1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển du lịch văn hoá nhân văn ở huyện can lộc tỉnh hà tĩnh

97 354 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 4,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng dưới trình độ phát triển của phương thức sản xuất và ý thức hệ phong kiến, hoạt động du lịch ở Can Lộc chỉ được thực hiện bởi những chuyến du ngoạn của các văn thân, ẩn sỉ, của các

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

**************

VÕ TRƯỜNG THÀNH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ NHÂN VĂN Ở HUYỆN

CAN LỘC - TỈNH HÀ TĨNH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Hà Nội – 2010

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 2

KHOA: NGỮ VĂN ** **************

VÕ TRƯỜNG THÀNH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ NHÂN VĂN Ở HUYỆN CAN LỘC - TỈNH HÀ TĨNH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Người hướng dẫn khoa học:

TS BÙI MINH ĐỨC

Hà Nội – 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “ Giải pháp phát triển du lịch văn hoá nhân văn ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh”, tác giả khoá luận đã được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ Văn, đặc biệt là sự hướng dẫn trực tiếp, tận tình của TS Bùi Minh Đức

Tác giả khoá luận xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy, cô giáo đã giúp tác giả hoàn thành khoá luận này

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2010

Tác giả khoá luận

Võ Trường Thành

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khoá luận này

là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Minh Đức

Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khoá luận này

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2010

Tác giả khoá luận

Võ Trường Thành

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

TỪ VIẾT TẮT CHÚ THÍCH

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Trang

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của khoá luận 5

7 Bố cục đề tài 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HOÁ NHÂN VĂN Ở HUYỆN CAN LỘC - HÀ TĨNH 6

1.1 Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu du lịch văn hoá nhân văn ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh 6

1.1.1 Khái niệm văn hoá 6

1.1.2 Khái niệm du lịch 11

1.1.2.1 Khái niệm du lịch văn hoá 13

1.1.2.2 Khái niệm du lịch văn hoá nhân văn 14

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch 14

1.1.3.1 Ảnh hưởng của văn hoá đến du lịch 14

1.1.3.2 Ảnh hưởng của du lịch đến văn hoá 16

1.2 Cơ sơ thực tiễn của việc nghiên cứu du lịch văn hoá nhân văn ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh 17

1.2.1 Xuất phát từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay 17

1.2.2 Xuất phát từ xu hướng phát triển của du lịch trong thời đại mới 18

Trang 7

1.2.3 Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương

Can Lộc - Hà Tĩnh 19

CHƯƠNG 2: DU LỊCH VĂN HOÁ NHÂN VĂN Ở HUYỆN CAN LỘC – TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG 21

2.1 Tiềm năng văn hoá du lịch nhân văn ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh 21 2.1.1 Di tích lịch sử - cách mạng 21

2.1.1 Khái niệm di tích lịch sử - cách mạng 21

2.1.1.2 Các di tích lịch sử- cách mạng ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh 22

a Ngã ba Đồng Lộc 22

b Bến đò ThượngTrụ 26

c Ngã ba Nghèn 28

d Làng văn hoá130 28

2.1.2 Lễ hội truyền thống ở Can Lộc - Hà Tĩnh 29

2.1.2.1 Lễ hội và đặc trưng của lễ hội 29

2.1.2.2 Lễ hội truyền thống ở Can Lộc - Hà Tĩnh 29

a Lễ hội Chùa Hương Tích 29

b Chùa Chân Tiên 34

2.1.3 Hệ thống đình, đền ở Can Lộc - Hà Tĩnh 37

2.1.3.1 Đặc trưng của đình, đền 37

2.1.3.2 Hệ thống đình, đền ở Can Lộc - Hà Tĩnh 37

a Đền Tam Lang 37

b Đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung 40

c Đền thờ Nguyễn Huy Oánh 41

d Đền thờ Nguyễn Huy Tự 41

Trang 8

2.1.4 Các làn điệu dân ca truyền thống 43

2.1.4.1 Hát ví 43

2.1.4.2 Hát phường vải Trường Lưu 44

2.2 Thực trạng du lịch văn hoá nhân văn ở Can Lộc - Hà Tĩnh 45

2.2.1 Về thị trường khách 45

2.2.2 Về thu nhập 45

2.2.3 Cơ sở vật chất 46

2.2.4 Nguồn nhân lực 46

2.2.5 Thành tựu và hướng phát triển 47

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ NHÂN VĂN Ở CAN LỘC - HÀ TĨNH 49

3.1 Giải pháp phát triển du lịch văn hoá nhân văn ở Can Lộc - Hà Tĩnh 49

3.1.1 Giải pháp tuyên truyền giáo dục, quảng bá 49

3.1.1.1 Giải pháp tuyên truyền giáo dục đối với thế hệ trẻ 49

a Giáo dục từ gia đình, dòng họ 4?

b Giáo dục nhà trường 53

c Hoạt động của huyện đoàn Can Lộc 53

3.1.1.2 Phát hành ấn phẩm giới thiệu, quảng bá về tiềm năng du lịch văn hoá Can Lộc - Hà Tĩnh 54

a Tập gấp 54

b Ấn phẩm, sách báo 54

c Chính sách quảng bá 55

3.1.2 Giải pháp chuyên môn ngiệp vụ 56

Trang 9

3.1.2.1 Đối với cán bộ phụ trách, quản lý du lịch 56

3.1.2.2 Đối với cán bộ lãnh đạo địa phương 57

3.1.2.3 Thu hút nguồn nhân lực trẻ, đào tạo truyết minh viên tại điểm 58

3.1.3 Giải pháp đầu tư, quy hoạch và xã hội hoá công tác bảo tồn 60

3.1.3.1 Giải pháp đầu tư và xã hội hoá công tác bảo tồn 60

3.1.3.2 Chính sách quy hoạch 61

3.1.4 Một số giải pháp khác 63

3.1.4.1 Về Cơ chế chính sách 63

3.1.4.2 Chính sách bảo vệ môi trường 64

3.2 Phương hướng triển khai 65

* Phát triển du lịch tham quan các di tích lịch sử - cách mạng 65

* Phát triển du lịch tâm linh - lễ hội 65

* Phát triển du lịch thăm thân 66

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 67

1 Kết luận 67

2 Kiến nghị 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thời đại ngày nay, trên phạm vi toàn cầu, du lịch ngày càng trở thành nhu cầu tất yếu của mỗi con người ở mọi quốc gia, mọi vùng lãnh thổ Ở nước ta, sau những năm đổi mới, hoạt động du lịch có điều kiện phát triển mạnh, nhất là các điểm di tích nổi tiếng, các di sản văn hoá truyền thống Du lịch ngày càng trở thành một ngày kinh tế quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Du lịch được coi là một ngành kinh tế tổng hợp mà sự ra đời và phát triển của nó tác động rất lớn đến các ngành kinh tế hữu quan Du lịch được coi là ngành “công nghiệp không khói”, phát triển du lịch sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nhiều người dân và tăng thu nhập đáng kể cho ngân sách nhà nước Mặt khác, để phục vụ cho nhu cầu thị yếu của khách du lịch, người ta khôi phục và tôn tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên, di ích lịch sử, tổ chức nhiều hoạt động văn hoá Những nơi hoạt động du lịch phát triển, văn hoá của mỗi tộc người được giao lưu hoà hợp, hình thành nên những giá trị văn hoá mới Tuy nhiên, nếu không có hoạch định rõ ràng, không có hành lang pháp lý nghiêm, không có

nhận thức tốt của toàn cộng đồng và không có “bản lĩnh văn hoá” dân tộc thì

hoạt động du lịch cũng dễ làm tổn hại đến sự phát triển bền vững

Cũng như các vùng khác trong cả nước, huyện Can Lộc - Hà Tĩnh là vùng

có đặc sắc văn hoá riêng, có điều kiện để phát triển du lịch Mặc dù vậy, những năm qua, sự phát triển du lịch nhanh chóng tại một số điểm du lịch đã tác động không nhỏ đến đời sống của cư dân địa phương Trong khi đó, tiềm năng văn hoá du lịch của địa phương như: nếp sống, hệ thống đình đền, các làn điệu dân

ca “phần hồn, cấu trúc văn hoá chiều sâu” của địa phương chưa được chú

trọng khai thác, dẫn đến tình trạng không kéo dài được thời gian lưu trú của

Trang 11

khách tham quan, cùng với đó là những hình thức kinh doanh du lịch theo hướng

“ăn xổi” đã diễn ra Do đó, để du lịch huyện Can Lộc phát triển bền vững, chúng

ta không thể không xét đến mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, môi trường và bao hàm lên tất cả là văn hoá Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch là mối quan hệ trọng yếu nhằm làm cho du lịch có thể phát triển bền vững trong thời đại toàn cầu hoá

