửu long tranh châu” Mái lăng được lợp ngói ống, cổ diêm, 3 phía đều có đắp hổ phù
Ba mặt Tây, Đông, Nam đều có cửa vòm, 2 bên cửa được đắp hình kỳ lân, xung quanh lăng có tường bao quanh, trang trí hoa, chất liệu đá Trong lăng
có một mộ khối hình chữ nhật, dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m Trong lăng có bia đá ghi: “Biểu chính” (lăng chính) Trên ba mặt của lăng đều có chữ Hán đề: “Hùng Vương lăng” (Lăng Hùng Vương)
Đền Giếng được xây dựng vào thế kỷ XVII ở chân núi phía Nam Nghĩa Lĩnh Đền gồm ba lớp nhà và hai nhà oản hai bên, phía trong đền có Giếng Ngọc, nước rất trong và không bao giờ bị cạn Tương truyền là nơi công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa ngày ngày soi gương, chải tóc Hai bà có công dạy dân trồng lúa nước và trị thuỷ nên được nhân dân lập đền thờ phụng đời đời Đền được xây dựng vào thế kỷ XVIII, theo hướng Đông Nam, kiến trúc kiểu chữ công, gồm nhà tiền bái (3 gian), hậu cung (3 gian), 1 chuôi vồ và 2 nhà oản (4 gian), có phương đình nối tiền bái với hậu cung Cổng đền Giếng được xây vào thế kỷ XVIII, kiểu dáng gần giống với cổng chính nhưng thấp và nhỏ hơn Cổng được kiến trúc theo kiểu 2 tầng 8 mái Tầng trên, ở giữa cổng có bức đại tự ghi: “Trung sơn tiểu thất” (Ngôi miếu nhỏ trong núi), tầng dưới có một cửa xây theo kiểu vòm, hai bên có hai cột trụ trên lắp nghé chầu Hai bên cổng đền có đề câu đối và tượng hai võ sỹ, mặt sau có đắp hai tượng hổ hai bên
Ngoài ra, trong khu di tích Đền Hùng còn có một công trình kiến trúc độc đáo có giá trị lịch sử, khoa học cao, đó là Bảo tàng Hùng Vương
Trang 37Bảo tàng Hùng Vương được khởi công xây dựng vào năm 1996, trưng bày hơn 4000 hiện vật trong đó có gần 700 hiện vật gốc có thể chia thành 5 nhóm hiện vật chính:
Nhóm thứ nhất là những hiện vật được tìm thấy tại Đền Hùng, gồm có
13 hiện vật có từ thời Hùng Vương và nhiều hiện vật ở thời kỳ sau Những hiện vật đó cho thấy từ thời Hùng Vương con người đã biết làm những công
cụ để sản xuất và sinh hoạt Những mẫu đá, gốm xây dựng và đồ thờ có niên đại từ sau công nguyên đến các thời Lý, Trần, Hậu Lê cho thấy khu vực này được thờ liên tục từ khi triều Hùng kết thúc cho đến tận ngày nay
Nhóm thứ hai là số hiện vật lấy ở các di chỉ khảo cổ thuộc thời Vua Hùng hoặc có liên quan tới thời Vua Hùng, được tập hợp từ mọi miền đất nước
Nhóm thứ ba là những cuốn sách sử, những mẫu trích từ các sách cổ của người Trung Quốc và nước ta về thời Hùng Vương Những hiện vật đó góp phần khẳng định rằng thời đại Hùng Vương là có thật
Nhóm thứ tư là những hiện vật phản ánh các hình thức tín ngưỡng Vua Hùng của nhân dân trong cũng như ngoài khu vực Đền Hùng, bao gồm những bản ngọc phả, đồ thờ tự, tranh vẽ và ảnh chụp các đình đền, lễ hội
Nhóm thứ năm là những hiện vật lưu niệm của đồng bào về viếng thăm
mộ Tổ Đó là những quà tặng, ảnh chụp các nhà lãnh đạo, các đoàn đại biểu
và nhân dân cả nước về trẩy hội Đền Hùng
Năm nhóm hiện vật trên được trưng bày nhằm làm nổi bật một chủ đề tổng quát là: “Các Vua Hùng dựng nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịch sử”, tập trung vào ba chủ đề chính, đó là:
Trang 38Chủ đề 1: giới thiệu giai đoạn văn hoá Hùng Vương bằng các hiện vật liên quan đến thời đại Hùng Vương đã tìm được trên vùng đất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc
Chủ đề 2: giới thiệu việc hình thành khu di tích Đền Hùng và ý thức đóng góp xây dựng khu di tích lịch sử Đền Hùng của đồng bào cả nước
Chủ đề 3: thể hiện tình cảm của nhân dân, sự quan tâm của Nhà nước đối với Đền Hùng
Khu di tích lịch sử - văn hóa Đền Hùng có vai trò ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giáo dục truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, là một địa điểm du lịch văn hoá không thể bỏ qua của mỗi người dân Việt Nam
Du khách hành hương đến Đền Hùng với tâm tư nguyện vọng hướng về
tổ tiên, nguồn cội với lòng thành kính và biết ơn sâu sắc Đền Hùng thực sự
đã trở thành một biểu tượng thiêng liêng của tinh thần dân tộc, là cội nguồn sức mạnh, niềm tin, là điểm hội tụ và toả sáng của một nền văn hóa suốt bốn nghìn năm lịch sử
Bên cạnh đó, huyền thoại về mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở ra
