Nhưng nó có một vai trò quan trọng trong việc biểu lộ thái độ, cảm xúc, tư tưởng hay sự đánh giá chủ quan của người nói với nội dung được nói ra và thể hiện quan hệ của người nói với ngư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
Th S HOÀNG THỊ THANH HUYỀN
HÀ NỘI – 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ cùng tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn đã giúp đỡ tôi thực hiện công việc nghiên cứu này Và đặc biệt cảm ơn cô Hoàng Thị Thanh Huyền đã giúp đỡ tận tình và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2010
Sinh viên
Ngô Thị Hiền
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là thành quả nghiên cứu của bản thân tôi Những kết quả thu được là hoàn toàn chân thực và chưa có trong một đề
án nghiên cứu nào
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2010
Sinh viên
Ngô Thị Hiền
Trang 4Mục lục
Trang Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của khóa luận 6
7 Bố cục của khóa luận 7
Nội dung 8
Chương 1: Cơ sở lý luận 8
1 Một số quan niệm về tình thái trong ngôn ngữ 8
2 Tình thái ngữ trong tiếng Việt 10
2.1 Khái niệm tình thái ngữ 10
2.2 Phân loại tình thái ngữ 11
2.2.1 Cách phân loại của Diệp Quang Ban 12
2.2.2 Cách phân loại của Nguyễn Văn Hiệp 15
2.2.3 Cách phân loại của Nguyễn Thị Thìn 19
2.2.4 Cách phân loại của Nguyễn Thị Lương 21
3 Phân biệt tình thái ngữ và tình thái từ 25
3.1 Khái niệm tình thái từ 25
3.2 Phõn loại tỡnh thỏi từ 25
3.3 Phân biệt tình thái ngữ với thán từ 26
Trang 53.4 Phân biệt tình thái ngữ với trợ từ 27
4 Phân biệt tình thái ngữ hô - đáp với câu đặc biệt dùng làm lời hô gọi 29
5 Các phương tiện ngôn ngữ thể hiện tình thái ngữ 31
6 Vị trí của tình thái ngữ 32
7 Tiểu kết 32
Chương 2: Vai trò của tình thái ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 34
2.1 Tình hình khảo sát, thống kê dữ liệu 34
2.1.1 Đối tượng khảo sát 34
2.1.2 Kết quả khảo sát 34
2.1.3 Nhận xét 36
2.2 Vai trò của tình thái ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 36
2 2.1 Tình thái ngữ thể hiện ý kiến chủ quan của người nói với nội dung câu nói 36
2.2.2 Tình thái ngữ thể hiện thái độ, tình cảm của người nói với người nghe 47
2.2.3 Tình thái ngữ hô - đáp 55
2.3 Tình thái ngữ trong việc thể hiện giá trị nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 57
2.3.1 Nghệ thuật tạo dựng tình huống 57
2.3.2 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 62
2.3.3 Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ 65
2.4 Tiểu kết 68
Kết luận 70
Tài liệu tham khảo 72
Trang 6Trên bình diện ngữ pháp của câu tiếng Việt, ngôn ngữ học chia thành phần câu làm ba loại: thành phần nòng cốt của câu, thành phần phụ và thành phần biệt lập Tình thái ngữ là một yếu tố trong những thành phần biệt lập của câu
Tình thái ngữ là thành phần biệt lập của câu, nằm ngoài cấu trúc cú pháp câu Nhưng nó có một vai trò quan trọng trong việc biểu lộ thái độ, cảm xúc, tư tưởng hay sự đánh giá chủ quan của người nói với nội dung được nói ra
và thể hiện quan hệ của người nói với người nghe Vì vậy nó rất trừu tượng và khó nắm bắt Để có thể hiểu và chỉ ra được ý nghĩa tình thái một cách sâu sắc
từ tình thái ngữ thì người đọc không chỉ dựa vào các phương tiện biểu hiện trong câu mà còn phải dựa vào năng lực, sự nhạy cảm của bản thân nữa Có thể nói khám phá và nắm bắt được nội dung, thái độ, quan hệ của người nói với người nghe hay ý nghĩa tình thái trong câu là điều khó khăn và phức tạp Tuy vậy, đây cũng là vấn đề rất lý thú
Vấn đề tình thái ngữ trong câu đã được chú ý từ lâu và được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên có nhiều ý kiến nhận xét rằng các phương tiện biểu hiện tình thái ngữ chưa được nghiên cứu sâu và toàn diện,
đặc biệt là việc nhìn nhận, đánh giá vai trò, chức năng của tình thái ngữ trong
Trang 7cách dùng ngôn ngữ ở trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật Thực chất
đây là vấn đề quan trong cần được sự quan tâm và chú ý một cách kỹ lưỡng hơn để góp phần nâng cao nhận thức về đặc điểm, chức năng vai trò của thành phần này đối với việc biểu hiện nội dung, tư tưởng và giá trị nghệ thuật trong tác phẩm văn chương
Tình thái ngữ có vai trò quan trọng trong việc biểu lộ thái độ, cảm xúc, tình cảm của người nói đối với người nghe Vì thế nó trở thành yếu tố được nhiều nhà văn ưa dùng để xây dựng chân dung nhân vật, tạo dựng mối quan hệ
và truyền tải dụng ý nghệ thuật Trong đó Nguyễn Công Hoan là một trong những nhà văn thành công trong việc vận dụng tình thái ngữ để thể hiện nội dung, tư tưởng và nghệ thuật Đây cũng là yếu tố góp phần tạo nên sự độc đáo trong cách dùng ngôn ngữ của nhà văn trào phúng bậc thầy này
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Vai trò của tình thái ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” với mong muốn khảo
sát, bình giá vai trò của thành phần này trong tiếng Việt đồng thời thể hiện sâu sắc hơn giá trị các sáng tác của nhà văn
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu tình thái ngữ
Vấn đề nghiên cứu tình thái trong tiếng Việt tồn tại nhiều ý kiến, quan niệm và không đồng nhất
Khái niệm “tình thái” của câu được hiểu không giống nhau ở các
khuynh hướng ngôn ngữ khác nhau, V.Z.Panfilov đã từng có nhận xét rằng:
“không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa
bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tình thái” [8; 225]
Lyons cho rằng tình thái là “Thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả” [8; 225]
Trang 8Palmer cũng cho rằng: Tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói ra và chủ trương phân
biệt trong câu “những yếu tố biểu thị tình thái với những yếu tố biểu thị mệnh
đề tức phân biệt tình thái với nội dung mệnh đề” [8; 226]
Trong cuốn “Thành phần câu tiếng Việt” của Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: “Trong mô hình cấu trúc trừu tượng của câu, tình thái ngữ là thành phần phụ của câu, có nhiệm vụ bổ sung những ý nghĩa về tình thái cho câu” [4; 230]
Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” của Diệp Quang Ban cũng nhận định rằng: “Về mặt ý nghĩa, các yếu tố tình thái là những yếu tố cùng với biểu thức tạo nên toàn bộ phần thức đối lập với phần nghĩa biểu hiện (nghĩa kinh nghiệm) trong câu”, “về mặt ngữ pháp yếu tố mang nghĩa tình thái tách được
ra khỏi nghĩa sự việc” [2; 36]
Trong “Câu tiếng Việt và nội dung dạy học câu ở trường phổ thông” Nguyễn Thị Thìn cũng cho rằng: “Tình thái ngữ là thành phần phụ của câu, chuyên dùng để biểu lộ thái độ, cảm xúc, sự đánh giá chủ quan của người nói hoặc đánh dấu hành vi ngôn ngữ” [8; 89]
Trên đây là những quan niệm khác nhau về tình thái ngữ trong câu Tuy nhiên các ý kiến trên đều có sự giống nhau ở việc xác định đây là thành phần biểu thị thái độ của người nói với nội dung mệnh đề và cũng là thành phần
tách ra khỏi cấu trúc cú pháp Mặc dù cho đến nay “Những nghiên cứu về tình thái ngữ trong tiếng Việt chưa có những thành tựu xứng đáng” (Nguyễn Minh
Thuyết) Nhưng có thể nói những công trình nghiên cứu về tình thái ngữ đã trở thành cơ sở và kinh nghiệm để các nhà ngôn ngữ sau này tiếp tục khai thác, khám phá thêm hoàn thiện
Trang 92.2 Lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc trong nền văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Cho đến nay đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu xuất sắc về ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Đã có hàng trăm bài viết, nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc về ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Thanh Tú trong bài “Chất hài trong câu văn Nguyễn Công Hoan” có nhận xét rất tinh tế về ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan: “Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là một thứ ngôn ngữ suồng sã để lật ngửa, lộn trái, nhòm ngó từ dưới và từ trên, đập vỡ vỏ ngoài để nhìn vào bên trong Đó chính là một thái độ không biết sợ” [10; 424]
Trong cuốn “Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách”,
Nguyễn Đăng Mạnh thể hiện cái nhìn khá tinh tế khi đánh giá về ngôn ngữ
trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan: “Ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan gắn liền với bút pháp hướng ngoại là đặc trưng chủ đạo của nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Ông không thâm nhập sâu vào nội tâm nhân vật Mỗi truyện ngắn chỉ nhằm thể hiện một nét tâm lý nào đấy thường rất rõ ràng
và đơn giản của nhân vật chính” [12; 124]
Lê Thị Đức Hạnh trong bài viết “Nguyễn Công Hoan một nhà văn hiện thực lớn” cũng có sự đánh giá rất tinh tế về ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan: “… ngôn ngữ cho phong phú, chính xác, văn viết cho giản dị, trong sáng và mang được bản sắc của tiếng nói dân tộc” [10; 31]
Trên đây là một trong những bài viết về ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Đó đều là những nghiên cứu về ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đứng trên phương diện hình thức nghệ thuật Dựa trên cơ sở tiếp thu những kết quả của các nhà khoa học và các công trình
Trang 10nghiên cứu của các nhà nghiên cứu có bề dày kinh nghiệm, chỳng tụi xin đi sâu vào tìm hiểu vai trò của tình thái ngữ trong phạm vi cụ thể là truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, xét trên phương diện từ ngữ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, khóa luận nhằm đạt những mục đích sau đây:
- Thông qua những tri thức về nghĩa tình thái để hiểu sâu sắc hơn về bản chất, đặc điểm và chức năng của tình thái ngữ trong hoạt động ngôn ngữ
- Nghiên cứu sự xuất hiện của tình thái ngữ trong một số truyện ngắn để thấy được vai trò của chúng
- Vận dụng những hiểu biết về tình thái ngữ vào việc giảng dạy tiếng Việt nói chung cũng như môn Ngữ văn nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chỳng tụi đặt ra những nhiệm vụ cụ thể:
- Xuất phát từ cơ sở lý luận về câu và tập hợp những kiến thức có liên quan đến đề tài để nắm vững đặc điểm, chức năng của chúng trong hệ thống từ loại tiếng Việt
- Trên cơ sở những kiến thức lý luận đã hệ thống hóa, tiến hành khảo sát một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan để thống kê và phân loại các tình thái ngữ của những truyện ngắn đó
- Tiến hành phân tích các ngữ liệu cụ thể để rút ra những nhận xét, kết quả khái quát về vài trò của tình thái ngữ trong việc góp phần tạo nên giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
4 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu, nghiên cứu về vai trò của tình thái ngữ là một lĩnh vực phong phú, đa dạng và khá rộng lớn Trong phạm vi của một đề tài khóa luận chúng
Trang 11tôi chỉ giới hạn khảo sát và phân tích tìm hiểu trong phạm vi 40 truyện ngắn
của “Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” NXB Văn Học, 2006
5.2 Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phân tích ngôn ngữ là phương pháp chúng tôi sử dụng để khai thác, phân tích các lớp nghĩa của ngôn ngữ Từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá về vai trò, hiệu quả của nó trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng nhằm mục đích
so sánh hai thành phần, yếu tố được tìm hiểu để nhận ra đặc điểm, bản chất của chúng Dựa trên kết quả so sánh sẽ giúp chúng tôi khai thác vấn đề theo
đúng hướng
5.4 Phương pháp khái quát hóa, tổng hợp hóa
Đây là phương pháp cuối cùng của quá trình nghiên cứu, tìm hiểu Sau khi tiến hành triển khai nội dung chúng tôi đi vào khái quát, tổng hợp lại vấn
đề và đưa ra kết luận cuối cùng
6 Đóng góp của khóa luận
6.1 Về lý luận
Thực hiện khóa luận này, chúng tôi mong muốn làm rõ vai trò của tình thái ngữ trong những tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Thông qua sự phân tích những tư liệu đã khảo sát được chúng tôi nâng cao nhận thức
về vị trí, chức năng của từ loại này trong tiếng Việt đồng thời đóng góp một
Trang 12hướng tiếp cận hiệu quả khi tìm hiểu các sáng tác văn chương của Nguyễn Công Hoan
6.2 Về thực tiễn
Khóa luận này góp phần nâng cao hiệu qủa dạy học tiếng Việt nói riêng
và dạy học Ngữ văn nói chung cho học sinh trong trường phổ thông Người
đọc có thể vận dụng những kết quả thu được vào thực tiễn giao tiếp, tiếp nhận
và sáng tạo văn bản