Là cử nhân Việt Nam học, người con của quê hương Can Lộc anh hùng, chúng tôi tự nhận thấy rằng, phát triển du lịch văn hoá còn là điều kiện để khơi dậy bản sắc văn hoá quê hương, phát huy bản lĩnh văn hoá dân tộc trong công cuộc hội nhập Phát triển du lịch còn là điều kiện để giao lưu văn hoá, tìm được

“cái hay, cái đẹp” của văn hoá toàn cầu để tự soi mình, phát huy, giữ gìn truyền thống văn hoá dân tộc

Ngoài ra, đề tài còn là một góc nhìn nhỏ đối với những ai quan tâm đến vùng đất Can Lộc - quê tôi

2 Lịch sử vấn đề

Từ xưa, Can Lộc đã nổi tiếng trong cả nước với “Hồng sơn văn phái”, với những dòng họ nổi tiếng như Nguyễn Huy, Nguyễn Đức, Hà Những nhà nho, văn thân như Nguyễn Thiếp, Lê Hữu Trác, Nguyễn Nghiễm cũng đã có những cảm xúc sâu lắng về vùng đất Can Lộc Nhưng dưới trình độ phát triển của phương thức sản xuất và ý thức hệ phong kiến, hoạt động du lịch ở Can Lộc chỉ được thực hiện bởi những chuyến du ngoạn của các văn thân, ẩn sỉ, của các vua chúa, bên cạnh đó, “du lịch tinh thần” của người dân cũng được phát triển

Qua thời kỳ đô hộ của thực dân, dưới thời bao cấp - Hợp tác xã, người ta

đã biến đình, đền thành kho bãi Những giá trị văn hoá vật thể được lưu giữ hàng nghìn năm đã biến thành tro tàn, thành chỗ vui chơi của trẻ thơ Chỉ khi công cuộc đổi mới, hội nhập được thực hiện, yêu cầu về bản lĩnh văn hoá của dân tộc

Trang 12

được đề cao, người ta mới biết nâng niu những giá trị văn hoá truyền thống (vật thể, phi vật thể) Cũng từ đó biết bao nhà nghiên cứu tâm huyết về vùng đất Can Lộc đã cho ra đời những đứa con tinh thần về văn hoá Can lộc Các tác phẩm tiêu biểu như:

1 Danh nhân Nghệ Tĩnh (5 tập): Tập sách nói cuộc đời, sự nghiệp của

những người con ưu tú quê hương Nghệ Tĩnh

2 Can Lộc một vùng địa linh nhân kiệt: Khái quát về các giá trị văn hoá

vật thể cũng như văn hiến Can Lộc

3 Sự tích Chùa Hương Tích: Khái quát về sự hình thành và phát triển của

Chùa Hương Tích (Thiên Lộc - Can Lộc - Hà Tĩnh)

4 Vằng trăng Đồng Lộc: Những chiến công trên tuyết lửa Đồng Lộc

5 Rất nhiều hồ sơ đệ trình công nhận di tích lịch sử - văn hoá các cấp

Do mục đích nghiên cứu cũng như đối tượng, cách tiếp cận khác nhau, các tác phẩm nêu trên chưa đề cập đến việc “khai thác tiềm năng văn hoá của Can Lộc vào mục đích phát triển du lịch” Mặc dù vậy, để hoàn thành khoá luận, người viết đã tham khảo một số ý khiến của những người đi trước, nhất là tự thâm nhập thực tế nhằm đưa ra những hiểu biết và cái nhìn riêng của mình để thực hiện đề tài “Giải pháp phát triển du lịch văn hoá nhân văn ở huyện Can lộc - Hà Tĩnh”

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

+ Xác định các giải pháp để khai thác những tiềm năng văn hoá trên địa bàn huyện Can Lộc - Hà Tĩnh vào phát triển du lịch, nhằm đưa kinh tế du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa bàn huyện, tạo cơ sở cho việc hình thành các tour, tuyến du lịch trong tương lai

Trang 13

+ Quảng bá hình ảnh quê hương đến bạn bè trong nước cũng như khắp năm châu

+ Nâng cao nhận thức của người dân địa trong việc khai thác, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá đặc trưng của địa phương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn du lịch văn hoá nhân văn ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh

+ Tìm hiểu hệ thống các di tích lịch sử - văn hoá, lễ hội truyền thống, hệ thống đình, đền, các phong tục tập quán, những sinh hoạt văn hoá dân gian tiêu biểu trên địa bàn huyện Can Lộc - Hà Tĩnh

+ Nghiên cứu, đánh giá sự hình thành, phát triển và thực trạng của các khu

di tích lịch sử - văn hoá, lễ hội truyền thống, hệ thống đình đền, các diễn xướng dân gian, ý nghĩa và vai trò của nó trong tâm thức của người dân địa phương + Xây dựng các giải pháp trong việc phát triển du lịch văn hoá ở Can Lộc

- Hà Tĩnh

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tiềm năng và thực trạng du lịch văn hoá nhân văn ở huyện Can Lộc- Hà Tĩnh, cụ thể là các di tích lịch sử- văn hoá; lễ hội truyền thống; hệ thống đình, đền; các loại hình dân ca và diễn xướng dân gian 4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa bàn huyện Can Lộc- Hà Tĩnh

- Phạm vi nghiên cứu chính của khoá luận là du lịch văn hoá nhân văn mà chủ yếu tập trung vào nghiên cứu du lịch lễ hội, du lịch tham quan các di tích lịch sử- văn hoá và du lịch thăm thân

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận được thực hiện bởi các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp điều tra, khảo sát; phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu; phương pháp đối chiếu so sánh; phương pháp logic-lịch sử

6 Đóng góp của khoá luận

Xây dựng được các giải pháp phát triển du lịch văn hoá trên địa bàn huyện Can Lộc- Hà Tĩnh

7 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, phụ lục, bố cục khoá luận gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu du lịch văn hoá nhân văn ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh

Chương 2: Du lịch văn hoá nhân văn huyện Can Lộc - Tài nguyên và thực trạng Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá nhân văn ở Can Lộc - Hà Tĩnh

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CUẢ VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH

VĂN HOÁ NHÂN VĂN Ở HUYÊN CAN LỘC - HÀ TĨNH

1.1 Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu du lịch văn hoá nhân văn ở Can Lộc -

Hà Tĩnh

1.1.1 Khái niệm văn hoá

Văn hoá xuất hiện cùng với loài người, là sản phẩm do con người sáng tạo

ra Văn hoá là khái niệm mở, có tính xã hội và tính lịch sử Cùng với quá trình phát triển của xã hội, khái niệm văn hoá luôn được bổ sung và mở rộng Vì vậy,

từ lâu từ văn hoá đã được các nhà nghiên cứu cả Phương Tây và Phương Đông quan tâm

Ở Phương Tây, từ văn hoá (Culture trong tiếng Pháp, tiếng Anh, Kultur trong tiếng Đức ) vốn có nghĩa là trồng trọt, vun xới ngoài đồng (Cultus agri), sau chuyển thành trồng trọt tinh thần (Cultu sanimi)

Từ văn hoá được sử dụng đầu tiên ở Đức vào giữa thế kỷ XVII bởi nhà luật học Pufedorf, với tư cách là một thuật ngữ khoa học Ông cho rằng, văn hoá

là tất cả những gì đối lập với tự nhiên Sau Pufedorf, nhà triết học Hender cho rằng “văn hoá là sự hình thành lần thứ hai của con người” Ông nói, lần thứ nhất con người hình thành như một thực thể xã hội, tức là văn hoá theo nghĩa toàn vẹn của từ này Đây là quan điểm tiêu biểu nhất của thế kỷ XX, nó có ý nghĩa to lớn đánh dấu việc con người bằng văn hoá đã vạch ra đường ranh giới tách ra khỏi hình thức tồn tại khác của vật chất, tách con người ra khỏi động vật Nó đánh dấu việc chuyển từ tư duy tôn giáo sang tư duy trí tuệ, khắc phục những hạn chế trong quan niệm tư duy Trung cổ về con người

