1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hoá và hệ thống văn hoá

13 521 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 556,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có người chỉ thấy văn hoá như một tập hợp các lãnh vực hoạt động thực tiễn của cộng đồng người, có người lại khăng khăng rằng văn hoá luôn luôn là hệ thống, bao gồm những thành tố mà nội

Trang 1

Nguồn: Lý Tùng Hiếu (2012), “Văn hoá và hệ thống văn hoá”, Tạp chí Khoa học Văn hoá và

Du lịch (Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật & Du lịch Sài Gòn), số 7 (61), tháng 11/2012, ISSN: 1859-3720, trang 19-28; http://vanhoahoc.hcmussh.edu.vn, 12/12/2012

-oOo -

VĂN HOÁ VÀ HỆ THỐNG VĂN HOÁ

GVC TS LÝ TÙNG HIẾU

(Khoa Văn hoá học, Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM)

Văn hoá là những hoạt động đã có từ xưa, ra đời cùng với con người Nhưng các khái niệm văn hoá và hệ thống văn hoá thì luôn mới mẻ, vì mỗi thời, mỗi ngành, thậm chí mỗi người lại đem đến cho chúng những cách hiểu mới, định nghĩa mới Có người chỉ thấy văn hoá như một tập hợp các lãnh vực hoạt động thực tiễn của cộng đồng người, có người lại khăng khăng rằng văn hoá luôn luôn là hệ thống, bao gồm những thành tố mà nội dung, tính chất phụ thuộc vào loại hình nông nghiệp hay du mục…

Bài viết này không nhằm cung cấp định nghĩa mới cho các khái niệm trên, nhưng trình bày những cách tiếp cận khác đối với chúng, được phát triển và thể nghiệm trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy và hướng dẫn luận văn luận án của tác giả tại Khoa Văn hoá học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Văn hoá TP Hồ Chí Minh và Trường Đại học Văn hiến

1 KHÁI NIỆM VĂN HOÁ

Từ khi trở thành thuật ngữ khoa học vào thế kỷ XIX, khái niệm “văn hoá” (culture) đã được các nhà dân tộc học, nhân học, ngôn ngữ học, văn hoá học… định nghĩa nhiều lần Điểm tương đồng của nhiều định nghĩa trong số đó là dùng cách liệt kê những bộ phận, yếu

tố hợp thành ngoại diên của khái niệm văn hoá

Chẳng hạn, trong ngành dân tộc học, Sir Edward Burnett Tylor (1832-1917), người sáng lập nhân học xã hội Anh, đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về văn hoá theo cách đó: “Văn hóa hoặc văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học, là cái toàn thể phức hợp bao

Trang 2

gồm nhận thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và các năng lực hoặc

tập tục khác do con người thụ đắc với tư cách thành viên xã hội” (Primitive Culture, 1871,

1958: 1)

Edward Sapir (1884-1939), một trong những người sáng lập chuyên ngành ngôn ngữ học nhân học, cũng đề cập đến văn hoá qua ngoại diên của nó: “Văn hoá, nghĩa là sự tập hợp những phong tục và tín ngưỡng có tính kế thừa trong xã hội, quy định các sinh hoạt của đời

sống chúng ta” (Language: An introduction to the study of speech, 1921: 255)

Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp tại Venise năm 1970 cũng xác định: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”

(Federico Mayor, Tạp chí Người đưa tin UNESCO, 11/1989: 5)

Ở Việt Nam, vào năm 1942-1943, Hồ Chí Minh (1890-1969), danh nhân văn hoá thế

giới của Việt Nam, cũng ghi lại trong tác phẩm Nhật ký trong tù một định nghĩa về văn hoá

theo cách đó, nhưng chi tiết hơn nhiều: “Ý nghĩa của văn hoá: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”

(“Nhật ký trong tù”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, 1930-1945, 2000: 431)

