Bố cục một bài văn nghị luận gồm có: - Phần mở bài: thường là một đoạn văn, dung lượng khoảng 1-2/10 bài văn, có nhiệm vụ giới thiệu vấn đề chính mà người viết cần làm sáng tỏ.. - Phần
Trang 1Oân tập về Kỹ năng làm văn
nghị luận Bài 1: BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
1.Khái niệm:
Bài văn nghị luận là bài văn chủ yếu dùng lý lẽ và dẫn chứng để giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích, … một vấn đề nào đó nhằm giúp người đọc có nhận thức và hành động đúng hơn
2 Đặc điểm của bài văn nghị luận:
Bài văn nghị luận được viết theo phong cách nghị luận:
-Có tính khoa học: lý lẽ và lập luận phải chặt chẽ, sắc sảo; dẫn chứng phải phù hợp, tiêu biểu, chính xác và có phân tích
-Có tính nghệ thuật: dùng ngôn ngữ (từ, ngữ, câu,…) có chọn lọc; diễn đạt phải rõ ràng, trong sáng và linh hoạt, hấp dẫn
3 Điều kiện để làm bài văn nghị luận:
- Có kiến thức phong phú và đa dạng về:
+ Văn hoá, xã hội, lịch sử, đạo đức, chính trị, … đối với bài văn nghị luận chính trị-xã hội
+ Văn học sử, tác giả, tác phẩm, lý luận văn học, …đối với bài văn nghị luận văn học
- Có kỹ năng và nghị luận đúng phương pháp:
+ Kỹ năng về chính tả, dùng từ ngữ, đặt câu, dựng đoạn và các thao tác nghị luận
+ Nắm vững phương pháp và trình tự các bước làm các kiểu bài văn nghị luận
4 Yêu cầu một bài văn nghị luận:
- Đúng hướng: các phần, các ý trong bài phải xoay quanh luận đề
- Trật tự: ý tứ phải được sắp xếp theo một hệ thống nhất định nhằm làm sáng tỏ luận đề, luận điểm/
- Mạch lạc: các ý thể hiện trong bài phải theo một lập luận chặt chẽ và liên tục
- Trong sáng: cách diễn đạt phải chính xác, rõ ràng và có sức lôi cuốn
5 Bố cục một bài văn nghị luận:
a.Bố cục là sự sắp xếp các phần, các ý lớn (luận đề), ý nhỏ (luận điểm, luận cứ) của bài viết theo một trật tự thích hợp
b Bố cục một bài văn nghị luận gồm có:
- Phần mở bài: thường là một đoạn văn, dung lượng khoảng 1-2/10 bài văn, có nhiệm vụ giới thiệu vấn đề chính
mà người viết cần làm sáng tỏ
- Phần thân bài: thường gồm nhiều đoạn văn (mỗi đoạn văn thường triển khai và làm sáng tỏ một luận điểm hoặc
một luận cứ; các đoạn văn phải được liên kết nhau bằng từ ngữ hoặc câu văn chuyển đoạn, chuyển ý), dung lượng khoảng 7-8/10 bài văn, có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ cho vấn đề chính đã nêu ở phần mở bài
- Phần kết bài: thường là một đoạn văn, dung lượng khoảng 1/10 bài văn, có nhiệm vụ đánh giá, tổng hợp, khẳng
định vần đề chính đã giơí thiệu ở mở bài và những vấn đề cụ thể đã trình bày, làm sáng tỏ ở thân bài
Bài 2: ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN
1 Khái niệm:
Đề văn nghị luận thực chất là một “đơn đặt hàng” của người ra đề đối với người viết bài
Viết bài văn nghị luận là trình bày các tư tưởng, quan điểm, chủ trương,… của cá nhân người viết theo một định hướng nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể trong “đơn đặt hàng”
2 Phân loại đề văn nghị luận: Có hai loại đề văn nghị luận cơ bản:
a.Đề văn nghị luận chính trị-xã hội: yêu cầu bàn bạc về một vấn đề tư tưởng, đạo lý hay một sự việc, hiện tượng
trong đời sống
Ví dụ:
+ Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý:
(1) Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”.
(2) Bàn về tranh giành và nhường nhịn.
(3) Đức tính khiêm nhường.
(4) Có chí thì nên.
(5) Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về tính ích kỷ và lòng vị tha?
+ Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống:
Trang 2(1) Vai trò của sách đối với đời sống con người.
(2) Cá nhân và tập thể như giọt nước và biển cả Anh (chị) nghĩ như thế nào về mối quan hệ đó?
(3) Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn Nhiều bạn vì mải chơi mà xao nhãng học tập và còn phạm
những sai lầm khác Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó.
(4) Hút thuốc lá có hại.
(5) Viết về một thói hư tật xấu mà anh (chị) thấy cần phê phán.
b.Đề văn nghị luận văn học: yêu cầu bàn bạc một vấn đề về văn học (như về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm
văn học, về đặc điểm, phong cách tác giả, về một vấn đề văn học sử hay lý luận văn học,…)
Ví dụ:
(1) Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương ở “Chuyện người con gái nam
Xương” của Nguyễn Dữ.
(2) Phân tích diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân.
(3) Những đặc sắc trong bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương.
(4) Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn
Quang Sáng.
(5) Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong “Bài thơ tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.