Trang 16

Năm 1871, khái niệm văn hoá được E.B Taylor định nghĩa lần đầu tiên

trong tác phẩm Văn hoá nguyên thuỷ Ông cho rằng: “văn hoá hay văn minh hiểu theo ý nghĩa dân tộc học bao quát của nó, là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và bất cứ năng lực

và tập quán nào được lĩnh hội với con người với tư cách là thành viên trong xã hội”[ 5, tr52][ 5,tr 49 - 50] Nhưng văn hoá như đối tượng của một khoa học độc

lập thì phải đến năm 1885 mới hình thành rõ nét với công trình nghiên cứu khoa

học mang tên khoa học chung về văn hoá của Klemm người Đức, trong đó ông

trình bày sự phát triển toàn diện của loài người như một lịch sử văn hoá [17,tr 11- 14]

Đến thế kỷ XX, việc nghiên cứu văn hoá mới được đặt ra một cách nghiêm túc, và thuật ngữ văn hoá học do Wilhemlm Ostwald - một triết gia người Đức dùng đầu tiên vào năm 1909, nay đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn trên khắp thế giới Theo

W Ostwald thì “chúng ta gọi những gì phân biệt con người với động vật là văn hoá” và cũng từ đó biết bao nhiêu nhà Nhân học, Dân tộc học đã đưa ra vô số định nghĩa mà cho đến nay cũng chưa thống nhất được [5,tr 45 - 50]

Như vậy, trong lịch sử Phương Tây từ cổ đại đến hiện đại đã tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về văn hoá

Ở Phương Đông, khái niệm văn hoá cũng được bổ sung theo tiến trình lịch

sử Ở Trung Quốc, từ văn hóa mang tính khái quát hoá cao Họ dùng hai chữ văn hoá vốn được ghép bởi hai từ: Văn trị (cai trị bằng văn) và giáo hoá (giáo dục để biến đổi) Mà văn thì thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, Tuân Tử - học trò của Khổng Tử đã giải thích: văn là nguỵ Chữ nguỵ ngày nay đã chuyển nghĩa là giả, dối, giặc (Đào Duy Anh) Nguyên uỷ của nó là cái do con người làm ra không phải là cái tự nhiên Vì vậy, chữ nguỵ được ghi theo ý gồm (nhân =

Trang 17

người) và (vi = làm) Sau này chính K.Marx đã gọi “văn hoá là thiên nhiên thứ hai” tức là thiên nhiên được con người “nhân hoá” được con người sáng tạo ra theo quy luật của cái đẹp Từ văn hoá cổ xuất hiện sớm nhất trong Chu dịch với câu: “Quan ư nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ” Sau này Khổng Đỉnh Đạt đời Đường đã giải thích câu đó là: thánh nhân quan sát nhân văn, lấy thư, thi, lễ nhạc làm phép tắc, và dùng nó để giáo hoá mà làm cho thiên hạ được khai hoá Và đó

là quy luật trị quốc của người Hán “văn vũ chi trị” Về sau trên cơ sở cái nghĩa của văn hoá, người ta mở rộng nghĩa dần theo ngoại diên của nó Cố Viêm Vũ thời Minh Thanh cho rằng có thể xác và tâm hồn một con người cho đến gia đình, nhà nước, thiên hạ, tất cả mọi quy chế, âm thanh, hình tượng không có cái

gì không thuộc về văn hoá, bởi lẽ văn hoá là để dạy cho con người biết “tu thân,

tề gia, bình thiên hạ” và vì thế theo Mạnh Tử thì dạy tốt hơn là cai trị tốt [5, tr54 - 55]

Như vậy, từ thời cổ đại, quan niệm về văn hoá ở Phương Đông cũng như Phương Tây đều có điểm giống nhau: coi văn hoá gắn với giáo dục Nhưng ở phương Đông, quan niệm về văn hoá chịu ảnh hưởng rõ nét của tư tưởng Nho giáo

Ở nước ta khái niệm văn hoá cũng chưa được thống nhất

Đào Duy Anh - nhà văn hoá lớn đầu thế kỷ XX đã nêu ra khái niệm văn

hoá đầu tiên trong cuốn Việt Nam văn hoá sử cương Ông nêu: văn hóa là sinh

hoạt, điều kiện của mỗi dân tộc khác nhau, do đó đời sống tinh thần của họ khác nhau Sinh hoạt là tiêu chí để thấy sự khác nhau giữa các dân tộc [1, tr11]

Căn cứ vào nghĩa gốc của Cultu trong tiếng Latinh GS Vũ Khiêu cho rằng: văn hoá thể hiện trình độ vun trồng của con người, của xã hội - văn hoá là trạng thái của con người ngày càng tách ra khỏi động vật, ngày càng xoá bỏ

Trang 18

những đặc tính của động vật để khẳng định những đặc tính của con người [18, tr

214 - 216]

Chủ Tịch Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm văn hóa khái quát: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sinh

ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.[14, tr184]

GS Trần Ngọc Thêm : “văn hoá là hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất

và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt dộng thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[17, tr25]

Trong quá trình học tập, chúng tôi may mắn được sự giảng dạy của GS Nguyễn Đức Ninh, thầy đã đưa ra khái niệm văn hoá dễ tiếp cận:

Cấp độ 1: Trong quá trình chinh phục tự nhiên và tổ chức xã hội, những gì con người học được và sáng tạo ra trong cuộc sống xã hội (ngôn ngữ, lối sống, phong tục, tập quán) một cách có ý thức tạo nên cuộc sống của con người và phân biệt con người với giới động vật khác

Cấp độ 2: Về sau này, văn hoá gắn với từng dân tộc, văn hoá thay đổi theo lịch sử, địa lý, xã hội trở thành đặc trưng phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, cộng đồng người này với cộng đồng người khác tạo ra sự đa dạng về văn hoá

UNESCO nhìn nhận văn hoá với ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này: Đó là một phức thể - tổng thể các đặc trưng - diện mạo về tinh thần, vật chất, trí thức

và tình cảm, khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm, làng, vùng

Trang 19

miền, quốc gia, xã hội Văn khoá không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà

cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng[18, tr51]

Nhìn chung, những nhà nghiên cứu về văn hoá đều thống nhất: văn hoá,

đó là cái phân biệt con người với động vật; văn hoá đó là đặc trưng của xã hội loài người và không được kế thừa về mặt sinh học mà phải có sự học tập, thâu hoá Văn hoá gắn với những tư tưởng tồn tại và được chuyển tải dưới hình thức biểu trưng thông qua ngôn ngữ [5, tr 51]

Năm 1994, PGS Phan Ngọc đã thống kê được trên 400 khái niệm văn hoá khác nhau của các học giả nghiên cứu văn hoá Có thể nói khái niệm văn hoá là hòn đá tảng trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn

Văn hoá đó là sự sống còn của dân tộc, là diện mạo của dân tộc, giống như gương mặt của con người Văn hoá cũng chính là sự phân biệt giữa con người với cầm thú Do đó, từ khi thành lập Đảng, vấn đề văn hoá luôn luôn được Đảng chú trọng (Đề cương văn hoá Việt Nam 1943) Trong chiến lược phát triển kinh

tế của đất nước, vai trò của văn hoá luôn luôn được Đảng và Nhà nước coi là một trong ba chân kiềng của sự phát triển đất nước, ổn định xã hội Những văn kiện của Đảng và Nhà nước, ta thấy trong đó: Phương hướng, mục tiêu 1986-1990 ghi

rõ “Trước mắt chúng ta quan tâm không chỉ các vấn đề sản xuất và kinh tế, mà mỗi chúng ta còn day dứt hàng ngày bởi nhiều vấn đề xã hội gay gắt Vì vậy, hơn bao giờ hết, chúng ta phải kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế và xã hội, xã hội với kinh tế” Trong Nghị Quyết cũng ghi dứt khoát: Coi nhẹ chính sách xã hội cũng là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc Riêng về văn hoá Đảng ta cũng khẳng định: Phát triển các hoạt động văn hoá thông tin đang là nhu cầu lớn trong đời sống nhân dân Kiểm điểm văn kiện Nghị Quyết Đại hội VI, Đảng ta lại nhắc lại: phải đảm bảo thống nhất

Trang 20

hài hoà giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội Đến Đại hội VII, Đảng ta nhấn mạnh “văn hoá vừa là nguồn gốc vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội, không phát triển kinh tế bằng mọi giá”

Văn kiện Đại hội lần thứ VII của Đảng nhận định: “văn hoá là thành phần tất yếu và tiêu chí quan trọng để xác định phẩm chất và giá trị tinh thần dưới chế

độ xã hội chủ nghĩa”, Kinh tế và văn hoá gắn bó hết sức chặt chẽ Kinh tế không

tự mình phát triển nếu thiếu nền tảng văn hoá và văn hoá không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế Văn hoá vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, lại là nền tảng để phát triển các hình thái ý thức xã hội, trong đó có kinh tế

