Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạtầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồnnhân lực, thực hiện các chi phí t
Trang 1
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ VẤN ĐỀ KHÉP KÍN TRONG ĐẦU TƯ 2
1.1 Lý luận chung về đầu tư phát triển 2
1.1.1 Đầu tư phát triển là gì? 2
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển 3
1.1.3 Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng và phát triển 5
1.1.3.1 Tác động của đầu tư phát triển đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế 5
1.1.3.2 Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế 7
1.1.3.3 Đầu tư phát triển tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế 7
1.1.3.4 Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ 8
1.2 Sự khép kín trong đầu tư 9
1.2.1 Đặc điểm của hiện tượng khép kín trong đầu tư 9
1.2.2 Tác động của hiện tượng khép kín trong đầu tư đến hoạt động đầu tư 10
PHẦN II: THỰC TRẠNG KHÉP KÍN TRONG ĐẦU T Ư Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 11
2.1 Thực trạng khép kín trong đầu tư 11
2.2 Nguyên nhân của tình trạng khép kín trong đầu tư: 17
PHẦN III: CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HIỆN TƯỢNG KHÉP KÍN TRONG ĐẦU TƯ 18
KẾT LUẬN 21
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư là một hoạt động kinh tế của đất nước; một bộ phận của hoạt động sảnxuất kinh doanh, được mọi cá nhân quan tâm khi có điều kiện nhằm tăng thu nhập vànâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản thân, gia đình và xã hội
Đầu tư phát triển là một bộ phận của đầu tư Về bản chất chính là đầu tư tài sảnvật chất và sức lao động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thờicho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sảnxuất khác Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạtầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồnnhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sảnnày nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổsung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đấtnước
Nhưng trong những năm vừa qua, tình trạng khép kín trong hoạt động đầu tưphát triển nói chung, đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng là hiện tượng xảy ra rất phổbiến, và chính là nguyên nhân của nhiều tiêu cực Hiện tượng khép kín trong đầu tưlàm giảm hiệu quả của họat động đầu tư Gây ra sự thất thoát, lãng phí lớn tiền bạc vàcủa cải của các chủ thể đầu tư, của toàn dân cũng như của toàn bộ nền kinh tế quốcdân Hơn nữa, khép kín trong đầu tư còn là một trong những rào cản lớn đối với cácthành phần kinh tế khác nhau tham gia đầu tư, hạn chế tính minh bạch và công khaitrong hoạt động đầu tư Từ đó nảy sinh tiêu cực và là nguồn gốc phát sinh thất thoátlãng phí trong đầu tư từ nguồn vốn nhà nước
Với đề tài: “Chống khép kín trong đầu tư” nhằm góp phần tìm ra những giải phápnâng cao hiệu quả đầu tư ở nước ta hiện nay
Do trình độ còn hạn chế, cũng như thời gian nghiên cứu và tìm hiểu tài liệu chưanhiều nên trong đề tài còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến củagiáo viên và các bạn học viên
Trang 3PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
VÀ VẤN ĐỀ KHÉP KÍN TRONG ĐẦU TƯ 1.1 Lý luận chung về đầu tư phát triển
1.1.1 Đầu tư phát triển là gì?
Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốntrong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra nhữngtài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị,…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng,…), giatăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển
Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sửdụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiềnvốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên Như vậy, khi xem xét lựa chọn dự ánđầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động dự án đầu tư phát triển cần tính đúng, tính đủ cácnguồn lực tham gia
Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốnthực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định Trên quan điểm phân công lao động xãhội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ.Trến góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư được chia thành hai nhómchính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận Trên góc độ xemxét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành: loại được khuyến khích đầu tư,loại không được khuyến khích đầu tư và loại bị cấm đầu tư Từ góc độ tài sản, đốitượng đầu tư chia thành những tài sản vật chất (tài sản thực) và tài sản vô hình Tài sảnvật chất, ở đây, là những tài sản cố định được sử dụng cho sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu động Tài sản vô hình như phát minh sángchế, uy tín, thương hiệu,…
Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiếtbị…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và tài sản vôhình (những phát minh sáng chế, bản quyền…) Các kết quả đạt được của đầu tư gópphần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội Hiệu quả của đầu tư phát triển phảnánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội thu được với chi phí chi ra để đạt kết
2
Trang 4quả đó Kết quả và hiệu quả của đầu tư phát triển cần được xem xét trên cả phươngdiện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa các loại lợi ích, phát huy vaitrò chủ động sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tra giám sát của cơ quanquản lý nhà nước các cấp Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếp tạo ratài sản cố định và tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho y
tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo…nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượngcuộc sống và vì mục tiêu phát triển, do đó, cũng được xem là đầu tư phát triển
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững , vì lợi ích quốc gia,cộng đồng và nhà đầu tư Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của cácthành viên trong xã hội Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợinhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…
Đầu tư phát triển thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định Theo nghĩađầy đủ, chủ đầu tư là người sở hữu vốn, ra quyết định đầu tư, quản lý quá trình thực hiện
và vận hành kết quả đầu tư và là người hưởng lợi từ thành quả đầu tư đó Chủ đầu tư chịutrách nhiệm kiểm tra giám sát đầu tư, chịu trách nhiệm toàn diện về những sai phạm vàhậu quả do ảnh hưởng của đầu tư đến môi trường và do đó, có ảnh hưởng quan trọng đếnviệc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình diễn ra trong thời kỳ dài và tồn tạivấn đề “độ trễ thời gian”, thực chất của vấn đề này là sự không trùng hợp giữa thờigian đầu tư với thời gian vận hành kết quả đầu tư Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tưthường thu được trong tương lai Đặc điểm này của đầu tư cần được quán triệt khiđánh giá kết quả, chi phí và hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Qui mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển là rấtlớn
Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư Qui môvốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng cácchính sách, qui hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vố đầu tư, bố
Trang 5trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm, trọng điểm.
Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọngđiểm quốc gia Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ cần tuân thủmột kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến
độ đầu tư, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề
“hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lại lao động, giải quyết lao động dôi dư,…
- Thời kỳ đầu tư kéo dài
Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành vàđưa vào hoạt động Nhiều công trình đầu tư phát triển có thời gian kéo dài hàng chụcnăm Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nângcao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hàng phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tậptrung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kếhoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào họat độngcho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình Nhiều thành quả đầu tư pháthuy thành quả lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn như: Kim tự Tháp Ai Cập, Vạn LýTrường Thành ở Trung Quốc, Ăng Co Vát ở Cam-pu-chia,…Trong suốt quá trình vậnhành, các thành quả đầu tư chịu sợ tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực, của nhiềuyếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội,…
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựngthường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, dó đó quá trình thựchiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của cácnhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng
Không thể dễ dàng di chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác,nên công tác quản lý hoạt động đầu tư phát triển cần phải quán triệt đặc điểm này trênmột số nội dung sau:
* Trước tiên, cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng Đầu tưcái gì, công suất bao nhiêu là hợp lý…cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, dựa trênnhững căn cứ khoa học Thí dụ, công suất xây dựng nhà máy sàng tuyển than ở khu
4
Trang 6vực có mỏ than, do đó quy mô vốn đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào trữ lượng than của
mỏ Nếu trữ lượng của mỏ ít thì quy mô của nhà máy sàng tuyển không nên lớn đểđảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt động hết công suất với số năm tồn tại của nhàmáy theo dự kiến trong dự án
* Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý Để lựa chọn địa điểm thực hiện đầu tư đúngphải dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, chínhtrị, xã hội, môi trường văn hóa…Cần xây dựng một bộ tiêu chí khác nhau và nhiềuphương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ và địa điểm đầu tư cụ thể hợp lý nhất,sao cho khai thác được tối đa lợi thế vùng và không gian đầu tư cụ thể, tạo điều kiệnnâng cao hiệu quả vốn đầu tư
- Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao
Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kếtquả đầu tư cũng kéo dài…nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thườngcao Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhàđầu tư như: quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu,…có nguyên nhânkhách quan như: giá nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuấtkhông đạt công suất thiết kế…Như vậy, để quản lý hoạt động đầu tư phát triển hiệuquả, cần phải thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro bao gồm:
Thứ nhất, nhận diện rủi ro đầu tư
Thứ hai, đánh giá mức độ rủi ro
Thứ ba, xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro
1.1.3 Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng và phát triển.
1.1.3.1 Tác động của đầu tư phát triển đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế.
* Tác động đến tổng cầu:
Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của nền kinh tế Theo sốliệu của WB, đầu tư thường chiếm từ 24% đến 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cảcác nước trên thế giới Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắnhạn Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
Trang 7cầu Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng(nếu các yếu tố khác không đổi.
