Ở nước ta, chế độ sở hữu toàn dân đã dần được hình thành và ghi nhận trong các bản Hiến pháp, việc tìm hiểu nội hàm của khái niệm sở hữu toàn dân có vai trò đặc biệt quan trọng, nó góp p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS Đinh Thanh Phương Lê Thị Ngọc Như
Bộ môn: Luật Hành chính MSSV: 5106078
Lớp: Luật Thương mại 2
Trang 2LỜI CẢM ƠN …
Trong suốt thời gian ngồi trên ghế Đại học, không những riêng em mà tất cả các bạn sinh viên đã gặt hái được nhiều kiến thức vô cùng bổ ích, song cũng gặp không ít những khó khăn, thất bại Có những khó khăn mà chúng em phải đương đầu và nhiều thử thách mà chúng em cần vượt qua Đến hôm nay, cũng như các bạn sinh viên khác, có thể nói tuy em đã cũng đã trãi qua nhiều khó khăn, vấp ngã nhưng cũng gặt hái được nhiều thành công trên con đường học tập Thành công lớn nhất là em đã được vinh dự ngồi trên chiếc ghế Đại học Cần Thơ và hơn thế nữa là được sự động viên, giúp đỡ, chỉ dẫn nhiệt tình của thầy cô và bạn bè khi em gặp khó khăn
Vì thế, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ, đã tận tình dạy bảo em trong khoản thời gian qua Lời biết ơn chân thành đến quý thầy cô bộ môn Luật thương mại ( Khoa Luật) - trường Đại học Cần Thơ Đặc biệt là Đinh Thanh Phương người đã trực tiếp hướng dẫn em, Thầy đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em rất nhiều để em
có thể hoàn thành luận văn chuyên ngành của mình
Trong quá trình thực hiện luận văn do thời gian có hạn, vấn đề em nghiên cứu chưa sâu Kiến thức về lý thuyết và kinh nghiệm hiểu biết về thực tế còn hạn chế nên không tránh khỏi sai sót Do đó để đề tài được hoàn chỉnh hơn em kính mong nhận được ý kiến đóng gióp chân thành của Giáo viên hướng dẫn cũng như quý thầy cô trong bộ môn Cuối lời, em chúc Thầy Đinh Thanh Phương và quý thầy cô khoa Luật nói riêng, thầy cô Đại học Cần Thơ nói chung luôn dồi dào sức khỏe, thành đạt và hạnh phúc
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Ngọc Như
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Trang 5
MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Kết cấu của đề tài 2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU VÀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN 4
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU 4
1.1.1 Lý luận chung về sở hữu 4
1.1.1.1 Khái niệm sở hữu và quyền sở hữu 4
1.1.1.2 Nội dung quyền sở hữu 6
1.1.2 Lý luận chung về chế độ sở hữu 8
1.1.2.1 Khái niệm chế độ sở hữu 9
1.1.2.2 Các thành phần của chế độ sở hữu 9
1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN 11
1.2.1 Khái niệm chế độ sở hữu toàn dân 11
1.2.2 Lịch sử hình thành chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta 11
1.3 CHẾ ĐỘ SỞ HỮU Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 15
1.3.1 Hiến pháp cộng hòa Ba Lan 15
1.3.2 Hiến pháp Liên bang Nga 15
Trang 61.3.3 Hiến pháp Trung Quốc 16
CHƯƠNG 2: CÁC THÀNH PHẦN CỦA CHẾ ĐỘ SỞ HỮU Ở NƯỚC TA 19
2.1 CHỦ THỂ CỦA SỞ HỮU TOÀN DÂN 19
2.1.1 Chủ sở hữu là toàn dân 19
2.1.2 Nhà nước là đại diện chủ sở hữu 20
2.2 ĐỐI TƯỢNG THUỘC SỞ HỮU TOÀN DÂN 21
2.3 HÌNH THỨC SỞ HỮU 23
2.4 NỘI DUNG CỦA SỞ HỮU TOÀN DÂN 27
2.4.1 Đối với đại diện chủ sở hữu là Nhà nước 27
2.4.2 Đối với chủ sở hữu là nhân dân 30
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN Ở NƯỚC TA 32
3.1 NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN 32
3.2 NHỮNG BẤT CẬP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN 33
3.2.1 Về khái niệm 34
3.2.1.1 Những bất cập 34
3.2.1.2 Kiến nghị- hướng hoàn thiện 35
3.2.2 Về áp dụng 38
3.2.2.1 Những bất cập 38
3.2.2.2 Kiến nghị- hướng hoàn thiện 41
KẾT LUẬN 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7ta đang tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân từ khi được hình thành lần đầu tiên (ở Hiến pháp năm 1959) đến nay luôn được duy trì qua các bản Hiến pháp, các văn bản dưới luật ngày càng quy định rõ hơn về chế độ sở hữu toàn dân như Luật đất đai, Luật doanh nghiệp Nhà nước
Từ việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân vào thực tiễn đã đạt được những thành tựu nhất định, góp phần phát huy dân chủ, đưa nền kinh tế nước nhà phát triển lên tầm cao mới Tuy nhiên, chế độ sở hữu toàn dân vẫn còn là một khái niệm chưa được rõ rãng về mặt pháp lý, từ đó đã dẫn đến không ít những khó khăn bất cập trong việc áp dụng, vẫn có
sự mập mờ khó hiểu giữa sở hữu toàn dân và sở hữu Nhà nước Do đó việc tìm hiểu những nội dung của khái niệm chế độ sở hữu trở nên thật sự cần thiết nhất là ở thời điểm hiện nay, khi nước ta đang phát triển kinh tế ở một tầm cao mới thì vấn đề sở hữu trở và chế độ sở hữu trở nên cực kỳ quan trọng
Chính vì những lẽ trên mà việc tìm hiểu, phân tích những quy định của pháp luật
về chế độ sở hữu toàn dân để có những giải pháp khắc phục những hạn chế, thiếu sót của pháp luật và để chế độ sở hữu toàn dân được hiểu một cách đầy đủ và chính xác nhất trở
Trang 8nên rất cần thiết Đó cũng là lí do người viết chọn đề tài "Chế độ sở hữu toàn dân - Lý
luận và thực tiễn" để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu những nội dung chính của chế độ sở hữu toàn dân quy định trong Hiến pháp và thực tiễn áp dụng chế độ sở hữu toàn dân vào thực
tế ở nước ta được hiện nay Trên cơ sở đó, người viết sẽ phân tích, làm rõ vai trò, đặc điểm của từng chủ thể trong chế độ sở hữu toàn dân, chỉ ra những điểm chưa rõ ràng giữa quy định và thực tế áp dụng hiện nay Từ đó, tìm ra những điểm còn vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng và tổng hợp một số kiến nghị của các nhà làm luật góp phần hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta Bên cạnh đó, người viết cũng nêu ra những ý kiến chủ quan của mình trong việc kiến nghị để hoàn thiện vấn đề
3 Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên phạm vi nghiên cứu đề tài của người viết chỉ xoay quanh các quy định về chế độ sở hữu toàn dân được đề cập trong Hiến pháp từ năm
1959 đến nay và các văn bản dưới Luật có liên quan như: Luật tổ chức Quốc hội năm
2001 sửa đổi bổ sung năm 2007, Luật tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật đất đai năm
2003, Bộ luật dân sự năm 2005 Bên cạnh những văn bản pháp luật thì những tài liệu được sử dụng để nghiên cứu trong đề tài này là những tài liệu được đăng trên các trang thông tin điện tử, báo điện tử, những tài liệu có tính chất tham khảo được người viết cập