Văn hoá là nhân tố quan trọng cấu thành nền sản xuất tổng hợp, văn hoá như chất keo kết dính các mối quan hệ kinh tế, chính trị, kinh tế, xã hội tạo nên hình hài, bản sắc mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Văn hoá có khả năng bao quát một cách trực tiếp đảm bảo tính bền vững của xã hội và không bị trộn lẫn ngay cả khi hội nhập vào những cộng đồng lớn hơn[6, tr10 - 11]

Văn hoá vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển Văn hoá là yếu

tố cấu thành nên gương mặt của một con người, bộ mặt của quốc gia, phát triển văn hoá là yếu tố không thể thiếu trong mục tiêu “xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh

Có thể nói, văn hoá là kho biến ảo thần kỳ, người theo nghiệp thì tìm thấy

ở đây ánh hào quang của trí tuệ, người cầm quyền qua đây mà tổng kết quyền mưu để giữ chính quyền, người kinh doanh lấy từ đây vô vàn của cải; kẻ mông muội xin ở đây sợi dây để tự trói mình

1.1.2 Khái niệm du lịch

Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới: Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc

Trang 21

hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ[13, tr12-13]

Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một hoạt động khá mới mẻ nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã đưa ra các khái niệm trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau:

Theo PTS Trần Nhạn: Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền [13, tr8]

Theo Luật Du lịch Việt Nam, khái niệm về du lịch được hiểu như sau:

Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [10, tr235]

Các học giả biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam đã tách hai nội dung

cơ bản của du lịch làm hai thành phần riêng biệt:

Thứ nhất, du lịch được hiểu là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá nghệ thuật

Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ

Do đó du lịch có thể được hiểu là:

Trang 22

Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một

số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng

Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh [13, tr13 - 14]

Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản có ý nghĩa góp phần thúc đẩy

sự phát triển của du lịch Cho đến nay không ít người, chỉ cho rằng du lịch là một ngành kinh tế Do đó mục tiêu quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế Điều đó cũng đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi nơi để kinh doanh Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội Nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ cộng đồng, giáo dục truyền thống yêu nước, tình đoàn kết Chính vì vậy toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo dục hoặc mọi lĩnh vực khác

1.1.2.1 Khái niệm du lịch văn hoá

Du lịch văn hoá là du lịch để thẩm nhận giá trị văn hoá của vùng đất mà

du khách đến du lịch Các giá trị văn hoá giới thiệu cho du khách mang tính bản sắc độc đáo, nghĩa là chỉ có điểm du lịch mới có, do vậy du lịch văn hoá hấp dẫn

du khách vì văn hoá nơi khác không có

Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với

sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Đó là tổng thể các đặc trưng bản chất của văn hoá dân tộc, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của đất nước, các giá trị

Trang 23

đặc trưng ấy ở “tầng trên” mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm

ẩn, muốn nhận biết nó, phải thông qua vô vàn các sắc thái văn hoá, với tư cách là biểu tượng của nền văn hoá ấy

1.1.2.2 Du lịch văn hoá nhân văn

Du lịch văn hoá nhân văn được hiểu là hoạt động tham quan của khách du lịch, nơi họ đến không phải là nơi làm việc thường xuyên của họ nhằm mục đích thẩm nhận những giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra, nhất là các di tích lịch

sử - văn hoá, các làng nghề truyền thống, các lễ hội dân gian, nếp sống, phong tục, tôn giáo Mọi sản phẩm do con người sáng tạo ra đều có tính văn hoá, do

đó du lịch văn hoá nhân văn còn là một hoạt động tham quam, học hỏi, tăng thêm sự hiểu biết, nhận thức trong suốt hành trình tham quan du lịch của du khách

1.1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá

1.1.3.1 Ảnh hưởng của văn hoá đến du lịch

Du lịch ngày càng trở thành một hiện tượng phổ biến trong đời sống nhân loại, có thể có nhiều nhân tố tạo nên hiện tượng đó nhưng có lẽ yếu tố hàng đầu

là yếu tố văn hoá Nhu cầu văn hoá thúc đẩy hoạt động du lịch chỉ xuất hiện khi mỗi dân tộc và toàn nhân loại có được kho tàng di tích văn hoá đã được tích luỹ, bảo tồn Di sản văn hoá giữ vai trò của nguồn tài nguyên vô hạn cho việc sản xuất hàng hoá dịch vụ du lịch Du lịch là một ngành công nghiệp không khói đem lại thu nhập cao và vốn đầu tư không đòi hỏi lớn như các ngành khác Việt Nam có một di sản văn hoá lớn và cảnh quan thiên nhiên phong phú, đa dạng, bất cứ nơi nào trên đất nước ta cũng có di tích lịch sử- văn hoá Do vậy ngành du lịch Việt Nam tuy còn non trẻ nhưng đã thu về cho đất nước một nguồn lợi lớn

Ý thức được vai trò to lớn của du lịch trong phát triển kinh tế, Đại Hội X của

Trang 24

Đảng đã nêu rõ “khuyến khích đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dang hoá sản phẩm và các loại hình du lịch”

Các đối tượng văn hoá được coi là nguồn tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn Nếu như tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn du khách bởi sự hoang sơ, độc đáo

và hiếm hoi của nó thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hút khách bởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó

Đây là nguyên liệu vô tận để ngành du lịch khai thác cho việc tham quan du lịch của khách [15, tr179-191] Các đối tượng văn hoá- tài nguyên du lịch nhân văn-

là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hoá phong phú Mặt khác, nhận thức văn hoá còn là yếu tố thúc đẩy động cơ du lịch của du khách

Có thể xét mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá thông qua một số phương diện và sản phẩm cụ thể:

- Các di tích lịch sử, văn hóa có giá trị về ý nghĩa lịch sử truyền thống văn hoá và phong cách nghệ thuật như: đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ, lăng tẩm, cung điện, cá khu phố cổ, các di tích mang dấu ấn dân tộc học, những nơi ghi dấu sự kiện lịch sử trọng đại, những công trình, địa điểm gắn với danh nhân và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia các công trình và địa điểm đó

- Những làng bản có nghề thủ công truyền thống giữ được những giá trị văn hoá đặc sắc hoặc cảnh quan nhân tạo đang là đối tượng tham quan được du khách rất quan tâm Bởi ngoài tham quan khung cảnh làng quê, du khách còn có thể tìm hiểu quá trình phát triển của làng và nghề, quan sát quy trình tạo ra sản phẩm dưới sụ hướng dẫn trực tiếp của nghệ nhân

- Các lễ hội, trò chơi dân gian, trình diễn dân ca và các loại hình văn nghệ truyền thống cũng như hiện đại - một biểu hiện của văn hoá là đối tượng thu hút khách rất lớn Đây là dạng tài nguyên du lịch động có sức cuốn hút kỳ lạ đối với

du khách, bởi nó gắn liền với hoạt động tái tạo, tái hiện của bản thân con người

Trang 25

hiện tại làm sống lại lịch sử trong tính hình tượng cụ thể cảm tính, sinh động và

du khách có thể trực tiếp tha dự để thẩm nhận

Ngành du lịch đang khai thác những giá trị mà văn hoá để lại, có thể nói văn hoá là nguồn của cải vô tận để hoạt động du lịch khai thác

1.1.3.2 Ảnh hưởng của du lịch đến văn hoá

Một trong những chức năng của du lịch là giao lưu văn hoá cộng đồng Thông qua khách du lịch mà du khách hiểu rõ hơn nền văn hoá mà nơi họ đến Khi đi du lịch, du khách luôn muốn được thâm nhập vào các hoạt động văn hoá của địa phương Đây chính là mối quan hệ tương tác giữa hai bên, người dân bản

xứ với văn hoá đặc sắc của mình là đối tượng tham quan học hỏi của du khách

Ảnh hưởng tích cực của du lịch đến văn hoá

- Du lịch đem lại nhiều công việc cho người dân và làm tăng thu nhập cho

cá nhân và xã hội

- Du lịch đem lại lợi ích cho xã hội và giáo dục

- Du lịch thúc đẩy tinh thần sáng tạo và đổi mới

- Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Mặt khác, khách du lịch với cũng mang lại những yếu tố văn hoá mới đến nơi mà họ đến tham quan, dần hình thành nên những giá trị văn hoá mới Nhưng bên cạnh đó, vì mục đích lợi nhuận (nhất là các nươc nghèo), các hoạt động văn hoá truyền thống được trình diễn một cách thiếu tự nhiên hoặc chuyên nghiệp hoặc mang ra làm trò cười cho du khách Như vậy, những giá trị văn hoá đích thực của một cộng đồng, đáng lý phải được trân trọng lại đem ra làm trò tiêu khiển, mua vui cho du khách Giá trị truyền thống bị lu mờ do sự lạm dụng vì mục đích kinh tế Cùng với đó là các phong tục lối sống được thay đổi theo mốt của du khách