100 người con trai, 50 xuống biển, 50 lên non đã góp phần khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, là chất keo gắn kết tinh thần, ý chí của toàn thể nhân dân Việt Nam thành một khối đại đoàn kết với sức mạnh vô địch, đánh tan bè lũ cướp nước và bán nước Đồng thời, hai chữ “đồng bào” cũng là ngọn nguồn của tình yêu thương, đùm bọc, của lòng khoan dung, của nghĩa tình anh em ruột thịt
Qua bao biến động thăng trầm của lịch sử, Đền Hùng vẫn đứng đó như một biểu tượng cho sức mạnh cội nguồn thiêng liêng, biểu tượng cho lòng biết ơn vô hạn đối với công đức trời bể của tổ tiên Không chỉ người Việt mới
Trang 39ngoài cũng thể hiện lòng ngưỡng mộ thành kính khi về thăm vùng đất Tổ của dân tộc Việt Nam Những cảm nhận đó vẫn còn được lưu lại trong những dòng lưu bút chứa chan tình cảm: “Đền Hùng là nơi đặt nền móng cho lịch sử Việt Nam là một di tích vô giá của nhân dân Việt Nam là biểu tượng của
tổ tiên dân tộc Việt Nam - một dân tộc đã có truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm”
Như vậy, Đền Hùng là khu di tích lịch sử đặc biệt của quốc gia và ngày càng nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và nhân dân, do vậy trong những năm gần đây, hệ thống cơ sở vật chất và cơ sở kỹ thuật của khu di tích không ngừng được đầu tư, tôn tạo Bên cạnh những di tích chính thờ các Vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, một số di tích mới được xây dựng gắn với truyền thuyết về thời đại Hùng Vương như đền thờ quốc mẫu Âu Cơ, đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân cũng đang thu hút lượng lớn du khách đến tham quan, cúng bái Với ý nghĩa là địa điểm du lịch tâm linh về với cội nguồn của dân tộc Việt Nam nên khu di tích đang thu hút ngày càng nhiều du khách quốc tế đến với Đền Hùng với mục đích thăm viếng và tìm hiểu phong tục tập quán, tín ngưỡng của người dân Việt Nam Do đó, khu di tích lịch sử Đền Hùng cần có chủ trương kế hoạch xây dựng các khu nhà sàn dân tộc phục vụ nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi của du khách, đồng thời cần tăng cường công tác quảng bá, tuyên truyền ý nghĩa to lớn của khu di tích tới các thế hệ người Việt Nam cũng như khách ngoại quốc bằng việc tăng cường in ấn, giới thiệu các tài liệu, sách báo, sơ đồ về khu di tích, cùng với việc nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của cán bộ công nhân viên đem lại cảm giác thoả mãn ở mức cao nhất nhu cầu của du khách mỗi dịp hành hương về với Đền Hùng
2.2.2.2 Di tích lịch sử quốc gia Đình Hùng Lô
Trang 40Đình Hùng Lô thuộc xã Hùng Lô thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Đình Hùng Lô còn có tên gọi là đình Xốm Đình được xây dựng vào thời vua
Lê Hy Tông (1697) Đến thời Nguyễn, năm Bảo Đại thứ 13 (1938), đình được trùng tu, sửa chữa một số hạng mục Đình và Đền được xây dựng liền kề nhau tạo thành kiến trúc kiểu chữ “Nhị” Đình gồm tiền tế và đại đình, ở giữa hai tòa tiền tế và đại đình là long đình, hai bên long đình là lầu chiêng và lễ chông Tiền tế gồm 5 gian 2 dĩ, đại đình gồm 5 gian Mái đình có những đầu đao cong vút lên trời như muốn xuyên thủng cả nền trời xanh thẫm Trong đình còn lưu giữ nhiều đồ thờ uy nghi cùng những bức trạm trổ rất đẹp, mang đậm tính dân gian như “Đinh Tiên Hoàng tập trận cờ lau”, “Táng mả hàm rồng”, “Đấu vật”… có giá trị lớn về lịch sử, khoa học và nghệ thuật
Trong khuôn viên di tích còn có đàn tế thần nông, ao đình, cây cảnh… tạo nên một không gian vô cùng tĩnh mịch, thơ mộng Tất cả không gian trong quần thể di tích được kết hợp hài hoà với nét kiến trúc của hai triều đại phong kiến, tạo nên một quần thể thờ tự uy nghiêm, huyền bí nhuốm sắc màu của thời gian
Điều đáng chú ý là quần thể di tích đình Hùng Lô có một hệ thống cổ vật cực kỳ phong phú và quý giá về cả phương diện kỹ nghệ và thẩm mỹ Từ
án gian đến thượng điện, đồ thờ được bày tầng tầng lớp lớp, được sơn son, thiếp vàng óng ánh, lung linh Trong đó có đôi hạc to lớn cưỡi trên lưng rùa thể hiện sự trường tồn, vĩnh cửu và những bộ chấp kích ngời sáng uy nghi được dùng trong lễ rước kiệu Đặc biệt, đình còn lưu giữ được 5 cỗ kiệu cổ làm vào thời Nguyễn gồm cả kiệu văn và kiệu bát cống Mỗi cỗ kiệu là một tác phẩm nghệ thuật công phu, được tạo dáng và chạm khắc rất cầu kỳ hình rồng ngậm ngọc, long cuốn thủy, tứ linh, hổ phù… Đây thật sự là một bộ sưu tập kiệu quý giá mà không một ngôi đình nào trong tỉnh có được Bên cạnh