nhật từ tháng 7/2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài của mình, người viết tập trung chủ yếu vào phương pháp phân tích luật viết, đối chiếu, tổng hợp, thu thập thông tin, nghiên cứu những quy định của pháp luật về chế độ sở hữu toàn dân trên cơ sở lý luận, pháp lý của vấn đề, nêu ra thực trạng chung của
cả nước trong việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, qua đó đề ra những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân vào thưc tế
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài Lời cảm ơn, Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
đề tài được chia làm 03 Chương và trình bày theo trình tự từ cơ sở lý luận đến các quy định của pháp luật có liên quan và sau cùng là thực tiễn và hướng hoàn thiện Cụ thể:
Trang 9- Chương 1: Lý luận chung về chế độ sở hữu và chế độ sở hữu toàn dân
Đây là chương giới thiệu về các vấn đề lý luận chung nhất từ các khái niệm như:
sở hữu, chế độ sở hữu, chế độ sở hữu toàn dân cho đến sự hình thành chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta và tìm hiểu chế độ sở hữu ở một số nước trên thế giới
- Chương 2: Các thành phần của chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta
Trong chương này người viết sẽ đi vào nội dung chính của đề tài, tìm hiểu các quy định của pháp luật về các thành phần của chế độ sở hữu toàn dân, làm rõ những chủ thể
có liên quan cũng như vai trò, trách nhiệm của từng chủ thể có trong chế độ sở hữu toàn dân
- Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta
Trên cơ sở những quy định của pháp luật có liên quan được trình bày ở chương 02, chương này tìm hiểu về việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân vào thực tế, những thành quả đạt được cũng như những khó khăn, vướng mắc còn gặp phải Từ đó, tổng hợp một số kiến nghị của các nhà làm luật góp phần hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta Bên cạnh đó, người viết cũng nêu ra những ý kiến chủ quan của mình trong việc kiến nghị
để hoàn thiện vấn đề
Trong quá trình xây dựng đề tài người viết đã gặp không ít những khó khăn vì thời gian nghiên cứu và trình độ còn hạn chế, nhưng với sự nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ từ Thầy Đinh Thanh Phương và các thầy cô khác trong Khoa, cùng với quá trình tìm tòi các tài liệu phục vụ cho đề tài người viết đã hoàn thành luận văn Tuy nhiên, những sai sót là điều khó tránh khỏi trong quá trình viết luận văn, chính vì thế người viết rất mong được
sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô đã truyền đạt kiến thức cho em trong suốt thời gian em học tập tại trường Đại Học Cần Thơ Em xin cảm ơn Thầy Đinh Thanh Phương đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian em nghiên cứu đề tài tốt nghiệp
Trang 10độ sở hữu ở một số nước trên thế giới
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU
1.1.1 Lý luận chung về sở hữu
1.1.1.1 Khái niệm sở hữu và quyền sở hữu
Sở hữu và quyền sở hữu là các khái niệm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong kinh tế chính trị học và là một nội dung quan trọng của hệ thống pháp luật ở mỗi quốc gia
Khái niệm sở hữu
Trang 11Hiện nay, ở nước ta tồn tại nhiều quan điểm về sở hữu khác nhau:
Quan điểm thứ nhất: sở hữu là một hình thức nhất định về chiếm hữu của cải (vật
chất hoặc tinh thần) trong một hình thái kinh tế- xã hội nhất định 1 Theo đó, sở hữu có
liên quan đến quyền hạn và nghĩa vụ, những ưu tiên và hạn chế đối với con người trong
một xã hội nhất định với những của cải có trong xã hội đó
Quan điểm thứ hai: sở hữu là quan hệ giữa người với người về chiếm hữu tự nhiên,
là hình thức xã hội của hành vi chiếm hữu trong hình thái kinh tế- xã hội nhất định, là phạm trù lịch sử, biến đổi cùng với sự biến đổi của hình thái kinh tế- xã hội trong lịch sử 2
Theo đó, có sự tách biệt giữa chiếm hữu và sở hữu, chiếm hữu chỉ sự quan hệ giữa con người với vật tự nhiên và là hành vi gắn với sự tồn tại của con người, còn sở hữu là quan
hệ giữa người với người thông qua vật chiếm hữu
Quan điểm thứ ba: Sở hữu là những quan hệ kinh tế, được hình thành (tích lũy)
trong quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối các lợi ích vật chất và tinh thần.3
Theo đó, ngay từ thời sơ khai của lịch sử xã hội loài người, con người đã biết chiếm giữ những nguồn tài sản sẵn có trong thế giới tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu của mình Xã hội ngày càng phát triển, ngoài những tài sản sẵn có trong tự nhiên, con người
đã biết chế tạo ra nhiều loại tài sản khác để khai thác, sử dụng Dù là tài sản có sẵn trong
tự nhiên hay do con người tạo ra thì con người vẫn luôn có ý thức chiếm hữu, và thực hiện những hành vi nhất định đối với tài sản đó theo ý chí của mình Do đó, có thể khẳng
định, sở hữu là một trong những yếu tố tự nhiên, xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với
sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của xã hội loài người Thực chất của quan hệ sở hữu không chỉ đề cập đến tài sản đó ai đang là người kiểm soát, sử dụng Mà đó là sự khẳng định với chủ thể khác là "vật đó là của tôi, chứ không phải của anh" 4
Tóm lại có nhiều quan điểm xoay quanh khái niệm sở hữu với những ý kiến không
hoàn toàn giống nhau, nhưng nhìn chung sở hữu là một phạm trù xã hội thể hiện quan hệ
giữa người với người về việc của cải vật chất, là hình thái xã hội có tính lịch sử của việc chiếm hữu của cải vật chất và thông qua quan hệ ấy thỏa mãn nhu cầu của mình; sở hữu
Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Hiến pháp, Nxb Công an nhân dân Hà Nội, 2009, tr 165
4 Lê Đình Nghị, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011, tr 184
Trang 12không phải là quan hệ giữa người với vật mà quan hệ xã hội giữa người với người đối với vật 5
Theo đó, sở hữu và chiếm hữu có mối quan hệ mật thiết nhưng không đồng nhất với nhau Về mặt lịch sử, chiếm hữu có trước sở hữu Chiếm hữu là bản năng tự nhiên tồn tại của con người, phản ánh mối quan hệ khách quan giữa con người với tự nhiên Còn sở hữu là quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu một vật nhât định Cụ thể như