Những định nghĩa theo cách liệt kê như vậy làm cho người ta khó hình dung văn hoá như một chỉnh thể thống nhất Tuy nhiên, những định nghĩa ấy đã giúp chỉ ra những biểu hiện

cụ thể của một khái niệm quá rộng lớn và trừu tượng như văn hoá, và giúp cho nhân loại ngày

càng hiểu về khái niệm văn hoá một cách chính xác hơn Đó là khái niệm văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả những hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần có tính sáng tạo của con người, được con người lĩnh hội, kế thừa và tuân thủ trong sinh hoạt, giúp phân biệt con người với tự nhiên, và phân biệt tộc người này với tộc người khác, cộng đồng người này với cộng đồng người khác

2 CÁCH TIẾP CẬN HỆ THỐNG ĐỐI VỚI VĂN HOÁ

Nhiều định nghĩa về văn hoá, như các định nghĩa trên đây, không đề cập đến tính hệ thống của văn hoá Điều đó có phải là do những người định nghĩa chưa được trang bị cái nhìn

hệ thống? Cái nhìn này đã được ngôn ngữ học phương Tây đưa ra vào đầu thế kỷ XX với

quyển giáo trình nổi tiếng của Ferdinand de Saussure (Cours de linguistique générale, “Giáo

trình ngôn ngữ học đại cương”, 1916), đến giữa thế kỷ XX thì được nhân học phương Tây mà tiên phong là Claude Lévi-Strauss vận dụng để nghiên cứu văn hoá các chủng tộc, các tộc

người (Les structures élémentaires de la parenté, “Các cấu trúc sơ đẳng của thân tộc”, 1949)

Khi văn hoá học ra đời, cách tiếp cận hệ thống được xem là yêu cầu tất yếu Tiêu biểu là quan điểm của nhà nhân học Mỹ Leslie A White, người đã đề xuất thuật ngữ “culturology”, và xác định văn hoá học như một lãnh vực khoa học nghiên cứu văn hoá với tư cách là những hệ

thống văn hoá (The Evolution of Culture: The Development of Civilization to the Fall of Rome, “Sự tiến hoá của văn hoá: Sự phát triển của văn minh dẫn đến sự sụp đổ của La Mã”, 1959; The Concept of Cultural Systems: A Key to Understanding Tribes and Nations, “Khái

niệm về các hệ thống văn hoá: Chìa khoá để nhận thức về các bộ lạc và các quốc gia”, 1975) Tương tự, Mario Bunge xác định văn hoá học là việc nghiên cứu các hệ thống văn hoá cụ thể

trên các mặt xã hội học, kinh tế, chính trị và lịch sử (Social Science Under Debate, “Tranh

luận trong khoa học xã hội”, 1998) Gần đây, Tạp chí Quốc tế Văn hoá học (International

Trang 3

Journal of Culturology), cơ quan đại diện cho mạng lưới trực tuyến của các học giả văn hoá học trên thế giới, cũng cho biết chỉ cho đăng những tiểu luận chấp nhận cách tiếp cận hệ thống và duy vật (systemic and materialist approach) đối với việc phân tích văn hoá, trong

khi khuyến khích các lý thuyết khoa học và thử nghiệm (www.culturology.com, 2011)

Nhưng thực tiễn văn hoá có phải luôn luôn là hệ thống, và do đó phải nhất thiết áp dụng cách tiếp cận hệ thống mọi lúc mọi nơi? Xin lấy một thí dụ Chúng ta hãy thử hình dung quang cảnh một khu mỏ vàng mới mở ra ở miền Viễn Tây của Mỹ hay của Úc vào giữa thế

kỷ XIX, hay ở vùng núi Quảng Nam của Việt Nam vào đầu thế kỷ XXI Trên những vùng đất

đó, các nhóm lưu dân đồng hương tập hợp nhau dưới quyền chỉ huy của những tay anh chị dữ dằn, chiếm cứ một góc núi rừng, đào đãi ngày đêm, ra sức tranh đoạt của thiên nhiên và tranh đoạt của các nhóm đào đãi khác Xung quanh các lán trại dã chiến của các nhóm là một mạng lưới dịch vụ mau chóng hình thành, để thu mua vàng thành phẩm, cung ứng hậu cần, cung cấp thêm nhân lực Như vậy, trên vùng đất đó, một xã hội đã ra đời, và khi luật pháp chưa có mặt thì luật rừng là công cụ giải quyết các vấn đề nảy sinh từ quan hệ giữa các cá nhân và các nhóm Câu hỏi đặt ra là cái hỗn hợp văn hoá mạnh được yếu thua của họ đã có tính hệ thống,