Trang 26

Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến văn hoá và xã hội còn được thể hiện qua quan hệ giữa du khách với người dân địa phương Nhìn chung theo thời gian, thái độ của dân sở tại đối với du khách thay đổi dần từ tích cực sang tiêu cực

Tất cả các thái độ cư xử nói trên nằm trong thế biến động không ngừng Vì tương lai phát triển du lịch lâu bền, ngành du lịch nói chung, người làm du lịch nói riêng phải tự đặt cho mình trách nhiệm góp phần thúc đẩy quan hệ, tình cảm tốt đẹp sẵn có, ngăn chặn, đẩy lùi những thái độ tiêu cực có thể nảy sinh đối với

du khách

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu du lịch văn hoá nhân văn ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh

1.2.1 Xuất phát từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay

Trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, với đường lối đổi mới kinh tế, hội nhập của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đang trước thời cơ và vận hội mới Đó là cuộc chuyển giao khoa học kỹ thật - công nghệ trên phạm vi toàn cầu,

là xu hướng toàn cầu hoá với cơ chế thông thoáng và thị trường được mở rộng Những xu hướng trên là điều kiện thuận lợi để nước ta thực hiện cuộc chuyển giao trong cơ chế quản lý cũng như việc hiện đại hoá nền sản xuất, đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại Bên cạnh đó nền kinh tế nước ta phải đối mặt với không ít thách thức đó là: Sự chi phối, ảnh hưởng của các nước lớn Kinh tế tăng trưởng không ổn định Khủng hoảng kinh tế và các vấn đề toàn cầu đang tác động rất lớn đến chính trị - an ninh, kinh tế, xã hội của đất nước

Nhằm mục đích nhanh chóng hội nhập, phát triển kinh tế vững mạnh, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân đòi hỏi các ngành kinh tế phát huy

Trang 27

mọi nguồn nội lực của mình, phát huy khả năng sáng tạo, nhanh chóng đưa đất nước ra khỏi tình trạng nước nghèo Đó là một trong những mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà nước hiện nay Phát triển kinh tế không phải bằng mọi giá, phát triển kinh tế đi đôi với đảm bảo các vấn đề xã hội, phấn đấu vì mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

1.2.2 Xuất phát từ xu hướng phát triển du lịch trong thời đại mới

Cho đến nay, du lịch nghỉ biển vẫn là dòng du khách chính trên thế giới Chính vì vậy có khái niệm du lịch 3S với các nghĩa là biển, cát và ánh nắng Khi phát hiện du lịch là một ngành kinh doanh béo bở, nhiều nhà kinh doanh tìm mọi cách đáp ứng tối đa nhu cầu mọi mặt của du khách

Hiện nay, biển không còn là địa chỉ duy nhất của các tuyến du lịch Có thể nói rằng, du lịch bao gồm 4T là sự di chuyển (travel), phương tiện vận chuyển tốt (transport), với những nơi yên tĩnh, thanh bình (tranquillity) và có môi trường tự nhiên cũng như xã hội trong sạch (transparenty).[13,tr 5-6]

Xu hướng du lịch trên thế giới hiện nay đang có những cơ hội lớn tác động đến hoạt động du lịch ở Việt nam

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng về các loại hình du lịch Ngoài cảnh quan tự nhiên tươi đẹp kỳ thú, còn có nhiều cộng đồng mang đậm bản sắc văn hoá Việt Những di sản văn hoá phi vật thể bao hàm tất cả các hình thức văn hoá truyền thống và phổ thông hay dân gian như phong tục tập quán, ngôn ngữ,

lễ hội, y học dân tộc, nghệ thuật ẩm thực Nhiều di sản văn hoá phi vật thể và vật thể có giá trị của Việt Nam lần lượt được UNESCO công nhận: Quần thể di tích Huế (1993), Vịnh Hạ Long (1994), Phố cổ Hội An (1999), Thánh địa Mỹ Sơn (1999), Văn hoá phi vật thể cồng chiêng (2005), Nhã nhạc cung đình Huế, gần đây nhất là hát Ca trù và dân ca Quan họ Nhưng trên hết vẫn là con người Việt Nam năng động, cần cù, hiếu khách và đầy sáng tạo trong hoạch định cơ

Trang 28

chế chính sách cũng như trong mọi lĩnh vực của hoạt động du lịch đều là tiềm năng phát triển du lịch bền vững Tuy nhiên, việc tổ chức khai thác đảm bảo có hiệu quả về kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội an toàn môi trường và đặc biệt là tính văn hoá của du lịch để có thể phát triển bền vững thì chúng ta lại rất hạn chế Đầu tư dàn trải gây lảng phí, ô nhiễm môi trường, sự biến dạng của các hình thức du lịch hiện hữu khắp nơi Ngay cả môi trường văn hoá Viêt Nam vốn được coi là thuần phác, an ninh nay cũng bị biến đổi theo lối hưởng thụ tiêu xài Lợi nhuận thu được trực tiếp từ hoạt động du lịch không được đầu tư tái tạo môi trường cảnh quan du lịch Đời sống của cư dân tại các điểm du lịch có thể được cải thiện về thu nhập, việc làm nhưng cũng xẩy ra nhiều tệ nạn xã hội điều đó có nguyên nhân từ phát triển du lịch không bền vững sinh ra Do đó, trước cơ hội, thách thức cũng như thực trạng của hoạt động du lịch, chúng ta cần có những biện pháp để phát triển du lịch lâu dài, có hiệu quả mà không làm tổn hại đến môi trường du lịch

1.2.3 Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Can Lộc

Can Lộc có quốc lộ 1A, quốc lộ 15 đi qua, phía bắc giáp đường 8 sang Lào Thủ phủ là thị trấn Nghèn, cách Thủ đô Hà Nội 330 km về phía Bắc

Huyện Can Lộc - Hà Tĩnh là một huyện nghèo, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Trên địa bàn huyện chỉ có hai nhà máy chính với cơ cấu lao động chưa đến 300 người, các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, thương mại còn

Trang 29

nhỏ lẻ, kém phát triển Kinh tế của địa phương chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính Nguồn thu của địa phương dựa vào xuất khẩu lao động, do đó không ổn định Yêu cầu cấp thiết của Can Lộc là phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, huy động mọi nguồn lực vào phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế của vùng cũng như cả nước Bên cạnh đó cần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của địa phương Coi văn hoá là bộ mặt phát triển của địa phương, là động lực để phát triển, là điều kiện hình thành nhân cách con người mới trong điều kiện hội nhập, phát triển

Như vâỵ, có thể nói, phát triển du lịch văn hoá nhân văn ở huyện Can Lộc -Hà Tĩnh theo hướng phát triển bền vững đòi hỏi có sự tham gia đồng bộ của các cấp chính quyền, của cả cộng đồng để khai tác tiềm năng văn hoá tổng thể của địa phương Phát triển du lịch phải đi đôi với phát triển văn hoá, coi văn hoá là nguồn gốc của sự phát triển, du lịch là hoạt động bổ trợ cho sự phát triển Phát triển du lịch đi đôi với việc phát huy, bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống

Trang 30

CHƯƠNG 2

DU LỊCH VĂN HOÁ NHÂN VĂN Ở HUYỆN CAN LỘC - HÀ TĨNH,

TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG

2.1 Tiềm năng du lịch văn hoá nhân văn ở Can Lộc - Hà Tĩnh

Tiềm năng du lịch văn hoá nhân văn là những gì do con người sáng tạo ra, được bảo vệ giữ gìn và phát triển trong suốt chặng được lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, hiện đang tồn tại dưới dạng vật thể, phi vật thể mà chưa được sử dụng vào mục đích phát triển du lịch Đó là những công trình văn hoá, kiến trúc, di tích lịch sử, nghệ thuật, những thần phong mỹ tục, nhiều thể loại văn hoá nghệ thuật dân gian, tôn giáo

Can Lộc - Hà Tĩnh là vùng đất có truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời, trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển - mảnh đất sơn thuỷ hữu tình này đã sản sinh ra nhiều danh nhân, nhiều khoa bảng Can Lộc là một vùng đất giàu di sản văn hoá, với rất nhiều di tích lịch sử - văn hoá, hệ thống đình, đền, các lễ hội truyền thống, các sinh hoạt văn hoá dân gian Đó là điều kiện thuận lợi để Can Lộc phát triển du lịch văn hoá nhân văn