3 Tìm hiểu đề văn nghị luận:
Tìm hiểu đề văn nghị luận là suy nghĩ kỹ để xác định đúng và đủ 03 yêu cầu của đề:
a.Về nội dung: Vấn đề trọng tâm cần bàn bạc và làm sáng tỏ (các phần, các ý trong bài văn phải xoay quanh nó)
là gì?
b Về hình thức: Đề văn thuộc loại nghị luận chính trị-xã hội hay nghị luận văn học? Các thao tác lập luận chính
sẽ vận dụng trong bài văn là gì?
c Về phạm vi dẫn chứng cần: dẫn chứng lấy từ thực tế đời sống xưa-nay hoặc trong văn học ?
Ví dụ: Tìm hiểu các đề văn sau:
Đề 1: Cá nhân và tập thể như giọt nước và biển cả Anh (chị) nghĩ như thế nào về mối quan hệ đó?
- Nội dung: Từ cách so sánh ví von: cá nhân là nhỏ bé-giọt nước, tập thể là lớn lao-biển cả, ta có thể rút ra vấn đề trọng tâm mà đề văn yêu cầu bàn bạc: mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể
- Hình thức: loại nghị luận chính trị-xã hội, thao tác giải thích và bình luận
- Phạm vi dẫn chứng: lấy từ trong thực tế đời sống xưa nay
Đề 2: “Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” (Truyện Kiều)
Hãy chứng minh nhân vật Thuý Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du chính là hình tượng để nhà thơ khẳng định ý kiến đó.
-Nội dung: bạc mệnh là số phận chung của người phụ nữ trong xã hội phong kiến và nàng Kiều là nhân vật tiêu biểu
-Hình thức: loại nghị luận văn học, thao tác chứng minh
-Phạm vi dẫn chứng: chọn những câu thơ nói về số phận của những người phụ nữ nói chung và của nàng Kiều nói riêng trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
Bài 3: VIẾT PHẦN MỞ BÀI
1 Mục đích của phần mở bài:
Mục đích của phần mở bài là giới thiệu một cách khái quát với người đọc vấn đề mà mình sẽ viết, trao đổi, bàn bạc trong bài văn
2 Nguyên tắc viết mở bài:
-Nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài
-Nếu đề bài yêu câu giải thích, chứng minh, bình luận hay phân tích một ý kiến thì phần mở bài phải dẫn lại nguyên văn ý kiến ấy
-Chỉ được phép nêu những ý khái quát
3 Các cách viết mở bài:
Viết mở bài thực chất là trả lời câu hỏi: Ở bài này mình định viết về điều gì, trao đổi và làm sáng tỏ vấn đề gì? Đồng thời phần mở bài cũng dự báo phương hướng sẽ triển khai nội dung vấn đề ở phần thân bài
Có thể mở bài bằng nhiều cách, nhưng nhìn chung có hai cách chính: mở bài trực tiếp (trực khởi) và mở bài gián
tiếp (lung khởi)
3.1 Mở bài trực tiếp: Viết thẳng vào vấn đề, không cần dẫn dắt Cách này ít dùng, bởi không tạo được chất văn.
Trang 3Ví dụ đề bài: Phân tích bài thơ "Viếng lăng Bác" của Viễn Phương.
Bài thơ "Viếng lăng Bác" in trong tập thơ “Như mây mùa xuân” (1978), được Viễn Phương sáng tác năm 1976, nhân dịp ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Bài thơ thể hiện niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng tha thiết
thành kính, vừa tự hào vừa đau xót của tác giả từ miền Nam mới giải phóng ra viếng lăng Bác bằng giọng điệu
trang trọng và tha thiết với nhiều hình ảnh ẩn dụ có giá trị, súc tích và gợi cảm; lời thơ dung dị mà cô đúc, giàu cảm xúc mà lắng đọng
3.2 Mở bài gián tiếp: Từ một số câu văn dẫn dắt có liên quan đến vấn đề sẽ viết (chẳng hạn từ việc nêu một ý
kiến, nhận xét, câu thơ, câu chuyện kể, câu danh ngôn, đề tài, cảm hứng, ) để tạo cớ mà giới thiệu nội dung và cách thức, phạm vi nghị luận
Ví dụ cũng đề bài trên, ta có thể dẫn dắt vào đề bằng nhiều hướng khác nhau:
a Từ việc khái quát về tác giả và tác phẩm:
(1) Viễn Phương là một trong những cây bút xuất hiện sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam Thơ của Viễn Phương thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm và chất mơ mộng ngay trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt ở
chiến trường thời kháng chiến chống Mỹ./ (2)Bài thơ "Viếng lăng Bác" in trong tập thơ “Như mây mùa xuân”
(1978), được Viễn Phương sáng tác vào tháng 4 năm 1976, nhân dịp ông ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác
b Từ việc khái quát về đề tài Bác Hồ trong thơ ca dân tộc:
(1)Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Cuộc đời và sự nghiệp của Bác là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ca
Đã có biết bao nhiêu bài thơ ngợi ca Bác chúng ta tạo xúc động lòng người, như: Bác ơi! (Tố Hữu), Người đi tìm hình của nước (Chế Lan Viên), Đêm nay Bác không ngủ (Minh Huệ), Mỗi nhà thơ có những tình cảm, suy nghĩ
và cách biểu hiện khác nhau./ (2) Riêng Viễn Phương, đứa con của miền Nam ruột thịt yêu thương, sau ngày vui
của đất nước được hoàn toàn giải phóng, nhân dịp ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác (tháng 4 năm 1976), nhà thơ đã gửi gắm niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng tha thiết thành kính, vừa tự hào vừa đau xót của mình qua
bài thơ "Viếng lăng Bác", in trong tập thơ "Như mây mùa xuân" (1978).