đã trở thành hệ thống hay chưa Rõ ràng là cho dù rất “rừng rú”, những lề thói của hỗn hợp

cư dân ấy vẫn là văn hoá, nhưng là một tập hợp văn hoá rời rạc chưa thẩm thấu vào nhau, chưa dung hợp với nhau; mỗi người, mỗi nhóm vẫn giữ lấy và sử dụng cái phần vốn văn hoá hình thành từ văn hoá quê hương và từ quá khứ học hành, mưu sinh của bản thân Để cho cái tập hợp văn hoá của họ trở thành hệ thống, cần phải có thời gian, luật lệ và nhiều thứ khác

Trong thực tiễn văn hoá, có không ít những thí dụ tương tự như vậy Điều đó cho thấy rằng văn hoá của nhân loại nói chung và của các cộng đồng người nói riêng không phải bao giờ cũng tự lập thành hệ thống mà đôi khi còn dừng lại ở dạng tập hợp nhiều bộ phận Và đó

có thể là lý do khiến nhiều nhà khoa học và nhà hoạt động văn hoá rất uyên bác không đề cập đến tính hệ thống của văn hoá, chứ không phải là do họ có hay không có cái nhìn hệ thống Cái nhìn hệ thống là cái nhìn có hiệu năng chứ không phải vạn năng Phải tuỳ theo thực tiễn văn hoá mà vận dụng nó chứ không nên lạm dụng, nhìn vào bất cứ nơi đâu cũng thấy hiện lên

hệ thống

Thật ra, để cho một tập hợp trở thành hệ thống, nó phải hội đủ một số điều kiện Đó cũng chính là những tiêu chí cho phép chúng ta có thể nhận diện tính hệ thống của một tập hợp bất kỳ Theo chúng tôi, có 4 tiêu chí sau đây:

- Quan hệ tương tác giữa các yếu tố: Các yếu tố trong hệ thống có quan hệ tương tác

lẫn nhau, chứ không tồn tại riêng lẻ Có hai quan hệ tương tác chủ yếu: quan hệ tương sinh - phối hợp - bổ sung, và quan hệ tương khắc - kềm chế - loại trừ

- Giá trị trong hệ thống của các yếu tố: Giá trị trong hệ thống của từng yếu tố hình

thành từ quan hệ tương tác với các yếu tố khác, chứ không phải là giá trị tự thân của từng yếu

tố Vì vậy, giá trị trong hệ thống của từng yếu tố là giá trị tương đối Giá trị tự thân của từng yếu tố là giá trị tuyệt đối Giá trị trong hệ thống có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị tự thân của từng yếu tố

- Giá trị của hệ thống: Giá trị của hệ thống hình thành từ quan hệ tương tác giữa các

yếu tố, chứ không phải là tổng số giá trị tự thân của các yếu tố Vì vậy, giá trị của hệ thống là giá trị tương đối Tổng số giá trị tự thân của các yếu tố là giá trị tuyệt đối Giá trị của hệ thống có thể cao hơn hoặc thấp hơn tổng số giá trị tự thân của các yếu tố

- Quan hệ giữa hệ thống với môi trường: Các yếu tố quan hệ với môi trường thông

qua hệ thống, với tư cách thành viên của hệ thống, chứ không quan hệ riêng lẻ, trực tiếp với môi trường Vì vậy, trong quan hệ với môi trường, hệ thống mạnh thì các yếu tố cũng mạnh

Trang 4

lên, ngay cả khi giá trị tự thân của chúng khơng cao Hệ thống yếu thì các yếu tố cũng yếu đi, ngay cả khi giá trị tự thân của chúng rất cao

Khi đã hợp thành hệ thống, tính chất của hệ thống sẽ phụ thuộc vào 4 tiêu chí:

- Quan hệ giữa các yếu tố: hệ thống cĩ hay khơng cĩ yếu tố đĩng vai trị yếu tố trung

tâm?

