Năm 1995 luận án “Sự biểu đạt của ngôn ngữ thẩm mĩ - không gian trong ca dao” của tác giả Trương Thị Nhàn, đã đi sâu phát hiện và phân tích ý nghĩa của các tín hiệu được khảo sát.. Về m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Người hướng dẫn khoa học
ThS LÊ THỊ THÙY VINH
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Lê Thị Thùy Vinh, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tiến hành
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ ngôn ngữ cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ Văn đã nhiệt tình giảng dạy, cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa và Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2013
Tác giả khóa luận
Vũ Thị Quỳnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Lê Thị Thùy Vinh chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo đúng quy định của việc nghiên cứu khoa học
Hà Nội, tháng 4 năm 2013
Tác giả khóa luận
Vũ Thị Quỳnh
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
THTM: Tín hiệu thẩm mĩ
THNN: Tín hiệu ngôn ngữ
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Lịch sử vấn đề 8
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Đóng góp của khóa luận 10
8 Cấu trúc của khóa luận 11
NỘI DUNG 12
Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1.Tín hiệu 12
1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 13
1.3.Tín hiệu thẩm mĩ 15
1.3.1.Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ 15
1.3.2 Mối quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ 17
1.3.3 Hằng thể và biến thể của tín hiệu thẩm mĩ 18
1.3.4 Nguồn gốc của tín hiệu thẩm mĩ 19
1.3.5.Các cấp độ của tín hiệu thẩm mĩ 23
1.3.6 Các tính chất của tín hiệu thẩm mĩ 24
1.3.7 Phương thức xây dựng tín hiệu thẩm mĩ 32
Chương 2.KHẢO SÁT TÍN HIỆU THẨM MĨ “NƯỚC” TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 34
2.1 Tình hình khảo sát, thống kê dữ liệu 34
2.1.1 Các không gian chứa nước gồm biển, sông, ao 35
2.1.2 Các trạng thái của nước 35
Trang 72.1.3 Các hành động liên quan đến nước 35
2.1.4 Các phương tiện di chuyển trên nước 29
2.2 Hiệu quả của tín hiệu thẩm mĩ “nước” trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 29
2.2.1 Biến thể dòng sông 29
2.2.2 Biến thể ghe, xuồng, thuyền 43
2.2.3 Biến thể mưa 49
2.2.4 Biến thể nước mắt 51
2.2.5 Tín hiệu thẩm mĩ “nước” trong việc tạo nên phong cách của Nguyễn Ngọc Tư 57
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn Mỗi tác phẩm được hình thành phải trải qua quá trình người nghệ sĩ quan sát, suy nghĩ, trăn trở về thế giới Khi đã trở thành một tác phẩm văn học hoàn chỉnh, nó là một cấu trúc sinh động bao gồm nhiều yếu tố nghệ thuật kết hợp với nhau Sự cộng hưởng của các yếu tố nghệ thuật làm cho tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất Đặc biệt để tăng giá trị biểu đạt và chiều sâu ý nghĩa tác phẩm, nhà văn thường dụng công xây dựng những tín hiệu thẩm mĩ (THTM) THTM
là cơ sở để giải mã hình tượng, tăng tính hàm súc, giàu sức gợi của ngôn từ THTM luôn chứa đựng khả năng nảy sinh quan niệm, dồn nén các tầng nghĩa Phân tích tác phẩm văn học từ phương diện THTM là con đường khoa học để khám phá những thông điệp nghệ thuật đắt giá
“Nước” là một tín hiệu thẩm mĩ phổ biến và được sử dụng nhiều trong
văn xuôi hiện đại Đặc biệt trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, một tác giả
nữ vùng Nam Bộ, tín hiệu thẩm mĩ “nước” là một tín hiệu cứ trở đi trở lại làm nên “dòng chảy sâu kín” về ý nghĩa tác phẩm Điều này gián tiếp tạo nên
sức hấp dẫn của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Với ý nghĩa đó, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Tín hiệu thẩm mĩ
nước trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” với mục đích giải mã được những
thông điệp thẩm mĩ mà nhà văn gửi gắm đồng thời thấy được vai trò của chủ thể trong việc điều chỉnh, tái tạo, bổ sung ý nghĩa mới cho tín hiệu thẩm mĩ
Trang 9giả Hoàng Tuệ, Hoàng Trinh, Phan Ngọc, Đái Xuân Ninh quan tâm nghiên cứu nhiều
Nhiều luận án khai thác theo hướng nghiên cứu này cũng đã khẳng định được ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ Năm
1995 luận án “Sự biểu đạt của ngôn ngữ thẩm mĩ - không gian trong ca dao”
của tác giả Trương Thị Nhàn, đã đi sâu phát hiện và phân tích ý nghĩa của các
tín hiệu được khảo sát Gần đây nhất là luận văn sau đại học “Tín hiệu thẩm mĩ
trong thơ Tố Hữu” của Nguyễn Bích Khải và luận văn “Khảo sát một số tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa sông - nước trong ca dao Việt Nam” của
Kiều Thị Phong Các tác giả của luận văn đã sử dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh tu từ để làm rõ giá trị thẩm mĩ của các tín hiệu được khảo sát
Việc nghiên cứu những truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư từ góc độ ngôn ngữ đã có nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên việc nghiên cứu từ góc độ lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ nói chung và đặc biệt là tín hiệu thẩm mĩ
“nước” nói riêng thì cho đến nay vẫn chưa có công trình chuyên khảo nào
Đây chính là lí do chính để chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Đi sâu nghiên cứu đề tài “Tín hiệu thẩm mĩ nước trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư” chúng tôi nhằm những mục đích sau:
- Cung cấp và khẳng định những vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ học, đặc biệt là phong cách học
- Thấy được ý nghĩa biểu trưng của “nước” trong truyện Nguyễn Ngọc Tư
- Chuẩn bị tư liệu cần thiết cho việc học tập hiện nay cũng như việc giảng dạy sau này của bản thân