ta nói anh A đang chiếm hữu chiếc xe, thì điều đó có nghĩa là chiếc xe này có thể là của anh A hoặc không phải của anh A, anh A chỉ là sự chiếm hữu tự nhiên đơn thuần đối với chiếc xe đó, nhưng khi ta nói chiếc xe là thuộc sở hữu của anh B thì điều đó có nghĩa rằng chính anh B là chủ của chiếc xe chứ không phải ai khác, đó chính là mối quan hệ giữa người với người đối với vật Nói một cách dễ hiểu, sở hữu là việc tài sản đó của ai, ai có quyền quản lý, sử dụng tài sản đó Sở hữu có hình thái ban đầu là sự chiếm hữu đơn thuần, giống như trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, không có khái niệm sở hữu bởi lẽ mọi thứ đều được sử dụng chung giữa mọi người không có sự phân chia lẫn nhau Dần dần xã hội loài người phát triển, tư tưởng của con người có sự thay đổi, họ ý thức được những lợi ích nhất định từ những của cải xã hội mang lại, cùng với sự phân chia giai cấp,
đã xuất hiện khái niệm tư hữu về tư liệu sản xuất, từ đó cũng ra đời khái niệm sở hữu, lúc này sở hữu là "của tôi chứ không còn là của anh", sở hữu không còn là sự chiếm hữu đơn
thuần nữa mà là sự khẳng định tài sản đó thuộc về ai, ai có được những quyền năng tuyệt
đối với tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của mình
Khái niệm quyền sở hữu
Khái niệm quyền sở hữu được hiểu theo hai nghĩa:
- Theo nghĩa khách quan: quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành, để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong xã hội Hay nói khác đi quyền sở hữu chính là pháp luật về sở hữu.6
- Theo nghĩa chủ quan: quyền sở hữu là khả năng được phép xử sự của chủ sở hữu
trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình Những quyền năng này cũng chính là nội dung của quyền sở hữu mà chủ sở hữu có được đối với tài sản 7 Như
5 Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Hữu Đạt, Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2004, tr.45
6
Lê Đình Nghị, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011, tr 185
7 Lê Đình Nghị, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011, tr 185
Trang 13vậy, quyền sở hữu là những quy định của pháp luật về những quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu của mình
1.1.1.2 Nội dung của quyền sở hữu
Quyền sở hữu là một quan hệ pháp luật dân sự Nội dung của một quan hệ pháp luật dân sự bao gồm các quyền và nghĩa vụ của chủ thể Nội dung của quyền sở hữu bao gồm các quyền năng mà pháp luật cho phép chủ thể của quyền sở hữu được thực hiện.8 Ở Việt Nam, nội dung quyền sở hữu theo luật hiện hành gồm có ba yếu tố đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Các quy định về quyền sở hữu ghi nhận từ điều 182 đến điều 199 trong Bộ luật Dân sự năm 2005
Thứ nhất: "Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản".9 Người chiếm hữu tài sản là người đang trực tiếp cằm, giữ tài sản đó ở thời điểm đang xét tới, người này
có thể là chủ sở hữu tài đó hoặc được chủ sở hữu đích thực giao cho quản lý, cho thuê, cho mượn, thậm chí là do chiếm đoạt từ chủ sở hữu Do đó, người có quyền sở hữu tài sản
là người chiếm hữu tài sản nhưng người chiếm hữu tài sản chưa hẳn là chủ sở hữu đích thưc của tài sản đó Cần phân biệt giữa người chiến hữu tài sản là chủ sở hữu đích thực với tài sản với người chiếm hữu đơn thuần vì quyền lợi của họ rất khác nhau Người chiếm hữu là chủ sở hữu đích thực của tài sản sẽ có nhiều đặc quyền hơn người chiếm hữu tài sản nhưng không là chủ sở hữu đích thực của tài sản đó Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình
để nắm giữ, quản lý tài sản nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Việc chiếm hữu của chủ sở hữu không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian, trừ trường hợp chủ sở hữu chuyển giao việc chiếm hữu cho người khác hoặc pháp luật có quy định khác Trong trường hợp chủ sở hữu tự mình chiếm hữu tài sản của mình thì chủ sở hữu thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản Việc chiếm hữu của chủ sở hữu
là chiếm hữu có căn cứ pháp luật bị hạn chế giai đoạn thời gian
- Chiếm hữu có căn cứ pháp luật (chiếm hữu hợp pháp) dựa trên các căn cứ sau: Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản; Chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản trong phạm vi uỷ quyền; Được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua các giao dịch dân sự phù hợp với ý chí của chủ sở hữu (người đang chiếm hữu hợp pháp chỉ được sử dụng hoặc chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản cho người khác nếu được chủ sở hữu đồng ý); Người phát hiện và giữ
8
Lê Đình Nghị, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011, tr 187
9 Điều 182 Bộ luật dân sự, năm 2005
Trang 14tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật qui định; Người phát hiện
và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định và các trường hợp khác do pháp luật quy định Chẳng hạn Điều 242 qui
định: “Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo cho Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại” Trong thời gian chủ sở hữu chưa đến nhận lại thì là chiếm hữu hợp pháp
- Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật (chiếm hữu bất hợp pháp) Chiếm hữu bất hợp pháp là chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp luật nên không được pháp luật thừa nhận
+ Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là trường hợp người chiến hữu không biết và không thể biết mình chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp luật Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, trong một số trường hợp có thể được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu
+ Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình đó là trường hợp người chiếm hữu biết hoặc pháp luật buộc phải biết là mình chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp luật Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình sẽ không thể xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó
Thứ hai: là quyền sử dụng, Điều 192 BLDS 2005 quy định quyền sử dụng là
quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Điều này có nghĩa là chủ sở
hữu có quyền khai thác giá trị tài sản theo ý chí của mình bằng những cách thức khác nhau nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất tinh thần của bản thân miễn là không gây thiệt hại
và làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Cũng như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng không chỉ thuộc về chủ sở hữu tài sản mà còn thuộc về những người không phải chủ sở hữu nhưng được chủ sở hữu giao quyền hoặc theo qui định của pháp luật (người mượn tài sản, thuê tài sản thông qua các hợp đồng dân sự )