2.1.1 Di tích lịch sử - cách mạng

2.1.1.1 Khái niệm di tích lịch sử - cách mạng

Di tích lịch sử - cách mạng là những di tích ghi nhận các sự kiện trọng đại của lịch sử trong cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Di tích lịch sử cách mạng bao gồm: Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu, ý nghĩa quyết định chiều hướng của đất nước, một địa phương; Di tích ghi dấu chiến công xâm lược; Di tích ghi dấu những kỷ niệm

về anh hùng dân tộc; Di tích ghi dấu tội ác của chiến tranh Ngoài ra, có những

di tích ghi dấu lịch sử đấu tranh cách mạng, thường là những di tích gắn liền với

Trang 31

cuộc đời và hoạt động của những lãnh tụ cách mạng, hoặc gắn với những sự kiện quan trọng trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc [12, tr35]

2.1.1.2 Di tích lịch sử- cách mạng ở Can Lộc- Hà Tĩnh

a Ngã ba Đồng Lộc

Từ những năm 1965, khi cuộc chiến tranh của Mỹ đã leo thang ra miền Bắc, cùng với các vùng miền khác trong tỉnh, Can Lộc đã phải hứng chịu những trận bom thù Hệ thống cầu cống, bến phà trên đoạn đường quốc lộ 1A, 15A và tỉnh lộ 2 bị máy bay địch tập trung đánh phá nhiều lần Địch muốn kiểm soát chặt chẽ và tiêu diệt các phương tiện chuyển chở khí tài, đạn dược trên đường chi viện co tiền tuyến Khẩu hiệu “địch phá một ta làm mười”, “xe chưa qua nhà không tiếc” đã trở thành quyết tâm, hành động của mọi lực lượng giao thông vận tải

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 1968, ngày 3-3-1968, Tổng thống Mỹ tuyên bố xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở

ra Chúng tập trung bom đạn đánh mạnh vào Liên Khu Bốn nhằm ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam Trong khoảng thời gian từ ngày 4-3-1968 đến cuối tháng 10-1968, Mỹ đã trút xuống Liên Khu Bốn số bom đạn gấp 6 lần so với những năm trước đó Cùng với cả tỉnh và nhiều vùng đất khác trong Liên Khu Bốn, Can Lộc đã phải gồng mình hứng chịu những trận bom đạn ác liệt của kẻ thù Từ 20-4-1968, đường 1A bị chặt đứt, việc vận chuyển theo tuyến Bắc - Nam chỉ có thể đi qua Ngã ba Đồng Lộc Ngã ba Đồng Lộc trở thành tuyến lữa của kẻ thù Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1968, máy bay Mỹ đã đánh vào Đồng Lộc

1683 lần, ném xuống đa gần 50 ngàn quả bom các loại Bình quân mỗi tháng chúng đánh tới 28 ngày, có ngày tới 103 lần/chiếc với trên 800 quả bom các loại Bầu trời Đồng Lộc chẳng mấy khi được yên tĩnh, luôn ầm ào tiếng rú rít của các loại máy bay Mỹ

Trang 32

Nhận biết được mức độ tàn khốc và âm mưu thủ đoạn thâm hiểm của địch, lãnh đạo Hà Tĩnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương dồn sức cho Đồng Lộc để giữ vững huyết mạch giao thông cho tiền tuyến Miền Nam Lực lượng trực tiếp chiến đấu có Trung đoàn pháo cao xạ 210 mới được điều từ Bắc vào, Tiểu đoàn pháo cao xạ của Tỉnh đội, một bộ phận của Tiểu đoàn 30 công binh Quân Khu Bốn và lực lượng dân quân du kích các xã quanh vùng Ban đảm bảo giao thông trực tiếp chỉ đạo giải toả điểm chốt Đồng Lộc, hình thành các tổ quan sát đếm bom, cắm tiêu và phá bom, ứng cứu đường bộ, thông tin liên lạc, điều hành giao thông và giữ gìn trật tự an ninh trong khu vực

Tổng đội Thanh niên xung phong P18 do Tỉnh đoàn và ngành Giao thông vận tải đã điều động về đây 7 đại đội rải trên tuyến đường từ Cơn Mạng đến Khe Giao Ngành giao thông vận tải cũng đã điều động về Đồng Lộc một tổ cơ giới giao thông do Uông Xuân Lý làm tổ trưởng, 3 đội công trình, một tổ máy gạt Trong quá trình chiến đấu, đảm bảo giao thông ở Ngã ba Đồng Lộc, những người dân và lực lượng dân quân du kích xã Đồng Lộc và các xã dọc theo tuyến đương 15A đã tích cực tham gia giải toả giao thông, tiếp tế lương thực, thực phẩm đạn dược Nhiều gia đình đã nhường nhà, nhường vườn cho các đơn vị đóng quân, làm nơi cứu thương, làm kho, mở đường xế, đường tránh

Chỉ trong tháng 7 của năm 1968, 14 máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Đồng Lộc Các lực lượng đã phối hợp phá được 1780 quả bom, góp 974.240 ngày công để thông tuyến từ Khiêm Ích qua Truông Kén, Bãi Địa dài 6km Quân

và dân các xã đã đóng góp 185.450 ngày công với 42.620 lượt người phục vụ chiến đấu, đào đắp 95.209m3 đất đá, vận chuyển 45m3 gỗ, cung cấp 22.448 cọc tre, 24.000 gánh chổi chống lầy Tổng số quân cao điểm nhất trên mặt trận có lúc lên tới 16.000 người

Trang 33

Trong cuộc chiến đấu tại Ngã ba Đồng Lộc đã xuất hiện nhiều tập thể và

cá nhân tiêu biểu cho ý chí kiên cường, không ngại gian khổ, hiểm nguy, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn Lịch sử chẳng thể nào quên hình ảnh nữ anh hùng La Thị Tám - người con gái sông La ngày ngày đứng trên đỉnh đồi cao, tay cầm ống nhòm, vai khoác áo nguỵ trang, bình tĩnh quan sát đém bom và chỉ chờ máy bay địch vừa đi là lao xuống trận địa cắm tiêu bom nổ chậm cho đồng đội đến rà phá Suốt 200 ngày đêm, mình chị đã đánh dấu 1.205 quả bom nổ chậm Anh hùng Nguyễn Tri Ân - Đại đội trưởng TNXP đối mặt với hiểm nguy, dũng cảm bám trận địa, cùng đồng đội phá 545 quả bom các loại Anh hùng cảnh sát giao thông Nguyễn Tiến Tuẩn dũng cảm hy sinh thông tuyến cứu xe, cứu hàng, giữ gìn trật

tự an ninh vùng trọng điểm “Vua” phá bom - dũng sĩ Vương Đình Nhỏ chỉ huy

cả tiểu đội phá được 529 quả bom các loại, trong đó tự tay mình phá được 198 quả, lấy được 620kg thuốc nổ Ngã ba Đồng Lộc cũng đã chứng kiến cuộc chiến đấu ngoan cường của Trung đoàn pháo cao xạ 210, Tiểu đoàn pháo cao xạ 8 122 đồng chí đã hi sinh, 259 đồng chí bị thương trong chiến đấu Và những chiến công của tổ máy gạt Uông Xuân Lý, tổ máy I - Cục công trình I với nhiệm vụ san ủi, sửa chữa cho xe qua Đó còn là Chiến sĩ TNXP 551, 552 gan dạ, kiên cường mà tiêu biểu là tập thể mười cô gái đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ

Trong khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, bên cạnh dấu tích chiến tranh hố bom

dù đã được rào chắn lại là khu nghĩa trang liệt sĩ dành riêng cho mười cô gái thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 2, Tổng đội 55 Trên từng nấm mộ nhỏ trắng toát phủ đầy hương hoa là là những bức chân dung được khắc chạm vào đá cùng với dòng chú thích về năm sinh, quê quán Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc, Nguyễn Thị Nhỏ, Dương Thị Xuân, Võ Thị Hợi, Nguyễn Thị Xuân, Trần Thị Hường, Hà Thị Xanh, Trần Thị Rạng, Võ Thị Hà Nếu ở thời điểm năm 1968, đa số họ đều là