* Nhận xét: Từ các mở bài ví dụ trên, ta thấy:
- Các câu ở phần dẫn dắt vào đề (1) xuất phát từ những hướng khác nhau, nhưng đều có liên quan, gần gũi với
vấn đề sẽ nêu (bài thơ "Viếng lăng Bác" của Viễn Phương) Như vậy có rất nhiều cách mở bài gián tiếp (lung
khởi) khác nhau cho cùng một đề văn mà sự khác nhau chủ yếu là ở phần dẫn dắt vào đề.
- Còn những câu ở phần nêu vấn đề và cách thức nghị luận, phạm vi dẫn chứng (2) nói chung là giống nhau, bởi đây là yêu cầu bắt buộc, phần cố định của đề bài)
4 Kết cấu của mở bài:
Mở bài chiếm dung lượng khoảng 1-2/10 bài văn, thường là một đoạn văn có 2 phần:
- Dẫn đề: viết những câu dẫn dắt có liên quan, gần gũi với vấn đề chính sẽ nêu
- Nêu đề: nêu vấn đề chính sẽ viết, trích dẫn (nếu đề bài có nêu một ý kiến, nhận định hoặc một đoạn thơ, đoạn văn) và nêu cách thức nghị luận, phạm vi dẫn chứng sẽ dùng
5 Những lỗi cần tránh:
- Dẫn dắt vào đề bằng những ý không liên quan với vấn đề sẽ nêu
- Dẫn dắt vào đề quá dài dòng, vòng vo xa với vấn đề sẽ nêu
- Dẫn dắt vào đề quá chi tiết không tạo thuận lợi cho việc viết thân bài (những nội dung ấy lẽ ra chỉ nên trình bày
ở phần thân bài)
- Trích dẫn sai ý kiến, câu thơ (câu văn), tên bài thơ(bài văn), của đề bài
- Nêu không đúng cách thức nghị luận và phạm vi dẫn chứng mà đề yêu cầu hoặc giới hạn
Bài 4: VIẾT PHẦN KẾT BÀI
1 Mục đích của phần kết bài:
Mục đích của phần kết bài là kết thúc vấn đề đã nêu ở phần mở bài và đã giải quyết ở phần thân bài, đồng thời tiếp tục khơi gợi suy nghĩ, tình cảm của người đọc
2 Nguyên tắc viết kết bài:
- Phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở thân bài
- Chỉ nêu những ý khái quát có tính chất tổng kết, nhận định , đánh giá chung vấn đề
3 Các cách viết kết bài:
Viết kết bài thực chất một mặt là thâu tóm lại nội dung cơ bản của thân bài; mặt khác phải tạo được dư ba trong lòng người đọc Tuỳ theo dụng ý người viết, song thông thường có một số cách kết bài sau:
Ví dụ 2 đề bài:
(1) Bình luận câu tục ngữ "Trăm hay không bằng tay quen"
(2) Phân tích bài thơ "Ngắm trăng" của Hồ Chí Minh trong tập "Nhật ký trong tù".
a.Tóm lược: Các kết bài tóm tắt lại nội dung, tư tưởng của người viết đã trình bày trong các phần trước.
Trang 4- Kết bài của đề (1): Tóm lại, quan điểm đề cao kinh nghiệm, đề cao thực hành, chống lý thuyết suông trong câu
tục ngữ "Trăm hay không bằng tay quen" là rất đúng đắn Nhưng nếu hiểu lệch ý nghĩa câu tục ngữ ấy mà coi nhẹ lý thuyế lại là cực đoan, phiến diện / Trình độ lao động của mỗi người nói riêng và của toàn xã hội nói chung chỉ có thể phát triển vững chắc và nhanh chóng nếu chúng ta biết kết hợp hài hòa giữa lý thuyết và thực hành
- Kết bài của đề (2): Mặc dù được sáng tác cách đây hơn 60 năm bằng thể thơ tứ tuyệt cổ điển, "Ngắm trăng" vẫn
làm rung động tâm hồn mỗi chúng ta./ Bài thơ là sự kết hợp hài hoà giữa chất thép với chất tình, giữa người chiến
sĩ với người nghệ sĩ trong một con người - Hồ Chí Minh
b Vận dụng: Cách kết bài nêu ra phương hướng áp dụng cái tốt, cái hay hoặc khắc phục cái xấu, cái dở của hiện
tượng hay ý kiến nói trong bài văn vào cuộc sống
- Kết bài của đề (1):Tiếp thu tinh thần quý báu của người xưa trong câu tục ngữ "Trăm hay không bằng tay quen",
chung ta phải coi trọng kinh nghiệm thực tế và những người có kinh nghiệm thực tế, phải luôn có ý thức vận dụng các hiểu biết lý thuyết vào cuộc sống, không ngừng rèn luyện kỹ năng lao động/ Tuy vậy , chung st cũng phải khắc phục lề lối làm việc theo kinh nghiệm chủ nghĩa, ra sức học hỏi lý luận khoa học và làm việc theo phương pháp kho học để nâng cao năng suất lao động, phát triển kỹ năng thực hành một cách có ý thức, có kế hoạch
- Kết bài của đề (2): "Ngắm trăng" không thuộc loại thơ để ngâm vịnh, giải trí đơn thuần./ Đọc "Ngắm trăng",
chúng ta học ở bác Hồ lòng yêu đời, phong cách sống lạc quan, ung dung trong mọi hoàn cảnh và ý chí cách mạng kiên cường không khó khăn nào lay chuyển nổi
c.Phát triển: Cách kết bài mở rộng thêm vấn đề đã đặt ra trong đề bài.