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra đề tài này phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 10- Tập hợp các vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài này như: khái niệm THTM, đặc tính THTM, vấn đề hằng thể và biến thể, cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ
- Thống kê phân loại tín hiệu thẩm mĩ “nước” trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư
- Hiểu được ý nghĩa tín hiệu thẩm mĩ “nước” trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư để rút ra kết luận cần thiết
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Tín hiệu thẩm mĩ “nước” trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này chỉ tìm hiểu THTM “nước” trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: sử dụng phương pháp này để thống kê THTM
“nước” qua các tác phẩm
- Phương pháp phân loại: dùng phân loại THTM “nước” các tiêu chí
khác nhau
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: dùng để phân tích THTM “nước”
trong ngữ liệu tiêu biểu nhằm xác định hiệu quả sử dụng của chúng
7 Đóng góp của khóa luận
7.1 Về mặt lí luận
Khóa luận góp phần làm rõ lí thuyết về tín hiệu thẩm mĩ nói chung và tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương nói riêng
7.2 Về mặt thực tiễn
Khóa luận cung cấp một hệ thống những từ ngữ thể hiện tín hiệu thẩm
mĩ “nước” trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư để làm rõ ý nghĩa biểu trưng
của tín hiệu này, qua đó phong cách nghệ thuật của tác giả được nhấn mạnh
Trang 118 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được triển khai theo 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Khảo sát tín hiệu thẩm mĩ “nước” trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư
Trang 12NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, như màu sắc đối với hội họa,
âm thanh đối với âm nhạc, hình khối đối với kiến trúc Nói cho cùng văn học
là nghệ thuật của ngôn từ Trong quá trình sáng tạo ra tác phẩm văn chương, nhà văn thường dụng công lựa chọn ngôn ngữ để xây dựng các tín hiệu thẩm
mĩ Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt Vì vậy THTM trước hết về mặt bản chất cũng là một loại tín hiệu Bởi vậy để nghiên cứu THTM phải xem xét nó trong phạm trù chung - tức phạm trù tín hiệu Đồng thời các THTM cần phải được xem xét trong mối quan hệ hữu cơ với các tín hiệu ngôn ngữ được sử dụng làm phương tiện thể hiện trong tác phẩm văn chương 1.1.Tín hiệu
Trong cuộc sống hiện nay, chúng ta dùng rất nhiều tín hiệu: tiếng chuông, tiếng kẻng báo giờ học, biển vẽ trên đường giao thông, tín hiệu hàng hải, kí hiệu trong Toán học, Vật lí, Kĩ thuật… THTM cũng là một loại tín hiệu Nó cũng mang những đặc trưng chung của một tín hiệu Vì vậy chúng ta phải biết tín hiệu là gì?
Theo P.Guiraud: “Một tín hiệu là một kích thích mà tác động của nó đến
cơ thể gợi ra hình ảnh ký ức của một kích thích khác”[1, 51] Theo A.Schaff
định nghĩa: “Một sự vật hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở
thành tín hiệu nếu như trong quá trình giao tiếp nó được các nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm (những cảm xúc, những cảm thụ nghệ thuật, một ý chí…)”[1, 51] Theo hai
cách hiểu này thì mọi hình thức vật chất không phân biệt tự nhiên hay nhân
Trang 13tạo, có chức năng giao tiếp hay không… thì đều được coi là tín hiệu nếu chúng có khả năng gợi ra trong ký ức của một con người về một hình ảnh nào
đó Ví dụ như một bầu trời đầy sao có khả năng sẽ gợi ra hình ảnh về một ngày hôm sau trời nắng đẹp, một tiếng kẻng, tiếng chuông báo hiệu khi có hội họp, hay báo hiệu giờ học theo quy ước giữa những người nào đó…
Kế thừa thành quả của những người đi trước, Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra những điều kiện cần cho một sự vật (hay thuộc tính vật chất hiện tượng) trở thành tín hiệu:
- Nó phải được cảm nhận bằng giác quan (phải có một hình thức cảm tính - cái biểu hiện) Ví dụ như: âm thanh, màu sắc hình vẽ, ánh sáng…
- Nó phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó (phải mang một nội dung ý nghĩa)
- Nó phải được lĩnh hội bởi một chủ thể
- Nó phải nằm trong một hệ thống nhất định
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng ngôn ngữ cũng được coi là một loại tín hiệu và tín hiệu ngôn ngữ là một loại tín hiệu đặc biệt
1.2 Tín hiệu ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt Tín hiệu ngôn ngữ nói riêng
và tín hiệu nói chung đều là những dạng vật chất tác động vào giác quan của con người để con người nhận thức và lĩnh hội được nội dung ý nghĩa cần thiết
và hiểu biết tư tưởng tình cảm hành động hay cảm xúc Trong số các tín hiệu
mà con người sử dụng hiện nay thì tín hiệu ngôn ngữ có lịch sử lâu đời và phổ biến rộng khắp nhất Từ khi ra đời cho đến nay, ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, con người đều dùng tín hiệu ngôn ngữ Có thể nói, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu phổ biến, lâu đời và quan trọng nhất trong cuộc sống của con người
Ngôn ngữ thì có nhiều đơn vị Những đơn vị có mặt âm thanh “âm vị ,
âm tiết” không phải các tín hiệu Hình vị tuy có nghĩa nhưng không thể dùng
Trang 14độc lập để giao tiếp nên cũng không thể đóng vai tín hiệu được Còn các cụm
từ, các câu, các văn bản là tập hợp của nhiều tín hiệu, là sản phẩm do sự kết hợp của nhiều tín hiệu Chỉ có các từ là đáp ứng yêu cầu của tín hiệu Do đó
từ đây khi nói đến tín hiệu ngôn ngữ chủ yếu là nói đến đơn vị từ
Tín hiệu ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt khác với các hệ thống tín hiệu khác như hệ thống tín hiệu đèn giao thông, hệ thống tín hiệu chữ nổi cho người mù…Những sự khác biệt đó làm nên bản chất của tín hiệu ngôn ngữ
Đó là những sự khác biệt chủ yếu sau:
- Tín hiệu ngôn ngữ là một tín hiệu nhân tạo do con người thỏa thuận ngầm mà hình thành Khác với các tín hiệu nhân tạo khác như các biển báo giao thông, tiếng còi tàu, tiếng trống…chịu sự chi phối nhất định của thời gian