- Tổ chức của yếu tố trung tâm: trung tâm của hệ thống là một yếu tố hay nhiều yếu

tố?

- Lực tác động đến quan hệ giữa các yếu tố: hệ thống cĩ xu hướng hướng tâm, hướng

nội hay ly tâm, hướng ngoại?

- Quan hệ giữa hệ thống với mơi trường: hệ thống cĩ đặc tính đĩng hay mở?

Tiến hành phân loại hệ thống theo 4 tiêu chí nêu trên, chúng ta cĩ 12 mơ hình hệ thống như sau:

- Hệ thống vơ tâm, hướng nội, đĩng

- Hệ thống vơ tâm, hướng nội, mở

- Hệ thống vơ tâm, hướng ngoại, đĩng

- Hệ thống vơ tâm, hướng ngoại, mở

- Hệ thống đơn tâm, hướng nội, đĩng

- Hệ thống đơn tâm, hướng nội, mở

- Hệ thống đơn tâm, hướng ngoại, đĩng

- Hệ thống đơn tâm, hướng ngoại, mở

- Hệ thống đa tâm, hướng nội, đĩng

- Hệ thống đa tâm, hướng nội, mở

- Hệ thống đa tâm, hướng ngoại, đĩng

- Hệ thống đa tâm, hướng ngoại, mở

Vậy, một tập hợp các yếu tố văn hố sẽ trở thành một hệ thống văn hố, khi các yếu tố của nĩ cĩ quan hệ tương tác, chế ước lẫn nhau, và phối hợp với nhau tạo ra giá trị chung cho tập hợp Và đĩ là trường hợp của các nền văn hố quốc gia, văn hố tộc người, văn hố vùng, v.v cĩ lịch sử hình thành phát triển đủ lâu, tạo nên các đặc trưng chung, giá trị chung, truyền thống chung Trong trường hợp các yếu tố văn hố đã trở thành hệ thống như vậy, người ta cĩ thể và cần phải vận dụng cách tiếp cận hệ thống để xem xét nĩ

3 MƠ HÌNH HỆ THỐNG VĂN HỐ

Đến đây thì cĩ một vấn đề được đặt ra, đĩ là cần thiết lập hoặc lựa chọn mơ hình hệ thống nào để soi chiếu các hệ thống văn hố cho phù hợp Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hiện đang cĩ một số mơ hình hệ thống văn hố khác nhau Chẳng hạn, theo nhà địa lý văn hố Pháp Joël Bonnemaison, hệ thống văn hĩa bao gồm bốn yếu tố: kiến thức, kỹ thuật, tín ngưỡng và khơng gian Đây được xem là bốn cực hay bốn trụ cột của hệ thống văn hĩa

- Di sản kiến thức: Văn hĩa trước hết là di sản kiến thức Đĩ là sự hiểu biết về thế

giới, làm cho văn hĩa mang tính “khoa học” Bên cạnh khoa học phương Tây cĩ tính phổ quát, cịn cĩ các “khoa học” trong mỗi nền văn minh khác nhau, ở mỗi tộc người ngoại lai,

Trang 5

gọi là các khoa học tộc người (ethnosciences) ngồi phương Tây, được coi là các khoa học hoặc kiến thức tiền hiện đại Ngày nay, văn hĩa bản địa được đánh giá cao, khơng bị coi là thấp kém như đầu những năm 1950

- Di sản kỹ thuật: gồm các kỹ năng và cơng cụ Theo cách nĩi của nhà địa lý người Pháp Vidal de la Blache (1845-1918), đĩ là các lối sống, dựa vào các kỹ thuật cơ bản, đáp

ứng các nhu cầu đầu tiên của đời sống để sinh tồn, để phân biệt con người với lồi vật Đĩ cịn là nghệ thuật sống, một lý lẽ để sống