7 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận này của chúng tôi được chia làm hai chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận
- Chương 2: Vai trò của tình thái ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Trang 13NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ Lí LUẬN
1 Một số quan niệm về tình thái trong ngôn ngữ
Ngôn ngữ tải nghĩa Một trong những loại nghĩa nổi trội được truyền báo trong ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp liên nhân là nghĩa tình thái Nghĩa tình thái quy chiếu tới các cung bậc khác nhau trong tình cảm và nhận thức của con người Đây là địa hạt nghiên cứu phức tạp trong ngôn ngữ học lý luận và ngôn ngữ học ứng dụng
O.Jespersen (1994) khi bàn về tình thái, đã nhận xét các thức tường giải
trực thuyết giả định và cầu khiến trong cuốn “A Modern Enghlish Grammar
on Historical Principle I- IV, London and Copenhagen” như sau: “Chúng biểu thị những thái độ nhất định của người nói hướng về nội dung của câu, dù rằng trong một số trường hợp, sự lựa chọn thức được quy định không phải bởi đặc
điểm của bản thân mệnh đề và mối quan hệ của nó với chuỗi mệnh đề liên hệ chính mà nó lệ thuộc vào” (dẫn theo 138,9) Theo nhận xét của F.Palmer,
những đề xuất của O.Jespersen là ít quan trọng về mặt lý thuyết ngoại trừ nhận
thức của ông về 2 loại “thức” (1) bao gồm yếu tố ý trí, (2) không bao gồm yếu
tố ý chí
V Wright (1951), trong một công trình có tính khai sáng về lôgíc tình thái, đã phân chia tình thái thành 4 loại: tình thái nhận thức, tình thái hiện thực, tình thái trách nhiệm và tình thái tồn tại
N.Rescher (1968) trong giới hạn của khung lôgíc được trình bày trong
cuốn “Topics in phoilosophical logic” đã đề nghị một số hệ thống mở về tình
Trang 14thái Những nhận xét của ông về các lọai tình thái được mở đầu bằng một câu:
“Một phán đoán được trình bày bằng một câu tường thuật, cái mà được nhận thức như một tổng thể sẽ là đúng hoặc sai” Cách hiểu như vậy về tình thái tạo
ra nhiều vấn đề về mặt lý luận Bên cạnh các loại tình thái hiện thực, tình thái nhận thức, tình thái trách nhiệm ông đề cập đến các loại tình thái biểu thời, tình thái vọng cảm, tình thái đánh giá, tình thái nguyên nhân và tình thái điều kiện
J.R.Searle (1979) là người đã phát triển nội hàm khái niệm tình thái lên một bước mới Sự tiếp cận của Searle hướng đến hành vi ngôn ngữ Sự tiếp cận này cung cấp một khung hành vi ngôn ngữ quan tâm tới mối quan hệ giữa người nói và cái mà anh ra nói Mối quan hệ này như đã biết chứa đựng trong rất nhiều vấn đề nội dung tình thái Chẳng hạn hành vi khẳng định được mô tả theo phương diện lòng tin Nhưng mức độ của lòng tin có thể ở mức zêrô Nội dung này liên quan đến tình thái nhận thức hay chi phối có sự tương ứng rất lớn với tình thái trách nhiệm Có thể nói rằng cái mà Searle gọi là khẳng định chi phối thực sự là trung tâm của bất kỳ thảo luận nào về tình thái
T.Givon (1993) diễn đạt quan niệm của ông về tình thái khá ngắn gọn:
“Tình thái biểu thị thái độ của người nói đối với phát ngôn” Theo ông thái độ
bao gồm 2 loại đánh giá của người nói về thông tin của phát ngôn được chuyển tải qua nội dung mệnh đề: những đánh giỏ nhận thức về tính hiện thực, khả năng, lòng tin, sự chắc chắn hay bằng chứng; những đánh giá về ước muốn, sự ưa thích, ý định, năng lực, sự ràng buộc hay điều khiển
Theo W.Frawly (1992) “Phạm vi ngữ nghĩa liên quan đến vị thế hiện thực của phát ngôn tình thái” Tình thái ảnh hưởng tới toàn bộ nội dung của
một sự diễn đạt nào đó Và như vậy, nó liên quan đến toàn bộ phán đoán Tình thái gợi lên không chỉ có mức độ nhận thức khách quan về hiện thực mà cả các thái độ và sự định hướng chủ quan đối với nội dung sự biểu đạt
Trang 15Những nội dung trình bày ở trên cho thấy khái niệm tình thái tỏ ra khá mơ hồ và đang còn để ngỏ cho một loạt các định nghĩa khác có thể có Nhưng
việc xác định rằng nó là một cái gì đó phản ánh “thái độ” hay “ý kiến” của
người nói dường như được tán đồng hơn cả Bên cạnh đó, những quan niệm về tình thái trên cũng là cơ sở để hiểu thêm về tình thái ngữ trong tiếng Việt
2 Tình thái ngữ trong tiếng Việt
Vấn đề tình thái ngữ đã được chú ý quan tâm từ lâu Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này Tuy vậy, đây là thành tố nghĩa rộng
và khá phức tạp trong câu Vì thế cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về tình thái ngữ
2.1 Khái niệm tình thái ngữ
Tình thái ngữ là thành phần câu không tham gia vào việc biểu hiện nghĩa miêu tả của câu (không biểu hiện tham tố nào trong sự tình mà câu biểu hiện), đồng thời thường được tách biệt khỏi phần còn lại của câu bằng ngữ
điệu
Nghĩa tình thái là một bộ phận nghĩa quan trọng của câu - phát ngôn (nghĩa tình thái cùng với nghĩa miêu tả tạo nên bình diện nghĩa của câu) Tuy nhiên, so với nghĩa tình thái rộng và phức tạp hơn nhiều
Tình thái ngữ thể hiện hai loại ý nghĩa tình thái:
- Quan hệ giữa người nói và người nghe
- Quan hệ của người nói với nội dung câu nói
Như vậy, xét cả nội dung lẫn các phương tiện thể hiện (ngữ điệu, dấu câu, động từ tình thái, quán ngữ tình thái) thì tình thái ngữ chỉ là một trong các hình thức được dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái của câu, phát ngôn
Trên tinh thần đó Nguyễn Thị Lương đưa ra quan niệm: “Tình thái ngữ
được hiểu là các biểu thức tình thái chuyên biệt, không nằm trong nòng cốt câu, được dùng để biểu thị một số ý nghĩa tình thái của câu - phát ngôn như: ý
Trang 16kiến, sự đánh giá, thái độ, quan hệ của người nói với người nghe và sự tình
được phản ánh trong câu” [11; 65]
Ví dụ 1: Ngày mai, chắc chắn tôi sẽ đến
Tình thái ngữ “chắc chắn” biểu thị thái độ khẳng định, dứt khoát của
người nói với nội dung câu nói
Ví dụ 2: Ngày mai, tôi sẽ đến
So sánh ví dụ 1 với ví dụ 2 thì trong ví dụ 2 không xuất hiện tình thái ngữ vì vậy chỉ mang tính thông báo sự việc, không thể hiện thái độ của người nói
Quan niệm của Nguyễn Thị Thìn cho rằng: “Tình thái ngữ là thành phần phụ của câu, chuyên dùng để biểu lộ thái độ, cảm xúc, sự đánh giá chủ quan của người nói hoặc đánh dấu hành vi ngôn ngữ” [9; 89]
Ví dụ: Chẳng lẽ là nó ăn trộm hay sao?