và không gian, công dụng cũng hạn chế nhiều hơn so với tín hiệu ngôn ngữ
- Tín hiệu ngôn ngữ là tín hiệu âm thanh được tiếp nhận bằng thính giác Khi thể hiện trên chữ viết, nó chuyển sang tín hiệu thị giác, tiếp nhận bằng mắt Nhiều tín hiệu khác chỉ là tín hiệu thị giác hay tín hiệu thính giác Những đặc điểm âm thanh của tín hiệu ngôn ngữ như cao độ, trường độ, âm sắc, nhịp điệu… đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện và phân biệt nội dung ý nghĩa
- Tín hiệu ngôn ngữ luôn có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt trong ngôn ngữ là hình thức ngữ âm và cái được biểu đạt là nội dung Giữa hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ có quan hệ võ đoán cao tức là quan
hệ không có lí do và không thể nào giải thích được Đại đa số tín hiệu ngôn ngữ mang tính võ đoán cao Chúng ta không thể giải thích được vì sao người Việt dùng âm thanh cây, người Trung Quốc dùng âm mộc, người Nga dùng
âm thanh derevo…
- Tín hiệu ngôn ngữ có tính hình tuyến: các tín hiệu ngôn ngữ phải lần lượt được tạo ra và lần lượt được tiếp nhận, lĩnh hội chứ không thể ở trong tình trạng xuất hiện đồng thời Đây chính là sự nối tiếp theo trật tự thời gian
Trang 15chỉ có một chiều như một đường chỉ F.D.Saussure viết: “Vốn là vật nghe
được, cái biểu hiện diễn ra trong thời gian và có đặc điểm vốn là của thời gian: nó có một đại lượng; và đại lượng đó chỉ có thể đo trên một chiều mà thôi; đó là một đường chỉ, một tuyến”[8, 144]
- Tín hiệu ngôn ngữ mang tính đa trị: Ở nhiều loại tín hiệu khác mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là 1/1 nghĩa là ứng với một cái biểu đạt thì có một cái được biểu đạt Đó là quan hệ đơn trị Ở ngôn ngữ không hoàn toàn như vậy, có khi một cái biểu đạt lại ứng với nhiều cái được biểu đạt khác nhau, chẳng hạn như các từ đa nghĩa và đồng âm có nhiều cái biểu đạt khác nhau ứng với một cái được biểu đạt
- Tín hiệu ngôn ngữ có tính biểu cảm: Ở nhiều loại tín hiệu cái được biểu đạt chỉ thuần túy mang nội dung lí trí không hề mang sắc thái biểu cảm dù ở mức độ rất nhỏ Còn tín hiệu ngôn ngữ không chỉ có nội dung lí trí mà thường còn thể hiện cảm xúc, tình cảm của con người Nó được thể hiện ở các từ
chuyên thể hiện tình cảm như: các tình thái từ “ối, chao, ôi, chà ” hay các từ
có nghĩa về tâm lí, tình cảm “ yêu, ghét, thương, thù…” hay chính từ tên gọi
của sự vật hiện tượng được nói đến Nó tạo nên thành phần nghĩa tình thái trong câu
- Tín hiệu ngôn ngữ có một đặc điểm bản chất là tính hệ thống: các tín hiệu ngôn ngữ tuy vô cùng lớn về số lượng và đa dạng về các mặt âm thanh, ý nghĩa, chức năng, giá trị… nhưng luôn nằm trong mối quan hệ hệ thống với nhau Không có tín hiệu nào tồn tại biệt lập, rời rạc ở bên ngoài hệ thống Mỗi
hệ thống là một chỉnh thể bao gồm nhiều yếu tố (ít nhất là hai tín hiệu) các yếu tố đó luôn có quan hệ tương tác chế định lẫn nhau
1.3.Tín hiệu thẩm mĩ
1.3.1.Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ
Khái niệm THTM được đưa vào nước ta từ những năm 70 của thế kỉ
XX qua các bản dịch công trình của Iu.A.Philipiep, M.B.Kharpchenco, các
Trang 16nghiên cứu của giáo sư Đỗ Hữu Châu, Trần Đình Sử, Nguyễn Lai Trong các công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu tuy chưa đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất về tín hiệu thẩm mĩ, song họ đều thừa nhận THTM là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật
Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã giải thích cụ thể hơn về THTM ngôn ngữ như
sau: “THTM phân biệt với các tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên ở chỗ ý nghĩa của
nó không bao giờ chỉ dừng lại ở phạm vi tái tạo hiện thực mà phải là một tư tưởng, một tư tưởng nào đó của người nghệ sĩ” Đỗ Hữu Châu cũng đã khẳng
định rằng: “THTM là phương tiện sơ cấp của văn học là ngôn ngữ - THTM,
cú pháp THTM THNN tự nhiên trong văn học chỉ là hình thức cái biểu đạt của THTM”[1, 18] Và Đỗ Hữu Châu đã đưa ra cách hiểu như sau về THTM:
“ THTM là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành
nghệ thuật bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết, những sự việc, hiện tượng, những cảm xúc… thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng ) những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn chương, của các yếu tố chất liệu màu sắc với hội họa, âm thanh, nhịp điệu với âm nhạc…) được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ” [1, 23]
Vậy chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản THTM là loại tín hiệu có chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt và bồi dưỡng cảm xúc về cái đẹp Nó cũng cần có hai mặt: cái biểu đạt (hình thức biểu hiện) và cái được biểu đạt (nội dung ý nghĩa)
- Hình thức biểu hiện (cái biểu đạt): tín hiệu thẩm mĩ phải có cái phần tri giác được, phần có thể nhận biết được bằng các giác quan Nó là âm thanh trong
âm nhạc, là màu sắc trong hội họa, là ngôn từ trong văn học…Nghệ thuật không
thể phản ánh hiện thực bên ngoài những phương tiện vật chất của nó
- Nội dung ý nghĩa (cái được biểu đạt): tín hiệu thẩm mĩ phải thông tin
về một cái gì đó trong đời sống hiện thực, nó mới thể hiện được chức năng
Trang 17phản ánh nghệ thuật của mình Thông qua hiện thực được phản ánh, nội dung
tư tưởng nghệ thuật được toát lên Bởi vậy, ý nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ chính là ý nghĩa thẩm mĩ
1.3.2 Mối quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu ngôn ngữ là chất liệu để tạo nên tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương Để làm được điều đó nó cần có quá trình chuyển hóa nhờ sự sáng tạo
