1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP bồi THUỜNG THIỆT hại đối với tài sản QUYỀN sở hữu TRÍ TUỆ lý LUẬN và THỰC TIỄN

87 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến năm 2005 Luật sở hữu trí tuệ ra đời tạo nên một cơ sở vững chắc hơn cho công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ khi các biện pháp hình sự, hành chính, dân sự trong đó có trách nhi

Trang 1

Lớp: Tư Pháp 1- K33

Cần Thơ, Tháng 11/2010

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

  

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

  

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

   BLDS: Bộ luật dân sự;

BKH&CN: Bộ khoa học và côgn nghệ;

BTP: Bộ tư pháp;

BTTH: Bồi thường thiệt hại;

BVHTT&DL: Bộ văn hóa thông tin và du lịch;

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao;

TRIPS: Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ TTLN: Thông tư liên ngành;

TTLT: Thông tư liên tịch;

UBTP: Ủy ban thẩm phán;

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 5

MỤC LỤC

  

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI THEO LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1.1 Lịch sử hình thành chế định bồi thường thiệt hại 3

1.1.1 Trong luật La Mã … 3

1.1.2 Trong luật dân sự và luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 4

1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Luật dân sự và Luật sở hữu trí tuệ 10

1.2.1.Theo quy định trong Luật dân sự 10

1.2.2 Theo quy định trong Luật sở hữu trí tuệ 15

1.3 Mối quan hệ giữa trách nhiệm bồi thường thiêt hại trong luật dân sự và trong luật sở hữu trí tuệ.… 16

1.3.1 Giống nhau 16

1.3.2 Khác nhau 17

1.4 Sự cần thiết của các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ 19

1.4.1 Về mặt kinh tế 19

1.4.2 Về mặt xã hội 21

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI TÀI SẢN- QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ 24

Trang 6

2.1.1 Có thiệt hại xảy ra đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ 24

2.1.2 Có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 33

2.1.3 Có lỗi của người xâm phạm 38

2.1.4 Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật 39

2.2 Căn cứ xác định mức bồi thường do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 40

2.2.1 Mức bồi thường đối với thiệt hại vật chất 43

2.2.2 Mức bồi thường đối với thiệt hại tinh thần 47

2.2.3 Thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư 48

2.3 Pháp luật về trách nhiệm bồi thuờng thiệt hại đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ ở một số quốc gia 51

2.3.1 Hoa Kỳ 51

2.3.2 Nhật bản 53

2.3.3 Tây Ban Nha 53

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI TÀI SẢN- QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 3.1 Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và thực tiễn áp dụng chế định bồi thường thiệt hại đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ 56

3.1.1 Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 56

3.1.2 Thực tiễn áp dụng chế định BTTH để giải quyết tranh chấp đối với tài sản - quyền sở hữu trí tuệ 63

3.2 Nguyên nhân và giải pháp 68

3.2.1 Nguyên nhân 68

3.2.2 Giải pháp 72

3.3 Ý kiến đề xuất 74

3.3.1 Hoàn thiện pháp luật và thực hiện các phương pháp về xác định giá trị tài sản- quyền sở hữu trí tuệ 75

3.3.2 Hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ 76

KẾT LUẬN 79

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tài sản- quyền sở hữu trí tuệ đang ngày càng đóng góp một vai trò to lớn trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và góp phần thực hiện thành công đường lối chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế Vì hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế cuốn theo việc mở rộng giao lưu kinh tế và khoa học công nghệ giữa các quốc gia trên thế giới Để tiến tới hội nhập kinh tế theo hướng toàn cầu của thế giới thì hệ thống pháp luật Việt Nam cần có những điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu chung Trong đó, pháp luật về sở hữu trí tuệ cần được quan tâm hơn nữa Trong nền kinh tế thị trường khi mà tài sản- quyền sở hữu trí tuệ ngày càng chiếm một vị thế quan trọng bởi theo nhiều chuyên gia đánh giá “tài sản trí tuệ là thướt đo cho những thành công trong nền kinh tế hiện đại” Song một thực trạng làm đau đầu các cơ quan chức năng và làm mất đi lòng tin của nhiều chủ sở hữu quyền

là thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang gia tăng và diễn biến rất phức tạp Trước đây, các văn bản điều chỉnh về quyền sở hữu trí tuệ không được quy định tập trung mà nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau từ luật, nghị định và cả thông

tư Cho đến năm 2005 Luật sở hữu trí tuệ ra đời tạo nên một cơ sở vững chắc hơn cho công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ khi các biện pháp hình sự, hành chính, dân sự trong đó có trách nhiệm bồi thường bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ đã được quy định Vì thực trạng xâm phạm xảy ra phức tạp đòi hỏi các bện pháp chế tài cũng cần nghiêm khắc để tạo tính răn đe và đem lại công bằng cho các chủ sở hữu quyền

Chính vì những lẽ trên, tìm hiểu, phân tích những biện pháp xử lý vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại một cách có hệ thống để hiểu rõ những quy định của pháp luật và áp dụng vào thực tiễn cho đúng đắn là rất cần thiết Đó cũng chính là lý do người viết chọn đề tài

2 Mục tiêu nghiên cứu

Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ khi có hành vi xâm phạm xảy ra được xem như một nghĩa vụ Một chủ thể khi thực hiện hành vi xâm phạm gây thiệt hại thì có nghĩa vụ bồi thường cũng như chủ thể gánh chịu thiệt hại thì có quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại Đây là quyền chính đáng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Vấn đề đặt ra là khi nào phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, ai gánh chịu trách nhiệm bồi thường, ai sẽ được bồi thường, làm cách nào

để xác định được giá trị của tài sản quyền bị xâm phạm để yêu cầu bồi thường cũng

Trang 8

như những thiệt hại nào là thiệt hại được bồi thường và mức bồi thường là bao nhêu? Đó chính là những gì mà người viết quan tâm khi nghiên cứu đề tài này

3 Phạm vi nghiên cứu

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tài sản quyền sở hữu trí tuệ bao gồm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và thiệt hại ngoài và hợp đồng Trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung phân tích về phần bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ khi bị xâm phạm, vì trên thực tế trong giai đoạn hiện nay thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra rất phổ biến Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu người viết cũng chỉ xoay quanh hai đối tượng là quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là chủ yếu còn đối tượng giống cây trồng người viết chỉ khái quát những gì chung nhất

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài, người viết đã sử dụng nhiều phương pháp Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp những bài nghiên cứu, ý kiến của các luật gia, quy định của pháp luật Việt Nam và một số quốc gia khác,…kết hợp phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu những quy định của pháp luật để tìm ra điểm mới, những mặt đã đạt được cũng như những mặt còn hạn chế để có thể đưa ra những giải pháp cần thiết, từ đó

có được một bài nghiên cứu hoàn chỉnh

5 Kết cấu đề tài

Đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo luật dân sự

Việt Nam và Luật sở hữu trí tuệ

Chương 2 Những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

đối với tài sản-quyền sở hữu trí tuệ

Chương 3 Thực tiễn áp dụng chế định bồi thường thiệt hại đối với tài sản-

quyền sở hữu trí tuệ Nguyên nhân, giải pháp và ý kiến đề xuất

Trang 9

Giai đoạn thứ nhất, trong thời kỳ cổ đại, khi chính quyền còn chưa được tổ chức một cách vững chắc thì các cá nhân, mỗi khi bị xâm phạm vào quyền và lợi ích của mình được tự ý trả thù để trừng trị đối phương, hoặc bắt người có hành vi xâm phạm làm nô lệ Đây được gọi là chế độ tư nhân phục thù

Giai đoạn thứ hai, người gây tổn hại có thể nộp một số tiền chuộc hay thục kim cho nạn nhân Chế độ này còn gọi là chế độ thục kim và nó trải qua hai giai đoạn

phát triển: Thứ nhất, khi chưa có sự can thiệp của pháp luật, các bên tự ý thỏa thuận với nhau về tiền chuộc, đó là lỗi tự nguyện Thứ hai, nhờ sự can thiệp của chính

quyền, các bên tranh chấp buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền chuộc lỗi theo ngạch giá do pháp luật quy định, đó là chế độ thục kim bắt buộc Tiền thục kim này có thể xem như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất bồi thường thiệt hại Vào thời kỳ Luật 12 bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu chuyển từ chế độ tự

ý thục kim sang thục kim bắt buộc Ở thời kỳ này Luật 12 bảng đã ghi nhận quyền khiếu nại bồi thường của người bị hại và xác lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại của những người vi phạm gây thiệt hại

Giai đoạn thứ ba, chứng kiến sự phân biệt hai loại trách nhiệm dân sự và hình sự Chính quyền trước hết can thiệp trừng phạt những tội phạm chỉ liên quan đến trật tự

xã hội, không liên hệ đến cá nhân Đây là sự can thiệp rất cần thiết Sự can thiệp của chính quyền dần dần được nới rộng đến các hành vi phạm pháp liên quan đến quyền

và lợi ích của các cá nhân như hành vi trộm cắp Về phương diện hình sự cá nhân mất hết quyền phục thù chỉ còn quyền xin bồi thường thệt hại về dân sự

Tuy trong một số trường hợp, Luật La Mã đã tiến tới phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự, nhưng nhà làm luật chưa quy định hẳn một nguyên tắc trách nhiệm tổng quát, bắt buộc người gây thiệt hại phải bồi thường bất luận trong trường hợp nào

Trang 10

1.1.2 Trong luật dân sự và luật sở hữu trí tuệ Việt Nam

1.1.2.1 Thời Lê, Nguyễn

Ở Việt Nam nhà nước phong kiến hình thành và tồn tại qua nhiều thời đại Mỗi triều đại đều xây dựng cho nhà nước mình một hệ thống pháp luật để làm công

cụ quản lý nhà nước Trong các triều đại phong kiến có thể nói thời Lê là một trong những thời kỳ có vị trí đặc biệt trong quá trình hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam1 Với những đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội có thăng trầm biến đổi đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của pháp luật thời Lê và những chế định về pháp luật dân sự là một trong số đó