Trang 34

những thiếu nữ mười chín đôi mươi, người nhiều tuổi nhất cũng chỉ 24, còn trẻ nhất như Võ Thị Hà mới 17 tuổi Giờ đây, những ngôi mộ được xếp thành hai hàng như khi còn sống các cô vẫn đứng tập hợp điểm danh trước khi làm nhiệm

vụ

Trước khi được điều về Ngã ba Đồng Lộc, tiểu đội Võ Thị Tần làm nhiệm

vụ ứng cứu tuyến đường 15A, hết phà Địa Lợi, Cầu Cháy, Phú Lễ đến đoạn Tùng Cóc sang Đức Thọ Tháng 4 năm 1967, Tiểu đội được tăng cường cho Đồng Lộc và được bổ sung thêm quân số Đại đội 552 đóng tại xã Thanh Lộc, cách Ngã ba Đồng Lộc chừng 2km Tiểu đội 4 do Võ Thị Tần làm Tiểu đội trưởng ở trong các nhà dân trong làng Ngày 14-7-1968, suốt buổi sáng máy bay địch kéo tới, bắn phá các đoạn đường Ngã ba Đồng Lộc Hai quả bom thả trúng đích làm cho đoạn đường bị hư hỏng nặng Lệnh đột xuất của Đại đội cần phải hành quân ngay từ đầu chiều mới kịp san lấy mặt bằng để cho xe thông tuyến Tiểu đội 4 không ngần ngại ra quân, cuốc xẻng trên tay, hối hả xúc đào giữa ánh nắng chói chang Sau mấy lần máy bay trinh sát A35 thám sát, một tốp máy bay phản lực rào tới dội bom Cả tiểu đội nhanh chóng nép mình vào sườn đồi ẩn trú Bỗng máy bay địch bay vòng trở lại Một quả bom rơi trúng ngách hào ẩn trú của

họ Khói bom, bụi đất tan dần, nhưng không thấy một ai trong số mười cô đứng dậy Không còn tiếng ca hát cười đùa Cả trận địa lặng đi, chỉ oà vỡ tiếng khóc nghẹn nghào Suốt chiều hôm đó, ngày hôm sau, và cả ngày sau đó đồng đội mới tìm thấy đầy đủ thi hài của mười cô

Sau ngày đất nước thống nhất, phần mộ của các cô được chuyển về nghĩa trang liệt sĩ đặt tại xã Thiên Lộc - quê hương của cô Võ Thị Tần Năm 1989, Ngã

ba Đồng Lộc được công nhận là di tích lịch sử Nhân ngày 27/7/1990, huyện Can Lộc đã cất bốc phần mộ của các cô về nghĩa trang Ngã ba Đồng Lộc dành riêng cho mười cô ngay bên cạnh hố bom - tang chứng tội ác của kẻ thù

Trang 35

Những ngày này, về thăm lại Ngã ba Đồng Lộc xưa, du khách khó lòng hình dung quang cảnh ác liệt của một thời máu lửa Những năm qua, những hạng mục công trình đã mọc lên: Tượng đài chiến thắng; Biểu tượng của ngành Giao thông vận tải; Nhà tưởng niệm TNXP toàn quốc, những kỷ vật của mười cô gái,

bức thư, sổ tay ở đây vui lắm mẹ ạ Bom đạn của chúng có thể làm rung chuyển cả núi rừng nhưng không thể làm rung chuyển trái tim của chúng con”

thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn Mảnh đất Đồng Lộc đang được hồi sinh với những công trình mới, cuộc sống mới

Những năm gần đây, lượng khách đến thăm Ngã ba Đồng Lộc ngày một tăng, năm 2004, có 80 nghìn lượt khách trong và ngoài tỉnh, đến năm 2009 lên đến 130 nghìn lượt Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà Nước cũng đã về đây

Và đông hơn cả là những đoàn khách cựu chiến binh, cựu TNXP, thanh thiếu niên trong và ngoài tỉnh Ngày nay, Đồng Lộc đang trở thành điểm tham quan học tập có ý nghĩa đối với thế hệ trẻ

b Bến đò Thượng Trụ

Cách thị trấn Nghèn 1km về phía Đông theo đương huyện lộ có một con sông cạn chảy qua đó là bến đò Thượng Trụ Xưa kia vùng đất này là bãi đầm lầy được khẩn hoang lập ấp, địa danh đầu tiên là trại Thượng Trụ, nâng thành một thôn, nhưng là thôn nhỏ lẻ nằm trong xã Hữu Ngoại xưa, nay là xã Thiên Lộc- huyện Can lộc Địa phận xã khá rộng, trải dài từ chân Rú Hống (Hồng Lĩnh) xuống tận tả ngạn sông Hà Vàng Dân gian thường gọi là vùng “ Sông Vàng - Rú Đỏ”

Dân làng có vinh dự và cũng là trách nhiệm bảo vệ ngôi chùa cổ “Hoan Châu đệ nhất danh lam”, được xây cất từ xa xưa trên một danh sơn được coi là

“cố đô Ngàn Hống” Vùng đất này nằm trong phạm vi chiến khu Nam Hồng Lĩnh của chúa Hai (Mai Thúc Loan) trong cuộc khởi nghĩa chống quân nhà

Trang 36

Đường Đây là vùng có miếu mạo, lăng mộ của hai vị danh tướng Nam nhạc ô Trà Sơn linh thông Đại vương thời Lý ở Phổ Minh và Thái tể thượng trụ quốc Lê Tướng Công thời Lê ở Thượng Trụ: Ở đây còn có ngôi mộ của trạng nguyên Bạch Liêu quê ở Yên Thành (thời Trần), với hệ thống mộ và nhà thờ hai vị đại khoa họ Trần và họ Võ, cùng một số vị hương khoa trong đó có Võ Liêm Sơn, một chí sĩ cách mạng, tác giả thơ văn nổi tiếng trong cả nước

Một vùng đất đã có nền tảng phát triển từ lâu, đã xây đắp nên một vùng văn hoá với các dòng họ nổi tiếng trong cả nước Do đó ý thức bảo vệ quê hương

đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người dân Nhất là sau khi đất nước bị giặc Pháp xâm lược ý thức đó lại càng bộc lộ mạnh mẽ Liên tục từ các phong trào Duy Tân, chống thuế, Quang Phục, Tân Việt để chọn đây là cơ sở tin cậy Thượng Trụ - Hữu Ngoại là một trong 5 chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Liên đoàn ở Can Lộc, được thành lập từ tháng 11, năm 1929 Đây là chi bộ cộng sản đầu tiên dám đứng mũi chịu sào, đầu sóng ngọn gió Thời kỳ này có các sự kiện nổi bật xứng đáng được biểu dương

Một là, cuối tháng 12-1929, trên chuyến đò dọc do chi bộ Thượng Trụ-

Hữu Ngoại bố trí phục vụ cuộc họp cải tổ Đảng Tân Việt thành Đông Dương Cộng sản Đảng Liên Đoàn Tham gia cuộc họp có Ngô Đức Đệ, Lê Tiềm, Võ Quê

Như vậy, trước khi thành lập tỉnh Đảng bộ và Tỉnh uỷ lâm thời Hà Tĩnh, trong tỉnh đã có hai tổ chức cộng sản: Đông Dương cộng sản Đảng Liên Đoàn và Đông Dương cộng sản Đảng

Hai là, cuối tháng 3-1930, được sự uỷ nhiệm của Xứ uỷ Trung Kỳ, đồng

chí Nguyễn Trung Thiên tiến hành cuộc họp tại bến đò Thượng Trụ để thành lập Đảng bộ Hà Tĩnh, tham dự hội nghị có các đại biểu của Đông Dương Cộng sản đảng Liên đoàn và Đông Dương Cộng sản Đảng

Trang 37

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và thành lập Đảng bộ Hà Tĩnh đầu tiên đã tạo ra bước ngoặt lớn đưa phong trào đấu tranh của Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà tiến lên đỉnh cao của phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh

Trong kháng chiến chống Mỹ, làng trở thành mục tiêu bị đánh phá ác liệt, nhiều nhà phải sơ tán Hoà bình lập lại khá nhiều gia đình không trở lại thôn cũ nữa Nhưng hiện nay, đất nước phát triển, xã hội không ngừng đi lên, làng quê Thượng Trụ đang được hồi sinh

Để ghi lại dấu ấn những sự kiện quan trọng trên bến đò Thượng Trụ, Đảng

bộ Hà Tĩnh đã quyết định đầu tư các hạng mục xây dựng điểm di tích bến đò Thượng Trụ Và đó là góp phần khắc ghi công lao của thế hệ cha ông trong việc giáo dục thế hệ trẻ Can lộc, Hà Tĩnh, và sẽ là rất hữu ích đối với những người muốn tìm hiểu về mảnh đất này

c Ngã Ba Nghèn

Cụm di tích Ngã ba Nghèn với di tích Núi Nghèn, nhà truyền thống khắc hoạ lên cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường của người dân Can lộc trong phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh cũng như trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sau này Nghèn còn là trung tâm huyện lỵ của Can Lộc với các hoạt động văn hoá tinh thần phong phú Cụm di tích Nghèn sẽ là điểm đến có