của nghệ sĩ và sự lĩnh hội, cảm thụ của độc giả IU.Mlotman viết: “Văn học có
tính nghệ thuật nói bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai Bởi vậy mà người ta xác định nó như là hệ thống mô hình thứ hai…Từ điều nói trên suy ra rằng, nghệ thuật ngôn từ dù cũng dựa vào ngôn ngữ tự nhiên, nhưng lại chỉ với điều kiện là để cải biến nó thành thứ ngôn ngữ của mình - ngôn ngữ thứ sinh, ngôn ngữ của nghệ thuật” Do đó chúng ta cần phải xem xét sự chuyển hóa tín
hiệu ngôn ngữ thông thường thành THTM trong tác phẩm văn học
Một THNN có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Khi cấu tạo ra THTM thì tổng thể hai mặt của THNN đóng vai trò cái biểu đạt cho THTM, còn cái được biểu đạt của THTM là ý nghĩa thẩm mĩ được chuyển hóa từ tác động qua lại của nhiều nhân tố Ví dụ như trong câu ca dao sau:
“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
Trong câu ca dao trên có hai THTM là “thuyền” và “bến” Hai THTM
này biểu hiện cho tình cảm của con người cụ thể trong câu ca dao này là tình cảm giữa người con trai và người con gái Người con trai và người con gái cũng sinh ra và tồn tại trên cõi đời theo một mối quan hệ tương hỗ, chế định nhau và cũng có lúc họ phải tạm xa nhau Nhưng trong hoàn cảnh nào thì người con gái vẫn giữ tấm lòng thủy chung Trong câu ca dao này, sở dĩ
“thuyền” và “bến” trở thành THTM là nhờ sự tích tụ của nhiều nhân tố Đó
Trang 18là dựa vào ý nghĩa vốn có trong ngôn ngữ tự nhiên của các từ “thuyền” và
“bến”, dựa vào ngữ cảnh văn hóa, dựa vào sự hiện diện trong câu ca dao của
hai từ “thuyền”, “bến” cùng các từ khác trong câu và đó còn do độc giả với
toàn bộ vốn văn hóa để liên tưởng, tưởng tượng, cảm nhận giải mã các THTM Như thế, chúng ta thấy rằng từ THNN đến THTM đã có sự thay đổi về chất Mối quan hệ giữa THNN và THTM có thể biểu hiện bằng sơ đồ sau:
Tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương Cái biểu đạt (Tổng thể hai mặt của THNN ) Cái được biểu đạt
Cái biểu đạt của THNN Cái được biểu đạt của
cảm gắn bó, thủy chung giữa người con gái và người con trai
Âm thanh / chữ viết:
Thuyền / bến
Ý nghĩa ngôn ngữ:
Hai sự vật thuộc sông nước
1.3.3 Hằng thể và biến thể của tín hiệu thẩm mĩ
THTM có thể tồn tại ở hai dạng thức: hằng thể và biến thể
1.3.3.1 Hằng thể
Là dạng điển hình nhất, phổ biến nhất, cũng là dạng đơn giản nhất về mặt hình thức (thường biểu hiện bằng một từ ) Mỗi hằng thể thường tập hợp xung quanh mình hàng loạt biến thể để tạo nên hệ thống
Ví dụ, hằng thể của THTM “mắt” có cái biểu đạt là từ “mắt”:
“Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”
(Tục ngữ)
“Mắt em là một dòng sông Thuyền ta bơi lặn trong dòng mắt em”
(Lưu Trọng Lư )
Trang 191.3.3.2 Biến thể
Là dạng biểu hiện tuy khác biệt về hình thức biểu đạt (cái biểu đạt) với hằng thể nhưng cùng chung hoặc có mối liên hệ mật thiết về ý nghĩa với hằng thể
Biến thể có hai loại: biến thể từ vựng và biến thể kết hợp
Biến thể từ vựng: đó là những từ ngữ khác biệt về hình thức âm thanh với hằng thể nhưng cùng biểu hiện một ý nghĩa như hằng thể Đó là các biến thể ngữ
âm, biến thể địa phương hay những từ gốc ngoại, từ ngữ phái sinh Ví dụ: biến
thể từ vựng của THTM “mắt”: Nhãn, mục, cửa sổ tâm hồn, mắt mũi…
Biến thể kết hợp: là tất cả những từ ngữ cùng một trường nghĩa với hằng thể và có thể kết hợp theo trục ngang với từ ngữ - hằng thể Về mặt từ loại, biến thể kết hợp có thể là danh từ, động từ, tính từ hoặc cụm danh, cụm động, cụm tính… Về mặt ý nghĩa, các biến thể kết hợp của một hằng thể tuy cùng trường nghĩa với hằng thể nhưng có ý nghĩa đa dạng Ví dụ, với THTM
“mắt” , biến thể kết hợp có thể là những từ ngữ biểu hiện hình dáng của mắt
(mắt lá răm, mắt bồ câu, mắt ốc nhồi…), màu sắc của mắt (mắt xanh, mắt huyền…), hoạt động của mắt (nhìn, ngó, trông, nhòm…)…
Hằng thể và biến thể của THTM thường xuất hiện trong cùng một tác phẩm văn chương tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm
1.3.4 Nguồn gốc của tín hiệu thẩm mĩ
THTM thuộc về tác phẩm nghệ thuật nhưng nó có nguồn gốc từ nhiều phương diện khác nhau của cuộc sống con người
Trước hết, THTM có nguồn gốc từ hiện thực xung quanh con người: tự nhiên và xã hội Đây là những THTM được xây dựng trên cơ sở những sự vật hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội Nhà văn trong quá trình sáng tạo đã quan sát, chiêm nghiệm nhận ra những ý nghĩa thẩm mĩ tiềm tàng trong các
sự vật hiện tượng trong xung quanh mình Từ đó, họ căn cứ vào các sự vật, hiện tượng để xây dựng các THTM thông qua chất liệu là tín hiệu ngôn ngữ gọi tên các sự vật hiện tượng tương ứng
Trang 20Biết bao cây cối loài vật đã tạo nên THTM trong văn chương Từ những loại cây quý phái như tùng, cúc, trúc, mai… đến những loài cây dân dã, thậm chí hoang dại như cây tre, cây chuối, cây đa, cây cỏ… đều trở thành THTM trong văn học Như cây xấu hổ, là một loài cây hoang dại nhưng đã được nhà thơ Anh Ngọc xây dựng thành THTM trong tác phẩm cùng tên
“Bờ đường 9 có lùm cây xấu hổ Chiến sĩ đi qua ai cũng mỉm cười Giữa một vùng lửa cháy bom rơi Tất cả lộ nguyên hình trần trịu Cây xấu hổ với màu xanh bối rối
Tự giấu mình trong lá khép lim dim…”
Các loài động vật cũng là nguồn gốc cho các THTM Trong truyện ngụ ngôn Thỏ, Rùa chạy thi, thì Thỏ và Rùa chính là các THTM Hay trong tác
phẩm “Ông già và biển cả” của Hê-minh-uê, con cá và ông lão đánh cá chính
là những THTM nói lên khát vọng của con người
Các vật thể, hiện tượng thiên nhiên như sông, nước, biển, núi, đồi, mây, trăng…cũng được các nhà nghệ sĩ xây dựng thành các THTM trong tác phẩm văn chương Như trong thơ Hàn Mặc Tử, trăng trở thành một THTM mang nhiều ý nghĩa khác nhau: trăng biểu trưng cho cái đẹp, cho tình ái, cho nỗi đau thương…
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.”