Bên cạnh việc chăm lo phát triển kinh tế xã hội thì việc xây dựng hệ thống pháp luật vững chắc để củng cố quyền lực có thể xem là đặc điểm của các triều đại phong kiến Việt Nam Và thời Lê là triều đại đạt khá nhiều thành tựu về hoạt động lâp pháp trong thời kỳ nhà nước phong kiến Một trong những thành tựu đó phải kể đến

bộ Quốc triều hình luật, một sản phẩm có giá trị to lớn trong hệ thống pháp luật thời

lệ

Pháp luật dân sự và pháp luật hình sự cũng chưa tách biệt nhau đó cũng chính là đặc điểm của pháp luật thời Nguyễn Vì những đặc điểm của pháp luật trong các thời kỳ này Cho nên, khi nghiên cứu pháp luật thời Lê (Quốc triều hình luật) và pháp luật thời nhà Nguyễn (Hoàng Việt luật lệ), chúng ta nhận thấy các chế định về trách nhiệm dân sự được quy định sơ sài và tản mạn Các quy định này không phân biệt rõ trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự2

Trang 11

Trong cả hai bộ luật đều không đưa ra một khái niệm cụ thể nào về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng và trong hợp đồng mà chỉ có thể suy đoán từ những điều luật Chẳng hạn, trong trường hợp đánh người gây thương tích quy định tại Điều 466 Quốc triều hình luật thì ngoài hình phạt kẻ đánh người còn phải bồi thường thiệt hại bằng tiền cho nạn nhân theo giá ngạch “ sưng, phù thì phải đền tiền thương tích ba tiền; chảy máu thì một quan; gãy một ngón tay, một răng thì đền mười quan; đâm chém bị thương thì đền mười lăm quan; đọa thai chưa thành hình đền ba mươi quan,

đã thành hình đền năm mươi quan; đứt lưỡi và hỏng âm, dương vật thì đền một trăm quan; đối với người quyền quý thì lại xử khác” Trong hai bộ luật này đều đưa ra hai vấn đề chính của trách nhiệm dân sự đó là: Các yếu tố làm phát sinh trách nhiệm dân sự và việc bồi thường thiệt hại Đây là điểm tiến bộ của cả hai bộ luật vì có những quy định giống một số quy định của pháp luật hiện đại về chế định trách nhiệm dân sự mặc dù như đã nói pháp luật thời kỳ này chưa có sự tách biệt luật dân

sự với các ngành luật khác cũng như chưa có một khái niệm bồi thường thiệt hại cụ thể nào

Một trong những đóng góp quan trọng đó là trong thời kỳ này là cả hai bộ luật

đã bước đầu phân biệt về thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần mặc dù thuật ngữ

“thiệt hại về tinh thần” không được đề cập nhưng thông qua một số điều luật cụ thể, chúng ta có thể suy đoán đó là thiệt hại về tinh thần Ví dụ, Điều 472 Quốc triều hình luật quy định trường hợp đánh các quan chức bị thương, ngoài tiền bồi thường thương tích, người gây thiệt hại còn phải đền tiền tạ tương tự, hay với quy định tại các Điều 473, Điều 474 thì các khoản tiền tạ có thể được hiểu là khoản bồi thường thệt hại về tinh thần cho các vị quan lại phong kiến tùy theo địa vị xã hội của họ do nhân phẩm, danh dự uy tín bị xâm phạm3 Ngoài ra, sự bồi thường do gây thiệt hại

về tinh thần được dự liệu chung cho tất cả mọi người trong trường hợp từ hôn (Điều

315 Quốc triều hình luật và Điều 94 Hoàng Việt luật lệ)4

Còn các thiệt hại về vật chất đã được đề cập đến trong hầu hết các điều luật liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, tài sản

và thiệt hại vật chất được hiểu là những tổn thất vật chất thực tế Ví dụ, Điều 29 Quốc triều hình luật quy định về trường hợp bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng: “Tiền đền mạng- nhất phẩm, tòng nhất phẩm được đền tiền 15.000 quan; nhị phẩm, tòng nhị phẩm 9.000 quan; tam phẩm, tòng tam phẩm 7.000 quan; tứ

3 Bộ Tư Pháp- Viên nghiên cứu khoa hoc pháp lý Một số vấn đề về Pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc, Nxb Chính trị Quốc gia, 2008, tr 180

4 Bộ Tư Pháp- Viên nghiên cứu khoa hoc pháp lý Một số vấn đề về Pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc,Nxb Chính trị Quốc gia, 2008, tr 181

Trang 12

phẩm tòng tứ phẩm 5.000 quan; ngũ phẩm tòng ngũ phẩm 2.000 quan; lục phẩm tòng lục phẩm 1.000 quan; thất phẩm tòng thất phẩm 500 quan; bát phẩm đến cửu phẩm 300 quan, thứ nhân trở xuống 150 quan” hay ở Điều 391 Hoàng Việt luật lệ quy định: Các tài sản ở kinh thành, hay tỉnh, các nơi công sảnh, thương khố, phòng

xá hư hại, cần sửa chữa thì các quan cai quản phải xin sửa sang Nếu không sửa sang làm hư hại đến tài sản đó thì bị phạt và phải bồi thường những vật bị hư hại

Như vậy trong luật cổ Việt Nam chưa có sự phân biệt rõ rệt giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự Tuy chỉ được coi là yếu tố cấu thành trong trách nhiệm hình sự và chưa được coi là là một chế định riêng biệt về trách nhiệm dân sự (tức là chỉ bắt người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại mà không trừng phạt về hình sự) song hai bộ luật Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ cũng đã ý thức được vai trò của bồi thường thiệt hại cũng vì thế mà trách nhiệm bồi thường thiệt hại

đã dần dần có xu hướng tách khỏi trách nhiệm hình sự Mặc dù các quy định nêu trên chỉ áp dụng trong một phạm vi giới hạn Song điều này chứng tỏ khái niệm trách nhiệm dân sự tuy chưa được quy định cụ thể nhưng không phải là xa lạ trong luật cổ Việt Nam Có thể nói những ý niệm này đã manh nha và cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật dần dần được định thành với tư cách là một chế định trách nhiệm

1.1.2.2 Thời Pháp thuộc đến trước Cách Mạng tháng Tám 1945

Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nhà Nguyễn thỏa hiệp Việt Nam bước vào thời kỳ đất nước bị chia cắt thành Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ

Do nhận thức được vị trí, vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội nên sau khi xâm chiếm Việt Nam và để bước đầu để thực hiện quyền được quy định trong cái gọi là “Hiệp ước hòa bình và hữu nghị” ngày 05 tháng 6 năm 1862 thực dân Pháp đã

tổ chức bộ máy cai trị của chúng và ban hành Bộ luật dân sự đầu tiên tại Việt Nam Thời kỳ pháp thuộc, do tiếp thu được sự tiến bộ của khoa học pháp lý phương tây, trách nhiệm dân sự đã được tách khỏi trách nhiệm hình sự Trách nhiệm BTTH

sẻ được xem xét trong hai bộ luật: Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật Người nào làm bất cứ việc gì gây thiệt hại cho người khác do lỗi của mình đều phải bồi thường thiệt hại (Điều 712 Dân luật Bắc kỳ và Điều 716 Hoàng Việt Trung kỳ

hộ luật quy định) Thiệt hại được quy định trong hai Bộ luật Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật cũng được chia ra thành thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần5

5 Bộ Tư Pháp- Viên nghiên cứu khoa hoc pháp lý Một số vấn đề về Pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc, Nxb Chính trị Quốc gia, 2008, tr 192

Trang 13

Trong Điều 528 Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt trung kỳ hộ luật có quy định: trong khi quản lý tài sản của người được giám hộ gây thiệt hại cho tài sản của người được giám hộ thì người giám hộ phải bồi thường thiệt hại ấy Thiệt hại vật chất là những thiệt hại thực tế, tính được thành tiền6

Còn đối với thiệt hại về tinh thần: Pháp luật bảo hộ quyền của người dân trong việc khai sinh, khai tử, kết hôn Luật cũng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại

về tinh thần trong trường hợp từ hôn Chẳng hạn, Điều 71 Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt trung kỳ hộ luật quy định: Bên nào bỏ lời hứa về việc giả thú mà không

có duyên cớ chính đáng vì lỗi của bên ấy, thì phải chịu trách nhiệm bồi thường sự tổn hại

Nền tản cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về sau, đặc biệt là trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì có thể nói những thành tựu của pháp luật thời

Lê, Nguyễn và thời Pháp thuộc có vi trò rất to lớn Pháp luật ở mỗi thời kỳ đều có những thành tựu và giá trị nhất định nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế Trong pháp luật thời Lê, Nguyễn hay Pháp thuộc cũng không ngoại lệ vì không ai

dự liệu được hết các quan hệ xã hội mới sẽ phát sinh Chính những điểm còn hạn chế đó tạo điều kiện để những quy định mới hợp lý hơn được pháp luật quy định làm nên sự tiến bộ trong quá trình lập pháp và những quy định của pháp luật Việt Nam trong các giai đoạn về sau đã phần nào nói lên điều đó

1.1.2.3 Từ sau Cách Mạng tháng Tám 1945 đến nay

Thời kỳ Pháp thuộc hai Bộ luật Dân sự Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ là công cụ để bọn thực dân cai trị xã hội, nhưng sau ngày Cách mạng tháng tám thành công do nhiệm vụ cấp thiết nên Hiến pháp năm 1946 cùng các văn kiện của Đảng cũng chưa đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi sau Cách mạng Tháng Tám đất nước lao vào cuộc chiến chống cả đế quốc và thực dân Mãi đến Hiến pháp năm 1959 khái niệm bồi thường thiệt hại được manh nha khi pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước (Điều 20 Hiến pháp 1959) Tuy vậy đây cũng có thể xem như một bước tiến trong quá trình xây dựng chế định bồi thường thiệt hại nói chung cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong khi đất nước đang trong giai đoạn đấu tranh quyết liệt

Năm 1972, thông tư hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Thông

tư số 173/UBTP ngày 23/02/1972) được Tòa án tối cao ban hành khi đó việc giải

6 Bộ Tư Pháp- Viên nghiên cứu khoa hoc pháp lý Một số vấn đề về Pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc, Nxb Chính trị Quốc gia, 2008, tr 191