- Tín ngưỡng: kiến thức và kỹ thuật “ngồi phương Tây” cịn dựa trên tín ngưỡng tơn

giáo, thể hiện một cách nhìn về thế giới, thường được coi là tầng cao của văn hĩa, biểu hiện mối liên hệ cơ bản giữa các giá trị và kỹ thuật

- Khơng gian: Các nền văn hĩa được xây dựng và định vị trong một khơng gian

Fernand Braudel (1902-1985), nhà sử học người Pháp nổi tiếng với Lý thuyết hệ thống kinh

tế - xã hội trên phạm vi thế giới, cho rằng văn hĩa cĩ một chỗ dựa địa lý Khác với quyết định

luận địa lý, nĩ cĩ quan hệ biện chứng giữa mơi trường và văn hĩa (La géographie culturelle,

“Địa lý học văn hố”, Paris, 2000, dẫn theo Trần Ngọc Khánh, “Mấy cơ sở tiếp cận lý thuyết

nghiên cứu văn hĩa”, www.vanhoahoc.edu.vn, 2011)

Ở Việt Nam, một trong những người vận dụng sớm cách tiếp cận hệ thống, phối hợp với cách tiếp cận địa văn hố để nghiên cứu văn hố Việt Nam là Trần Quốc Vượng Trong

cơng trình Việt Nam cái nhìn địa văn hố (1998), ơng viết: “Một vùng văn hố là một tổng thể - hệ thống một khơng gian văn hố (cultural space) với một cấu trúc - hệ thống (structure

- system) bao gồm các hệ dưới - hay tiểu hệ (Sub-system) theo lối tiếp cận hệ thống (system-analysis)”

Một nhà nghiên cứu khác là Trần Ngọc Thêm cũng sớm vận dụng cách tiếp cận hệ thống để nghiên cứu văn hố Việt Nam, nhưng đi xa hơn Trần Quốc Vượng Trong các cơng

trình Tìm về bản sắc văn hố Việt Nam Cái nhìn hệ thống - loại hình (in lần thứ 4, 2004), Cơ

sở văn hố Việt Nam (tái bản lần thứ 2, 1999), ơng định nghĩa: “Văn hố là một hệ thống hữu

cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với mơi trường tự nhiên và xã hội” Từ cách hiểu

đĩ, ơng cho rằng văn hố là một hệ thống được quy định bởi một loại hình văn hố nhất định,

và bao gồm ba thành tố là văn hố nhận thức, văn hố tổ chức, văn hố ứng xử

- Văn hố nhận thức: xét theo đối tượng thì bao gồm nhận thức về vũ trụ (chuyển động của vũ trụ, thời tiết…) và nhận thức về con người (bản tính, cơ thể con người, phong

tục…); cịn xét theo mức độ thì bao gồm nhận thức khái quát, nhận thức chuyên sâu và nhận thức cảm tính

- Văn hố tổ chức cộng đồng: xét theo đối tượng tổ chức thì bao gồm văn hố tổ chức đời sống tập thể (nơng thơn, quốc gia, đơ thị) và văn hố tổ chức đời sống cá nhân (tín

ngưỡng, phong tục, giao tiếp)

- Văn hố ứng xử: xét theo đối tượng ứng xử thì bao gồm ứng xử với mơi trường tự nhiên (tận dụng mơi trường, ứng phĩ với mơi trường) và ứng xử với mơi trường xã hội (giao

lưu và tiếp biến văn hố, ứng phĩ với các dân tộc về quân sự, chính trị, ngoại giao…)

Một điều bất hợp lý là trong hệ thống văn hố của Joël Bonnemaison, khơng gian địa

lý cũng được xem là một yếu tố cấu thành hệ thống Trong khi đĩ, ai cũng biết rằng khơng gian địa lý, tuy cĩ thể bị biến đổi bởi con người, nhưng cơ bản thuộc về giới tự nhiên, là cái nền mà trên đĩ các hệ thống văn hố tồn tại và vận động Mặt khác, trong các yếu tố cấu thành hệ thống văn hố của Joël Bonnemaison, khơng cĩ chỗ dành cho chủ thể văn hố là các cộng đồng người Đây là một thiếu sĩt rất sơ đẳng, vì khác với các hệ thống của tự nhiên vốn