Hay
“Trăng năm sóng soài trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi…
Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.”
Các sự vật nhân tạo và các hiện tượng xã hội trong cuộc sống của con người cũng là nguồn gốc cho các THTM Như bánh trôi nước, cái quạt trong
Trang 21những bài thơ cùng tên của Hồ Xuân Hương, tiến sĩ giấy - đồ chơi làm bằng giấy cho trẻ con chơi vào dịp trung thu trong bài thơ cùng tên của Nguyễn Khuyến, hay cối xay gió trong tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê của Xéc-van-tét đều
là nguồn gốc của các THTM
Có thể nói rằng, không một sự vật hiện tượng nào trong thế giới tự nhiên
và xã hội con người không thể là đề tài cho các sáng tác, là nguồn gốc cho các THTM trong văn chương, miễn là nhà văn quan sát phát hiện ra những ý nghĩa thẩm mĩ tồn tại trong các sự vật hiện tượng đó
Thứ hai, nguồn gốc của các THTM trong văn chương còn có thể là những chi tiết, sự kiện, những điển tích, điển cố, những sản phẩm tinh thần thuộc đời sống văn hóa của từng dân tộc hay toàn nhân loại Đây cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho cảm hứng sáng tạo, cho các THTM của các nhà văn thuộc các thế hệ sau
Trong kho tàng văn học dân gian với các thể loại ca dao, thành ngữ, tục ngữ…các nhà văn đã khai thác và xây dựng nhiều THTM Ví dụ như hình tượng con cò là hình tượng phổ biến trong ca dao Việt Nam Nhà thơ Chế Lan Viên đã xuất phát từ đó để xây dựng THTM con cò trong bài thơ cùng tên:
“Con còn bế trên tay Con chưa biết con cò Nhưng trong lời mẹ hát
Có cánh cò đang bay…”
Rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, điển tích, điển cố đã đi vào tác phẩm của các nhà văn đời sau thành các THTM Như điển cố - những chi tiết những sự kiện trong các tác phẩm quá khứ, hay trong cuộc sống trước đây mà có ý
nghĩa cũng được xây dựng thành các THTM Ví dụ: Trong bài thơ “Khóc
Dương Khuê” để thể hiện một tình bạn cao đẹp, Nguyễn Khuyến đã sử dụng
hai điển cố từ văn học Trung Hoa:
Trang 22“Giường kia treo cũng hững hờ Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.”
Có trường hợp các THTM được xây dựng từ các truyện cổ Như trong đoạn thơ sau đây của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ:
“Thị thơm thị giấu người thơm Chăm làm thì được áo cơm cửa nhà
Đẽo cày theo ý người ta
Sẽ thành khúc gỗ chẳng ra việc gì.”
(Truyện cổ nước mình)
“Thị” là THTM xây dựng từ truyện Tấm Cám biểu trưng cho con người
đẹp người, đẹp nết, còn “đẽo cày” là THTM từ truyện cổ “Đẽo cày giữa
đường” nói lên sự cần thiết có chủ kiến khi làm việc
Như vậy là để xây dựng các THTM trong văn chương, các nhà văn thường xuất phát từ các sự vật hiện tượng trong cuộc sống, trong tự nhiên, trong nền văn hóa của dân tộc hay của nhân loại Đó chính là nguồn gốc của các THTM Nhưng bản thân các sự vật hiện tượng đó không thể đi vào tác phẩm văn chương để trở thành THTM Chúng đã được định danh, biểu hiện bằng các hình thức từ ngữ trong ngôn ngữ dân tộc, và chính các từ ngữ đó là chất liệu để tạo nên các THTM Vì thế hình thành một mối quan hệ giữa bộ ba
sự vật hiện tượng, từ ngữ định danh chúng trong ngôn ngữ và THTM trong văn chương Từ mối quan hệ bộ ba đó ta có sơ đồ biểu hiện như sau:
Tín hiệu thẩm mĩ (Có ý nghĩa thẩm mĩ)
Tín hiệu ngôn ngữ
(mang ý ngôn ngữ)
Sự vật hiện tượng (trong hiện thực, nền văn hóa hay tưởng tượng)
Trang 231.3.5.Các cấp độ của tín hiệu thẩm mĩ
Các THTM có thể được phân biệt theo hai cấp độ: vi mô (tín hiệu đơn)
và vĩ mô (tín hiệu phức)
1.3.5.1.Cấp độ vi mô
Là loại THTM được cấu tạo trên cơ sở một từ hay một ngữ THTM vi
mô có thể hiện diện trong một câu ở một từ
VD: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”
Trong câu tục ngữ này có các THTM vi mô là: mực, đen, đèn, sáng, gần Những THTM này có ý nghĩa thẩm mĩ phối hợp với nhau để tạo nên ý nghĩa thẩm mĩ của cả câu tục ngữ là: sống ở những môi trường có cái xấu thì sẽ bị ảnh hưởng và có thể trở nên xấu xa, sống trong môi trường tốt thì sẽ được tiếp cận với cái tốt và trở nên tốt đẹp
Hay trong bài ca dao sau:
“Em tưởng nước giếng sâu
Em nối sợi gầu dài
Ai ngờ nước giếng cạn
Em tiếc hoài sợi dây.”