- Kết bài của đề (1): Qua tìm hiểu câu tục ngữ "Trăm hay không bằng tay quen", chúng ta thấy việc đề cao kinh
nghiệm của ông cha ta thể hiện trong ý nghĩa của câu tục ngữ thật là quý báu, nhưng không hẳn kinh nghiệm nào cũng đã xác đáng hoàn toàn./ Bởi vậy, trong khi tiếp thu các kinh nghiệm cổ truyền một cách trân trọng, chúng ta cũng cần vận dụng hiểu biết khoa học và thực tiễn đời sống hiện nay để bổ khuyết cho những thiếu sót, những điểm chưa hoàn chỉnh của các kinh nghiệm ấy, góp phần làm giàu vốn tri thực của dân tộc ta
- Kết bài của đề (2): Bài thơ "Ngắm trăng" đã đem lại cho chúng ta những cảm xúc khoẻ khoắn, thanh cao /Đồng
thời, qua đó, còn gợi cho giới sáng tác và công chúng suy nghĩ về vấn đề tiếp thu vốn cổ: bằng hình thức nghệ thuật cổ truyền, người nghệ sĩ vẫn có thể phản ánh một cách chân thực và sinh động cuộc sống hôm nay, bồi dưỡng nhận thức và tình cảm cách mạng cho công chúng nếu biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa cổ với kim
c.Liên tưởng: Cách kết bài người viết văn mượn ý kiến tương tự của dân gian hay của một người có uy tín trong
xã hôïi, trong lịch sử để thay cho lời tóm tắt của mình
- Kết bài của đề (1): Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn chúng ta: học đi đôi với hành; lý thuyết phải gắn liền với
thực tiễn Đó cũng chính là bài học chúng ta cần rút từ câu tục ngữ "Trăm hay không bằng tay quen"
- Kết bài của đề (2): Tìm hiểu bài thơ "Ngắm trăng" của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể hoàn toàn chia sẻvới cảm
xúc chân thành của nhà thơ Tố Hữu khi viết về những ngày tháng Bác bị giam cầm:
"Lại thương nỗi đoạ đày thân Bác
Mười bốn trăng tê tái gông cùm
Ôi chân yếu, mắt mờ, tóc bạc
Mà thơ bay cánh hạc ung dung"
Bài 5: VIẾT PHẦN THÂN BÀI
1.Vị trí của phần thân bài:
Thân bài là phần chính, phần quan trọng nhất, dài nhất của bài văn nghị luận
2.Nhiệm vụ của phần thân bài:
Thân bài có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ vấn đề(luận đề) đã nêu ở mở bài bằng các luận điểm(ý lớn) và mỗi luận điểm có thể được phát triển bằng các luận cư ù(ý nhỏ) Luận cứ được xây dựng bằng lý lẽ và dẫn chứng
3.Kết cấu của phần thân bài:
- Thân bài bao gồm nhiều đoạn văn Tùy vào mức độ nội dung của luận điểm hoặc luận cứ mà người viết xây dựng các đoạn thân bài Nếu luận điểm có nội dung lớn, phong phú, thì mỗi luận cứ trong luận điểm đó có thể được coi là một đoạn văn của thân bài
- Mỗi đoạn văn tập trung làm nổi bật một ý Mỗi ý thường được nêu bằng câu chủ đề Nếu câu chủ đề dặt ở đầu đoạn văn, ta có đoạn văn diễn dịch Nếu câu chủ đề đặt ở cuối đoạn văn, ta có đoạn văn quy nạp Khi phối hợp cả diễn dịch và quy nạp, ta có đoạn văn tổng -phân-hợp
-Giữa các đoạn văn thường có câu hoặc từ (cụm từ) chuyển tiếp nhằm nối đoạn văn này với đoạn văn khác, tạo cho ý của bài văn được liền mạch
Trang 5Bài 6: DIỄN ĐẠT TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
LÝ THUYẾT:
1 Yêu cầu diễn đạt trong văn nghị luận:
Để hoàn thành bài văn nghị luận, sau khi đã xác định và sắp xếp được ý, người làm bài cần phải diễn đạt hệ thống ý(dàn ý) của mình thành lời văn cụ thể
Để diễn dạt tốt trong bài văn nghị luận, người viết cần chú ý một số yêu càu cơ bản sau:
-Lời văn nghị luận phải đảm bảo tính chặt chẽm chuẩn xác,
-Lời văn nghị luận cần cũng có tính biểu cảm (bởi hiệu quả tác động của bài văn nghị luận không chỉ ở lý trí mà còn ở tình cảm, cảm xúc)
- Trong việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt, người viết cần chú ý khắc phục một số lỗ thường gặp như: dùng từ thiếu chính xác, dùng không đúng quan hệ từ, quan hệ nghĩa, mạch liên kết đứt đoạn hoặc trùng lăp; tránh lối dùng từ khuôn sáo, lối viết khoa trương, khoe chữ; tránh nhận định, đánh giá cực đoan, dùng hình ảnh hoặc từ cảm thán một cách tràn lan
2 Một số cách diễn đạt hay:
1 Dùng từ chính xác độc đáo:
Từ ngữ được dùng phải đúng lúc, đúng chỗ sẽ lột tả được đúng thần thái, bản chất của sự vật, sự việc được nói tới, tạo ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc
Ví dụ: Hoài Thanh đã dùng từ ngữ để tái hiện thật ấn tượng gương mặt của một số nhà thơ mới tiêu biểu trong
đoạn văn sau:
"Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một htời đại phong phú như thời đại này./ Chưa bao
giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần trong một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư,
hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn
Bính, kì dị như Chế Lan Viên, và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu"
(Thi nhân Việt Nam)
2 Viết câu linh hoạt:
Để tạo giọng điệu cho bài văn nghị luận, tuỳ vào nội dung vấn đề muốn viết, người viết cần biết vận dụng các loại câu (câu dài-ngắn, câu đơn hai thành phần, câu ghép đẳng lặp-chính phụ, câu khẳng định-phủ định, câu cảm thán, câu nghi vấn, đã học một cách linh hoạt
Ví dụ:
"Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"
("Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến"-Hồ Chí Minh)
3.Viết văn có hình ảnh:
Ngôn ngữ văn nghị luận cũng cần sự hấp dẫn, lôi cuốn bằng từ ngữ có hình ảnh và có sức gợi cảm cao Để tạo nên hình ảnh trong diễn đạt văn nghị luận, người viết có thể dùng các phép so sánh, liên hệ, đối chiếu vừa chính xác, đích đáng, vừa bất ngờ, thú vị làm cho những ý tưởng khô khan, trừu tượng, khái quát sẽ được thể hiện bằng những hình ảnh cụ thể, sinh động, tạo khoái cảm cho người đọc
Ví dụ: Nguyễn Tuân đã bình bài thơ "Sông lấp" của Tú Xương bằng hình ảnh so sánh khá ấn tượng sau:
"Nếu chúng ta liệt Tú Xương vào loại đỉnh thơ Nôm, thì "Sông lấp" chính là bóng cây hiên ngang trên sườn non đó vậy Dẫn thơ Tú Xương mà vô tình hoặc cố ý đánh rớt bài "Sông lấp" tức là bước lên lầu tháp mở cửa tầng này,
tầng kia mà quên đi mất cái chuông trên vọng lâu vậy"
4 Lập luận chặt chẽ, sắc sảo:
Để trình bày lý lẽ và dẫn chứng được sáng tỏ, trong văn nghị luận, người viết cần vận dụng tốt các cách triển khai lập luận như: diễn dịch, quy nạp, tổng-phân-hợp, tương phản, loại suy, Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp, người viết cũng nên dặt mình vào vị trí người đọc để lập luận cho kín kẽ(nghĩa là, người viết phải diễn đạt nội dung như đang đối thoại ngầm với người đọc để soi sáng vần đề từ nhiều govs nhìn, nhiều cách tiếp cận)
Ví dụ:
Trước cách mạng tháng Tám, có nhà phê bình nhận xét rằng Nguyên Hồng có cái tật cứ đổ dồn dập lên đầu nhân
vật của mình đủ thứ tai họa trên đời Đọc Nguyên Hồng thấy căng quá, nặng nề quá Đúng là như thế./ Nhưng tình
cảm nhân đạo thống thiết của Nguyên Hông đòi hỏi ông phải viết như vậy Nếu không thế, nói sao cho hả, cho đã những tình cảm thống thiết của ông đối với thân phận người dân cùng ngày trước? Và có như thế, ông mới tỏ hết được niềm tin mãnh liệt của mình đối với "thiện căn" bền vững của nhân dân lao động".
("Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng"-Nguyễn Đăng Mạnh)
5 Giọng văn biểu cảm:
Trang 6Trong bài văn nghị luận, người viết bao giờ cũng thể hiện thái độ, tình cảm
Bài 7: CHUYỂN ĐOẠN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1.Khái niệm:
Trong bài văn nghị luận, các phần, các ý, vừa phải được trình bày tách bạch, độc lập, vừa phải liên kết chặt chẽ với nhau để tạo thành một văn bản thống nhất và hoàn chỉnh Muốn vậy, cần có chuyển đoạn
Chuyển đoạn là dùng những từ ngữ hoặc câu văn thể hiện mối quan hệ nội dung giữa các phần, các ý để liên kết chúng lại, làm cho bài văn liền mạch.
2.Phạm vi dùng:
Chuyển đoạn thường được dùng ở vị trí nào trong bài văn nghị luân/ Có thể kể ra các vị trí sau đây:
- Giữa các phần của bài: mở bài-thân bài-kết bài.
-Giữa các phần trong nội dung của thân bài: phần phân tích với phần liên hệ, vận dụng; phần chính thức theo lô gích nội tại của vấn đề đó, nội dung đó với phần phát triển, mở rộng.
-Giữa đoạn ý với đoạn ý: từ đoạn văn diễn đạt ý này với đoạn văn diễn đạt ý tiếp theo.
-Giữa trình bày luận điểm, lập luận với luận cứ.