Thứ ba, quyền định đoạt theo quy định tại Điều 195 Bộ luật Dân sự "Quyền định
đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc bỏ quyền sở hữu đó" Như vậy chủ
sở hữu thực hiện quyền định đoạt của mình thông qua việc quyết định "số phận" pháp lý hoặc "số phận" thực tế của tài sản Người không phải chủ sở hữu cũng có quyền định đoạt tài sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật Định đoạt "số
Trang 15phận" pháp lý tài sản: tức là chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua các giao dịch dân sự như: ký kết hợp đồng mua bán, hợp đồng tặng cho tài sản Định đoạt
"số phận" thực tế của tài sản: chủ sở hữu bằng hành vi của mình làm cho tài sản không còn trong thực tế như sử dụng hết hoặc tiêu huỷ tài sản Tuy nhiên, đối với một số loại tài sản thì khi thực hiện quyền định đoạt phải tuân theo những qui định khác của pháp luật Theo qui định của pháp luật chủ sở hữu có thể tự mình thực hiện quyền định đoạt hoặc uỷ quyền cho người khác thực hiện quyền định đoạt tài sản (thông qua việc bán đại lý hàng hoá) Để thực hiện quyền định đoạt thì chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu uỷ quyền phải đảm bảo năng lực chủ thể theo qui định của pháp luật, chẳng hạn lập di chúc hoặc bán nhà thì nguyên tắc phải từ đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để tránh tình trạng bị lừa dối hay bị cưỡng ép
1.1.2 Lý luận chung về chế độ sở hữu
Chế độ sở hữu là một nền tảng của chế độ xã hội, nó thể hiện bản chất của một chế
độ xã hội Nếu chế độ sở hữu được thiết lập phù hợp với quy luật khách quan thì nó sẽ tạo môi trường tốt cho nền kinh tế phát triển, ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.10 Chính vì thế việc nghiên cứu về chế độ sở hữu luôn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng ở mỗi quốc gia
1.1.2.1 Khái niệm chế độ sở hữu
Chế độ sở hữu được hiểu là mối quan hệ sở hữu (mối quan hệ bên trong của quan
hệ giữa con người với con người về vật chiếm hữu của cải vật chất xã hội) Mỗi hình thái kinh tế- xã hội đều có mối quan hệ sở hữu đặc trưng và gọi tên của nó cũng theo quan hệ
xã hội đặc trưng đó Chẳng hạn như: sở hữu phong kiến, sở hữu tư bản chủ nghĩa, sở hữu
xã hội chủ nghĩa Những quan hệ sở hữu đó được thể hiện dưới những hình thức pháp lý nhất định thì được gọi là chế độ sở hữu.11
Như vậy, phạm trù sở hữu khi được luật hoá thành quyền sở hữu và được thực hiện
thông qua cơ chế nhất định thì được gọi là chế độ sở hữu Hay nói cách khác, chế độ sở
hữu là các quan hệ sở hữu được thể chế hóa thành luật pháp và có cơ chế vận hành nhất định, khi đó toàn bộ hệ thống pháp luật cùng với toàn bộ cơ chế vận hành ấy hợp thành
Trang 16cái gọi là chế độ sở hữu 12
Nội dung của chế độ sở hữu được thể hiện ra bên ngoài bằng
các hình thức sở hữu
1.1.2.2 Các thành phần của chế độ sở hữu
Chế độ sở hữu bao gồm 3 nội dung: chủ thể, khách thể và nội dung của chế độ sở hữu Ở nước ta tồn tại ba chế độ sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Từ chế độ sở hữu được quy định trong Hiến pháp đã được cụ thể hóa thành các hình thức sở hữu trong BLDS Đối với mỗi chế độ sở hữu sẽ có chủ thể, khách thể khác nhau
Về mặt chủ thể: nhìn chung, chủ thể của quyền sở hữu là những người có tài sản
thuộc sở hữu hợp pháp của mình.13
Đối với chế độ sở hữu toàn dân, chủ thể là nhân dân và Nhà nước Bởi lẽ nhân dân với vai trò là chủ sở hữu của khối tài sản trên, nhưng nhân dân không thể trực tiếp quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình được Nhà nước ta với vai trò là "người đại diện",
sẽ đứng ra quản lý khối tài sản thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước có đầy đủ ba quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân
Đối với chế độ sở tập thể chủ thể là các hợp tác xã, như hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã thủ công nghiệp, tập đoàn sản xuất 14 So với chủ thể của
sở hữu toàn dân thì chủ thể của sở hữu tập thể là nhiều hơn và ngày càng được mở rộng
Đối với chế độ sở hữu tư nhân: chủ thể của sở hữu tư nhân là các cá nhân.15
Như vậy trong ba chế độ sở hữu thì sở hữu tư nhân có chủ thể rộng nhất
Về mặt khách thể: Đối với mỗi chế độ sở hữu riêng sẽ có những khách thể riêng
Đối với chế độ sở hữu toàn dân: khách thể của sở hữu toàn dân rất đa dạng được quy định tại Điều 17 Hiến pháp hiện hành Cụ thể: khách thể của sở hữu toàn dân bao
gồm: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở
vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân
12 Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Hữu Đạt, Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2004, tr.48
13 Lê Đình Nghị, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011, tr 185
14 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Hiến pháp, Nxb Công an nhân dân Hà Nội, 2009, tr 170.
15 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Hiến pháp, Nxb Công an nhân dân Hà Nội, 2009, tr 172
Trang 17 Đối với chế độ sở hữu tập thể: khách thể bao gồm vốn, những tư liệu sản xuất,
tư liệu tiêu dùng So với sở hữu toàn dân phạm vi khách thể của sở hữu tập thể hạn chế hơn, vì có những tài sản nhất định chỉ có Nhà nước mới có quyền sở hữu
Đối với chế độ sở hữu tư nhân: phạm vi khách thể của sở hữu tư nhân được quy định tại Điều 58 Hiến pháp.16
Cũng giống như sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân có phạm vi khách thể hạn chế hơn sở hữu toàn dân
Về mặt nội dung: những chủ thể của chế độ sở hữu dù có sự khác biệt nhau, nhưng
họ đều có chung với nhau những quyền và nghĩa vụ nhất định đối với tài sản thuộc sở hữu của mình: bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ
sở hữu theo quy định của pháp luật
1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN
Chế độ sở hữu toàn dân là cơ sở lý luận chính trị và pháp lý quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước XHCN Ở nước ta, chế độ sở hữu toàn dân đã dần được hình thành và ghi nhận trong các bản Hiến pháp, việc tìm hiểu nội hàm của khái niệm sở hữu toàn dân
có vai trò đặc biệt quan trọng, nó góp phần làm sáng tỏ hơn bản chất của Nhà nước XHCN là nhà nước của dân, do dân, vì dân tất cả các quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân với nền tảng là chế độ công hữu