Trong bài ca dao này chúng ta thấy có hàng loạt các THTM vi mô: nước giếng, nối, sợi gầu, dài, sợi dây Những THTM vi mô này thể hiện
những ý nghĩa thẩm mĩ khác nhau Như THTM “nước giếng” trong câu thứ
nhất thể hiện ý nghĩa chỉ tình yêu sâu sắc của cô gái Ở câu thơ thứ hai các THTM sợi gầu, nối, dài thể hiện ý nghĩa đó là cô gái đáp lại mối tình thắm thiết…
Hay trong một tác phẩm lớn như Truyện Kiều, có rất nhiều THTM vi
mô Như trong câu nói về Sở Khanh: “Một tay chôn biết mấy cành phù dung”
có ba THTM: tay - chỉ cả con người, cành phù dung - chỉ người con gái đẹp,
Trang 24chôn - hủy hoại Từ các THTM này ta có thể hiểu được bản chất con người Sỏ Khanh là một kẻ chuyên lừa lọc làm hại người khác
1.3.5.2.Cấp độ vĩ mô
Là THTM (tín hiệu phức) được hình thành từ cả một tập hợp hay từ tất
cả các từ ngữ trong một văn bản nghệ thuật Mỗi THTM vĩ mô là sự hòa kết tích hợp của nhiều THTM đơn vi mô Trong tác phẩm văn chương THTM vĩ
mô thường được gọi là hình tượng nghệ thuật Lúc đó THTM vĩ mô bao trùm
cả tác phẩm hay một bộ phận của tác phẩm chứ không chỉ tồn tại trong một câu hay một đoạn
VD1: Trong bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương, bánh trôi nước
là một THTM phức Thông qua hình ảnh cái bánh trôi - một món ăn của nông thôn, nhà thơ muốn nói đến thân phận, phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội phong kiến
VD2: Toàn bộ bài “Sóng” của Xuân Quỳnh là một THTM vĩ mô Hình
tượng sóng là THTM vĩ mô thể hiện ý nghĩa thẩm mĩ: trạng thái cảm xúc và tâm lí của người con gái trong tình yêu đôi lứa Để tạo nên THTM vĩ mô này
là sự góp phần của rất nhiều THTM vi mô Như các THTM vi mô nói về trạng thái của con sóng (dữ dội, dịu êm, ồn ào…), nói về khởi nguồn của sóng (gió)… Từ các THTM vi mô tác giả đã kết hợp khéo léo để tạo nên THTM vĩ
mô
1.3.6 Các tính chất của tín hiệu thẩm mĩ
THTM trong tác phẩm văn chương có những tính chất cơ bản sau đây:
1.3.6.1 Tính hình tuyến
Tính hình tuyến là đặc trưng cơ bản của các THTM Nó thể hiện ở sự
kế tiếp lần lượt của các tín hiệu theo tuyến thời gian một chiều, chứ không thể đồng thời hiện ra như các sự vật hiện tượng tồn tại trong không gian Đối với các THTM vi mô, tính hình tuyến thể hiện ở sự kế tiếp lần lượt trong một tác
Trang 25phẩm văn chương Tập hợp các THTM vi mô theo một trật tự hợp lý sẽ tạo ra THTM vĩ mô với một ý nghĩa thẩm mĩ thống nhất
Ví dụ trong bài thơ “Quả sấu non trên cao” của Xuân Diệu, mỗi khổ thơ
lần lượt xuất hiện những tín hiệu miêu tả vị trí, hình dáng, màu sắc của quả sấu, quá trình sinh trưởng, sức mạnh nội tại của nó Sự tập hợp của các THTM vi mô trong bài thơ kế tiếp theo hình tuyến tạo ra THTM vĩ mô và người đọc có thể lĩnh hội được thông điệp thẩm mĩ mà tác giả gửi gắm trong đó: sự sống luôn hình thành và phát triển tự nhiên, từ nhỏ đến lớn, từ ngây thơ đến trưởng thành và có thể đương đầu với tất cả mọi nguy hiểm, mọi kẻ thù hòng phá hoại tiêu diệt nó
Đối với tác phẩm tự sự thì mỗi hình tượng nhân vật là một tín hiệu thẩm
mĩ vĩ mô Mỗi THTM vĩ mô như thế cũng cần phải trải qua cả một quá trình lần lượt được xây dựng từ nhiều THTM vi mô, để cuối cùng hiện ra trong trí não của người đọc như một chỉnh thể và có ý nghĩa thẩm mĩ thống nhất Như hình tượng nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao là một THTM vĩ mô
Nhìn chung, trong tác phẩm văn chương THTM vi mô cần lần lượt kế tiếp theo hình tuyến, còn THTM vĩ mô thì dần dần được hình thành đến phần kết thúc tác phẩm mới hiện lên trọn vẹn và thể hiện ý nghĩa thẩm mĩ
1.3.6.2.Tính có lí do, có thể giải thích được
Các tín hiệu ngôn ngữ thông thường mang tính võ đoán cao, do đó khó hoặc không thể giải thích được lí do của mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Còn THTM thì trái lại, mối quan hệ giữa hai mặt của THTM có thể giải thích được Đó là vì trong quá trình tạo ra THTM, các nhà nghệ sĩ đã lựa chọn một cái biểu đạt nào đó để biểu đạt cho một ý nghĩa thẩm mĩ dựa vào một mối quan hệ nhất định, dựa trên cơ sở nhất định và theo một phương thức nhất định Vì thế mà có nhiều THTM là những sáng tạo riêng mang dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ
Trang 26VD: Trong câu thơ của Nguyễn Du:
“Sầu đong càng lắc càng đầy”
Các THTM trong câu thơ này là: đong, lắc, đầy là những sáng tạo độc đáo của tác giả Chúng được tạo theo phương thức ẩn dụ Nguyễn Du (và Kim
Trọng) cảm nhận trạng thái tâm lí “sầu” giống như các vật thể có thể “cân đo
đong đếm” được Vì vậy người đọc có thể hiểu câu thơ này: nỗi sầu càng sầu
cứ ngày một tăng lên, càng tìm cách giải sầu cho khuây khỏa thì nỗi sầu càng sâu đậm
Không chỉ các THTM vi mô có tính có lí do, các THTM vĩ mô cũng có tính có lí do Trong văn chương THTM vĩ mô được gọi là hình tượng thẩm
mĩ Mỗi hình tượng đó đều được xây dựng trên mối quan hệ với hiện thực khách quan và mối quan hệ với tín hiệu ngôn ngữ Chính các mối quan hệ đó tạo nên cơ sở để lĩnh hội và lí giải các ý nghĩa thẩm mĩ của THTM
VD: Bài thơ “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy có THTM vĩ mô là “tre”
Tín hiệu này được tạo nên bởi nhiều tín hiệu vi mô Tín hiệu vĩ mô của bài thơ này được xây dựng trên mối quan hệ tương đồng giữa cây tre và con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam Nhà thơ đã khéo léo dẫn dắt người đọc qua từng khổ thơ để cảm nhận sự gần gũi của cây tre với người dân Việt Nam: về nguồn gốc, về lịch sử xa xôi, về sự kham khổ nhưng chịu thương chịu khó, về sự yêu thương… Tất cả những sự tương đồng đó giúp người đọc
lí giải được THTM vĩ mô của bài thơ và hiểu được ý nghĩa thẩm mĩ bài thơ Như vậy, nhờ có mối quan hệ với những cơ sở trong hiện thực khách quan mà THTM là tín hiệu có lí do, người đọc có thể giải thích được không phải hoàn toàn một cách tùy tiện chủ quan mà có cơ sở căn cứ
1.3.6.3 Tính hàm súc