Trang 14

quyết BTTH ngoài hợp đồng không được coi là việc áp dụng biện pháp hình sự hay

là một hình phạt phụ “Tính mạng con người là vô giá không thể tính toán thiệt hại

cụ thể thành tiền được Sức khỏe con người cũng rất quý, khó có thể đánh giá thiệt hại một cách chính xác Vì vậy, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe có ý nghĩa thực chất là đền bù một phần nào đó thiệt hại về vật chất tạo điều kiện cho nạn nhân hay gia đình họ khắc phục khó khăn do tai nạn gây nên, và trong một số ít trường hợp chỉ có ý nghĩa là một trợ cấp gồm các khoản chi phí về nạn nhân và thiệt hại do thu nhập bị giảm sút hay bị mất” quy định tại phần III mục B tính toán thiệt hại và ấn định mức bồi thường thiệt hại về tài sản, về tính mạng, sức khỏe

Khi xã hội phát sinh những quan hệ mới và xảy ra mâu thuẫn thì vấn đề đặt ra là cần có những quy định mới của pháp luật để điều chỉnh Hàng loạt các thông tư ra đời để đáp ứng nhu cầu thực tế như (Thông tư 03/TAND ngày 05 tháng 4 năm

1983, Thông tư liên ngành 04/TTLN ngày 03 tháng 5 năm 1990) Khi đó thì nạn nhân, người bị xâm phạm đã có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

So với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới thì hệ thống pháp luật của

Việt Nam liên quan đến sở hữu trí tuệ hình thành muộn hơn rất nhiều Mãi đến những năm đầu của thập kỷ 80 một số văn bản về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đầu tiên ở Việt Nam mới ra đời nhưng khi đó các văn bản pháp luật về bảo hộ không quy định chung về bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp như trong Luật sở hữu trí tuệ hiện nay mà đó là các văn bản riêng lẻ

Chẳng hạn như: Nghị định 31/CP ngày 31 tháng 1 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về sáng chế cải tiến kỷ thuật hợp lý hóa sản xuất và sáng chế, Pháp lệnh về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28 tháng 1 năm 1989 hay Nghị định số 142- HĐBT ngày 14 tháng 11 năm 1986 của Hội đồng bộ trưởng quy định về quyền tác giả, Pháp lệnh về bảo hộ quyền tác giả ngày 02 tháng 12 năm

1994 Đối với quyền sở hữu công nghiệp các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp cũng như cơ

sở xác định thiệt hại có thể nói lần đầu tiên được manh nha ở các quy định tại Thông

tư số 03/NCLP ngày 22 tháng 7 năm 1989 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử một số tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp

Đến năm 1992 khi Hiến pháp lần thứ tư được ban hành, thì những giá trị tinh thần của con người được trú trọng, quan tâm hơn Ví dụ, Điều 71 Hiến pháp 1992

“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân” Hay tại Điều 72 Hiến pháp

Trang 15

1992 cũng có quy định “ Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật

có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự ” Đặc biệt là khi có người xâm phạm đến quyền lợi của mình người bị thiệt hại có quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự (Điều 74 Hiến pháp 1992)

Quyền về vật chất và tinh thần càng thể hiện rỏ hơn khi có sự ra đời của Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994 Khi quyền của mình bị xâm phạm tác giả có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại (Điều 42 Pháp lệnh) Đây có thể xem như sự ra đời của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, chưa có một văn bản hướng dẫn chi tiết việc áp dụng trên một cách cụ thể Bước vào giai đoạn xây dựng đất nước theo đường lối đặt ra tại Đại hội Đảng lần thứ VI cùng với việc tiếp tục phát huy vai trò của Hiến pháp 1992 cũng như các văn bản hướng dẫn giải quyết tranh về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng trước đó , dần dần tạo nên sự hoàn chỉnh hơn pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, khi đất nước đang trong quá trình phát triển và hàng loạt các quan hệ xã hội mới nảy sinh khi đó với một số văn bản rời rạt không thể đáp ứng được nhu cầu giải quyết các tranh chấp về dân sự nói chung cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà trong đó có các tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ

Đến khi Bộ luật dân sự 1995 ban hành các vấn đề liên quan đến quyền tác giả

và quyền SHCN sẽ được điều chỉnh tập trung bằng BLDS Bộ luật cũng dành cả phần 6 (quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ) để quy định về quyền sở hữu trí tuệ nhưng phần lớn đó chỉ là các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Còn các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì chưa thể đáp ứng yêu cầu được điều chỉnh của loại tài sản trí tuệ này Nhưng cũng phải nhìn nhận với Thông tư liên tịch Tòa án nhân dân tối cao-Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ văn hóa-thông tin số 01/2001/TANDTC-VKSNDTC-BVHTT ngày 05 tháng 12 năm 2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền tác giả tại Tòa

án nhân dân thì các quy định về bồi thường thiệt hại đối với quyền tác giả được quy định cụ thể hơn Khoản 1 mục III của thông tư đã chỉ ra được bồi thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần nhưng việc xác định thiệt hại lại dựa vào quy định của các Điều 609, 610, 611 và Điều 615 của bộ luật dân sự 1995 để áp dụng

Bộ luật Dân sự 1995 được ban hành góp phần giải quyết yêu cầu đặt ra và tạo tiền đề cho những quy định phù hợp hơn, hoàn chỉnh hơn, thống nhất hơn ở Bộ luật dân sự 2005 Hai bộ luật được đưa vào áp dụng trong thực tế với các văn bản hướng

Trang 16

dẫn thi hành (Nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành bộ luật dân sự

1995 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự 2005) Cho đến khi các quy định về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp được quy định chung trong một luật riêng (Luật sở hữu trí tuệ năm 2005) các biện pháp chế tài trong lĩnh vực này cũng được quy định cụ thể hơn (Điều 202 quy định về các biện pháp dân sự xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ) Đặc biệt Luật sở hữu trí tuệ đã có các quy định về nguyên tắc xác định thiệt hại (Điều 204), căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền SHTT (Điều 205) cũng như những quy định khá cụ thể trong các văn bản Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân góp phần làm cho các quy định về trách nhiệm BTTH cũng như vấn đề bảo hộ đối với tài sản trí tuệ trở nên đầy đủ hơn trước

Tuy Bộ luật dân sự 2005 chưa có thể dự định được tất cả những quan hệ pháp luật cần điều chỉnh trong quá trình xây dựng bộ luật này nhưng cho đến nay có thể nói bộ luật dân sự 2005 là bộ luật có những quy định khá đầy đủ các chế định về trách nhiệm dân sự cũng như trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng

Nói tóm lại, với những quy định về bồi thường thiệt hại trong dân sự nói chung và trong Luật sở hữu trí tuệ nói riêng đã làm cho những quy định của chế định bồi thường thiệt hại trở nên hoàn thiện hơn, tạo nên một hành lang pháp lý an toàn hơn cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật này

1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Luật dân sự và Luật sở hữu trí tuệ

1.2.1.Theo quy định trong Luật dân sự

1.2.1.1.Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Khái niệm

Để đưa ra khái niệm BTTH ta cần làm rõ thiệt hại là gì? Khi nào có thiệt hại xảy ra? Thiệt hại là sự mất mát mà một chủ thể của quan hệ pháp luật phải gánh chịu, là sự thay đổi tình trạng theo chiều hướng xấu: một người có một tài sản và bị mất tài sản đó, một người có sức khỏe bình thường nay trở nên yếu đi,… Tình trạng

bị thay đổi có thể là tình trạng vật chất hoặc tình trạng tinh thần (danh dự, uy tín)

Trang 17

Trách nhiệm dân sự phát sinh khi xảy ra quan hệ dân sự và thiệt hại giữa hai chủ thể người bị thiệt hại và người gây thiệt hại

Vậy trách nhiệm BTTH là gì? Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 307 BLDS 2005 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định trong chương XXI của bộ luật này Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường,…

Sống trong xã hội mỗi người phải tôn trọng các quy tắc chung của xã hội, không thể xâm phạm đến lợi ích của người khác chỉ vì quyền lợi của riêng mình Khi một người có hành vi vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây ra tổn hại cho người khác thì phải gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất mà mình đã gây ra

và đó được hiểu là bồi thường thiệt hại hay nói cách khác bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm ràng buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải bù đắp, đền bù những tổn thất về vật chất, tinh thần cho bên bị vi phạm7

 Đặc điểm

Ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật, được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước,… thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn

có những đặc điểm riêng của loại trách nhiệm này:

điều chỉnh của pháp luật dân sự Một người sẻ phải gánh chịu trách nhiệm BTTH khi có hành vi gây ra thiệt hại cho một chủ thể khác và bồi thường thiệt hại là một quan hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh, được quy định ở Điều 307 và Chương XXI của BLDS 2005 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật dân sự này

Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện

phát sinh loại trách nhiệm này cụ thể là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự (gồm có nghĩa vụ trong hợp đồng và ngoài hợp đồng), có lỗi của chủ thể gây thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra Có thể nói đây là điều kiện chung nhất nhưng trong một số trường hợp nhất định trách nhiệm BTTH cũng có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện

7 Nguyễn Ngọc Điện, 1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999, tr 8

Trang 18

vừa nêu và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là một ví dụ minh chứng

Thứ ba, người gây thiệt hại phải chịu một hậu quả bất lợi về tài sản do trách

nhiệm bồi thường thiệt hại mang đến Vì tổn thất của người bị thiệt hại có thể tính toán được bằng tiền hoặc được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định Do đó những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để những tổn thất của người bị thiệt hại cũng được bù đắp một cách xứng đáng và góp phần khôi phục lại những thiệt hại mà chủ thể bị thiệt hại đã gánh chịu

Thứ tư, ngoài những chủ thể trực tiếp gây ra thiệt hại phải có trách nhiệm bồi

thường thiệt hại thì chế định BTTH còn quy định một số chủ thể khác cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại như cha, mẹ của người chưa thành niên, pháp nhân đối với pháp nhân của người gây thiệt hại,…

1.2.1.2 Một số loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Luật dân sự  Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân thành trách nhiệm BTTH theo hợp đồng và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự mà theo đó người

có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại cho bên còn lại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất do hành vi của mình đã gây ra

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng phát sinh trên cơ sở:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng phải dựa trên cơ

sở một hợp đồng có trước nghĩa là đã có một quan hệ hợp đồng giữa chủ thể gây thiệt hại và chủ thể được hưởng bồi thường Trường hợp hai bên không tồn tại một hợp đồng thì khi có thiệt hại xảy ra đó sẽ là những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng và lúc đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại đặt ra là loại trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Những trường hợp có nguyên nhân làm cho hợp đồng không tồn tại như: hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ hợp đồng, thì trách nhiệm bồi thường là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng

Các chủ thể trong quan hệ hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng tức là họ có hành vi vi phạm hợp đồng khi đó sẽ làm phát sinh trách nhiệm BTTH theo hợp đồng Cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng cả trong trường hợp dù hai bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại gây ra không phải do vi phạm hợp đồng Ví dụ, giữa A và công ty vận chuyển hành

Trang 19

khách B có giao kết một hợp đồng vận chuyển nhưng trong quá trình vận chuyển công ty B đã gây ra thiệt hại đến sức khỏe và tính mạng cho A khi đó trách nhiệm BTTH phát sinh là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vì tính mạng, sức khỏe được pháp luật bảo vệ trừ trường hợp có thỏa thuận

Trong quan hệ hợp đồng chủ thể gây thiệt hại và chủ thể bị thiệt hại là các bên trong hợp đồng Hành vi gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến lợi ích của một bên trong hợp đồng Do đó, trong trường hợp một chủ thể thứ ba nào đó có lỗi gây thiệt hại cho một trong các bên của hợp đồng hoặc ngược lại thì khi đó cũng chỉ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng mà thôi

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tức là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng dẫn đến việc gây ra thiệt hại

 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là một loại trách nhiệm dân sự nhưng khác với trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bởi trong trường hợp một chủ thể nào đó có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì mới làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Hiện nay, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định chủ yếu trong những trường hợp có xâm phạm về tài sản,

về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hay uy tín của chủ thể bị xâm phạm Trên cơ sở những thiệt hại xảy ra cũng như những lợi ích bị xâm phạm mà trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân thành trách nhiệm BTTH về vật chất và trách nhiệm BTTH về tinh thần

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại8

Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS;

8 Điều 307 Bộ luật dân sự 2005

Trang 20

thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải

là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu9

Với việc phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thành hai

loại thiệt hại này có ý nghĩa khi xác định mức bồi thường cũng như nghĩa vụ chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp Trong trường hợp BTTH tài sản là vật chất, theo nguyên tắc bên bị thiệt hại phải chứng minh được thiệt hại của mình và khi đó mức bồi thường sẽ bằng với mức thiệt hại Nhưng nếu trong trường hợp trách nhiệm BTTH là tinh thần thì thế nào? Ta cần thấy rõ một điều việc chứng minh và tính toán thiệt hại về tinh thần là rất khó khăn Vì vậy cho nên pháp luật cần quy định cách thức tính toán và mức bồi thường về loại trách nhiệm này để cơ quan

có thẩm quyền áp dụng giải quyết tranh chấp khi có hành vi xâm phạm gây ra những thiệt hại về tinh thần

 Những điểm giống và khác nhau giữa bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

- Giống nhau

Cả hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong và ngoài hợp đồng đều phát

sinh từ sự vi phạm một nghĩa vụ có thể nghĩa vụ đó do luật quy định hoặc do ý chí của các bên liên quan Về bản chất pháp lý, cả hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại này đều là trách nhiệm mang tính chất của loại trách nhiệm tài sản nhằm khôi phục những tổn thất vật chất cho người bị hại

Trang 21

Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định, không phát sinh trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên

Có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi là những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong khi trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng các bên có thể thỏa thuận các điều kiện phát sinh trách nhiệm khi không cả có đủ các điều kiện như trong bồi thường thiệt ngoài hợp đồng Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thường bao gồm cả thiệt hại vật chất và thiệt hại về tinh thần được xác định theo quy định của pháp luật Còn bồi thường thiệt hại theo hợp đồng xác định trên sự thỏa thuận giữa các bên đó thường

là các thiệt hại về vật chất (một khoản bồi thường cụ thể hay xác định theo thiệt hại thực tế) ít khi đó là các thiệt hại tinh thần trừ khi hai bên có sự thỏa thuận từ ban đầu

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể áp dụng với các chủ thể khác ngoài chủ thể gây thiệt hại như đối với cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đối với pháp nhân, Nhưng chủ thể trong trách nhiệm BTTH theo hợp đồng sẽ là các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng chỉ trừ một số trường hợp có sự đồng ý trong thỏa thuận của các bên Nhìn chung, việc phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại thành trách nhiệm bôi thường thiệt hại theo hợp đồng và ngoài hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự Nguyên đơn sẽ phải chứng minh thiệt hại là do bên gây thiệt hại vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng còn trong BTTH ngoài hợp đồng bên bị thiệt hại phải chứng minh được hành vi gây thiệt hại là hành

vi trái pháp luật bên cạnh việc chứng minh thiệt hại của mình

1.2.2 Theo quy định trong Luật sở hữu trí tuệ

Tài sản trí tuệ và sở hữu trí tuệ là gì? Tài sản trí tuệ là tài sản được thừa nhận từ những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo và việc sở hữu các tài sản trí tuệ được gọi là SHTT hay nói cách khác tài sản trí tuệ là sản phẩm do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo, bao gồm các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật (tiểu thuyết thơ ca, các tác phẩm điêu khắc, hội

họa ) và các thành quả sáng tạo khoa học kỹ thuật (sáng chế, giải pháp hữu ích,

kiểu dáng công nghiệp ) và SHTT là khái niệm dùng để chỉ quyền của chủ thể đối với tài sản trí tuệ tương ứng Sở hữu trí tuệ được chia thành hai lĩnh vực chủ yếu bao gồm sở hữu công nghiệp và bản quyền

Trang 22

Vai trò và ý nghĩa của hoạt động tạo ra sản phẩm trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng hơn trong sự nghiệp phát triển của khoa học, công nghệ, kinh tế- xã hội đối với đa số các quốc gia trên thế giới và hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này cũng được xem trọng Tuy nhiên, cũng có những quốc gia hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về sản phẩm trí tuệ chưa có sự thống nhất và chặt chẽ Do

đó, có sự tồn tại ba quan điểm khác nhau về vấn đề này

 Có những quan điểm khác nhau ở những nước phát triển và những nước chậm phát triển

Một quan điểm xem sản phẩm trí tuệ là của những người sáng tạo ra có quyền

tư hữu và được nhà nước bảo hộ cho ra đời thuật ngữ sở hữu trí tuệ ở các nước công nghiệp phát triển

Và một quan điểm khác không phủ nhận quyền tư hữu sản phẩm trí tuệ nhưng cũng không thừa nhận quyền này là trường hợp đối với các quốc gia chậm phát triển Nhưng trong gia đoạn gần đây đã dần có sự thay đổi rõ rệt hơn khi họ chuyển sang chấp nhận quyền tư hữu SHTT Đó là sự thay đổi đáng ghi nhận khi các nước ngày càng xem SHTT là nội dung quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế tạo cơ hội phát triển cho các quốc gia trong thời kỳ hội nhập

Tài sản là quyền sở hữu trí tuệ ngày càng quan trọng trong các cơ sở sản xuất kinh doanh và làm cho tỷ trọng của loại tài sản này ngày càng tăng tỷ trọng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ Đặc biệt, tài sản- quyền sở hữu trí tuệ càng khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò và ý nghĩa của mình bằng sự xuất hiện trong các quy định của Hiệp định tổng quát về thương mại và thuế quan (GATT) ký kết ngày 25 tháng 12 năm 1994

Ở nước ta, trong thời gian gần đây đã chú trọng xây dựng hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bởi trong thời kỳ hội nhập mỗi một lĩnh vực muốn phát triển và cạnh tranh lành mạnh trước hết mỗi quốc gia nên xây dưng một hành lang pháp lý phù hợp để bảo vệ chủ thể có quyền đối với tài sản là quyền SHTT

1.3 Mối quan hệ giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Luật dân sự và

trong Luật sở hữu trí tuệ

1.3.1 Giống nhau

Cũng xuất phát là những quan hệ pháp luật dân sự nên các quy định về bồi thường thiệt hại đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ có những điểm giống với các quy định về bồi thường thiệt hại trong dân sự nói chung cũng như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng

Trang 23

Tài sản trí tuệ cũng là loại tài sản trong quan hệ dân sự vì vậy khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngoài việc áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại trong luật sở hữu trí tuệ 2005 thì các cơ quan có thẩm quyền cũng có thể áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại trong dân sự để giải quyết trong trường hợp Luật sở hữu trí tuệ chưa quy định hoặc các quy định trong luật sở hữu trí tuệ mâu thuẫn với quy định của luật chung

Tương tự như các quy định trong luật dân sự khi xác định thiệt hại trong giải quyết tranh chấp với các yêu cầu về bồi thường thiệt hại, Luật sở hữu trí tuệ cũng quy định thiệt hại trong trường hợp có hành vi xâm phạm đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ cũng bao gồm các thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần

Ví dụ, Ông A có hành vi sử dụng nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ

của ông B gây ra thiệt hại B kiện và yêu cầu được bồi thường về những tổn thất mà

A đã gây ra cho mình Khi xác định thiệt hại mà B đã gánh chịu theo Điều 204 Luật SHTT xác định thiệt hại của ông bao gồm những thiệt hại về vật chất đó là các tổn thất thực tế về tài sản, giảm sút thu nhập, lợi nhuận hay các khoản chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục hậu quả Cách xác định thiệt hại như trên cũng tương tự như cách xác định thiệt hại được quy định trong luật dân sự đó cũng là các thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng tài sản và là chi phí

Bên cạnh cách xác định thiệt hại về vật chất thì các thiệt hại về tinh thần trong Luật sở hữu trí tuệ cũng tương tự như trong dân sự Chẳng hạn như Điểm b Khoản 1 Điều 204 luật sở hữu trí tuệ quy định thiệt hại tinh thần là những tổn thất về danh

dự, nhân phẩm, uy tín đó cũng là những quy định tại Khoản 2 Điều 611 BLDS 2005 Ngoài ra, các nguyên tắc bồi thường thiệt hại hay các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Luật dân sự và Luật sở hữu trí tuệ cũng giống nhau Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có các yếu tố: có thiệt hại xảy ra, có hành vi xâm phạm là hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ thể xâm phạm,

có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại

1.3.2 Khác nhau

Tuy có những điểm giống nhau giữa hai chế định một bên là bồi thường thiệt hại dân sự còn một bên là sở hữu trí tuệ Nhưng đối tượng của tài sản là quyền sở hữu trí tuệ có những điểm khác biệt với các loại tài sản thông thường khác do những đặc thù riêng của loại tài sản vô hình này cho nên khi giải quyết các tranh chấp cách