1.2.1 Khái niệm chế độ sở hữu toàn dân
Trước tiên, cần xác định sở hữu toàn dân ở nước ta là sở hữu trong đó toàn thể nhân dân Việt Nam là chủ sở hữu đối với tài sản Dựa vào cách lý giải về chế độ sở hữu
đã nêu ở phần trên, ta có thể suy ra khái niệm chế độ sở hữu toàn dân như sau: chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta là việc thể chế hóa quan hệ thuộc sở hữu toàn dân thành các quy phạm pháp luật và có cơ chế vận hành nhất định khi đó toàn bộ hệ thống pháp luật cùng với toàn bộ cơ chế vận hành ấy hợp thành cái gọi là chế độ sở hữu toàn dân Trong đó phân biệt rõ các quyền cơ bản là quyền sở hữu pháp lý, quyền chiếm hữu thực tế và quyền
sử dụng, quyền của chủ sở hữu toàn dân, nghĩa vụ của họ cũng như quyền và trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu toàn dân (Nhà nước) Việc thể chế hóa các quy dịnh thuộc sở hữu toàn dân thành chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta được cụ thể hóa trong các đạo luật và ngày càng được quy định cụ thể hơn trong các văn bản quy phạm pháp luật
16 Điều 58 Hiến pháp năm 1992: Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu
sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân
Trang 181.2.2 Lịch sử hình thành chế độ sở hữu toàn dân ở nước
Lịch sử hình thành chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta được thể hiện rõ qua các giai đoạn lịch sử của đất nước cùng với sự ra đời của các bản Hiến pháp
Giai đoạn 1945-1959: trong giai đoạn này, chế độ kinh tế ở nước ta còn khá tự do, tự
nhiên với nền kinh tế nhiều thành phần đúng với mục đích cách mạng dân chủ tư sản Vấn
đề sở hữu đã được ghi nhận trong bản Hiến pháp : Quyền tư hữu của công dân được bảo
đảm.17
Hiến pháp 1946 chỉ có một điều về quyền kinh tế, chưa có nhiều những quy định
về chế độ kinh tế cũng chưa có chương riêng về chế độ kinh tế Tuy nhiên ta có thể hiểu
được điều này vì “Nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ là xóa bỏ
quyền sở hữu tư liệu sản xuất của thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến, là vấn đề chính trị, xã hội, là bảo vệ tổ quốc, là tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh để giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước"18 Mặc dù chỉ có quy định một điều nhỏ nhưng pháp luật ở giai đoạn này đã tạo tiền đề quan trọng cho việc xác lập quan hệ sở hữu mới, giải quyết vấn đề cấp bách trước mắt quyền sở hữu tư nhân được công nhận đã tạo tiền đề cho những sự phát triển tiếp theo- tiến lên xây dựng chế độ sở hữu mới - coi công hữu là mục tiêu
Giai đoạn 1959-1980: có Hiến pháp năm 1959, đây là bản Hiến pháp xây dựng chế độ
kinh tế theo mô hình xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp thừa nhận tồn tại 4 loại hình sở hữu cơ
bản về tư liệu sản xuất là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu của người lao động
riêng lẻ và sở hữu của nhà tư sản dân tộc, bên cạnh việc bảo hộ quyền tư hữu thì sở hữu
toàn dân là chủ đạo, Điều 12 Hiến pháp 1959 quy định: “Kinh tế quốc doanh thuộc hình
thức sở hữu của toàn dân, giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được Nhà nước bảo đảm phát triển ưu tiên Các hầm mỏ, sông ngòi, và những rừng cây, đất hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu của toàn dân"
Như vậy, Hiến pháp 1959 đã có chương riêng về chế độ kinh tế, bên cạnh ghi nhận tư hữu nhà nước đã có những quy định về chế độ sở hữu, đã manh nha khái niệm sở hữu toàn dân
17 Điều 12, Hiến pháp năm 1946
18 Lưu Đức Quang, Diễn đàn luật học, Các hình thức sở hữu hiến định thực tiễn và đánh giá,
http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/19295-Tieu-luan-quot-Cac-hinh-thuc-so-huu-hien-dinh-quot-#ixzz2ZTVjQdGF , [ngày truy cập 20-6-2013]
Trang 19 Giai đoạn 1980-1986: Khác với Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980
dành một chương riêng quy định một chế độ kinh tế thuần túy XHCN, hiến pháp năm
1980 quy dịnh một chế độ kinh tế chủ yếu có hai thành phần kinh tế tương ứng với hai
hình thức sở hữu: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần
kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động.19 Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên Điều 19 Hiến pháp
1980 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng
đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh; ngân hàng và tổ chức bảo hiểm; công trình phục
vụ lợi ích công cộng; hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, đường không; đê điều và công trình thuỷ lợi quan trọng; cơ sở phục vụ quốc phòng; hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật,
cơ sở văn hoá và xã hội cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước – đều thuộc sở hữu toàn dân”.20 Như vậy, trước đổi mới Đảng và nhà nước ta đã chủ trương xây dựng và hoàn thiện chế độ sở hữu XHCN với hai hình thức sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể, thậm chí còn xem sở hữu tập thể chỉ là một bước hóa độ để đi đến sở hữu toàn dân, điều này được thể hiện rõ qua các bản Hiến pháp 1959, 1980 Nhìn chung, nếu đánh giá một cách khách quan thì sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể đã đóng góp và phát huy vai trò to lớn trong phát triển kinh tế, xã hội của đất nước ở mỗi giai đoạn Tuy nhiên, xét về thực tế, nước ta quá độ lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ sản xuất thấp, năng lực kinh tế thấp, trình độ dân trí thấp…bên cạnh đó là việc nhận thức không đúng đắn chủ nghĩa Mác- Lê Nin vào tình hình thực tế ở Việt Nam đã dẫn đến một thời gian dài chúng ta định kiến sâu sắc với sở hữu cá nhân của người lao động thậm chí coi đó là hình thức đối lập với CNXH, là mầm móng khôi phục chế độ bóc lột người lao động, theo quan điểm của các nhà kinh điển Mác-xít, mục tiêu đấu tranh của giai cấp vô sản không phải là nhằm xóa bỏ chế độ tư hữu nói chung, mà chỉ là xóa bỏ chế độ tư hữu
tư sản - một chế độ mà từ đó đẻ ra nạn người bóc lột người.21 Như vậy, thật ra sở hữu cá nhân không là mầm móng tư bản, không là hình thức bóc lột lao động mà nó là động lực
19 Điều 18, Hiến pháp năm 1980
20 Điều 19, Hiến pháp năm 1980
21 Nguyễn Đức Thắng, Quan điểm của C.Mác về sở hữu và việc vận dụng ở Việt Nam dưới ánh sang Nghị quyết Đại
hội XI của Đảng, Tạp chí cộng sản, 2010, cua-C-Mac-ve-so-huu-va-viec-van-dung.aspx /2011/3, [ngày truy cập 25-6-2013].