AD = C + I +G + X – MTrong đó: C: Tiêu dùng
I: Đầu tưG: Chi tiêu Chính phủX: Xuất khẩu
M: Nhập khẩu
* Tác động đến tổng cung.
Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước và cung từnước ngoài Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yêu tố sản xuất:vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…,thể hiện qua phương trình sau:
Q = F (K, L, T, R,…)Trong đó: K: Vốn đầu tư
L: Lao độngT: Công nghêR: Nguồn tài nguyên
Trang 8Sơ đồ 1: Tác động của đầu tư đến tổng cung, tổng cầu
Như vậy tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp là tăng tổng cung củanền kinh tế, nếu các yếu tố khác không đổi Mặt khác, tác động của vốn đầu tư cònđược thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổimới công nghệ…Do đó, đầu tư lại gián tiếp làm tăng tổng cung cho nền kinh tế
1.1.3.2 Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế.
Đầu tư vừa tác động đến tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng trưởng.Tăng quy mô đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân tố rất quan trọng gópphần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH, nâng cao sức cạnh tranh của nềnkinh tế, do đó nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
Biểu hiện tập trung của mối quan hệ này được thể hiện ở công thức tính hệ sốICOR (Incremental Capital Output Ratio – tỷ số gia tăng của vốn so với sản lượng)
Như vậy, nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư.Theo một số nghiên cứu của các nhà kinh tế, muốn giữ tốc độ tăng trưởng khá cao và
ổn định thì tỷ lệ đầu tư phải chiếm khoảng trên 25% so với GDP, tùy theo ICOR củamỗi nước
Đầu tư cũng tác động đến chất lượng của tăng trưởng kinh tế, chúng ta đều thấyrằng, tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ 1994-2004 chủ yếu do yếu tố bề rộng, đặcbiệt do yếu tố vốn – nhân tố mà Việt Nam còn thiếu và sử dụng hiệu quả không cao,trong khi yếu tố lao động, được coi là nguồn lực nội sinh, lợi thế chi phí thấp thì mứcđóng góp cho tăng trưởng kinh tế lại chưa tương xứng
Vốn đầu tư tăng thêm Đầu tư trong kỳ
GDP tăng thêm GDP tăng thêm
Trang 91.1.3.3 Đầu tư phát triển tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽvới nhau, được biểu hiện cả về mặt chất lẫn mặt lượng Chuyển dịch cơ cấu kinh tếđược hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế Sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về qui mô, tốc độ giữacác ngành, vùng Những cơ cấu kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân bao gồm:
cơ cấu kinh tế ngành, lãnh thổ, theo thành phần kinh tế
Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật và chiến lượcphát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đối mới trênphạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh
tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực
Đối với cơ cấu ngành, vốn đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư từngngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả cao hay thấp…đều ảnh hưởng đếntốcđộ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền
đề vật chất để phát triển các ngành mới… do đó, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành
Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về pháttriển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đóinghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị,
…của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy nhữngvùng khác cùng phát triển
1.1.3.4 Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ.
Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triểnkhoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia
Trong mỗi thời kỳ, các nước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển công nghệ.Trong giai đoạn đầu, các nước đang phát triển do có nhiều lao động và nguyên liệu,thường đầu tư các loại công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu, sau đó giảmdần hàm lượng lao động và nguyên liệu trong sản xuất sản phẩm và tăng dần hàm lượngvốn, thiết bị và tri thức thông qua việc đầu tư công nghệ hiện đại hơn và đầu tư đúngmức để phát triển nguồn nhân lực Đến giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn,
8
Trang 10thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối Tuy nhiên quá trìnhchuyển đổi này cũng là quá trình chuyển từ đầu tư ít sang đầu tư đầu tư lớn, thay đổi cơcấu đầu tư Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành công của quá trìnhchuyển đổi và sự phát triển khoa học công nghệ.