Trang 24

xác định thiệt hại hay mức bồi thường trong Luật SHTT cũng sẽ khác các quy định của luật dân sự

Khi một tài sản bị xâm phạm nếu đó là một tài sản hữu hình trong dân sự việc xác định thiệt hại bị mất, bị hư hỏng cũng như lợi ích gắn việc sử dụng tài sản đó là khá dễ dàng Nhưng sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều trong trường hợp tài sản bị xâm phạm là tài sản trí tuệ một loại tài sản vô hình

Ví dụ, nếu hành vi xâm phạm làm hư hỏng một chiếc ô tô- là phương tiện kiếm

sống của một cá nhân, thì việc xác định thiệt hại, trong đó bao gồm cả những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản là tương đối rõ ràng trên cơ sở thu nhập bình quân thu được của người lái xe đó trong một ngày, một tuần hay một tháng Nhưng nếu đó là hành vi xâm phạm sáng chế với mục đích để chế tạo một sản phẩm

độc đáo, thì việc xác định thiệt hại không chỉ thuần túy như vậy Thiệt hại chủ yếu

không thể được xác định trên cơ sở lợi ích gắn liền với việc sử dụng tài sản mà còn bao gồm nhiều yếu tố khác, như phạm vi xâm phạm, nội dung và mức độ xâm phạm, kèm theo những thiệt hại thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc xác định thị phần của hàng hóa cùng loại của nhà sản xuất trên thị trường

Mặt khác, quyền nhân thân trong sở hữu trí tuệ cũng có những quy định khác với quyền nhân thân trong dân sự Vì vậy, khi các quyền nhân thân của các chủ thể

có quyền đối với tài sản là quyền SHTT bị xâm phạm thì phương pháp, cách thức xác định thiệt hại hay mức bồi thường cũng khác đi

Ví dụ, có một chủ thể bị người khác xâm phạm quyền nhân thân của mình, cụ

thể là họ bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì việc xác định mức độ tổn thất

về tinh thần phải căn cứ vào hình thức xâm phạm (bằng lời nói hay đăng trên báo viết hay báo hình….), hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm… còn trong trường hợp hành vi xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác

về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng thì vấn đề chứng minh thiệt hại, xác định mức độ tổn thất cũng như mức độ bồi thường hợp lý thì trở nên khó khăn hơn rất nhiều vì các quyền nhân thân của tác giả được pháp luật bảo hộ theo các tiêu chuẩn riêng

10 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, PGS TS Lê Hồng Hanh và ThS Đinh Thị Mai Phương, Viện khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004, Tr 25

Trang 25

Phân tích thêm ví dụ sau đây để thấy rõ thêm sự khác nhau trong việc quy trách nhiệm BTTH trong dân dự và sở hữu trí tuệ: một người sử dụng tài của một người khác làm tài sản đó bị hư hỏng thì phải bồi thường bằng hiện vật hoặc tương ứng với giá trị của tài sản Nhưng nếu một chủ thể sử dụng một đối tượng quyền SHTT của chủ thể có quyền thì thiệt hại được tính để bồi thường không đơn giản chỉ là các thiệt hại thực tế mà còn cả tổn thất về cơ hội kinh doanh của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đó như khả năng cho người khác thuê đối tượng hay khả năng chuyển giao quyền chẳng hạn

Tóm lại, từ những điểm giống và khác nhau vừa phân tích về hai chế định bồi thường thiệt hại trong dân sự và trong sở hữu trí tuệ cho thấy vì cũng là tài sản trong quan hệ dân sự nên khi có tranh chấp các quy định trong dân sự cũng sẽ được áp dụng trên tinh thần làm nguyên tắc chung Nhưng khi rơi vào những trường hợp cụ thể do có những đặc điểm riêng của đối tượng tài sản là quyền sở hữu trí tuệ mà sẽ

có sự áp dụng các quy định riêng dành cho loài tài sản vô hình mà có giá trị hữu hình này

1.4 Sự cần thiết của các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối

với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ

1.4.1 Về mặt kinh tế

Trong công cuộc đổi mới đất nước cùng với sự kiện trọng đại có ý nghĩa chính trị to lớn là đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã xác định: công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập là mục tiêu quan trọng của Việt Nam Nền kinh tế trong những năm qua đã có nhiều biến đổi, khởi sắc và không ngừng tăng trưởng Kinh tế tri thức ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Trong dự thảo chiến lược phát triển mười năm 2001-

2010 và kế hoạch năm năm 2001- 2005 được trình bày tại đại hội đại biểu lần thứ IX cũng khẳng định: “Vấn đề Sở hữu trí tuệ là một thứ sở hữu không hoàn toàn giống như sở hữu trong kinh tế, nhưng cũng là cơ sở để phát triển thị trường khoa học và công nghệ, một thị trường cạnh tranh lành mạnh mà chúng ta đang thiếu”11 Một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ chính là việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ một cách có hiệu quả trên thực tế

Trước những thay đổi đó việc bảo hộ đối với sở hữu trí tuệ đã trở thành mối quan tâm của chủ sở hữu quyền ở nhiều quốc gia Việc xây dựng hệ thống pháp luật

11 Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia,2001, Tr 211

Trang 26

để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề cấp thiết và chế định bồi thường thiệt hại đối với loại tài sản này là một trong những phương pháp góp phần bảo vệ được lợi ích của chủ thể có quyền nói riêng cũng như nền kinh tế của một quốc gia nói chung Với việc xây dựng những chế định về bồi thường thiệt hại thì chủ sở hữu và nhà nước có thêm công cụ bảo hộ cho loại tài sản vô hình mà có giá trị to lớn này vì khi được pháp luật bảo vệ sẽ là biện pháp khuyến khích đầu tư và chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam Bởi vì, khi muốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó các nhà đầu tư luôn quan tâm đến vấn đề bảo hộ của nhà nước mà mình đầu tư ở nhiều khía cạnh khác nhau trong đó có bảo hộ các đối tượng là quyền sở hữu trí tuệ

Ví dụ, vấn đề bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng hay các kiểu dáng công nghiệp của

Trong thị trường luôn cạnh tranh gay gắt đều làm cho các nhà đầu tư, nhà sản xuất, kinh doanh lo sợ là khi quyền sở hữu trí tuệ của họ bị xâm phạm nhất là trong giai đoạn hiện nay vấn đề xâm phạm ngày càng diễn ra phổ biến và phức tạp Việc làm hàng giả, hàng nhái, làm giảm uy tín các sản phẩm của nhà đầu tư hay doanh nghiệp Do đó, ngoài một cơ chế pháp lý vững chắc với những quy định trong bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ thì việc quy định chế định về BTTH trong việc bảo hộ bằng biện pháp dân sự là vô cùng cần thiết Việc tạo ra các quy định hợp lý sẽ thu hút được đầu tư phát triển từ bên ngoài bởi họ có tâm lý yên tâm và từ đó nhà nước cũng có được công cụ quản lý hữu hiệu hơn Các nhà đầu tư và doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc tự bảo vệ mình vì khi rơi vào trường hợp bất lợi bị chủ thể khác xâm phạm họ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại để khắc phục khó khăn và phục hồi sản xuất

Khi các chủ thể trong hoạt động sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ được nhà nước bảo

vệ bằng hệ thống pháp luật quy định hợp lý sẽ góp phần thúc đẩy sự sáng tạo, đổi mới kỹ thuật sản xuất Khi tạo ra một sản phẩm vật chất hoặc tinh thần phục vụ cho

xã hội điều mà người làm ra sản phẩm quan tâm là phải tạo ra những tác phẩm hay, những sản phẩm có chất lượng, có hình dáng đẹp đáp ứng thị hiếu và yêu cầu của khách hàng Nhưng để tạo ra được những sản phẩm chất lượng, có uy tín sản phẩm

đó sẽ lấy đi của nhà sản xuất khoản chi phí và công sức rất lớn Trường hợp đặt ra là nếu sản phẩm họ làm ra bị người khác làm giả, làm nhái kém chất lượng giảm uy tín, giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường thì người bị thiệt hại chính là chủ sở hữu thật sự của những sản phẩm bị xâm phạm Vì vậy để tạo điều kiện kích thích các chủ thể không ngừng sáng tạo, không ngừng cải tiến kỹ thuật, yên tâm làm ra sản phẩm có chất lượng phục vụ xã hội, nâng cao uy tín cũng như tăng khả năng

Trang 27

cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường thì vai trò của pháp luật trở nên rất quan trọng mà trong đó phải nói đến chế định bồi thường thiệt hại

Trong nền kinh tế thị trường mở như hiện nay không tránh khỏi tình trạng cạnh tranh và sự xuất hiện của hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể

có những sản phẩm không được người tiêu dùng đón nhận, không tạo ra lợi nhuận với các chủ thể làm nên những sản phẩm có chất lượng, có uy tín tạo ra lợi nhuận là điều tất yếu Do đó, có một cơ sở pháp lý bảo vệ tốt những đối tượng cần được bảo

vệ góp phần làm giảm các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh vì mục đích trục lợi Vì sao có thể nói như vậy, là bởi vì khi có hành vi xâm phạm không những bên

vi phạm phải chịu những chế tài bằng các biện pháp như hành chính, hình sự nói chung mà họ còn phải tốn một khoản bồi thường đáng kể theo quy định của pháp luật Hơn nữa, với các chế định bảo hộ làm cho các sản phẩm trí tuệ sẽ được sử dụng công khai giảm tình trạng “ăn cắp” của một số chủ thể nhất định đồng thời kích thích sự sáng tạo của các đối thủ cạnh tranh nếu muốn tạo ra được lợi nhuận trong một môi trường cạnh tranh công bằng và lành mạnh

1.4.2 Về mặt xã hội

Muốn phát triển đất nước, một quốc gia không chỉ chăm lo hoạt động kinh tế trong nước mà phải tăng cường giao lưu với các quốc gia khác trên nhiều lĩnh vực trong đó phải nói đến hợp tác phát triển kinh tế Chẳng hạn trong quá trình hợp tác các bên tiến hành giao kết hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa khi đó nếu các sản phẩm xuất nhập khẩu không có đăng ký bảo hộ để được pháp luật của quốc gia còn lại bảo vệ thì các tệ nạn làm hàng giả, hàng nhái là điều không thể tránh khỏi đặt biệt là khi không có sự can thiệp của pháp luật tệ nạn đó còn diễn ra phức tạp hơn