Nguyễn Văn Hiệp lại có quan niệm: “Tình thái ngữ là thành phần phụ của câu luôn luôn đứng sau nòng cốt câu, có nhiệm vụ bổ sung những ý nghĩa
về tình thái cho câu Tình thái ngữ không tham gia vào kết cấu phân đoạn thực tại câu” [8; 230]
Ví dụ: Chiếc áo này mua chỉ 50 ngàn đồng là cùng
Như vậy, với những quan niệm trên cho thấy tình thái ngữ là thành phần cho đến nay còn tồn tại rất nhiều quan niệm, ý kiến khác nhau Nhưng tựu chung có thể thấy về bản chất đây là thành phần phụ của câu, biểu thị thái độ, tình cảm, cảm xúc, đánh giá của người nói với người nghe hoặc với nội dung
được nói tới trong câu
Trang 17của Diệp Quang Ban, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Thị Thìn, Nguyễn Thị Lương
Trang 182.2.1 Cách phân loại của Diệp Quang Ban
Như trên đã nói, tình thái ngữ là một trong các thành phần biệt lập của câu, không thuộc cấu trúc cú pháp câu Diệp Quang Ban gọi thành phần này
là biệt tố tình thái
“Biệt tố tình thái là bộ phận không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu
và nhìn trong toàn bộ nó không chiếm một vị trí xác định trong câu Về phương diện nghĩa phần tình thái được dùng để nêu các ý nghĩa về quan hệ của người nói đối với người nghe và đối với sự việc được diễn đạt trong câu nên nó cũng được gọi là tình thái liên nhân hay nghĩa liên nhân” [1; 31]
Những mối quan hệ do phần tình thái diễn đạt thuộc ba loại chính sau:
- Tình thái chỉ thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự việc được diễn đạt trong câu
- Tình thái chỉ ý định của người nói trong việc thực hiện hành động nói, gọi là tình thái của hành động nói
- Tình thái chỉ thái độ của người nói với người nghe, gồm cả lời gọi - đáp (thể hiện tính lịch sự)
Như vậy điểm này chỉ bàn về hai kiểu tình thái thứ nhất và thứ ba với những biểu thức tình thái chứa chúng
2.2.1.1 Tình thái chỉ thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự việc được diễn đạt trong câu
Biểu thức tình thái chỉ thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự việc được diễn đạt trong câu có thể được nhận biết qua ba kiểu nhỏ thường gặp sau đây:
a Tình thái khẳng định - phủ định
Tình thái khẳng định - phủ định được biểu hiện ở các biểu thức tình thái gạch chân sau:
Trang 19Ví dụ:
+ Đúng là chiếc xe này của tôi
+ Chiếc xe này của tôi, đúng đấy
+ Đúng là nó mượn xe của tôi
+ Nó mượn xe của tôi, đúng thế thật
b Tình thái độ tin cậy
Tình thái độ tin cậy được biểu hiện bằng các biểu thức tình thái gạch chân ở các ví dụ sau:
Ví dụ:
+ Có lẽ là chiều nay mưa
+ Chẳng lẽ ông ấy không biết
+ Đã hẳn là anh ấy không biết
+ Ông ấy bận, chắc hẳn thế
+ Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò (Xuân Diệu)
+ Tất nhiên là ông ấy sẽ đến
c Tình thái ý kiến
Tình thái ý kiến được thể hiện bằng các biểu thức tình thái gạch chân ở các ví dụ sau:
Ví dụ:
+ Nói của đáng tội, mẹ con tôi cũng chẳng muốn đi (Nam Cao)
+ Theo chỗ tôi biết thì ông ấy đang bận việc khác
+ Cứ như ý ông ấy thì làm như vậy là được rồi
+ Làm như vậy, theo ý tôi, là được rồi
+ Nghĩ người ta cũng buồn cười (Nam Cao)
+ Thằng bé này nom kháu quá
+ Nó ăn chỉ một cái bánh
Trang 20+ Nó ăn những bốn cái bánh
2.2.1.2 Biệt tố tình thái chỉ thái độ của người nói đối với người nghe
Tình thái chỉ thái độ, cách đối xử của người nói đối với người nghe là
bộ phận không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu nhưng được gửi gắm trong câu, rõ nhất là ở từ diễn đạt ngôi nhân xưng, đặc biệt rõ là trong cách dùng từ thân tộc làm từ nhân xưng của tiếng Việt Kiểu tình thái này được diễn đạt trong các yếu tố sau:
- Lời gọi - đáp, thưa gửi
- Từ ngữ đưa đẩy
- Ngữ thái từ (cuối câu)
a Lời gọi - đáp thưa gửi
Chức năng chủ yếu của lời gọi là thiết lập quan hệ giao tiếp và thu hút chú ý của người nghe Chức năng chủ yếu của lời đáp là chức năng của tín hiệu phản hồi Chức năng của tín hiệu phản hồi là một trong những cách
người nghe báo hiệu về sự “chấp nhận cộng tác” với người nói
Cùng với các chức năng cụ thể vừa nêu, phần gọi - đáp cũng cho thấy tính lịch sự trong quan hệ xã hội giữa người nói với người nghe
Ví dụ:
+ Thưa ông, ô tô đã đến rồi ạ
+ Nè, ô tô đã đến rồi đấy
+ Lan ơi, ra đây mình nói cái này
+ Vâng, có ngay đây ạ
+ Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
Em, em ơi, tình non đã già rồi (Xuân Diệu)
b Từ ngữ đưa đẩy
Ví dụ:
+ Phải, không dám làm phiền bác
Trang 21+ Xin lỗi, anh xem giúp mấy giờ rồi? (Từ “xin lỗi” ở đây không dùng
để diễn đạt hành động xin lỗi mà dùng với chức năng đưa đẩy, thiết lập quan
hệ giao tiếp)
+ Phiền anh giúp tôi một tay
+ Cảm ơn, tôi tự làm lấy được
c Ngữ thái từ
Ngữ thái từ trước đây gọi là “ngữ khí từ” hoặc “tiểu từ tình thái” là những từ đứng cuối câu với những chức năng chung là “tự thể hiện mình và trình diễn quan hệ xã hội của người nói” [1; 35]
Các ngữ thái từ thường gặp là: à, ạ, a, ư, hử, hả, nhé, nhỉ, mà…
Chức năng cụ thể của ngữ thái từ có khi rất tinh tế, chẳng hạn một số
trong ngữ thái từ có chức năng tạo kiểu câu nghi vấn như “à”, “ư”, “nhỉ”… trong đó “à”, “ư” có khi kèm cả tính ngạc nhiên, “nhỉ” kèm thăm dò, có khi
nó được dùng với ý cầu khiến, kèm tính thân hữu