3.Các cách chuyển đoạn: Có hai cách chuyển đoạn thường dùng:
a Dùng các kết từ hoặc các ngữ tương đương với kết từ:
-Nối các đoạn có quan hệ thứ tự với nhau: trước tiên (trước hết, thoạt tiên), tiếp theo, sau đó; một là, hai là, cuối
cùng (sau cùng, sau hết),…
-Nối các đoạn có quan hệ song song (đẳng lập): một mặt, mặt khác; ngoài ra, bên cạnh đó,…
-Nối các đoạn có quan hệ tăng tiến: vả lại, hơn nữa, thậm chí,…
-Nối các đoạn có quan hệ tương đồng: tương tự, cũng thế (cũng vậy, cũng giống như trên),…
-Nối các đoạn có quan hệ nhân quả: bởi vậy (bởi thế), cho nên, vì lý do trên,…
-Nối các đoạn có quan hệ tương phản: nhưng, song, tuy nhiên (tuy thế, tuy vậy), thế mà (thế nhưng), trái lại,
(ngược lại),…
-Nối một đoạn có ý nghĩa tổng kết với các đoạn trước đó: tóm lại, nói tóm lại, tổng kết lại Chung quy,…
Ví dụ: (trích theo GS Nguyễn Đăng Mạnh)
(1) Chung quy vẫn là những sự ngẫu nhiên may mắn song hành một cách “hài hòa” với cái quy luật xã hội mà ta
đã nói ở trên
(2) Tuy nhiên, nếu theo dõi sát quát trình diễn biến tâm lý của nhân vật Xuân Tóc Đỏ, ta sẽ thấy nó càng ngày
càng chủ động hơn, nghĩa là càng có ý thức hơn trong cuộc khai thác những may mắn của số phận
(3) Khái quát lại, chúng ta có thể nói như thế này: Xuân Tóc Đỏ, từ thế giới hạ lưu đột nhập vào thế giới thượng
lưu vừa do dố đỏ, vừa không hoàn toàn ngẫu nhiên
V v…
b Dùng câu chuyển đoạn:
- Chêm thêm vào mạch văn nhưng câu thông báo trực tiếp về ý định chuyển đoạn của người viết.
Ví dụ: Trở lên, tôi đã đứng về phía người đọc, người nghe mà nhìn nhận tác dụng của phê bình Cũng có thể đứng
về phía người sáng tác mà nhìn nhận vấn đề (Hoài Thanh)
- Chuyển đoạn bằng những câu nối kết ý một cách tự nhiên:
Ví dụ: Ca dao yêu thiên nhiên, nhưng yêu nhất là con người Chúng ta không thể nào kể hết được những câu hát nói về tình yêu của dân chúng,…
…Nhưng đã yêu là phải nhớ Người dân ta nhớ như thế nào?
…Nhớ nghĩa là buồn Người Việt Nam buồn như thế nào?
…Yêu người yêu còn hẹp, tâm hồn người dân ta yêu rộng rãi hơn nữa Những câu hát ca tụng sự hợp quần, lòng yêu
dòng giống nhiều không đếm xiết (Nguyễn Đình Thi)
-Chuyển đoạn bằng cách đặt câu hỏi:
Ví dụ: … Nhưng số mệnh ở đây lại hiện ra dưới hình thức những con người Bọn người ấy khá đông Đầy đạo Kiều không phải chỉ có một người như trường hợp Thạch Sanh hay Ngọc Hoa, Phạm Tải Đày đọa Kiều là cả một xã hội
Ta thấy gì trong xã hội ấy? (Phần sau tác giả chuyển sang nói về “Bộ mặt xã hội phong kiến trong “Truyện
Kiều”)
- Chuyển đoạn dùng phép lặp:
Ví dụ: Nhớ Nguyễn Trãi, chúng ta nhớ người anh hùng cứu nước, người cùng Lê Lợi làm nên sự nghiệp “Bình
Ngô”, người thảo “Bình Ngô đại cáo”
Trang 7Nhớ Nguyễn Trãi là nhớ người anh hùng cứu nước, đồng thời là nhờ nhà văn nhà thơ lờn của nước ta
(Phạm Văn Đồng)
4.Bài tập: Trong các đoạn trích sau đây, tác giả đã dùng những cách nào để chuyển đoạn?
(1)Chúng tôi vừa nói đến bút pháp tả thực trong Truyện Kiều Một yếu tố thứ hai của tác phẩm chính là yếu tố trữ tình Truyện Kiều có những trang trữ tình ưu tú nhất trong văn học nước ta (Đặng Thai Mai)
(2) Cái thứ “mặt sắt” mà “ngây vì tình” ấy quả không lấy gì làm đẹp
Ông quan đã thế, lại còn bà quan nữa Đại biểu cho bà quan ở đây là mụ mẹ Hoạn Thư (Hiào Thanh)
(3) Nói chung, nhân vật của Nguyễn Du, chính diện hay phản diện đều là những con người rất sống Những con người ấy đi lại trongnhững cảnh rất sống Cùng một cảnh nơi mộ Đạm Tiên mà trong buổi chơi xuân thì thanh thanh, lặng lặng… Sau khi Kim Kiều gặp nhau, yêu nhau, chưa nói được với nhau một lời đã mỗi người một ngả thì phong cảnh như bâng khuâng một mối tình khó tả (Hoài Thanh)
(4) Vậy xã hội Đăm San là xã hội như thế nào? Căn cứ vào nội dung Bài ca, chúng ta thấy xã hội được phản ánh trong tác phẩm có hai đặc điểm:
Thứ nhất, đây là thời kỳ mà các tù trưởng có đến hàng ngàn nô lệ…
…Ta hãy xét đến đặc điểm thứ hai của xã hội được phản ánh trong Bài ca: phong tục nối dây và những tàn tích của chế độ mẫu quyền…
…Về mặt hình thức, Bài ca chàng đăn San được sáng tác theo thể thơ dùng để đọc để hát…
…Trước hết, Bài ca sắp xếp thành từng chương hay đúng hơn là thành từng đoạn, mỗi đoạn có thể kể độc lập…
…Một đặc điểm khác của nghệ thuật bài ca chàng Đăm san là phương pháp xây dựng hình tượng nghệ thuật (Chu Xuân Diên)
1 Khái niệm:
-Nội dung bài văn nghị luận được tạo nên bởi lý lẽ và dẫn chứng Cả hai cùng chung mục đích là làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận Nếu lý lẽ nghiêng về việc làm cho người đọc hiểu, thì dẫn chứng thiên về việc làm cho người ta tin Và, một khi đã hiểu và tin thì người đọc bị thuyết phục
-Dẫn chứng là những sự vật, sự việc, số liệu, … được rút ra từ thực tế hay từ sách vở để thuyết minh cho lý lẽ.