Công nghệ mà doanh nghiệp có được có thể là do nhập khẩu từ bên ngoài hoặc tựnghiên cứu và ứng dụng Dù nhập hay tự nghiên cứu để có công nghệ cũng đòi hỏilượng vốn đầu tư lớn Mỗi doanh nghiệp, mỗi nước khác nhau cần phải có bước đi phùhợp để lựa chọn công nghệ thích hợp Trên cơ sở đó, đầu tư có hiệu quả để phát huylợi thế so sánh của từng đơn vị cũng như toàn nền kinh tế quốc dân
1.2 Sự khép kín trong đầu tư
Hiện tượng khép kín đầu tư thực chất là hiện tượng các chủ thể tham gia quátrình đầu tư từ khâu chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị dự án, thực hiện và quản lý dự án, giámsát dự án, nghiệm thu, quyết toán dự án đầu tư không độc lập hoàn toàn về tổ chức, vềtài chính, hay cùng phụ thuộc vào một cơ quan quản lý, tiến hành thông đồng, mócngoặc nhau để trục lợi cho mình
Chủ thể tham gia hoạt động đầu tư bao gồm: Cơ quan quản lý Nhà nước về đầu
tư xây dựng, Người có thẩm quyền ra quyết định đầu tư, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn( bao gồm tư vấn lập dự án, tư vấn giám sát thi công, tư vấn khảo sát, tư vấn thiết kế
và dự toán, tư vấn quản lí dự án…), đơn vị thi công, cơ quan thẩm định, giám sát,…Mục đích tham gia của các chủ thể là đảm bảo tuân thủ các quy định về xây dựng, tiếtkiệm, hiệu quả, chống lanngx phí, thất thoát và các tiêu cự khác trong đầu tư xây dựng
1.2.1 Đặc điểm của hiện tượng khép kín trong đầu tư
- Khép kín đầu tư mang ý nghĩa tiêu cực vì nó thể hiện sự thông đồng giữa cácthể tham gia để trục lợi Mục đích khép kín đầu tư là để trục lợi Khép kín đầu tư nếukhông có sự thông đồng vẫn sẽ đảm bảo được mục tiêu quản lý của Nhà nước về đầu
tư xây dựng
- Khép kín đầu tư chủ yếu xảy ra đối với nguồn vốn Ngân sách nhà nước Điều
đó cho thấy lĩnh vực đầu tư từ nguồn vốn Ngân sách là cơ sở vật chất kỹ thuật có giátrị lớn, thời gian thu hồi dài, ảnh hưởng lớn đến kinh tế xã hội của đất nước… Do đó,vai trò quản lý của Nhà nước đối với nguồn vốn này là rất quan trọng
Trang 11- Khép kín đầu tư chỉ xảy ra trong hoạt động đầu tư có sự thông đồng giữa cácchủ thể của 1 dự án cụ thể.
- Chúng ta có thể phân loại hiện tượng khép kín trong đầu tư:
+ Theo giai đoạn thực hiện:
1.2.2 Tác động của hiện tượng khép kín trong đầu tư đến hoạt động đầu tư.
- Hiện tượng khép kín trong đầu tư làm giảm hiệu quả của họat động đầu tư do
có sự hư hỏng, lãng phí, thất thoát, rút ruột công trình
- Gây ra sự thất thoát, lãng phí lớn tiền bạc và của cải của các chủ thể đầu tư,của toàn dân cũng như của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
- Một trong những rào cản lớn trong lĩnh vực đầu tư hiện nay đó là tình trạngkhép kín trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn nhà nước, việc tách bạchgiữa chức năng quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh tại các bộ, các ngành,các địa phương chưa rõ ràng, rành mạch Như vậy sẽ tạo rào cản đối với cácthành phần kinh tế khác nhau tham gia đầu tư, hạn chế tính minh bạch và côngkhai trong hoạt động đầu tư Từ đó nảy sinh tiêu cực và là nguồn gốc phát sinhthất thoát và lãng phí trong đầu tư từ nguồn vốn nhà nước
PHẦN II: THỰC TRẠNG KHÉP KÍN TRONG ĐẦU T Ư
Ở VIỆT NAM HI ỆN NAY 2.1 Thực trạng khép kín trong đầu tư
Hiện tượng khép kín trong đầu tư diễn ra đối với các dự án sử dụng vốn ngânsách, các nguồn viện trợ như ODA thời gian qua ở Việt Nam luôn là vấn đề kinh tế,
xã hội bức xúc
Một số ví dụ điển hình cho hiện tượng khép kín trong đầu tư là ở các dự án xâydựng cơ bản của Bộ Giao thông vận tải (GTVT), dự án xây dựng sân vận động MỹĐình (SVĐ)
Các công trình của Bộ GTVT hiện tại gần như khép kín hoàn toàn, từ khâukhảo sát, thiết kế cho đến đấu thầu, thi công, giám sát Chủ đầu tư cũng là Bộ GTVT.Đối với hoạt động đấu thầu, tuy nói là đấu thầu rộng rãi nhưng không có nhà thầunào bên ngoài “chen” vào được, mà tập trung chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp thuộc
10