Trang 6

tự sinh tự diệt, hệ thống văn hoá không thể hình thành, không thể vận hành nếu không có con người Con người tận dụng tự nhiên để làm ra văn hoá, văn hoá lại góp phần cùng với tự nhiên để làm nên con người Vậy con người không tồn tại bên ngoài văn hoá, văn hoá cũng không tồn tại ở nơi không có con người

Tương tự, trong hệ thống văn hoá của Trần Ngọc Thêm, cũng không có chỗ cho chủ thể của văn hoá là các cộng đồng người, các tộc người Thay cho vị trí của con người, chiếm chỗ ở trung tâm hệ thống văn hoá của Trần Ngọc Thêm là yếu tố “loại hình văn hoá”, bao gồm hai loại hình cơ bản là du mục - nông nghiệp, và hai loại hình trung gian Theo đó, loại hình văn hoá quyết định nội dung và tính chất của hệ thống văn hoá Hai hệ thống văn hoá thuộc về hai loại hình đối lập với nhau thì bản thân chúng và các yếu tố của chúng luôn luôn đối lập với nhau Không khó để nhận ra tính chất quyết định luận, tiên nghiệm và áp đặt của

hệ thống này

Trước tình hình đó, trong quá trình giảng dạy, biên soạn giáo trình, hướng dẫn luận văn luận án, chúng tôi đã thể nghiệm một cách tiếp cận hệ thống khác, phối hợp với cách tiếp cận địa văn hoá để xem xét các hệ thống văn hoá

Theo cách tiếp cận của chúng tôi, hệ thống văn hoá được xem là một hệ thống có ba yếu tố: chủ thể văn hoá, hoạt động văn hoá, đặc trưng văn hoá Nằm ở vị trí trung tâm của hệ thống là chủ thể hoặc các chủ thể văn hoá, vì đó chính là yếu tố quan trọng nhất quyết định nội dung của các hoạt động văn hoá và các đặc trưng của toàn hệ thống Phân bố xung quanh

là các hoạt động văn hoá và đặc trưng văn hoá Hoạt động văn hoá bao gồm hai loại: văn hoá phi vật thể là loại hoạt động gắn chặt với chủ thể văn hoá và tương đối khó biến đổi dưới tác động của môi trường văn hoá; văn hoá vật thể là loại hoạt động dễ biến đổi hơn dưới tác động của môi trường văn hoá

Giữa ba yếu tố này có mối quan hệ tương tác hai chiều, từng yếu tố vừa tác động vừa chịu tác động của hai yếu tố kia Quan hệ tương tác giữa các yếu tố cũng bao gồm hai loại: giới hạn lẫn nhau, và bổ sung, phối hợp với nhau Sự bổ sung, phối hợp với nhau giữa các yếu tố tạo ra năng lực tự thân tiến hoá của từng yếu tố và toàn hệ thống Nếu như đã phối hợp với nhau rồi mà các yếu tố vẫn không thỏa mãn được nhu cầu, thì chủ thể văn hoá sẽ vay mượn, sao phỏng từ môi trường văn hoá và nền văn hoá khác, đào thải dần những yếu tố ít hiệu năng Nói cách khác, chủ thể văn hoá là yếu tố quyết định khả năng vận động và biến đổi của toàn hệ thống Chủ thể văn hoá mạnh thì lực hướng tâm và tính cố định của hệ thống tăng lên Chủ thể văn hoá yếu thì lực ly tâm và tính khả biến của hệ thống tăng lên

Hệ thống văn hoá ấy tồn tại trong một môi trường văn hoá, được cấu thành từ hai nhân tố: không gian văn hoá, giao lưu tiếp biến văn hoá Vì vậy, nội dung và xu hướng biến đổi của hệ thống văn hoá không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên trong hệ thống, mà còn phụ thuộc vào nội dung và sự biến đổi của các nhân tố bên ngoài, thuộc về môi trường văn hoá