2.Các loại dẫn chứng: Trong bài văn nghị luận, dẫn chứng có 2 loại:
-Dẫn chứng bắt buộc: dẫn chứng nằm trong phạm vi yêu cầu của đề về tư liệu.
-Dẫn chứng mở rộng: dẫn chứng do người viết viện dẫn ra để liên hệ, đối chiếu, so sánh nhằm làm sáng tỏ thêm ý
đang được bàn bạc
Ví dụ: Phân tích bài thơ “Bánh Trôi nước” của Hồ Xuân Hương.
+Ở đề văn này, từ ngữ, hình ảnh,… trong bài thơ được sử dụng làm dẫn chứng khi phân tích là dẫn chứng bắt buộc +Còn những tư liệu về cuộc đời Hồ Xuân Hương, về thời đại Hồ Xuân Hương sống, một số tác phẩm khác của Hồ Xuân Hương có đề cập đến thân phận người phụ nữ hoặc một số câu thơ, tác phẩm của người khác cùng thời, cùng trong nước hay nước ngoài viết về thân phận người phụ nữ,… là dẫn chứng mở rộng
3.Chọn dẫn chứng: Yêu cầu của việc chọn dẫn chứng:
(1) Dẫn chứng phải phù hợp với luận điểm và phải tiêu biểu: Đây là yêu cầu về chất của dẫn chứng.
+Phù hợp với luận điểm: phải dùng dẫn chứng thích hợp cho từng ý.
+Tiêu biểu: nếu dẫn chứng lấy từ người, sự vật, hiện tượng thì nhất thiết phải được nhiều người biết đến; nếu dẫn
chứng lấy từ tác phẩm văn học phải có tính nghệ thuật cao
(2) Dẫn chứng phải chính xác, đủ, không trùng lặp: Đây là yêu cầu về lượng của dẫn chứng.
+Chính xác: dẫn chứng phải đúng thời đại, đúng tác giả, trích đúng câu chữ
+Đầy đủ : không nêu dẫn chứng tràn lan hay mang tính quân bình
+Không trùng lặp: trong bài văn không nên lặp lại hai lần cùng một dẫn chứng.
4.Sắp xếp dẫn chứng: Tùy theo mục đích, yêu cầu nghị luận, ta có thể sắp xếp dẫn chứng theo nhiều cách:
(1)Theo trình tự thời gian (2)Theo trình tự không gian (3)Theo các khía cạnh của vấn đề.(3)Theo tâm lý tiếp nhận của người đọc
5.Các hình thức nêu dẫn chứng: Có 3 hình thức:
(1)Trích nguyên văn: dẫn chứng nguyên văn cả câu, đoạn, văn bản ngắn (có đủ xuất xứ: tên tác phẩm, tác giả).
Ví dụ: Chàng trai nông dân ấy vô cùng vất vả “Cày đồng đang buổi ban trưa, Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” (Ca dao), nhưng không vì thế mà anh ta chán nản Trái lại, anh vui vẻ gọi “Hỡi cô yếm thắm dải là, Lại đây đắp đập, trồng cà với anh” (Ca dao)
(2)Trích một số từ ngữ tiêu biểu: chỉ trích dẫn chứng một vài từ ngữ tiêu biểu, đặt chúng trong ngoặc kép và hòa
xen vào lời văn của người viết
Trang 8Ví dụ: Chỉ vài nét cũng đủ khiến cả cái xã hội ghê tởm đó sống nhô nhúc dưới ngòi bút Nguyễn Du với cái màu
da “nhờn nhợt” của Tú Bà, cái bộ mặt “mày râu nhẵn nhụi” của Mã Giám Sinh, cái vẻ “chải chuốt dịu dàng” của Sở Khanh, cái miệng thề xoen xoét của Bạc Bà, Bạc Hạnh
(3) Tóm lược nội dung chính: thâu tóm ý thơ, ý văn; tóm tắt thật ngắn gọn cốt truyện hoặc nội dung chính của
văn bản quá dài để làm dẫn chứng
Ví dụ: Tinh thần đề cao cảnh giác giặc ngoại xâm trở thành bài học xương máu của dân tộc ta qua câu chuyện
“Mỵ Châu-Trọng Thủy”: “Trái tim lầm chỗ để trên đầu, Nỏ thần vô ý trao tay giặc, Nên cả cơ đồ đắm bể sâu”
* Lưu ý: Trong bài văn nghị luận, ta nên sử dụng phối hợp nhiều hình thức nêu dẫn chứng để tránh sự đơn điệu và
tăng vẻ sinh động, hấp dẫn cho bài viết.