Ngữ thái từ được biểu hiện bằng các biểu thức tình thái gạch chân trong các ví dụ sau:
Ví dụ:
+ Anh chờ em với ạ (tôn trọng)
+ Chờ tôi với nhá (thân hữu)
+ Cái áo này đẹp nhỉ? (nghi vấn, thân hữu, tranh thủ, sự đồng tình) + Ta đi nhỉ (cầu khiến, thăm dò, thân hữu)
+ Ông ấy mà cũng thế ư? (nghi vấn, ngạc nhiên)
Như vậy, tình thái chỉ thái độ của người nói đối với người nghe có thể không tách bạch khỏi những chức năng khác Tuy thế nó có vai trò riêng không thể phủ nhận trong giao tiếp bằng diễn đạt phép lịch sự
2.2.2 Cách phân loại của NguyÔn V¨n HiÖp
Theo NguyÔn V¨n HiÖp t×nh th¸i ng÷ ®îc ph©n chia theo 3 tiªu chÝ sau
Trang 222.2.2.1 Phân loại tình thái ngữ theo đặc điểm cấu tạo
- Loại tình thái ngữ do các tiểu từ tình thái đảm nhiệm
Loại tình thái ngữ này do 3 tiểu loại tình thái ngữ tạo thành:
* Tiểu loại thứ nhất:
Gồm các tình thái ngữ do các tiểu từ tình thái luôn luôn chiếm vị trí
đứng đầu khi kết hợp với các tiểu từ tình thái khác đảm nhiệm (thuộc về nhóm
các tiểu từ tình thái này có: ấy, thế, vậy, với… )
Ví dụ:
+ Hắn ta là con người như thế
+ Chưa hẳn thế nhưng nếu ép quá cũng đành vậy (Chu Lai)
+ Anh đi đâu cho em đi với
* Tiểu loại thứ hai:
Gồm các tình thái ngữ do các tiểu từ tình thái luôn luôn đứng ở vị trí cuối trong các tổ hợp tiểu từ tình thái đảm nhiệm (thuộc về nhóm tiểu từ này
có: ạ, nhỉ, nhé, hẳn, chắc, chăng, nào, mà, đâu, …)
Ví dụ:
+ Con chó là của cháu nó mua đấy chứ! (Nam Cao)
+ Tôi bây giờ có làm gì được đâu (Nam Cao)
+ Có được một bà mẹ như bà Tuất thật là tuyệt vời anh nhỉ? (Nguyễn Khải)
+ Thế chỉ có người ta là đánh giặc chứ còn tôi không đánh giặc chắc (Chu Lai)
* Tiểu loại thứ ba:
Gồm các tình thái ngữ do các tiểu từ tình thái chỉ chiếm vị trí đứng sau trong tổ hợp với các tiểu từ tình thái ở nhóm thứ hai và vị trí đứng trước trong
tổ hợp với nhóm thứ nhất đảm nhiệm (thuộc về nhóm tiểu từ này có: đây, kia, cơ, chứ, vậy, đâu, đã, thôi…)
Trang 23Ví dụ:
+ Tôi thì tôi cho rằng Đích ghen chứ chẳng có ý gì đâu (Nam Cao) + Oanh hẳn về nhà riêng Y nghĩ vậy (Nam Cao)
+ Hà Nội giáp Vĩnh Phúc chứ không giáp Nam Định
+ Cô đợi tôi chút nữa tôi sắp đến đây
+ Anh chỉ nói dối em thôi
Loại tình thái ngữ do các tổ hợp có tính “đặc ngữ” đảm nhiệm:
Các tổ hợp “đặc ngữ” đóng vai tình thái ngữ thường gặp là: thì thôi, thì phải, thì khốn, thì chết, thì chứ, thì có, là cùng, là may, nữa là, lại còn, mới biết, mới phải, mới được, mà thôi…
2.2.2.2 Phân loại tình thái ngữ theo các đặc trưng ngữ pháp cú pháp
Theo cách phân chia này, ở mức độ đơn giản, có thể phân loại tình thái ngữ theo các kiểu câu mà chúng thường xuất hiện: trần thuật, nghi vấn, cầu khiến Dựa trên cơ sở phân loại các tình thái ngữ theo cấu trúc ngữ pháp như vậy, Nguyễn Văn Hiệp đã chia ra các nhóm sau đây:
- Nhóm các tình thái ngữ gắn với câu trần thuật:
Trang 24+ Nhưng kể ra dân An Nam mà dám bỏ ra ngót bốn trăm bạc để mua chó thì đã là ngông lắm rồi (Nguyễn Công Hoan)
- Nhóm các tình thái ngữ gắn với câu nghi vấn:
Ví dụ:
+ Thế chúng mình không thể nào lấy nhau được ư? (Tô Hoài)
+ Đầu cháu làm gì mà mốc trắng thế? (Tô Hoài)
+ Anh Năm nói báo đài ấy hả? (Chu Lai)
+ Mà rồi rút cục anh ta đi đâu nhỉ? (Chu Lai)
+ Cho mấy cái ghế vào đây nhé? (Vũ Trọng Phụng)
2.2.2.3 Phân loại tình thái ngữ theo các phạm trù nội dung của tình thái nhận thức
Cách phân loại này chia tình thái ngữ ra làm các tiểu loại nhỏ hơn như sau:
- Các tình thái ngữ đánh dấu sự tình thực hữu (sự tình được truyền đạt trong câu là hiện thực)
Ví dụ:
+ Cả mấy đứa con riêng của bà ấy cũng sang chứ? (Nguyên Hồng) + Ở xã hội này muốn được vinh quang cũng không khó mấy nhỉ? (Vũ Trọng Phụng)
- Các tình thái ngữ đánh dấu sự tình phản thực hữu (sự tình được nói
đến trong câu là không chân thực, phi hiện thực)
Trang 25Ví dụ:
+ Cô ấy đã trả tôi tiền đâu
+ Tôi dấu anh việc ấy làm gì
Như vậy với cách phân chia trên đây cho thấy Nguyễn Văn Hiệp đã phân loại các tình thái ngữ theo tiêu chí hình thức (đặc điểm cấu tạo) hoặc nội dung (ý nghĩa tình thái được biểu đạt) Cách phân chia này có khác với hai tác giả Nguyễn Thị Lương và Nguyễn Thị Thìn Đây là một trong những cách phân chia cho chúng ta một cách tiếp cận mới về tình thái ngữ trên mặt hình thức và nội dung thể hiện
Tuy nhiên, để có thể tiếp cận với các loại tình thái ngữ một cách dễ dàng và bao quát thì chúng tôi chọn cách phân loại của Nguyễn Thị Lương làm tiêu chí để xác định vai trò của tình thái ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Cũng phải nói rằng, cách xác định này chỉ mang tính chất tương
đối bởi vì ý nghĩa tình thái trong các lớp từ là khó xác định
2.2.3 Cỏch phõn loại của Nguyễn Thị Thìn
Theo tác giả, tình thái ngữ được chia ra làm 7 loại cơ bản sau:
2.2.3.1 Tình thái ngữ là tình thái từ (tiểu từ hoặc thán từ): à, ư, nhỉ, nhé, chăng, sao, thôi, nào đi, đã, ôi, ối, ái, ai, eo ôi, ơ…
Ví dụ:
+ Thế kia à? Lạ nhỉ? (Chu Lai)
+ Cô cho tôi đi trước đã
+ Thôi, anh đừng có giải thích nữa
2.2.3.2 Tình thái ngữ là tổ hợp hai tình thái trở lên: đấy nhé, chứ nhỉ, cơ
mà, thôi mà, kia mà, ấy mà, cơ chứ
Ví dụ:
+ Đấy nhé! Đó là lời cậu nói chứ không phải tớ đâu
+ Hôm qua, em để nó ở đây kia mà?