Về mặt này, cách tiếp cận thiên về đồng đại (synchronic) theo quan điểm hệ thống được bổ sung một cách hiệu quả bởi cách tiếp cận thiên về lịch đại (diachronic) theo quan điểm địa văn hoá Theo đó, sự hình thành và biến đổi của các hệ thống văn hoá tộc người, văn hoá vùng… trước hết bắt nguồn từ hai nhân tố là điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện giao lưu văn hoá Tính chất tĩnh tại hay năng động, biến đổi chậm chạp hay nhanh chóng, mức độ biến đổi ít hay nhiều của hệ thống văn hoá, đều phụ thuộc vào sự biến động của hai nhân tố ấy

Trang 7

Mô hình hệ thống văn hoá

Như vậy, các yếu tố sau đây đều thuộc về hệ thống văn hoá:

(1) Chủ thể văn hoá: bao gồm các tộc người, các cộng đồng người cư trú trong một

không gian văn hoá và có các hoạt động văn hoá, truyền thống văn hoá góp phần làm nên các đặc trưng văn hoá của không gian ấy Vì là yếu tố chi phối các hoạt động văn hoá và đặc

trưng văn hoá nên trong hệ thống văn hoá, chủ thể văn hoá là yếu tố trung tâm Và vì vậy, hệ

thống văn hoá luôn luôn là một hệ thống có trung tâm, khác với một số hệ thống không có trung tâm của giới tự nhiên Các thuộc tính của chủ thể văn hoá gồm có: thành phần tộc người, giai cấp, tầng lớp xã hội, học vấn, nghề nghiệp, thế giới quan, nhân sinh quan, tâm lý, tính cách, lối sống, đạo đức, v.v

(2) Hoạt động văn hoá: bao gồm các lĩnh vực hoạt động thực tiễn khác nhau của chủ

thể văn hoá, giúp cho chủ thể văn hoá sinh tồn và phát triển, như văn hoá mưu sinh, văn hoá

ẩm thực, văn hoá trang phục, văn hoá cư trú, văn hoá giao thông, văn hoá kiến trúc, văn hoá

tổ chức cộng đồng, văn hoá tín ngưỡng, văn hoá phong tục, văn hoá lễ hội, văn hoá nghệ thuật, văn hoá giao tiếp, văn hoá chính trị, văn hoá quân sự, văn hoá ngoại giao, v.v Tuy đa

dạng nhưng các hoạt động văn hoá này đều có thể quy thuộc vào hai nhóm: văn hoá vật thể (tangible) và văn hoá phi vật thể (intangible), như cách phân loại của tổ chức UNESCO phổ

biến hiện nay Hoạt động văn hoá của các chủ thể văn hoá là yếu tố trực tiếp tạo ra các đặc trưng văn hoá cho toàn hệ thống

(3) Đặc trưng văn hoá: bao gồm những biểu hiện văn hoá có tính đặc trưng của hệ

thống văn hoá, là kết quả trực tiếp của các hoạt động văn hoá Dưới sự tác động của các nhân

tố không gian văn hoá, giao lưu tiếp biến văn hoá và đặc biệt là truyền thống văn hoá của các chủ thể văn hoá, một số thành phần hoặc nội dung nào đó của hoạt động văn hoá sẽ trở nên

Trang 8

nổi trội, khiến cho toàn hệ thống văn hoá có một bản sắc riêng, đặc trưng riêng, phân biệt được với những hệ thống văn hoá khác

Các yếu tố sau đây đều thuộc về môi trường văn hoá:

(1) Không gian văn hoá: bao gồm phạm vi không gian và điều kiện địa lý tự nhiên

của không gian nơi chủ thể văn hoá tiến hành các hoạt động văn hoá để sinh tồn và phát triển Không gian văn hoá là nhân tố góp phần làm hình thành đặc trưng văn hoá của hệ thống Sự biến đổi của không gian văn hoá sẽ kéo theo sự biến đổi tương ứng của chủ thể văn hoá, hoạt động văn hoá và đặc trưng văn hoá của toàn hệ thống Các yếu tố hợp thành không gian văn hoá gồm có phạm vi lãnh thổ, các điều kiện địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn, sinh thái, những biến đổi môi trường, v.v., có liên quan đến hoạt động văn hoá của con người