6.Phân tích dẫn chứng:
- Nêu dẫn chứng phải kèm theo phân tích, bình phẩm; nếu không bài văn nghị luận sẽ biến thành bảng liệt kê dẫn chứng Có phân tích dẫn chứng, bình phẩm thì từ dẫn chứng, ta mới làm toát lên được vấn đề cần nói
- Cách phân tích dẫn chứng thường theo các trình tự:
(1)Nêu dẫn chứng trước rồi phân tích sau:
Ví dụ1: Nêu dẫn chứng: Tình đồng chí của những người lính kháng chiến chống Pháp có cơ sở sâu xa, trước hết
là sự gần gũi của những con người cùng cảnh ngộ xuất thân nghèo khó:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Phân tích: Trước khi về cùng đơn vị, cả hai cùng ở hai phương trời cách biệt nhau: một người ở miền xuôi, nước
biển quanh năm tràn vào làm cho đồng chua nước mặn; một người ở tận miền trung du, quanh năm đất toàn cày lên sỏi đá./ Hai câu thơ dùng thành ngữ dân gian một cách nhuần nhị trong kết cấu song hành; tưởng là đối lời đối
ý nhau, nhưng không hề có sự tương phản chút nào Bởi nó cùng gợi cho người đọc thấy rõ thành phần xuất thân của người lính đều là những người nông dân nghèo khổ, cơ cực
Ví dụ 2: Nêu dẫn chứng: Vũ trụ với cảnh biển vô cùng tráng lệ lúc hoàng hôn:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa”
Phân tích: Đúng là một cảnh hoàng hôn ở trên biển được nhìn từ con thuyền đang chuẩn bị ra khơi Khi mặt trời
“xuống biển” là lúc đêm sập xuống Mặt trời được ví như hòn than đỏ rực “hòn lửa” đang từ từ lăïn xuống biển Vũ trụ bỗng chốc được liên tưởng như một ngôi nhà lớn; ở đó, những con sóng trên biển được nhân hoá thành những
chiếc then cửa đã cài “sóng đã cài then”, còn màn đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ của ngôi nhà vĩ đại đó
“đêm sập cửa”./ Cảnh thiên nhiên vốn bình thường, nhưng qua cảm hứng vũ trụ và cách liên tưởng trong lối so sánh và nhân hoá, nhà thơ đã tạo nên cảnh hoàng hôn trên biển thật đẹp, thật ấn tượng
(2) Phân tích trước rồi nêu dẫn chứng sau:
Ví dụ1: Phân tích: Trước khi về cùng đơn vị, cả hai cùng ở hai phương trời cách biệt nhau: một người ở miền
xuôi, nước biển quanh năm tràn vào làm cho đồng chua nước mặn; một người ở tận miền trung du, quanh năm đất
toàn cày lên sỏi đá Để diễn tả tình đồng chí của những người lính kháng chiến chống Pháp ấy, Chính Hữu đã
dùng thành ngữ dân gian một cách nhuần nhị trong kết cấu song hành; tưởng là đối lời đối ý nhau, nhưng không hề
có sự tương phản chút nào Bởi nó cùng gợi cho người đọc thấy rõ thành phần xuất thân của người lính đều là
những người nông dân nghèo khổ, cơ cực / Nêu dẫn chứng: Đúng như vậy, tình đồng chí là tình cảm của những
người lính có cùng cảnh ngộ xuất thân nghèo khó:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Ví dụ 2: Phân tích: Trước hết là cảnh hoàng hôn ở trên biển được nhìn từ con thuyền đang chuẩn bị ra khơi Khi
mặt trời “xuống biển” là lúc đêm sập xuống Mặt trời được ví như hòn than đỏ rực “hòn lửa” đang từ từ lăïn xuống
biển Vũ trụ bỗng chốc được liên tưởng như một ngôi nhà lớn; ở đó, những con sóng trên biển được nhân hoá thành những chiếc then cửa đã cài “sóng đã cài then”, còn màn đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ của ngôi
nhà vĩ đại đó “đêm sập cửa”./ Nêu dẫn chứng: Cảnh thiên nhiên vốn bình thường, nhưng qua cảm hứng vũ trụ và
cách liên tưởng trong lối so sánh và nhân hoá, nhà thơ đã tạo nên cảnh hoàng hôn trên biển thật đẹp, thật ấn tượng:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa”
(3) Phân tích - nêu dẫn chứng – phân tích tiếp:
Ví dụ1: Phân tích: Trước khi về cùng đơn vị, cả hai cùng ở hai phương trời cách biệt nhau: một người ở miền
xuôi, nước biển quanh năm tràn vào làm cho đồng chua nước mặn; một người ở tận miền trung du, quanh năm đất toàn cày lên sỏi đá:
Trang 9Nêu dẫn chứng: “Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Phân tích tiếp: Hai câu thơ dùng thành ngữ dân gian một cách nhuần nhị trong kết cấu song hành; tưởng là đối lời
đối ý nhau, nhưng không hề có sự tương phản chút nào Bởi nó cùng gợi cho người đọc thấy rõ thành phần xuất thân của người lính đều là những người nông dân nghèo khổ, cơ cực
Ví dụ 2: Phân tích: Trước hết là cảnh hoàng hôn ở trên biển được nhìn từ con thuyền đang chuẩn bị ra khơi Khi
mặt trời “xuống biển” là lúc đêm sập xuống ”:
Nêu dẫn chứng:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa”
Phân tích tiếp: Mặt trời được ví như hòn than đỏ rực “hòn lửa” đang từ từ lăïn xuống biển Vũ trụ bỗng chốc được
liên tưởng như một ngôi nhà lớn; ở đó, những con sóng trên biển được nhân hoá thành những chiếc then cửa đã
cài “sóng đã cài then”, còn màn đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ của ngôi nhà vĩ đại đó “đêm sập cửa
Cảnh thiên nhiên vốn bình thường, nhưng qua cảm hứng vũ trụ và cách liên tưởng trong lối so sánh và nhân hoá, nhà thơ đã tạo nên cảnh hoàng hôn trên biển thật đẹp, thật ấn tượng