+ Thôi mà Đừng buồn nữa, chuyện gì cũng có cách giải quyết
Trang 262.2.3.3 Tình thái ngữ là quán ngữ tình thái: khốn khổ, phải mỗi tội, quái lạ, may ra, liệu mà, xem chừng, chưa biết chừng, không khéo, ai đời, của đáng tội…
Ví dụ:
+ Khốn khổ tôi đã bảo nó rồi nhưng nó đâu chịu nghe lời
+ Học hành chăm chỉ là thế nhưng chưa biết chừng lại trượt đại học ấy chứ
+ Ai đời lại ăn trứng với tỏi
+ Của đáng tội, tôi đâu biết gia đình nó lại khó khăn như thế
2.2.3.4 Tình thái ngữ là phụ từ biểu thị hành vi ngôn ngữ Cặp phụ từ: có… không, đã… chưa…biểu thị hành vi hỏi
Ví dụ:
+ Chú có biết xe của ông lớn nào không? (Nguyễn Khải)
+ Cậu đã làm bài tập cô giáo giao về nhà chưa?
2.2.3.5 Tình thái ngữ là cặp tình thái từ/ quán ngữ Chẳng hạn: hình như… thì phải: biểu thị hành vi phỏng đoán thiên khẳng định; dễ thường…chắc: biểu
thị hành vi hỏi phủ định (ngầm ẩn)
Ví dụ:
+ Hình như Lan mới mua xe máy thì phải?
+ Về sau, hình như anh cũng có ý mến tôi thì phải, có thể vì anh khác tôi chăng? (Nguyễn Khải)
+ Dễ thường dì ghẻ lại thương con chồng chắc?
2.2.3.6 Tình thái ngữ là mệnh đề tình thái mở đầu câu:
Ví dụ:
+ Tôi nghĩ anh không nên nóng tính như vậy với cô ấy
+ Mình chắc cô ấy sẽ không giận mình đâu
2.2.3.7 Tình thái ngữ là động từ hay đại từ chuyển loại lâm thời thành từ, chẳng hạn: trông, xem, nghe đâu, đấy, thế, đây … ở cuối câu
Trang 27Ví dụ:
+ Trông họ thật đẹp đôi
+ Nghe đâu hôm qua ở xã làng bên có người bị sét đánh chết thì phải + Xem ra, vụ mua bán này khó thành công được
Ở ví dụ trên từ “xem ra” có tác dụng nhấn mạnh sự phỏng đoán của
người nói đối với nội dung được nói tới trong câu
+ Chị đang làm gì thế?
Từ “thế” có tác dụng quy chiếu, khớp ghép sự việc nêu trong câu với sự
việc khách quan tương ứng đồng thời xác định sự việc hiện hữu của sự việc đó Như vậy, với cách phân loại của Nguyễn Thị Thìn đã cho chúng ta hiểu
rõ được các thành phần tạo nên tình thái ngữ Đồng thời cách phân loại như trên đã cho thấy từ ngữ thuộc tình thái ngữ là rất đa dạng và chiếm tỉ lệ lớn trong việc biểu thị ý nghĩa tình thái
2.2.4 Cỏch phõn loại của Nguyễn Thị Lương:
Tình thái ngữ không biểu thị ý nghĩa miêu tả của câu mà biểu thị ý nghĩa tình thái ý nghĩa tình thái thường gặp trong 3 trường hợp: tình thái chỉ ý kiến, tình thái chỉ quan hệ thái độ - tình cảm, tình thái hô đáp
2.2.4.1 Tình thái ngữ chỉ ý kiến
Đây là thành phần được dùng để biểu thị ý kiến chủ quan của người nói với nội dung, sự tình được phản ánh trong câu Một số kiểu thường gặp của tình thái ngữ chỉ ý kiến như sau:
* Tình thái khẳng định: thường được biểu thị bằng các biểu thức tình
thái: đỳng là, nhất định, cứ hẳn thế, chắc chắn, chính hẳn là, đích thị, thế nào… cũng, chỉ có… mới biết…
Trang 28+ Thế nào buổi Hội chợ ngày mai tôi cũng phải đi xem
* Tình thái phủ định: Các biểu thức biểu thị tình thái phủ định: làm gì
có, đâu có, đâu mà, không đời nào, bao giờ, thì có, đâu phải…
Ví dụ:
+ Ở cửa hàng này làm gì có đồ rẻ tiền mà mua
+ Không đời nào nó lại làm việc đó
+ Nó có đi học đầy đủ đâu mà được điểm cao
* Tình thái chỉ sự đánh giá:
Tình thái ngữ chỉ sự đánh giá được chia ra làm các loại sau:
- Đánh giá về lượng, mức độ: chí ít, ít nhất, ít ra, là cùng, là mấy, bất quá… chứ mấy, bất quá… là cùng,…
Ví dụ:
+ Không có tác dụng để lưu lại cho hậu thế chí ít cũng để lại cái tiếng tốt (Nguyễn Khải)
+ Đến nhà Lan mất 10 phút là cùng
+ Bây giờ để mua được chiếc xe máy ít nhất phải có 20 triệu
+ Bất quá tôi phải đi bộ đến đó chỉ mất nửa tiếng là cùng
- Đánh giá về tính có lý/ vô lý: ai lại, ai đời, lẽ ra, công bằng mà nói,
đằng thắng ra, đáng lẽ…
Ví dụ:
+ Là người ai lại đối xử nhẫn tâm như thế
+ Lẽ ra anh nên giải thích ngay từ đầu thì họ mới chấp nhận
+ Công bằng mà nói người ta đi đúng đường anh lại đổ lỗi cho người ta
Trang 29+ Anh đến xin lỗi cô ấy đi may ra cô ta chấp nhận
+ Họa may hôm nay tôi mới gặp được bác ấy
- Đánh giá nêu nguyên nhân, lý do: chẳng qua, âu cũng là, nghĩa là, tất
là, thế là
Ví dụ:
+ Ông ấy đi họp chẳng qua cũng vì trách nhiệm
+ Người ta xử thế cũng là biết điều, có tình có lý (Chu Lai)
+ Nó ra nông nỗi thế âu cũng là do số mệnh
+Tôi nghỉ học buổi hôm nay thế là mất bài kiểm tra
2.2.4.2 Tình thái ngữ chỉ quan hệ, thái độ, tình cảm:
Thành phần này bao gồm các loại như sau:
- Chỉ thái độ hoài nghi: ngộ nhỡ, hình như, chẳng lẽ, không khéo, tôi e rằng, hay là, chưa biết chừng…
Ví dụ:
+ Cùng một lúc, hình như có người xoay cái quả nắm ở bên trong (Nam Cao)
+ Anh có đi xem ca nhạc không hay là ở nhà?