Tín hiệu ngôn ngữ có tính đa trị nghĩa là cùng một cái biểu đạt có thể ứng với nhiều cái được biểu đạt và có thể thực hiện nhiều chức năng khác nhau trong giao tiếp ngôn ngữ Ở THTM cũng có tính đa trị, một cái biểu đạt
Trang 27của THTM cũng có thể hàm chứa nhiều ý nghĩa thẩm mĩ khác nhau và được cảm nhận theo nhiều chiều khác nhau và tạo nên tính hàm súc
VD: bài thơ “Thề non nước” của Tản Đà Bao trùm bài thơ là hai THTM
“non” và “nước”:
“Non nước nặng một lời thề Nước đi, đi mãi không về cùng non Nhớ lời nguyện ước thề non Nước đi chưa lại, non còn đứng không…”
Khi độc giả lĩnh hội bài thơ này, có thể thấy rằng THTM “non” và
“nước” có ba tầng ý nghĩa:
+ “Non” và “nước” là hình ảnh của núi sông Do đó, ý nghĩa thẩm mĩ
toát lên từ hai tín hiệu này là chỉ tình cảm gắn bó keo sơn giữa non và nước, núi và sông
+ “Non” và “nước” là hình ảnh của đôi trai gái Do đó, ý nghĩa thẩm
mĩ thứ hai đó là chỉ tình cảm yêu thương thắm thiết giữa chàng trai và cô gái + Đặt bài thơ này trong ngữ cảnh nước ta bị thực dân Pháp xâm chiếm
gần một trăm năm, hai tín hiệu “nước” và “non” có ý nghĩa thẩm mĩ thứ ba
đó là chỉ tình yêu đất nước và lòng tin tưởng vào tương lai sẽ có một ngày đất nước được độc lập, tự do
Đối với tác phẩm tự sự, hình tượng nhân vật chính là THTM vĩ mô Hình tượng nhân vật trong các tác phẩm không phải chỉ nói về một cá thể mà nói tới cả một lớp người trong xã hội Tính hàm súc trong THTM loại này chính
là ở nét điển hình đó Như nhân vật chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố,
không chỉ là hình ảnh về một người phụ nữ, một người nông dân nghèo, mà chị Dậu là hình ảnh điển hình tiêu biểu cho số phận người nông dân và người phụ nữ nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám
Trang 28Tính hàm súc của THTM còn nhân lên nhiều lần khi lượng độc giả càng nhiều không giới hạn trong một không gian hay một nền văn hóa nào Mỗi THTM như một viên ngọc quý càng mài càng thấy sáng Tuy nhiên tính hàm súc của THTM vẫn khác với tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ ở chỗ: tín hiệu ngôn ngữ có thể có nhiều nghĩa ngay khi nó tồn tại ở dạng đơn lẻ, chưa tham gia vào hoạt động giao tiếp (từ đồng âm, từ đa nghĩa) Trong khi đó tính hàm súc của THTM chỉ hình thành và tồn tại trong tác phẩm văn chương, trong một ngữ cảnh nhất định, cần được lĩnh hội và giải mã trên một cơ sở nhất định
1.3.6.4 Tính cá thể
Ngôn ngữ mang tính toàn dân Mỗi cá nhân trong cộng đồng ngôn ngữ nhìn chung đều sở hữu và sử dụng một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ chung (giống nhau về hình thức âm thanh và nội dung biểu hiện) THTM thì trái lại
nó mang tính cá thể Nghĩa là THTM do cá nhân sáng tạo ra, mang dấu ấn của
cá nhân đó, có thể không lặp lại Có những trường hợp THTM do cá nhân tạo
ra được lưu truyền rộng rãi nhưng không hoặc hầu như không một tác giả nào lặp lại Như trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:
“Nách tường bông liễu bay sang láng giềng”
“Nách” là một THTM vi mô Nó vốn là một tín hiệu ngôn ngữ chỉ một
vị trí trên thân thể con người, nơi giao nhau giữa cánh tay và thân Trong câu
thơ này “nách” ở đây được chuyển sang chỉ bộ phận hay vị trí của bức tường:
chân tường, đầu tường, vai tường, mi tường… Do đó người đọc dễ dàng cảm nhận và lĩnh hội ý nghĩa câu thơ
Có trường hợp có những THTM được nhiều tác giả xây dựng từ cùng một nguồn gốc, từ cùng một tín hiệu ngôn ngữ nhưng chúng vẫn là những
THTM khác nhau Chẳng hạn như ba tác phẩm “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy, “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới, và bài kí cùng tên của nhà văn Nguyễn Tuân, cả ba tác phẩm đều xây dựng THTM “tre” nhưng ý nghĩa
Trang 29thẩm mĩ của THTM “tre” ở ba tác phẩm là khác nhau THTM “tre” trong bài
thơ Nguyễn Duy thể hiện hình ảnh con người Việt Nam, trong Thép Mới thì thể hiện hình ảnh đất nước, lịch sử dân tộc Việt Nam qua các thời kì khác
nhau, còn ở Nguyễn Tuân thì THTM “tre” hiện lên như một cá thể, một
người bạn Sự khác nhau đó là do phong cách của mỗi tác giả khác nhau Như thế là, THTM mang tính cá thể đặc thù Đây vừa là một yêu cầu vừa
là một ưu thế của THTM so với tín hiệu ngôn ngữ Dù là những THTM giống nhau nhưng trong những ngữ cảnh khác nhau vẫn mang những ý nghĩa khác nhau Vì vậy tính cá thể là một tính chất nổi bật của THTM
1.3.6.5 Tính dân tộc
Bản thân THNN đã có tính dân tộc sâu sắc Khi tạo nên các THTM thì THTM lại có tính dân tộc rõ rệt hơn nữa Và tính dân tộc của THTM trong văn chương không bài xích, không mâu thuẫn với tính cá thể của THTM Tính cá thể của THTM là nét riêng nằm trong tính dân tộc
Tính dân tộc của THTM trước hết thể hiện ở chất liệu ngôn ngữ đậm đà bản sắc dân tộc Chúng ta có thể thấy rằng, văn chương được sáng tác bằng ngôn ngữ dân tộc, bằng các THNN của dân tộc, do đó mang tính dân tộc Ngoài chất liệu là tín hiệu của ngôn ngữ và thể loại văn chương dân tộc thì bình diện ngữ nghĩa của các THTM cũng mang tính dân tộc Nguồn gốc của THTM là bắt nguồn từ các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội loài người Vì thế các THTM gắn bó với cộng đồng dân tộc Chẳng hạn
THTM “trầu cau” trong bài “Mời trầu” của Hồ Xuân Hương, hay trong truyện cổ tích “Sự tích trầu cau” đều được xây dựng từ tục lệ ăn trầu của
người Việt, gắn bó với cộng đồng dân tộc Những sự vật hiện tượng xa lạ với cuộc sống Việt Nam thì khó trở thành những THTM trong văn chương Việt Nam Như ở Việt Nam không có tuyết nên trong văn học nhìn chung là không
có THTM tuyết, và nó cũng không có sức rung cảm tới độc giả Việt Nam
Trang 30Những THTM được xây dựng trên cơ sở từ những nếp cảm, nếp nghĩ của người dân Việt Nam thì thể hiện tính dân tộc sâu sắc Ví dụ đọc đoạn thơ sau:
“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi Trần thế em nay chán nửa rồi Cung quế đã ai ngồi đó chửa Cành đa xin chị nhắc lên chơi.”