(2) Giao lưu tiếp biến văn hoá: bao gồm các quan hệ giao lưu và tiếp biến văn hoá

giữa các chủ thể văn hoá với nhau và với bên ngoài, dẫn đến kết quả là sự tiếp thu những yếu

tố văn hoá ngoại sinh và biến đổi những yếu tố văn hoá nội sinh Quan hệ giao lưu tiếp biến văn hoá giúp giải thích sự biến đổi của chủ thể văn hoá, hoạt động văn hoá và đặc trưng văn hoá của hệ thống

Nói tóm lại, theo chúng tôi, một trong những cách tiếp cận phù hợp nhất đối với hệ thống văn hoá là cách tiếp cận phối hợp giữa quan điểm hệ thống với quan điểm địa văn hoá Theo đó, nội dung và sự biến đổi của hệ thống văn hoá không chỉ phụ thuộc vào nội dung và

sự biến đổi của các yếu tố bên trong hệ thống mà cả các nhân tố bên ngoài thuộc về môi trường văn hoá Do đó, để có thể nhận thức hệ thống văn hoá một cách thấu đáo, cần phải xem xét tất cả các yếu tố hợp thành, mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành hệ thống, và mối quan hệ giữa hệ thống với môi trường văn hoá

Trang 9

TP Hồ Chí Minh, 9/11/2012

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bonnemaison, Joël (2009), “Sự hồi sinh của một cách tiếp cận văn hĩa”, Nguyễn Thanh

Tùng dịch, Nguyễn Văn Hiệu hiệu đính, www.vanhoahoc.edu.vn, 23/05/2009

2 Hồ Chí Minh (2000), Hồ Chí Minh tồn tập, tập 3, 1930-1945, xuất bản lần thứ hai Hà

Nội: NXB Chính trị Quốc gia

3 Lévi-Strauss, Claude (1996), Chủng tộc và Lịch sử, UNESCO xuất bản năm 1952, NXB

Denoel tái bản năm 1987, bản dịch của Huyền Giang Hà Nội: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

4 Lý Tùng Hiếu & Nguyễn Văn Huệ (2008b), “Các khuynh hướng nghiên cứu văn hố qua

ngơn ngữ”, www.vanhoahoc.edu.vn

5 Morin, Edgar (1996), “Một phương thức tư duy mới”, Tạp chí Người đưa tin UNESCO,

số 2/1996

6 Morin, Edgar (2009), Nhập mơn tư duy phức hợp, nguyên bản tiếng Pháp Introduction à

la pensée complexe, Éditions du Seuil, 2005, bản dịch Chu Tiến Ánh & Chu Trung Can,

NXB Tri thức

7 Phạm Đức Dương (2011), “Văn hố, đối tượng văn hố và phương pháp nghiên cứu liên ngành”, báo cáo chuyên đề tại Khoa Văn hố học, Trường Đại học Văn hố TP Hồ Chí

Minh, www.vanhoahoc.edu.vn, 9/9/2011

8 Sapir, Edward (2000), Ngơn ngữ: Dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nĩi; nguyên tác tiếng Anh Language: An introduction to the study of speech, New York: Harcourt Brace,

1921; bản dịch của Vương Hữu Lễ TP Hồ Chí Minh: Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

9 Saussure, Ferdinand de (1973), Giáo trình ngơn ngữ học đại cương; nguyên tác tiếng Pháp Cours de linguistique générale, Charles Bally và Albert Sechehayye soạn, xuất bản

lần đầu năm 1916, Paris: NXB Payot, in lần thứ 5, 1955; bản dịch của Tổ Ngơn ngữ học Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội

10 Trần Ngọc Khánh (2011), “Mấy cơ sở tiếp cận lý thuyết nghiên cứu văn hĩa”,

www.vanhoahoc.edu.vn, 04/09/2011

Ngày đăng: 07/10/2015, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w