Trang 20http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Tieu-diem/2011/338/Quan-diem-to lớn để phát triển kinh tế Thực tế đó buộc Đảng và Nhà nước ta phải nhìn nhận lại những quan niệm giáo điều về xây dựng CNXH
Giai đoạn từ 1986 đến nay: Từ việc rút ra những sai lầm trong công cuộc xây dựng
đất nước ở giai đoạn 1959- 1980, Đảng và Nhà nước đã tiến hành đổi mới đất nước, đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đưa ra nhận định : “Trong nhận thức cũng như trong
hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững nội dung và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”.22 Hiến pháp 1992 xây dựng
CNXH trong giai đoạn đổi mới toàn diện và sâu sắc Hiến pháp năm 1992 xác định đường
lối phát trển kinh tế là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.23 Hiến pháp năm 1992 đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh té thị trường với nhiều thành
phần kinh tế bao gồm: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư
bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.24 Trong đó
kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Ngoài ra, Hiến pháp cũng quy
định các chế độ sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân trong đó sở hữu
toàn dân làm nền tảng
Như vậy, ở Hiến pháp 1992 phạm vi quyền sở hữu của công dân được mở rộng, bên cạnh bên cạnh việc thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sở hữu phi XHCN như sở hữu tư nhân, Nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương không từ bỏ những nguyên tắc kinh tế XHCN, nên kinh tế quốc doanh dựa trên sở hữu nhà nước (SHNN) hay còn được gọi là sở hữu toàn dân vẫn chiếm địa vị chủ đạo, sở hữu tư nhân cũng giữ vai trò ngày càng cao là động lực để phát triển đất nước
Ở Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 2013 có quy định tại Điều 54 (sửa đổi, bổ sung các điều 15, 16, 19, 20, 21 và 25)
22 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI, Nxb Hà Nội -1987, tr 22, 23
23 Điều 15, Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001
24 Điều 16, Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001
Trang 21"Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật" Điều 55 (sửa đổi, bổ sung Điều 24, Điều 26): "Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo quy luật thị trường; thực hiện sự phân công, phân cấp quản lý nhà nước giữa các ngành, các cấp, thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm phát triển hợp lý, hài hòa giữa các vùng, địa phương và tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân".25 Như vậy, trên tinh thần Dự thảo vẫn tiếp tục duy trì đa dạng hóa các thành phần kinh tế, Đảng và nhà nước tạo mọi điều kiện để các hình thức sở hữu kinh tế phát huy hết mọi tìm năng
Qua lịch sử của các bản Hiến pháp, ta thấy từ nhà nước đầu tiên với tên là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Hiến pháp năm 1946 đến nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn là nhà nước của dân, do dân, vì dân: quyền lực nhà nước luôn thuộc
về nhân dân.26 Cùng với việc xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân là sự phát triển của chế độ sở hữu toàn dân, dần dần được hình thành gắn với những cột mốc quan trọng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta Sở hữu toàn dân luôn là mục tiêu là động lực phát triển kinh tế
1.3 CHẾ ĐỘ SỞ HỮU Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Hiện nay, trên thế giới có hai hệ thống chế độ Nhà nước tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Tương ứng với hai kiểu nhà nước đó là hai chế độ sở hữu, sở hữu toàn dân và
sở hữu tư nhân làm chủ đạo trong nền kinh tế Các kiểu Nhà nước Tư bản chủ nghĩa như
Ba Lan, Pháp , sẽ theo hình thức kinh tế với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là chủ yếu, các nước Xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Cu Ba , sẽ lấy chế độ sở toàn dân giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về chế độ sở hữu cụ thể ở một só nước bao gồm cả nhà nước Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa
1.3.1 Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan
Tại Ba Lan, sau khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở Ba Lan sụp đổ vào cuối thập niên 1980, Ba Lan chuyển sang thực hiện một mô hình kinh tế và chính trị mới Điều này thể hiện rõ trong các quy định của Hiến pháp năm 1997 Điều 20 Hiến pháp năm
1997 của Ba Lan quy định rõ "nền kinh tế thị trường xã hội, dựa trên sự tự do hoạt động
Trang 22kinh tế, sở hữu tư nhân, và đoàn kết, đối thoại và hợp tác giữa các đối tác xã hội, là nền tảng của chế độ kinh tế của Cộng hòa Ba lan" Điều 64 Hiến pháp Balan năm 1997 quy
định " Mọi người đều có quyền sở hữu, các quyền tài sản và quyền thừa kế; Mọi người
đều được pháp luật bảo vệ quyền sở hữu, các quyền tài sản khác và quyền thừa kế trên cơ
sở bình đẳng" Điều 23 Hiến pháp Ba Lan năm 1997 quy định "cơ sở của hệ thống nông nghiệp quốc gia sẽ là các trang trại gia đình" 27
Như vậy, các quy định kể trên của Hiến pháp Ba Lan thể hiện rõ thông điệp của chính quyền và dân chúng Ba Lan rằng sau khi từ bỏ mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Ba Lan đã chuyển sang mô hình nền kinh tế thị trường, dựa trên sự bảo hộ sở hữu tư nhân là chủ đạo và xuyên suốt trong bản Hiến pháp Ba Lan không có khái niệm sở hữu toàn dân
1.3.2 Hiến pháp Liên bang Nga
Ngay sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa nhà nước sụp đổ, Liên Bang Nga đã ban
hành Hiến pháp mới năm 1993 và chọn lựa mô hình "dân chủ pháp trị" để phát triển quốc
gia Mặc dù triết lý phát triển kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản, Hiến pháp mới của Nga vẫn có không ít quy định về chế độ kinh tế (mặc dù không còn một chương riêng về chế
độ kinh tế trong Hiến pháp như Hiến pháp năm 1977 của Liên Xô trước đó)
Điều 8 Hiến pháp Liêng bang Nga quy định: "Liên bang Nga đảm bảo một không
gian kinh tế thống nhất, sự lưu thông tự do đối với hàng hóa, dịch vụ và các phương tiện tài chính, sự cạnh tranh và hoạt động tự do kinh tế Liên bang Nga công nhận và bảo vệ một cách bình đẳng các hình thức sở hữu tư nhân, nhà nước, địa phương và các hình thức
sở hữu khác", Điều 9 "đất đai, tài nguyên thiên nhiên khác ở Liên bang Nga được sử dụng
và bảo vệ như là nguồn sống và hoạt động của các dân tộc cư trú trên lãnh thổ Liên bang Nga Đất đai, tài nguyên thiên nhiên khác có thể thuộc về sở hữu tư nhân, nhà nước, địa phương các hình thức sở hữu khác", Điều 36: "công dân và các tổ chức của họ có quyền
tư hữu đất đai Chủ sở hữu đất đai và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác được tự do nắm giữ, sử dụng và định đoạt chúng, nếu điều này không làm tổn hại đến môi trường xung quanh, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác".28 Đây là quy định rất khác với các nước XHCN như Trung Quốc hay Việt Nam, đất đai, tài nguyên