(Muốn làm thằng Cuội) Các THTM trong bài thơ mang đậm tính dân tộc Hồn dân tộc không chỉ thể hiện ở những từ ngữ hay lối nói dân tộc mà quan trọng là nó gắn liền với phong tục, nếp nghĩ của người Việt: quan niệm trên mặt trăng có chị Hằng, có cây đa, có chú Cuội và phong tục người Việt coi ngày rằm tháng Tám là Tết Trung thu… Tất cả thấm đẫm bản sắc văn hóa Việt Nam
Như vậy, cả tín hiệu ngôn ngữ, THTM đều mang tính dân tộc sâu sắc
Biểu cảm dương tính khi THTM thể hiện được sắc thái tích cực, tốt đẹp, biểu thị sự hài lòng đối với sự vật hiện tượng được nói đến và khơi gợi ở độc giả những sắc thái tương ứng
Biểu cảm âm tính thì trái lại tạo nên những cảm xúc tiêu cực, nặng nề, căm ghét, thậm chí dẫn đến mong ước tiêu diệt Đó là khi xây dựng những THTM nói về mặt trái của cái đẹp, là cái ác, cái phản thẩm mĩ…
Trang 311.3.6.7.Tính hệ thống
Cũng như tín hiệu ngôn ngữ, THTM trong văn chương cũng có tính hệ thống Mỗi một tín hiệu không tồn tại một cách độc lập, riêng lẻ mà nằm trong một hệ thống chỉnh thể Nếu chỉ có một tín hiệu thì không tạo nên hệ thống, mặt khác nếu nhiều tín hiệu nhưng không có mối quan hệ với nhau
cũng không có hệ thống Xét ví dụ sau:
“Cầu cong như chiếc lược ngà Sông dài mái tóc cung nga buông hờ.”
(Nguyễn Bính)
Trong hai câu thơ này có hai THTM là “cầu” và “sông” Trong hiện
thực hai sự vật này đã có mối quan hệ qua lại thân thiết với nhau Trong câu thơ này thì quan hệ giữa chúng càng trở nên mật thiết hơn bởi các tín hiệu so sánh: mái tóc và chiếc lược Tất cả phối hợp với nhau cho ta hình dung một bức tranh nghệ thuật đơn sơ, mộc mạc nhưng đẹp đẽ
Trong một tác phẩm văn chương có thể có nhiều THTM vi mô Các THTM vi mô đó luôn hòa hợp và tương tác để tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật Các THTM vĩ mô trong văn chương cũng có tính hệ thống Nó thể hiện
ở mối quan hệ liên văn bản, liên tác phẩm
Trong các tác phẩm tự sự, mỗi hình tượng nhân vật là một THTM vĩ mô
Và ở trường hợp này THTM cũng có tính hệ thống Điều này thể hiện ở chỗ: các tín hiệu vi mô dùng để nối về từng phương diện của nhân vật (ngoại hình, hoạt động, lời nói, tâm lí…) đều hòa hợp và tương tác để khắc họa tính cách nhân vật và nói lên tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm Ví dụ, nhân vật Hoàng
trong truyện “Đôi mắt” của Nam Cao là một THTM vĩ mô có tính hệ thống
nhất quán Từ hình dáng, điệu bộ, đến cử chỉ lời nói, ý nghĩ (chỉ tin và thương
cụ Hồ), đến cách sinh hoạt vật chất cầu kì trong kháng chiến gian khổ của dân
Trang 32tộc… Tất cả đều góp phần dựng lên một THTM về một lớp người và cách nhìn trong thời kì kháng chiến chống Pháp trước đây
Tóm lại, so với tín hiệu ngôn ngữ thông thường, so với THTM trong các ngành nghệ thuật khác, THTM trong văn chương có những điểm tương đồng
và khác biệt nhưng nổi bật là tính hình tuyến, tính có lí do, tính cá thể, tính dân tộc, tính biểu cảm, tính hệ thống, tính hàm súc Các tính chất đó hòa quyện vào nhau ở cả THTM vi mô và THTM vĩ mô trong tác phẩm văn chương
1.3.7 Phương thức xây dựng tín hiệu thẩm mĩ
1.3.7.1.Phương thức ẩn dụ
Ẩn dụ là phương thức dựa trên sự tương đồng nào đó giữa đối tượng trong hiện thực thông qua tín hiệu ngôn ngữ với tín hiệu thẩm mĩ
VD: Bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương:
Hình tượng cái bánh trôi là một THTM được xây dựng trên cơ sở một món ăn làm bằng bột có nhân đường bên trong, luộc bánh đến khi bánh nổi lên là chín Nhà thơ đã phát hiện ra điểm tương đồng giữa bánh trôi và người phụ nữ về hình thức bên ngoài (trắng, tròn) về đặc điểm bên trong (tấm lòng son) Để từ đó thông qua hình tượng bánh trôi, nhà thơ cho chúng ta thấy được thân phận và phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Đồng thời bài thơ bộc lộ niềm thông cảm của nhà thơ với số phận người phụ
nữ và niềm tự hào về người phụ nữ Việt Nam
Như thế với phương thức ẩn dụ, để xây dựng THTM, tác giả cần trải qua một quá trình với nhiều công đoạn:
- Quan sát, nhận thức, cảm nhận, phát hiện đối tượng hàm chứa sự tương đồng với ý nghĩa thẩm mĩ định thể hiện
- Lựa chọn và sử dụng từ ngữ gọi tên đối tượng trong hiện thực