+ Tôi e rằng nếu cô ấy không đến kịp thì không được dự thi mất
+ Chẳng lẽ tôi lại lừa dối anh làm gì
- Chỉ thái độ ngạc nhiên, bất ngờ: hóa ra, té ra,…
Ví dụ:
+ Hóa ra là anh đã theo dõi tôi từ sáng đến giờ
+ Té ra chuyện đó là do anh tiết lộ
- Chỉ thái độ chấp nhận, miễn cưỡng: vậy, thôi đành vậy, âu cũng
đành…
Ví dụ:
+ Tôi đành đến nhà cô ấy vậy
+ Sự việc đã xảy ra như thế rồi thì đành vậy
Trang 30Chỉ thái độ (cách xử sự) lịch sự (còn gọi là phần đưa đẩy hay uyển ngữ):
cảm phiền, làm ơn, xin lỗi, nói trộm vía, nói trộm bóng
Ví dụ:
+ Cảm phiền bà có thể lấy giúp tôi chiếc áo đằng kia
+ Bạn làm ơn nhường chỗ ngồi cho bà già được không?
+ Xin lỗi, cô cho tôi hỏi đường xuống Hà Nội đi lối nào?
- Chỉ thái độ tình cảm vui buồn bất ngờ (còn gọi là phần cảm thán): ôi,
ối trời, ạ, lạy trời, trời ơi, giời ơi là giời, than ôi…
Ví dụ:
+ Ối trời đất ơi là trời đất! Sao mà cái kiếp tôi khổ thế này.(Nam Cao) + Trời có mắt đấy các bà ạ (Nam Cao)
+ Trời ơi! Đúng quá! (Nam Cao)
+ Ôi cánh đông quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều (Chế Lan Viên)
2.2.4.3 Tình thái ngữ hô đáp (còn gọi là hô ngữ)
Thành phần này gồm 2 loại sau:
- Biểu thức ngôn ngữ dùng để hô (gọi), thường là các đại từ xưng hô,
danh từ riêng, danh từ chung đi với các từ: ơi, ạ, thưa, bẩm…
Ví dụ:
+ Chị ơi, ra mở cửa cho em!
+ Thưa bác Bác cho tôi hỏi bây giờ là mấy giờ rồi?
Trang 31cách phân chia như vậy đã cho chúng ta một cái nhìn khái quát hóa chung nhất về các thành phần cấu tạo nên tình thái ngữ
3 Phân biệt tình thái ngữ với tình thái từ:
3.1 Khái niệm tình thái từ:
“Tình thái từ là một tập hợp riêng biệt có một số lượng từ không lớn, có tác dụng nhất định về ngữ pháp tiếng Việt” (Lê Biên)
“Tình thái từ vốn là một khái niệm ngữ nghĩa của câu, nghĩa là thuộc
địa hạt cú pháp Đó là một tập hợp từ không lớn về mặt số lượng nhưng các tập hợp ấy lại có một đặc trưng riêng về bản chất ngữ pháp” (Đinh Văn
Đức)
“Tình thái từ là tiểu từ chuyên dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung phản ánh hoặc ý nghĩa tình thái với mục đích phát ngôn” (Diệp Quang Ban và Hoàng
Trang 323.3 Phân biệt tình thái ngữ với thán từ
Nếu tình thái ngữ có quan hệ phụ thuộc trực tiếp vào nòng cốt câu chỉ
có một vị trí duy nhất trong mô hình cấu trúc câu thì thán từ làm thành một vế câu ghép lại: có quan hệ đẳng lập với nòng cốt câu, có thể độc lập tạo thành một câu; có khả năng tham gia các cải biến về vị trí trong câu hay nói cách khác là linh hoạt về vị trí trong câu
=> Đấy, chị xem con chị đánh con tôi mù tịt một mắt rồi đây này
=> Chị xem, đấy, con chị đánh con tôi mù tịt một mắt rồi đây này (Thán từ làm thành một vế của câu ghép)
- Về nội dung:
Các thán từ làm thành vế câu ghép chủ yếu biểu lộ trực tiếp cảm xúc, ý trí (trong đó có một số có thể xem là ý nghĩa tình thái) của người nói Tuy nhiên, khác với tình thái ngữ mà ý nghĩa luôn gắn với nội dung mệnh đề của câu, ý nghĩa của các từ cảm thán đang được xem xét ở đây thường không có quan hệ trực tiếp với lõi nội dung mệnh đề của vế câu còn lại mà có quan hệ
Trang 33nhiều hơn với hoàn cảnh nói năng có tính hiện thực hoặc với nội dung của các câu đi trước đó, thường là của người đối thoại
=> Trong ví dụ trên từ “ấy” đứng ở đầu câu là thán từ làm thành vế câu
ghép, biểu thị sự đánh giá của người nói đối với mỗi mệnh đề của câu đi trước
Còn “đấy” ở cuối câu là tình thái ngữ, biểu thị một nội dung thuộc tình thái nhận thức, có thể chủ quan hoặc khách quan, gắn với lõi mệnh đề “cũng không xong”
3.4 Phân biệt tình thái ngữ với trợ từ
Thứ nhất: Nếu tình thái ngữ có mối quan hệ chặt chẽ với nòng cốt câu
thì trợ từ chỉ có quan hệ ngữ pháp với một bộ phận nào đó trong câu chứ không có quan hệ với nòng cốt câu Vì thế có thể nói rằng trợ từ thuộc về số các yếu tố của cấu trúc bậc dưới câu
Thứ hai: Trong khi các tình thái ngữ có vị trí riêng của mình, không bị
quy định bởi vị trí (từ, ngữ mà nó quan hệ) thì trái lại trợ từ lại không có vị trí
Trang 34riêng Vị trí của chúng trong mô hình cấu trúc câu bị quy định bởi vị trí của bộ phận (từ, ngữ) mà nó quan hệ
Vớ dụ: về tình thái ngữ
+ “Quả nhiên, cái cánh cửa mở ra, không đợi y phải đẩy kéo theo cả tay y” (Nam Cao)
=> Từ “quả nhiên” được xác định ở vị trí đầu câu, nó không bị quy định
bởi các yếu tố đi đằng sau nó
+ “Về sau, hình như anh cũng có ý mến tôi, có thể vì anh khác tôi chăng”
Thứ ba: Nếu lược bỏ một thành tố bất kỳ nào của tình thái ngữ trong
câu thì không ảnh hưởng đến vị trí và sự tồn tại của câu Trái lại, đối với trợ từ nếu lược bỏ hay tỉnh lược đi thành tố của trợ từ thì mỗi bộ phận mà nó quan hệ
sẽ tự động bị tỉnh lược
Vớ dụ về tình thái ngữ:
“Hình như chẳng bao giờ họ ghen tuông” (Nam Cao)
Trang 35=> Ở ví dụ trên, từ “hình như” bị tỉnh lược không làm thay đổi hay ảnh
hưởng tới vị trí và sự tồn tại của câu
Thứ tư: Nếu tình thái ngữ được xem xét ở cấp độ câu thì tình thái từ lại
được xem xét ở cấp độ từ loại Cho đến nay, tồn tại phổ biến hai cách phân
định từ loại là phân chia vốn từ của một ngôn ngữ ra thành hai lớp khái quát là thực từ và hư từ Trong đó, phân chia vốn từ của một ngôn ngữ ra thành nhiều lớp cụ thể hơn với những đặc trưng xác định rõ hơn Tình thái từ được xếp vào loại hư từ
4 Phõn biệt tỡnh thỏi ngữ hụ - đỏp với cõu đặc biệt dựng làm lời hụ gọi
4.2 Khỏc nhau
Thứ nhất: Về hỡnh thức, tỡnh thỏi ngữ hụ - đỏp được nhận biết qua dấu
hiệu biểu hiện bờn ngoài bằng dấu phẩy (,) hay dấu chấm phẩy (;) để thực hiện hành vi hụ - đỏp Trỏi lại, cõu đặc biệt dựng làm lời hụ gọi được nhận biết qua biểu hiện bờn ngoài bằng dấu chấm than (!)