ý nghĩa của du khách khi tìm hiểu về văn hoá của vùng đất này

d Làng văn hoá 130

Làng văn hoá 130 đang là địa chỉ du lịch văn hoá hấp dẫn của du khách Với cuộc sống mộc mạc chân thành nhưng đầy nhiệt huyết của người dân, du khách có thể cảm nhận được vẻ đẹp tinh thần của một làng quê bình dị nhưng đã làm nên những chiến tích phi thường trong lịch sử

Trang 38

2.1.2 Lễ hội truyền thống ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh

2.1.2.1 Lễ hội và đặc điểm của lễ hội

Lễ hội truyền truyền thống là tài nguyên nhân văn có giá trị du lịch lớn Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của một dân tộc hay một hình thức sinh hoạt tập thể của người dân sau những ngày lao động vất vả, hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước Những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí Do vậy lễ hội có tính hấp dẫn cao đối với khách du lịch Bất cứ lễ hội nào cũng có hai phần chính: phần lễ và phần hội Cả hai phần đó đều có sức thu hút cao đối với khách du lịch Riêng phần hội

có sự tham gia đông đảo của cư dân địa phương

2.1.2.2 Các lễ hội truyền thống ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh

a Lễ hội Chùa Hương Tích

Nằm trên lưng chừng động Hương Tích một trong bảy ngọn núi nổi tiếng thuộc dãy núi Hồng Lĩnh, Chùa Hương Tích ở độ cao khoảng 550m so với mực nước biển Chùa Hương Tích - tên chữ là Hương Tích Tự, thuộc địa phận xã Thiên Lộc - huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh Từ xưa, Hương Tích Tự nổi tiếng là

“Hoan Châu đệ nhất danh lam”, chùa được xây dựng trên động Hương Tích thuộc danh sơn Hồng Lĩnh với bao hình khe, thế núi đẹp tuyệt vời Đồng thời Hương Tích Tự hấp dẫn, thu hút mọi người bởi đây là cõi Phật Từ xa xưa đã đưa đến cho mọi người những giây phút tĩnh tâm, hướng về cõi siêu linh, tĩnh

độ Khách về Hương Tích quanh năm vừ hưởng ngoạn cảnh non cao núi biếc, vừa vào chùa đắm mình trong những câu chuyện huyền sử về nguồn gốc của chùa, chuyện công chúa ba Diệu Thiện và thắp nén hương cầu xin chư phật phù

hộ độ trì cho cuộc sống được may mắn, tốt đẹp Hương Tích Tự là địa chỉ hấp dẫn, linh thiêng của du khách và phật tử khắp nơi

Trang 39

Chùa Hương - một quần thể di tích, danh lam thắng cảnh có sức cuốn hút

kỳ lạ, có sức hấp dẫn làm say đắm lòng người ở nhiều phương diện Nhưng điều đầu tiên tạo nên sự chú ý cho du khách và phật tử khi đến vãn cảnh chùa là vị trí xây dựng chùa hết sức đặc biệt

Chùa Hương Tích nằm lưng chừng ngọn Hương Tích - một trong bảy ngọn núi đẹp của dãy Hồng Lĩnh hùng vĩ Khách về đây nhìn núi cao ẩn trong những đám mây mờ, tâm hồn sẽ bay bổng bởi những câu chuyện huyền thoại nói

về núi Hồng nổi tiếng là biểu tượng của non nước xứ Nghệ Hồng Lĩnh hùng vĩ với 99 ngọn núi có hình dáng cao, thấp khác nhau gắn với truyền thuyết 100 con chim phượng hoàng đi tìm chốn đậu Câu chuyện ông Đùng “buộc dây thừng kéo núi từ các nơi về xếp thành” một dãy Ngàn Hống Ông Đùng còn moi đất lấy quặng lấy than luyện sắt và dấu tích còn lại là những hòn đá được đăt tên thành Hòn Đe, lò Thổi Đứng dưới chân núi nhìn lên đỉnh non Hồng, ai ai cũng có cảm giác nao lòng bởi hình dạng các động núi, tiếng róc rách của những dòng suối nhỏ và cây cối chìm trong đám sương mây Chính vì vậy mà sự hấp dẫn, kỳ vĩ của Hồng Lĩnh từ xa xưa đã được khắp nơi ca tụng Cảnh đẹp Hồng Lĩnh, tiêu biểu là cảnh Chùa Hương Tích đã được chạm khắc vào “Anh đỉnh” một trong 9 đỉnh đặt tại Thế miếu trong thành nội cố đô Huế

Chùa Hương Tích được đặt vào một địa thế trắc địa và gắn chặt với câu chuyên ông thầy địa lý tài giỏi cưỡi diều giấy đi khắp Hồng Lĩnh tìm “huyệt đất” xây chùa Chùa không nằm trên đỉnh núi mà ẩn mình ở lưng chừng ngọn Hương Tích Phía sau chùa là những tảng đá lớn, dường như vươn ra để che chở, làm cho chùa như khiêm tốn, ẩn mình, thu lại hợp với phong cảnh của nhà phật Xung quanh chùa bao bọc nhiều cây cối, toả bóng xuống các mái chùa, tạo ra cảnh chùa thật u tịch, trầm tư, linh thiêng huyền ảo Đặc biệt, nhiều hạng mục của chùa được gắn với những sự tích, truyền thuyết huyền diệu Am Diệu Thiện

Trang 40

linh thiêng gắn với các sự kiện chuyển mùa, và hoá Phật của công chúa ba Diệu Thiện Am Dược Sư gợi cho gợi cho mọi người về câu chuyện tài giỏi và cao đức Triệu Chấn Giếng trời giải thích hiện tượng “sinh thuỷ” tại chùa Chính cảnh chùa và những câu chuyện truyền thuyết hấp dẫn đưa đến cho thiện nam, tín nữ và du khách tâm trạng như trong mơ, thực mà như hư, hư mà thực, huyền huyền, ảo ảo, lay động tâm can

Quần thể di tích Chùa Hương Tích bao gồm nhiều hạng mục, điểm di tích khách nhau

Từ Ban quản lý chùa ở dưới chân núi lên tới chùa chính gần 3 km, trên hành trình lên cõi phật, du khách và phật tử đi qua nhiều địa hình và điểm di tích Mỗi điểm di tích thường gắn với một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú và được giải thích nguồn gốc từ những câu chuyện khác nhau, tạo nên trí tượng và suy luận phong phú cho người hành hương Điều này mãi mãi khắc sâu trong lòng mỗi người khi được thưởng ngoạn những điểm tham quan kỳ thú của quần thể di tích Chùa Hương Đầu tiên, ta bắt gặp hồ nhà Đường - một hồ nước lớn có dung tích 3,8 triệu m3 Đến đây du khách có thể lựa chọn hành trình ban đầu của mình theo

sở thích riêng Nếu ai thích thú cảnh sông nước thì lại bến, lên truyền máy đi khoảng gần 2km, thoả sức ngắm mặt hồ mênh mông với làn nước trong xanh thẳm Vô số hòn đá, lùm cây hiện ra hai bên bờ với nhiều hình dáng kỳ thú, tuỳ vào trí tưởng tượng của bạn Và những ngày trời nắng, hành khách cảm thấy thư thả khi thoả bàn tay vào dòng nước mát Đi thuyền trên Hồ Nhà Đường cũng là một chuyến tiểu du lịch đầy hấp dẫn Ngược lại, ai đó muốn thử sức mình khi lên chốn bồng lai tiên cảnh bằng đôi chân dẻo dai thì mời hành trình bằng đường bộ

Từ bãi gửi xe, chúng ta hãy tự tìm cho mình một chiếc gậy trúc nhỏ nhắn, mảnh mai Nó sẽ là bạn đường đáng tin cậy nâng bước chân ta tại các đoạn đường đá gập ghềnh, đứng dốc Làm bạn với chiếc gậy trúc dẻo dai chúng ta vững vàng

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê số lượng khách, thu nhập từ du lịch ở huyện Can lộc giai đoạn 2005 - Giải pháp phát triển du lịch văn hoá nhân văn ở huyện can lộc   tỉnh hà tĩnh
Bảng th ống kê số lượng khách, thu nhập từ du lịch ở huyện Can lộc giai đoạn 2005 (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w