Và lúc đó các sản phẩm thật sự có chất lượng sẽ dần mất đi thị trường tiêu thụ, uy tín của hàng hóa cũng giảm sút và ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các quốc gia Hàng hóa của Việt Nam trong mấy năm trở lại đây khi mà Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại quốc tế WTO có thể nói cơ hội hợp tác kinh tế ngày càng nhiều hơn Sản phẩm xuất khẩu được tiêu thụ với số lượng không nhỏ Nhưng cũng có những sản phẩm giảm dần và dần mất đi trên thị trường các nước Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do các nhà sản xuất, kinh doanh không quan tâm đến việc đăng ký bảo hộ cho sản phẩm của mình để tránh tình trạng làm giả hay

bắt trước của các cơ sở kinh doanh nước ngoài Ví dụ, vụ kẹo dừa Bến Tre của Việt

Nam kiện kẹo dừa giả Hải Nam- Trung Quốc đăng ký nhãn hiệu của mình, nước

Trang 28

mắm Phú Quốc của Việt Nam bị nước mắm Phú Quốc Thái Lan làm giả hay vụ

Từ những thực tế vừa nêu cho thấy để bảo vệ lợi ích của nền kinh tế quốc gia và người sản xuất thì các chủ thể tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như các sản phẩm phục vụ xã hội nói chung cần quan tâm đến vấn đề bảo hộ sản phẩm của mình Đồng thời, nhà nước cũng cần có hệ thống pháp lý bảo vệ lợi ích của các cơ

sở sản xuất, kinh doanh của nước mình trong trường hợp có các hành vi xâm phạm xảy ra Do đó, bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ không chỉ bảo vệ được các doanh nghiệp, các chủ thể có quyền mà còn bảo vệ được lợi ích quốc gia, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và xã hội

Ngoài ra, chế định trên còn bảo vệ người tiêu dùng trước tác động xấu của tệ nạn ăn cắp bản quyền, nạn làm hàng giả, hàng nhái trên thị trường

Hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng được nhắc đến rất nhiều không phải vì

nó đem lại lợi ích gì mà ngược lại đây là tệ nạn làm đau đầu các cơ quan chức năng, gây tâm lý hoang man cho người tiêu dùng, tệ nạn xảy ra tràn lan gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội Hơn nữa, đây còn là nguyên nhân gây tổn hại đến nền kinh tế, uy tín của nhà sản xuất, kinh doanh Tuy các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp

xử lý nhưng trên thực tế tệ nạn này ngày gia tăng và phức tạp với những thủ đoạn tinh vi hơn Đôi khi chính những hàng hóa giả mạo, kém chất lượng ấy là nguyên nhân gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng

Vì vậy, ngoài những biện pháp xử phạt hành chính góp phần làm tăng ngân sách nhà nước, biện pháp hình sự với tác dụng răn đe, các biện pháp dân sự để lấy lại uy tín cho nhà sản xuất chân chính, cho chủ sở hữu thật sự của các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ mà trong đó có biện pháp buộc bồi thường thiệt hại cho các chủ thể bị xâm phạm Từ những khoản bồi thường sẽ là động lực để các nhà sản xuất, những người hoạt động sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ giảm phần nào những tổn thất và tiếp tục làm ra những sản phẩm vật chất và tinh thần phục vụ người tiêu dùng và xã hội Bên cạnh đó, có thể giảm được các hành vi xâm phạm là vì khi pháp luật có những quy định khắc khe nhưng hợp lý với các khoản bồi thường phù hợp sẽ làm cho những chủ thể có ý định xâm phạm vì mục tiêu lợi nhuận giảm đi Bởi suy cho cùng

họ xâm phạm cũng gì muốn giảm chi phí sản xuất có thêm lợi nhuận nhưng khi lợi nhuận họ có được lại dùng vào việc bồi thường cho những hành vi trái pháp luật, phải bồi thường lợi nhuận không còn khi đó họ sẽ không làm những việc mà không đem lại lợi ích cho họ

12 TS Đinh Văn Thanh, Nhãn hiệu hàng hóa trong pháp luật dân sự, Nxb Công an nhân dân, 2005, Tr 67

Trang 29

Từ những ý nghĩa vừa phân tích cho thấy sự cần thiết của các chế định pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung cũng như các quy định bồi thường thiệt hại đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ nói riêng trong quá trình xây dựng hệ thống pháp lý ngày càng hoàn thiện và đầy đủ hơn Những quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam hiện hành về các nguyên tắc, phương pháp cũng như cách thức xác định thiệt hại, các căn cứ bồi thường, khi xảy ra hành vi xâm phạm tài sản- quyền

sở hữu trí tuệ sẽ được phân tích và làm rõ ở chương sau

Trang 30

Cũng giống như quan điểm của một số quốc gia, các quy định của pháp luật

Việt Nam về vấn đề xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng dựa trên các yếu tố: có thiệt hại xảy ra, có hành trái pháp luật, có lỗi và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại Khoản 1 Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 có quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau: “Người nào do lỗi

cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”

Còn trong trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ cũng không ngoại lệ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng phát sinh dựa trên những căn cứ vừa nêu mặc dù trong từng trường hợp mức độ quan trọng

của các căn cứ có thể khác nhau nhưng đây là những nguyên tắc chung nhất

2.1.1 Có thiệt hại xảy ra đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ

Để một yêu cầu bồi thường thiệt hại được Toà án chấp nhận thì trước hết người yêu cầu phải là người bị thiệt hại Bởi có thiệt hại mới đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại Vì vậy, có thể nói thiệt hại xảy ra là điều kiện đầu tiên cần có làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu, bù đắp những mất mát, tổn thất mà người gây thiệt hại đã gây ra cho chủ thể có quyền Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam được xác định trên nguyên tắc “ Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại; Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng”

Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền

sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra (Điều 204

Trang 31

Luật sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung 2009) Như vậy, pháp luật về SHTT nói riêng hay dân sự nói chung đều xác định thiệt hại bao gồm thiệt hại vật chất và

thiệt hại tinh thần

2.1.1.1 Thiệt hại vật chất

Đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ những thiệt hại rất khó xác định một cách chính xác tuyệt đối Nó không giống như xác định thiệt hại của một tài sản vật chất thông thường Để xác định thiệt hại thì nghĩa vụ chứng minh của người bị thiệt hại càng trở nên khó khăn hơn Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ 2005 và một

số văn bản hướng dẫn thi hành thì những thiệt hại vật chất sẽ được bồi thường theo quy định bao gồm:

Tổn thất về tài sản

Tổn thất về tài sản được xác định theo mức độ giảm sút hoặc bị mất của giá trị tính được thành tiền của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ Giá trị thành tiền của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo Khoản 2 Điều 17 Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính Phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ là: Giá chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; giá trị góp vốn kinh doanh bằng quyền sở hữu trí tuệ; giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong tổng số tài sản của doanh nghiệp; giá trị đầu tư cho việc tạo ra và phát triển đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm các chi phí tiếp thị, nghiên cứu, quảng cáo, lao động, thuế và các chi phí khác

Như vậy, khi người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường về tổn thất tài sản, thì phải nêu rõ giá trị tính được thành tiền của đối tượng bị xâm phạm và căn cứ xác định giá

trị tính được thành tiền của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

 Mức giảm xúc về thu nhập, lợi nhuận

Thu nhập và lợi nhuận bị mất là căn cứ quan trọng để tính toán thiệt hại của người bị xâm phạm và là cơ sở để những yêu cầu hợp lý của người bị thiệt hại được bồi thường Để xác định được sự giảm sút về lợi nhuận và thu nhập thì trước hết cần xác định họ có thu nhập và lợi nhuận trước thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm hay không?

Tổn thất thu nhập, lợi nhuận từ quyền sở hữu trí tuệ là những tổn thất về: “thu

nhập, lợi nhuận thu được do sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; thu nhập, lợi nhuận thu được do cho thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; thu

Trang 32

nhập, lợi nhuận thu được do chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ ” (Khoản 1 Điều 18 Nghị định 105/2006/NĐ-CP)

Tổn thất đối với thu nhập, lợi nhuận bị mất từ việc sử dụng, khai thác trực tiếp quyền sở hữu trí tuệ là những khoản thu nhập, lợi nhuận mà người bị thiệt hại lẽ ra

có thể thu được nếu không có hành vi xâm phạm khi chủ thể có quyền đưa đối tượng quyền sở hữu trí tuệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh

Khi xác định những tổn hại thực tế bị mất người ta lấy phép so sánh khoản thu nhập trước khi có hành vi xâm phạm và sau khi có hành vi xâm phạm

Ví dụ, công ty A sử dụng sản phẩm là nhãn hiệu đã đựợc bảo hộ Hàng năm trước khi có hành vi xâm phạm trung bình công ty thu được lợi nhuận khoản 3 tỷ

đồng nhưng khi một công ty B sử dụng nhãn hiệu của công ty A một cách trái pháp

luật thì làm cho mức thu nhập mà công ty A nhận được chỉ còn khoản 2 tỷ đồng Như vậy, theo phép so sánh trực tiếp thì hành vi xâm phạm của công ty B đã làm mức thu nhập của, lợi nhuận của công ty A giảm gần 1 tỷ Đây được xem là tổn thất

Hay tổn thất từ khoản thu nhập của một chủ sở hữu sáng chế từ việc bán sản

phẩm đã được bảo hộ của mình cho một tổ chức, cá nhân nào đó để thu về một khoản tiền nhất định hay là một khoản lợi nhuận mà chủ sở hữu quyền tác giả thu

được từ việc thực hiện quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh,

chương trình máy tính bằng một hợp đồng cho thuê những đối tượng trên

Thực tế, việc xác định những tổn thất về thu nhập, lợi nhuận thu được do sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ tương đối phức tạp Do đó, với phép so sánh đơn thuần không thể tính toán chính xác mức giảm sút thu nhập, lợi nhuận Vì trong một số trường hợp thu nhập, lợi nhuận của chủ thể quyền không giảm sau khi so sánh nhưng điều này không đồng nghĩa với việc chủ thể bị xâm phạm không bị giảm sút về thu nhập, lợi nhuận hay ngược lại có trường hợp thu nhập, lợi nhuận của nguyên đơn có giảm so với trước khi có hành vi xâm phạm nhưng nguyên nhân gây ra sự giảm sút có thể do yếu tố tác động của thị trường hay một nguyên nhân nào đó không hoàn toàn do hành vi xâm phạm gây ra