Vớ dụ:
+ Lan ơi, ra đõy tớ nhờ chỳt việc (Tỡnh thỏi ngữ xưng hụ)
Trang 36+ Lan ơi! Cậu ra đây tớ nhờ chút việc (Câu đặc biệt dùng làm lời hô) + Dạ, lạy cụ lớn, cụ lớn ông thực là nhân quan (Nguyễn Công Hoan) (Tình thái ngữ đáp)
+ Dạ! Con ra ngay đây (Câu đặc biệt dùng làm lời đáp)
Thứ hai: Về cấu tạo, tình thái ngữ được cấu tạo từ những hư từ vì vậy
mà nó nằm ngoài cấu trúc cú pháp của câu Trái lại, câu đặc biệt dùng làm lời
hô - đáp được cấu tạo từ một thực từ, trong câu không chủ ngữ có thể có trạng ngữ và đề ngữ
Ví dụ:
+ Em chào thầy ạ (Tình thái ngữ hô)
Tình thái ngữ “ạ” là hư từ không nằm trong cấu trúc ngữ pháp của câu
+ Thanh! (Nguyễn Công Hoan)
Đây là câu đặc biệt dùng để hô, được cấu tạo từ một danh từ Vì thế có thể coi đây là một thực từ có một nòng cốt câu
Thứ ba: Tình thái ngữ hô - đáp là những thành phần biệt lập của câu,
không tham gia vào việc tái hiện sự việc khách quan, chuyên dùng để biểu lộ thái độ, cách đánh giá của người nói với nội dung câu nói hoặc của người nói với người nghe Trái lại, câu đặc biệt dùng để hô đáp có tác dụng thông báo
về sự xuất hiện của sự vật, hiện tượng ngay tại thời điểm nói và không mang sắc thái biểu cảm
Ví dụ:
+ Dạ, em sẽ đến ngay trong ít phút nữa
Tình thái ngữ đáp “dạ” là từ có tác dụng biểu thị thái độ kính trọng, lễ
phép của người nói với người nghe
+ Dạ! Em sẽ đến ngay
Trang 37“Dạ” ở vớ dụ trờn là cõu đặc biệt dựng để đỏp Nú cú tỏc dụng thụng
bỏo sự xuất hiện của người nghe tại thời điểm núi, khụng biểu thị sắc thỏi biểu cảm
Như vậy, trờn đõy là cỏch phõn biệt hai thành phần của ngụn ngữ giữa tỡnh thỏi ngữ hụ - đỏp và cõu đặc biệt dựng để hụ gọi sẽ tạo cơ sở cho việc phõn tớch, tỡm hiểu về vai trũ của tỡnh thỏi ngữ hụ - đỏp trong truyện ngắn Nguyễn Cụng Hoan, trỏnh sự nhầm lẫn và tăng hiệu quả trong việc sử dụng ngụn ngữ
5 Các phương tiện ngôn ngữ thể hiện tình thái ngữ
Phương tiện ngôn ngữ thường được dùng để biểu thị tình thái ngữ khá
đa dạng Nó có thể là:
- Một từ: Chính, đích thị, ôi, ạ, ối, vâng, dạ, thế…
Ví dụ:
+ Bác Hồ đó, là lòng ta yên tĩnh
Ôi người cha đôi mắt mẹ hiền sao (Tố Hữu)
+ Chính y đã phải bất bình và buồn cười về cái lòng ích kỷ của bọn đàn
ông (Nam Cao)
+ Mợ mày cho mày đi chơi à? (Nam Cao)
- Tổ hợp gồm hai, ba từ tình thái: thôi thì, thôi…vậy, bất quá…chứ mấy, bất quá… là cùng …
Ví dụ:
+ Thôi đành để chúng nó lấy nhau vậy
+ Bất quá phải đi bộ là cùng
- Quán ngữ tình thái:Té ra, hóa ra, đằng thắng ra, nói cho cùng, âu cũng là, công bằng mà nói, đời nào, ai lại, ai đời…
Ví dụ:
+ Hóa ra anh ấy đã đi du học được ba năm rồi
Trang 38+ Nói cho cùng, nó đã hành động sai nên phải chịu trách nhiệm
- Kết cấu chủ - vị: Tôi e là, tôi đồ là, tôi cho rằng…
Ví dụ:
+ Tôi e là việc này khó có thể thành công
+ Tôi đồ là cô ấy đã lấy chồng
6 Vị trí của tình thái ngữ
Trong một câu, vị trí của thành phần tình thái không cố định
- Có nhóm thường đứng trước nòng cốt câu: ai đời, thì ra, hóa ra, vâng, dạ…
Ví dụ:
+ Dạ, cũng thường thưa cậu
+ Vâng Tôi sẽ đến sau năm phút nữa
+ Thì ra hôm qua nhà bác bị mất trộm à?
- Có nhóm thường đứng ở cuối câu: thì có, mới chết…
Ví dụ:
+ Có một mình anh đến trễ thì có
+ Tôi đã gửi nhầm địa chỉ cho cô ấy mới chết chứ
- Các nhóm có thể đứng trước nòng cốt câu hoặc giữa chủ ngữ với vị
ngữ: nhất định, thế nào, may sao, cũng may, chẳng lẽ, không lẽ, chẳng qua,
được cái, phải cái…
Ví dụ:
+ Tôi vừa đến đây cũng may là bộ phim mới bắt đầu
+ Sẽ có lúc thế nào tôi cũng sang thăm anh
7 Tiểu kết
Có thể thể thấy tình thái ngữ là bộ phận nằm ngoài nòng câu và không nằm trong cấu trúc cú pháp nhưng nó lại là thành phần quan trọng tạo ra những sắc thái cảm xúc, tình cảm trong mối quan hệ của người nói với nội dung câu nói và đối với người nghe Trong những sáng tác của Nguyễn Công
Trang 39Hoan, sở trường của ông là miêu tả hành động, xây dựng tình huống trào phúng tạo ra tiếng cười đả kích mà ít khi đi sâu vào khai thác dòng tâm lý nhân vật Ngôn ngữ trong văn Nguyễn Công Hoan không cầu kỳ mà đi thẳng vào vấn đề Vì vậy, thành phần ý nghĩa tình thái xuất hiện trong những câu văn của ông được thể hiện hết sức phong phú và độc đáo Nghiên cứu vai trò của tình thái ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan sẽ là một hướng tiếp cận trong tác phẩm góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn thành công về giá trị nội dung và nghệ thuật của nhà văn để lại