Trang 23thiên nhiên phải thuộc sở hữu toàn dân (tức là sở hữu Nhà nước), ở đây công dân có thể là chủ sở hữu của đất đai Tương tự như ở Ba Lan, ở Hiến pháp Nga không có sự tồn tại của chế độ sở hữu toàn dân
1.3.3 Hiến pháp Trung Quốc
Hiến pháp hiện hành của Trung Quốc là bản Hiến pháp năm 1982 Hiến pháp Trung quốc năm 1982 có khá nhiều quy định có thể được xếp vào loại các quy định về
chế độ kinh tế Điều 6: “Nền tảng của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa của Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa là chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, bao gồm, sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể của nhân dân lao động Hệ thống sở hữu công thay thế chế độ người bóc lột người Hệ thống này áp dụng nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động”29 Có thể thấy những quy định về chế độ sở hữu trong Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc đã phản ánh khá rõ tư tưởng của Đảng trong xây dựng Xã hội chủ nghĩa lấy
sở hữu toàn dân làm chủ đạo duy nhất trong nền kinh tế quốc dân Do đó, trong lần sửa đổi thứ nhất (vào ngày 12/4/1988), Hiến pháp Trung Quốc bổ sung một nội dung mới
quan trọng vào Điều 11 là "Nhà nước cho phép khu vực kinh tế tư nhân tồn tại và phát
triển trong giới hạn mà pháp luật quy định Khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế bổ sung cho khu vực kinh tế công xã hội chủ nghĩa Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của khu vực kinh tế tư nhân, và thực hiện việc hướng dẫn, giám sát và kiểm tra đối với khu vực kinh tế tư nhân" Trong lần sửa đổi thứ hai vào ngày 29/3/1993, Điều 7 được
sửa đổi lại, tuy vẫn khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, theo đó, "Kinh tế
thuộc sở hữu nhà nước, tức là kinh tế xã hội chủ nghĩa theo chế độ sở hữu toàn dân, là lực lượng lãnh đạo trong nền kinh tế Nhà nước đảm bảo sự củng cố và tăng trưởng của kinh tế thuộc sở hữu nhà nước" Trong lần sửa đổi thứ ba (ngày 15/3/1999), Điều 6 của
Hiến pháp được sửa đổi thành "Nền tảng của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa của Trung
Quốc là công hữu về tư liệu sản xuất, tức là, sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể của nhân dân lao động Chế độ công hữu thay thế chế độ người bóc lột người; thực hành nguyên tắc "làm theo năng lực, hưởng theo lao động" Trong lần sửa đổi thứ tư (ngày 14/3/2004),
Khoản 2 Điều 11 được sửa đổi thành "Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của
khu vực kinh tế phi công hữu, bao gồm kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ và hướng dẫn sự phát triển của khu vực kinh tế phi công hữu, phù hợp với quy định của pháp luật, thực hiện việc giám sát và kiểm soát khu vực kinh tế phi công
29 Văn phòng Quốc hội, Tuyển tập Hiến pháp một số nước trên thế giới tập 1 , Nxb Thống kê Hà Nội, 2009, tr 195
Trang 24Đặc biệt, Điều 13 Hiến pháp Trung Quốc được sửa đổi theo hướng khẳng định rõ
"quyền tư hữu hợp pháp của công dân là bất khả xâm phạm" và "Nhà nước, phù hợp với
quy định của pháp luật, bảo hộ quyền tư hữu và quyền thừa kế của công dân", "Nhà nước, vì lợi ích công cộng và phù hợp với quy định của pháp luật, trưng mua, trưng dụng tài sản tư để sử dụng, và bồi thường đối với tài sản tư bị trưng mua, trưng dụng"
Có thể thấy, cùng với thời gian, trải qua bốn lần sửa đổi, việc thừa nhận về mặt hiến pháp sự tồn tại của nền kinh tế thị trường dựa trên chế độ đa sở hữu, trong đó sở hữu toàn dân làm chủ đạo và vai trò ngày càng lớn của khu vực kinh tế tư nhân, là một xu hướng khá rõ nét trong những lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp ở Trung Quốc suốt từ năm
1982 tới nay Sở hữu toàn dân ngày càng được nhận thức rõ hơn - là nền tảng trong nền kinh tế, tuy nhiên bên cạnh sở hữu toàn dân, xu hướng của Nhà nước Trung Quốc là khuyến khích tạo điều kiện để phát triển kinh tế tư nhân, những nội dung về khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, phi công hữu ngày càng được quy định rõ trong những lần sửa đổi Hiến pháp của Trung Quốc
Như vậy, có thể thấy luôn tồn tại hai chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất, mỗi quốc gia khác nhau có cách nhìn nhận về từng chế độ sở hữu khác nhau với con đường phát triển của riêng mình Không thể phủ nhận những thành quả từ việc xây dựng chế độ sở hữu ở mỗi nước, Ba Lan, Liên bang Nga đều là những quốc gia lớn mạnh với nhà nước TBCN cùng với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất cùng với sự quản lý điều tiết có hiệu quả của Nhà nước Bên cạnh đó, Trung Quốc đang là một quốc gia phát triển vượt bật đi theo con đường XHCN lấy công hữu làm nền tảng trong nền kinh tế Rõ ràng, vấn đề đặt
ra ở đây không hoàn toàn là ở chế độ công hữu hay tư hữu về tư liệu sản xuất, mà vấn đề cốt lõi ở đây là cách thức nhìn nhận và quản lý có hiệu quả của Nhà nước đối với từng chế độ sở hữu Ở Việt Nam chúng ta thời gian đầu đã có những nhận thức sai lầm về tư hữu cũng như con đường đi lên CNXH, vấn đề đặt ra hiện nay là Đảng và Nhà nước cần phải có những nhận thức thật đúng đắn về chế độ công hữu từ đó có những chính sách phát triển kinh tế hợp lý nhất
30
Văn phòng Quốc hội, Tuyển tập Hiến pháp một số nước trên thế giới tập 1, Nxb Thống kê Hà Nội, 2009, tr 240-
249
Trang 25CHƯƠNG 2 CÁC THÀNH PHẦN CỦA CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN Ở NƯỚC
TA
Ở chương 01, người viết đã trình bày những vấn đề lý luận liên quan đến chế độ sở hữu và chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta, trong chương này người viết sẽ đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề liên quan đến các thành phần của chế độ sở hữu toàn dân ở nước
ta bao gồm: về chủ thể của sở hữu toàn dân, tại sao đối với chế độ sở hữu toàn dân lại tồn tại về mặt lý luận đến hai chủ thể là Nhà nước và nhân dân nhưng về mặt pháp lý Nhà nước lại là chủ thể duy nhất của sở hữu toàn dân; cũng như các đối tượng thuộc sở hữu toàn dân; nội dung của sở hữu toàn dân như toàn dân có những quyền gì đối với tài sản
đó, quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với việc quản lý, sử dụng, khai thác tài sản của nhân dân cũng được trình bày trong phần này Từ đó chỉ ra được sự khác biệt giữa
sở hữu toàn dân với các hình thức sở hữu khác về chủ thể sở hữu
2.1 CHỦ THỂ CỦA SỞ HỮU TOÀN DÂN
Đúng như tên gọi, chủ thể của chủ sở hữu toàn dân đương nhiên là toàn thể nhân dân
Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là toàn thể nhân dân không thể tự mình thực hiện các
quyền sở hữu của chủ sở hữu được Bỡi lẽ, với dân số tính đến năm 2013 hiện nay vào khoảng 90 triệu người,31 không thể nào cùng là chủ sở hữu của một thửa đất, một con
31 Khánh Vũ- Lan Anh, 2013: Dân số Việt Nam đạt 90 triệu người, Dân Trí, 2008,
http://dantri.com.vn/suc-khoe/2013-dan-so-viet-nam-dat-90-trieu-nguoi-678161.htm , [ngày truy cập 15-10-2013]
Trang 26sông, một cánh rừng hay cùng là một chủ sở hữu của một doanh nghiệp Chính vì lẽ đó, đối với sở hữu toàn dân sẽ không giống với sở hữu hữu tư nhân hay sở hữu của tổ hợp tác,
hộ gia đình chỉ bao gồm một chủ thể duy nhất là chủ sở hữu thực hiện mọi quyền năng của một chủ sở hữu Ở sở hữu toàn dân, nhất thiết phải có một chủ thể giữ vai trò đại diện cho nhân dân đứng ra quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản của nhân dân một cách có hiệu
quả để phục vụ lại cho nhân dân Và với bản chất của Nhà nước ta là "Nhà nước của dân,
do dân vì dân", vì thế Nhà nước chính là chủ thể duy nhất của sở hữu toàn dân để quản lý
sử dụng tài sản thuộc sở hữu toàn dân Từ đó, nảy sinh thêm một quan hệ khá phức tạp đó
là chủ sở hữu là toàn dân và Nhà nước đại diện cho chủ sở hữu toàn dân
2.1.1 Chủ sở hữu là toàn dân
Chủ sở hữu tài sản thuộc sở hữu toàn dân là nhân dân như đã được quy định tại Hiến
pháp hiện hành ở Điều 17 Hiến pháp năm 1992: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước,
tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân, Điều 2
Hiến pháp quy định "Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức" Như vậy trong quan hệ của Hiến pháp, rõ ràng chủ thể toàn dân chính là nhân dân, nhân dân trên danh nghĩa chính là chủ thể của sở hữu toàn dân, do đó tồn tạo chế độ sở hữu toàn dân trong Hiến pháp là một lẽ tất nhiên vì có chủ thể là toàn dân theo luật Hiến pháp Tuy nhiên, về cơ chế thực hiện, như đã trình bày ở phần trên, nhân dân không thể là chủ sở hữu để quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình được từ đó xuất hiện thêm một chủ thể là Nhà nước đại diện cho chủ sở hữu nhân dân để quản lý tài sản thuộc sở hữu nhân dân
2.1.2 Nhà nước là đại diện chủ sở hữu
Nhà nước là đại diện duy nhất cho chủ sở hữu toàn dân Nhà nước ở đây được hiểu là Chính phủ và Quốc hội Đối với các tài sản thuộc sở hữu toàn dân sẽ do Chính phủ thống nhất quản lý, Chính phủ sẽ có nhiệm vụ quản lý và có trách nhiệm báo cáo với Quốc hội
(cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân) về các hoạt động quản lý của mình "Chính phủ
là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước
Trang 27Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam".32 mà "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam".33
Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất, đại diện cho lợi ích của nhân dân, đóng vai trò là người chủ sở hữu đối với những đối tượng thuộc sở hữu toàn dân như theo quy định của Hiến pháp hiện hành Đối với tài sản toàn dân, Nhà nước với vai trò đại diện duy nhất cho chủ sở hữu toàn dân để quản lý, các cơ quan Nhà nước không phải là người trực tiếp khai thác, sử dụng đây là điểm khác biệt giữa sở hữu toàn dân với các hình thức sở hữu khác, chủ sở hữu không phải là người trực tiếp khai thác, sử dụng tài sản Nhà nước chỉ đóng vai trò người đại diện cho nhân dân để quản lý nhằm đem lại lợi ích cho người dân Bên cạnh việc quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân, Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội- cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân về các hoạt động
của mình Cụ thể: "Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị,
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của
bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân".34
Như vậy, mặc dù Chính phủ là cơ quan trực tiếp quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân, nhưng Chính phủ vẫn phải báo cáo và chịu trách nhiệm trước Quốc hội Có thể thấy, Quốc hội và Chính là hai cơ quan có trách nhiệm đối với sở hữu toàn dân Mà hai chính thể này đều thuộc Nhà nước, do đó trong các văn bản quy phạm pháp luật đều ghi nhận Nhà nước chính là chủ thể đại diện cho toàn dân, Nhà nước là chính thể mang tính khái quát, còn Chính phủ sẽ trực tiếp quản lý tài sản toàn dân
2.2 ĐỐI TƯỢNG THUỘC SỞ HỮU TOÀN DÂN
Đối tượng thuộc sở hữu toàn dân rất đa dạng Theo điều 17 Hiến pháp 1992 thì: “Đất
đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các nghành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kĩ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc
32 Điều 1 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001
33
Điều 1 Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 sửa đổi bổ sung năm 2007
34 Điều 1 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001.
Trang 28sở hữu toàn dân”
Như vậy, phạm vi đối tượng thuộc sở hữu toàn dân rất rộng, trong tất cả các lĩnh vực như: công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải… Mặt khác đối tượng của sở hữu toàn dân là không hạn chế và ngoài những khách thể nói trên, các tài sản mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân Đối với các tài sản được xây dựng bằng vốn ngân sách là thuộc sở hữu toàn dân chứ không phải thuộc sở hữu nhà nước Bỡi lẽ, ngân sách là do toàn dân góp để hình thành và giao cho Nhà nước (thực ra là hệ thống cơ quan hành pháp) quản lý và sử dụng chứ không giao cho hệ thống
cơ quan này quyền sở hữu đối với tài sản đó Mặt khác, những di sản văn hóa lịch sử, những thắng cảnh, những khu bảo tồn sinh thái (chùa Một cột, đền thờ vua Hùng, Vịnh
Hạ Long, khu rừng quốc gia Cát Tiên vv ) cũng thuộc sở hữu toàn dân.35 Tương tự như vậy, đối với các phần vốn, tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, các công trình xây dựng thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh Đều là phần vốn góp từ thuế của nhân dân mà ra Sở dĩ các đối tượng trên đều thuộc sở hữu toàn dân là do: đây đều là các loại tài sản, tư liệu sản xuất quan trọng của quốc gia việc quy định chúng thuộc sở hữu tàn dân vừa có ý nghĩa về kinh tế chính trị vừa có ý nghĩa về an ninh quốc phòng
Về mặt chính trị: xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân
vì tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân nên không có bất cứ một tài sản nào của Nhà
nước nhưng lại không thuộc về nhân dân, rõ ràng các tài sản của quốc gia đều thuộc về nhân dân, từ đó phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, bởi chính nhân dân là chủ sở hữu của đất nước
Về mặt kinh tế: việc quy định các tài sản quan trọng trên thuộc sở hữu toàn dân sẽ tạo
ra sự bình đẳng giữa tất cả các công dân Việt Nam, tạo điều kiện cho tất cả mọi người có
cơ hội tiếp cận và sử dụng các tài sản tư liệu sản xuất một cách công bằng, bình đẳng nhất, sẽ không có sự phân biệt người giàu sẽ có được nhiều đất, nhiều tài nguyên , hơn những người nghèo khác, bỡi lẽ đây là sở hữu của tất cả mọi người ai cũng có quyền sử dụng, khai thác khi được Nhà nước cho phép, rõ ràng việc quy định tài sản thuôc sở hữu toàn dân góp phần rút ngắn khoản cách giàu nghèo trong xã hội Đồng thời còn tạo điều kiện cho tất cả mọi người có cơ hội bình đẳng với nhau trong việc sử dụng tài sản thuộc
sở hữu toàn dân để phát triển kinh tế
35
Tô Văn Tường, Sở hữu toàn dân, Báomới.com, 2012,
http://www.baomoi.com/So-huu-toan-dan/147/11475824.epi , [ngày truy cập 13-8-2013]