Bên cạnh đó, để xác định mức giảm sút từ việc sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ luật còn quy định: so sánh sản lượng, số lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thực tế tiêu thụ hoặc cung ứng trước và sau khi xảy ra hành

vi xâm phạm; so sánh giá bán thực tế trên thị trường của sản phẩm, hàng hoá, dịch

vụ trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm

Trang 33

Ngoài ra, mức giảm sút về thu nhập lợi nhuận còn là các tổn thất về thu nhập, lợi nhuận mà người bị thiệt hại thu được do cho thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ (là bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính)

Ví dụ: Chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh hoặc chương trình

máy tính thực hiện quyền tài sản quy định tại điểm e khoản 1 Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính và được nhận tiền thù lao, các quyền lợi vật chất khác của tổ chức, cá nhân

được thuê tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính đó

Và trường hợp thu nhập, lợi nhuận bị mất từ việc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ của người bị thiệt hại do có hành vi xâm phạm Có nghĩa đây là khoản thu nhập mà chủ thể quyền có thể thu được từ việc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cho một người khác nếu không có hành vi xâm phạm của chủ thể gây thiệt hại

Ví dụ: một ca sĩ H vừa cho ra một album rất hay chưa được tung ra thị trường,

một công ty sản xuất băng đĩa M muốn có được album đó để trở thành người phân phối độc quyền H và M đã có những thỏa thuận cho việc ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng tác phẩm đó cho M Nhưng C bằng những hành vi trái pháp luật đã

ăn cắp được tác phẩm của H và phổ biến rộng rãi Do đó công ty M đã từ chối nhận

quyền chuyển giao làm cho khoản thu nhập lẽ ra H có thể hưởng đã không còn và khoản thu nhập mà ca sĩ bị mất được xem là tổn thất do hành vi của C gây ra

Trên thực tế, việc xác định những tổn thất về thu nhập, lợi nhuận thu được của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ là không hề dễ dàng Đó cũng chính là nguyên nhân làm cho việc xác định mức giảm sút các khoản thu nhập, lợi nhuận trở nên khó khăn hơn nhiều bởi với phép so sánh đơn giản không thể tính toán chính xác mức giảm sút thu nhập hay lợi nhuận Do đó, khi xác định thiệt hại trong trường hợp vừa nêu cần phụ thuộc vào tính chất của từng vụ việc cụ thể mà áp dụng thêm những biện pháp khác nhằm đem lại một kết quả khách quan

Để giải quyết những khó khăn vừa phân tích, và tạo thuận lợi cho việc xác định mức giảm sút thu nhập, lợi nhuận thì theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03 tháng

4 năm 2008 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân thì ở Điểm b tiểu mục 1.5 mục 1 phần I của Thông tư xác định: “nếu thu nhập, lợi nhuận thu được do sử dụng, khai thác trực tiếp quyền sở hữu trí tuệ, thì so sánh trực tiếp mức thu nhập, lợi nhuận thực tế trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm đã xác định được để làm rõ mức

Trang 34

giảm sút về thu nhập, lợi nhuận của người bị thiệt hại Nếu thu nhập, lợi nhuận của người bị thiệt hại, sau khi xảy ra hành vi xâm phạm thấp hơn thu nhập, lợi nhuận trước khi xảy ra hành vi đó, thì khoản chênh lệch đó là thu nhập, lợi nhuận thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút Khi xác định thu nhập, lợi nhuận của người bị thiệt hại phải xác định rõ các yếu tố khách quan tác động đến sự tăng hoặc giảm thu nhập, lợi nhuận của người bị thiệt hại không liên quan đến hành vi xâm phạm quyền

sở hữu trí tuệ để bảo đảm xác định thu nhập, lợi nhuận thực tế của người bị thiệt hại

Ví dụ: Năm 2004 Công ty A đầu tư dây chuyền công nghệ mới sản xuất thép xây

dựng mang nhãn hiệu “TN” Thị trường xây dựng đang tiêu thụ rất nhiều loại thép này Căn cứ vào yêu cầu đặt hàng, thì Công ty A có thể tiêu thụ được 200.000 tấn thép “TN” đạt doanh thu 10 tỷ đồng (VNĐ), lợi nhuận 2 tỷ VNĐ (100%) Do Công

ty B sử dụng trái phép nhãn hiệu “TN” của Công ty A để gắn lên sản phẩm thép của mình và bán ra thị trường làm cho Công ty A bị mất 20% thị phần, không tiêu thụ được 40.000 tấn thép, giảm 20% doanh thu và 20% lợi nhuận (bằng 400 triệu

giảm Nhưng do có hành vi xâm phạm của Công ty B mà Công ty A bị giảm 400 triệu VNĐ lợi nhuận Đây được coi là thiệt hại của Công ty A”

 Tổn thất cơ hội kinh doanh

Cơ hội kinh doanh là hoàn cảnh thuận lợi, khả năng thực tế để chủ thể quyền

sở hữu trí tuệ sử dụng, khai thác trực tiếp, cho người khác thuê, chuyển giao quyền

sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cho người khác…để thu lợi nhuận13

Vậy tổn thất cơ hội kinh doanh là căn cứ xác định thiệt hại theo Điều 204 Luật sở

hữu trí tuệ Việt Nam quy định và theo Nghị định 105/2006/NĐ- CP hướng dẫn thì tổn thất về cơ hội kinh doanh được hiểu là thiệt hại về giá trị tính được thành tiền của khoản thu nhập đáng lẽ người bị thiệt hại có thể có được khi thực hiện các khả

13 Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03 tháng 4 năm 2008.

Trang 35

năng quy định tại khoản 1 Điều 19 của Nghị định nhưng thực tế không có được khoản thu nhập đó do hành vi xâm phạm gây ra bao gồm:

- Khả năng thực tế sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ trong kinh doanh nghĩa là đối với chủ thể quyền, việc sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ của mình trong kinh doanh (trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi) có thể xuất hiện, có thể xảy ra trong điều kiện nhất định;

- Khả năng thực tế cho người khác thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được tức là chủ thể quyền có thể cho cá nhân, tổ chức thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và đã thực hiện việc đàm phán, thoả thuận với cá nhân, tổ chức về những nội dung chủ yếu để đi đến ký kết hợp đồng thuê đối tượng đó Hợp đồng sẽ được ký kết và thực hiện trong điều kiện bình thường không có sự xâm phạm từ người thứ ba

- Khả năng thực tế chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cho người khác Cụ thể là chủ thể quyền nhận được đơn đặt hàng đã đàm phán, thoả thuận với đối tác về những nội dung chủ yếu để đi đến ký kết hợp đồng và hợp đồng sẽ được ký kết và được thực hiện trong điều kiện không có sự xâm phạm từ phía người thứ ba

- Cơ hội kinh doanh khác bị mất do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra đó chính là việc mất cơ hội đàm phán với đối tác, mất cơ hội kinh doanh, liên kết trong đầu tư, trong tiếp thị, quảng cáo, xúc tiến thương mại thông qua các cuộc triển lãm, trưng bày quốc tế… do bị chiếm đoạt đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

“Ví dụ: A vi phạm nhãn hiệu của B trong suốt ba năm Tổn thất do thu nhập bị mất từ việc bán hàng của B được xác định là 1.2 tỷ đồng mỗi năm Vậy, thiệt hại

được xác định trong ba năm là 3.6 tỷ đồng

Giả sử, sau khi hành vi xâm phạm đã chấm dứt, phải mất một năm, việc kinh doanh của B mới có thể trở lại bình thường như thời gian ban đầu khi không có hành vi xâm phạm xảy ra do uy tín trên thị trường chưa được khôi phục hoàn toàn Vậy, doanh số bị giảm sút trong một năm sau này nếu nguyên đơn thành công trong việc chứng minh thì có thể cũng được xem xét xác định để bồi thường như một tổn thất về cơ hội kinh doanh” 14

Hay trường hợp một nhạc sĩ sáng tác được một bài hát, một ca sĩ muốn được chủ

sở hữu chuyển giao quyền được sử dụng bài hát đó Bước đầu hai bên đã thỏa thuận

được một số nội dung cơ bản để đi đến ký kết hợp đồng Nhưng vì có hành vi xâm

14 Về bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, Ts Đinh Thị Mai Phương, Viện khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, 2009, tr 195

Trang 36

phạm của một chủ thể thứ ba làm cho hợp đồng chuyển giao giữa tác giả và ca sĩ không thể tiến hành Khi đó cơ hội để giao kết hợp đồng không còn cũng như cơ hội

để tác giả có thêm thu nhập cũng mất gây cho tác giả một tổn thất lẽ ra có thể có được

Với cách định nghĩa như trên về tổn thất cơ hội kinh doanh cho thấy sự giống nhau về cơ bản giữa tổn thất do mức giảm sút thu nhập, lợi nhuận và tổn thất cơ hội kinh doanh Bởi cả hai đều là những khoản tổn thất về thu nhập, lợi nhuận cho nên trên nguyên tắc cách xác định là tương đối giống nhau Có khác nhau chăng đó là mức giảm sút thu nhập, lợi nhuận sẽ được xác định giữa cái đã xảy ra với cái đang xảy ra còn tổn thất cơ hội kinh doanh là cái được xác định trong tương lai

Khi xem xét yêu cầu bồi thường về tổn thất cơ hội kinh doanh, Toà án yêu cầu người bị thiệt hại phải nêu rõ và chứng minh cơ hội kinh doanh bị mất là gì, thuộc trường hợp nào nêu trên đây và giá trị tính được thành tiền đối với trường hợp đó để Toà án xem xét quyết định Với quy định này có thể thấy đây chính là một gánh nặng đối với chủ thể có quyền vì xác định những tổn thất sẽ xảy ra trong tương lai là

vô cùng khó khăn, đặc biệt đó lại là tài sản quyền sở hữu trí tuệ

Tuy là khó khăn nhưng với những quy định trên tạo điều kiện cho những thiệt hại của người bị thiệt hại có thể được bồi thường đúng với nguyên tắc bồi thường toàn bộ mà luật đã quy định, chỉ cần nguyên đơn có thể chứng minh mối quan hệ giữa thiệt hại với hành vi xâm phạm cũng như tính thức tế của những thiệt hại đó đúng pháp luật

 Chi phí hợp lý để ngăn chặn khắc phục thiệt hại

Ngoài tổn thất về tài sản, giảm sút thu nhập, lợi nhuận, tổn thất cơ hội kinh

doanh thì theo quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành thiệt hại vật chất đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ còn là chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại Và theo dẫn của Nghị định 105/2006/NĐ- CP, Điều 20 của Nghị định quy định chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại bao gồm: chi phí cho việc tạm giữ, bảo quản, lưu kho, lưu bãi đối với hàng hoá xâm phạm, chi phí thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chi phí hợp lý để thuê dịch vụ giám định, ngăn chặn, khắc phục hành vi xâm phạm và chi phí cho việc thông báo, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến hành vi xâm phạm

Nói chung, những chi phí thực tế phát sinh với mục đích nhằm hạn chế, ngăn chặn hành vi xâm phạm và thiệt hại xảy ra có thể được xem xét bồi thường Và một điều tất nhiên là các khoản chi phí đó phải là các khoản chi phí hợp lý có nghĩa đó

Trang 37

phải là các khoản cần thiết cho việc ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, phụ thuộc vào mức

độ của hành vi xâm phạm và phù hợp với giá cả thị trường Đối với các khoản chi phí thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chi phí hợp lý để thuê dịch vụ giám định là các khoản có thể xác định dễ dàng hơn bởi tính thực tế của nó

Ví dụ: Nhãn hiệu được bảo hộ của D bị xâm phạm do tính chất phức tạp trong

việc xác định giá trị ban đầu của nhãn hiệu làm cơ sở cho việc xác định thiệt hại

được bồi thường Khi đó D không đủ khả năng tự chứng minh để xác định chính xác

thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra và D đã thuê dịch vụ giám định Khoản tiền

sử dụng cho việc giám định được xem là chi hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, đây cũng là khoản bồi thường thiệt hại mà người có hành vi xâm phạm có trách nhiệm phải bồi thường

Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu cho người bị thiệt hại Cho nên, trong trường hợp uy tín hay danh tiếng bị xâm phạm thì trong quá trình giải quyết bên gây thiệt hại có thể bị Tòa án yêu cầu thực hiện các biện pháp cần thiết để khắc phục hậu quả Và khi đó các biện pháp thông báo, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến hành vi xâm phạm được áp dụng Các khoản chi phí thực hiện được xem là các khoản phải bồi thường nhưng đó sẽ là các khoản chi phí hợp lý chứ không phải là tất cả mọi chi phí sinh không thực tế

Ví dụ: Người bị thiệt hại bỏ ra một khoản tiền gần 2 tỷ đồng cho việc đăng quảng cáo, cải chính thông tin cho sản phẩm của mình nhằm phục hồi lại uy tín, hoặc ngược lại người bỏ ra số tiền để tiến hành việc cải chính thông tin, quảng cáo là người gây thiệt hại thì các khoản tiền trên cũng là khoản chi phí được bồi thường thiệt hại theo quy định

Như đã phân tích không phải khoản chi phí nào cũng được bồi thường mà chỉ bồi thường đối với khoản chi phí hợp lý Chẳng hạn, trong ví dụ trên giả định rằng chỉ cần khoản năm trăm triệu đồng là đủ để có thể thông báo, cải chính loại bỏ được sự nhằm lẫn và phục hồi uy tín Khi đó khoản bồi thường chỉ là năm trăm triệu chứ không phải là 2 tỷ Vì nếu nguyên đơn bỏ ra một khoản chi phí bất kỳ cho việc quảng cáo sau đó buộc bị đơn phải bồi thường toàn bộ chi phí đó là rất không hợp

Theo quy định ở một số quốc gia thường không có sự thống nhất trong việc xác định các khoản chi phí này Còn đối với pháp luật Việt Nam có thể dựa trên tinh thần những quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài

Trang 38

hợp đồng đối với trường hợp vi phạm danh dự, nhân phẩm mà có thể áp dụng để giới hạn mức quảng cáo, cải chính cho hợp lý tùy từng mức độ vi phạm

Như vậy có thể nói, “hoạt động thông báo, quảng cáo cải chính là nhằm: thông báo, giải thích cho công chúng, khách hàng về hành vi xâm phạm của bị đơn để tránh sự nhằm lẫn hoặc bị lừa dối; khôi phục uy tín và danh tiếng ban đầu của chủ

sở hữu quyền chứ không nhằm bồi thường những thiệt hại mà chủ sở hữu quyền phải gánh chịu”15

Vì vậy, theo người viết với nguyên tắc bồi thường toàn bộ theo luật định thì những khoản chi phí về việc thông báo, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến hành vi xâm phạm nếu đó là các khoản chi phí phát sinh rõ ràng, hợp lý và đó là khoản chi phí thực tế trong quá trình giải quyết các yêu cầu về bồi thường thiệt hại phát sinh thì vẫn có thể xem đó là một khoản bồi thường mà người gây thiệt hại cần phải gánh chịu

2.1.1.2 Thiệt hại về tinh thần

Cũng giống như thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần cũng là những thiệt hại thực tế do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra cho chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ làm cơ sở cho việc tính thiệt hại được bồi thường theo nguyên tắc do luật định Tại Điểm b Khoản 1 Điều 204 Luật sở hữu trí tuệ quy định: “Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác

về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng.”

Ví dụ: trong vụ công ty nghệ thuật trang điểm- Delaware kiện bà Hồ Thúy Kiều

quyết của Tòa án cho thấy ngoài việc xác định mức bồi thường về chi phí mua vật phẩm chứng cứ Tòa án còn chấp nhận khoản bồi thường thiệt hại về uy tín Khoản thiệt hại về uy tín vừa nêu là khoản bồi thường đối với thiệt hại tinh thần mà chủ thể

bị thiệt hại đã phải gánh chịu

Tuy yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần được Tòa án chấp nhận trong ví vụ trên nhưng với mức bồi thường mà Tòa án đưa ra dựa trên mức lương cơ bản để tính thì không chính xác Trong giai đoạn Luật sở hữu trí tuệ chưa được ban hành thì

Trang 39

việc Tòa án phán quyết như vậy cũng phần nào cho thấy vấn đề bồi thường thiệt hại tinh thần đã được pháp luật bảo vệ

Vì vậy, có thể nói các thiệt hại về tinh thần là loại thiệt hại dù có được bồi thường cũng chỉ nhằm mục đích phần nào bù đắp lại những tổn thất mà người bị thiệt hại đã gánh chịu chứ không thể phục hồi lại đúng tình trạng ban đầu Để tính toán thành một khoản tiền chính xác cho việc bồi thường là khó thực hiện được do đặc tính vốn có của loại thiệt hại tinh thần này

Nói tóm lại, việc xác định được thiệt hại là đã tìm được cơ sở cho việc quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại vì theo tinh thần quy định của pháp luật Việt Nam

“trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ có thể phát sinh khi có thiệt hại xảy ra, có thiệt hại thì các điều kiện sau mới được xét đến

2.1.2 Có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Có thiệt hại xảy ra là tiền đề phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, để một yêu cầu bồi thường thiệt hại được chấp nhận thì chủ thể có yêu cầu phải chứng minh được hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật bên cạnh việc chứng minh có thiệt hại xảy ra Đây là quan điểm của pháp luật Việt Nam trong việc xác định điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi theo hướng dẫn của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự 2005 về nguyên tắc chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ bốn yếu tố trong đó có hành vi xâm phạm là hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, theo lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì yếu tố này không cần quy định riêng là một điều kiện bởi theo một số quan điểm thì yếu tố hành vi trái pháp luật nằm trong quy định của yếu tố lỗi Vì theo họ khi một người

có hành vi gây thiệt hại là họ đã thực hiện một hành vi có lỗi và đó là hành vi trái pháp luật chỉ trừ một số trường hợp

Hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể hiểu đó là hành vi trái với các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ dẫn đến xâm phạm các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ theo quy định của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành Chẳng hạn, trong trường hợp pháp luật quy định nghĩa vụ phải xin phép của các chủ thể nếu muốn sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo

hộ Điều đó có nghĩa là các quy định của pháp luật buộc các chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện nếu chủ thể vừa nêu không thực hiện hoặc có xin phép nhưng không được sự đồng ý của chủ thể có quyền mà vẫn sử dụng khi đó có thể nói rằng họ đã

vi phạm nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định Hay nói cách khác họ đã thực hiện

Trang 40

hành vi trái pháp luật Và các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành gồm những hành vi:

2.1.2.1 Hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan

Quyền tác giả theo quy định của luật sở hữu trí tuệ hiện hành là quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật sở hữu trí tuệ bao gồm quyền nhân thân (Điều 19 Luật SHTT 2005) và quyền tài sản (Điều 20 Luật SHTT 2005) Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa Các quyền này đều được pháp luật bảo hộ theo những quy định của luật và các chủ thể thực hiện các hành vi xâm phạm sẽ phải gánh chịu một hậu quả pháp lý nhất định mà trong đó có biện pháp buộc bồi thường thiệt hại

Các hành vi xâm phạm quyền tác giả được gồm: “Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả”17 Quyền tác giả

có thể bị xâm phạm cả về quyền tài sản và quyền nhân thân

Ví dụ, gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả bằng hành vi cắt xén,

xuyên tạc tác phẩm, thực hiện việc sao chép tác phẩm hoặc mạo danh tác giả theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 28 Luật sở hữu trí trị Việt Nam Tức là một chủ thể nào đó sẽ bị xem là chủ thể có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả khi thực hiện một trong các hành vi quy định tại các khoản trên của điều luật

Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định một số quyền tài sản cho chủ sở hữu của đối tượng quyền tác giả Chính các quyền được pháp luật bảo vệ tạo điều kiện để chủ sở hữu có thể thực hiện các biện pháp chống lại hành vi xâm phạm của những chủ thể khác Pháp luật SHTT quy định những hành vi cụ thể mà nếu một người thực hiện gây hại đến chủ thể quyền sẽ được xem là có hành vi xâm phạm đến quyền tài sản của tác giả như: làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh; sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật; trừ một số trường hợp luật định

Ngoài những quy định về hành vi xâm phạm quyền tác giả khi xác định trách

nhiệm bồi thường thiệt hại Luật sở hữu trí tuệ còn quy định các hành vi xâm phạm

17 Điều 35 Luật sở hữu trí tuệ 2005.

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm