1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP KHÍA CẠNH PHÁP lý về đại DIỆN sở hữu CÔNG NGHIỆP lý LUẬN và THỰC TIỄN

63 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 849,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu đề tài Trong giới hạn của đề tài người viết hoàn toàn dựa vào các quy định pháp luật của Việt Nam, tài liệu hiện hành, sẽ làm rõ các khái niệm, lịch sử hình thành, va

Trang 1

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 2 SVTH: Lý Bang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU

CÔNG NGHIỆP LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Người đại diện SHCN

Trang 2

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 3 SVTH: Lý Bang NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 4 SVTH: Lý Bang NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 5 SVTH: Lý Bang

DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT

Trang 5

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 6 SVTH: Lý Bang

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO

PHÁP LUẬT VIỆT NAM 03

1.1 Lược sử hình thành và phát triển cơ chế đại diện sở hữu công nghiệp 03

1.1.2 Giai đoạn trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ 03

1.1.2 Giai đoạn từ khi có Luật Sở hữu trí tuệ cho đến nay 04

1.2 Khái niệm về đại diện sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam 06

1.2.1 Khái niệm đại diện sở hữu trí tuệ, đại diện sở hữu công nghiệp 06

1.2.1.1 Khái niệm Đại diện sở hữu trí tuệ 06 1.2.1.2 Khái niệm đại diện sở hữu công nghiệp 07

1.2.2 So sánh “đại diện sở hữu công nghiệp” với “đại diện” trong luật dân sự

08

1.2.2.1 Sơ lược về “đại diện” trong luật dân sự 08 1.2.2.2 Điểm giống và khác nhau giữa “đại diện sở hữu công nghiệp” và

“đại diện” trong luật dân sự 08

1.2.3 Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 09

1.2.3.1 Khái niệm Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp09 1.2.3.2 Phân biệt Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp và một số tổ chức đại diện bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan 10

1.2.4 Cá nhân đại diện sở hữu công nghiệp 15

1.2.4.1 Khái niệm Người đại diện sở hữu công nghiệp 15 1.2.4.2 Điều kiện cá nhân được hành nghề kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 15

1.2.4.3 Đặc điểm của người đại diện sở hữu công nghiệp 16 1.2.4.4 Vai trò của người đại diện sở hữu công nghiệp 16

1.3.Vai trò, đặc điểm và chức năng của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

17

1.3.1 Vai trò của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 17

1.3.2 Đặc điểm của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 19

1.3.3 Chức năng của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 20

1.4 Sự cần thiết có đại diện sở hữu công nghiệp 21

1.4.1 Sự cần thiết có Tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp 22

1.4.2 Sự cần thiết có Người đại diện sở hữu công nghiệp 23

Trang 6

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 7 SVTH: Lý Bang

Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẠI

DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 24

2.1 Quy định của pháp luật về Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp24

2.1.1 Các chủ thể trong hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp 24

2.1.2 Điều kiện thành lập Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 24

2.1.3 Ghi nhận Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 25

2.1.4 Ghi nhận Người đại diện sở hữu công nghiệp vào Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu

công nghiệp 26

2.1.5 Xóa tên Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 27

2.2 Quy định của pháp luật về cá nhân hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công

nghiệp 28

2.2.1 Chương trình đào tạo pháp luật sở hữu công nghiệp 28

2.2.2 Điều kiện cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

28

2.2.3 Kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp 29

2.2.3.2 Đăng ký dự kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp 30

2.2.4 Cấp, cấp lại và thu hồi Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công

2.3 Phạm vi quyền, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, thực hiện giao kết hợp đồng

dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 34

2.3.1 Phạm vi quyền của cá nhân, Tổ chức kinh dịch vụ đại diện sở hữu công

nghiệp 34

Trang 7

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 8 SVTH: Lý Bang

2.3.2 Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 35

2.3.3 Giao kết hợp dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, ủy quyền đại diện sở hữu

công nghiệp 36

2.3.3.1 Giao kết hợp đồng dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 36 2.3.3.2 Ủy quyền đại diện sở hữu công nghiệp 37 2.3.3.3 Các đối tượng nộp đơn thông qua đại diện sở hữu công nghiệp

2.4.2 Xử lý vi phạm trong hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp 39

2.4.2.1 Xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp 39

2.4.2.2 Các biện pháp dân sự, hình sự trong việc xử lý vi phạm trong hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp 41

Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẠI

DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP HIỆN NAY MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

43

3.1 Tình hình chung về hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp 43

3.2 Một số tồn tại trong hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp 46

3.2.1 Một số tồn tại về mặt pháp lý trong hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp

Trang 8

Xác lập quyền sở hữu công nghiệp là một nhu cầu chính đáng, một biện pháp bảo

vệ hữu hiệu tài sản trí tuệ của doanh nghiệp và người dân, tự mình hay thông qua đại diện

nộp đơn xác lập các quyền sở hữu công nghiệp luôn là đắn đo Hoạt động đại diện sở hữu

Trang 9

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 10 SVTH: Lý Bang

công nghiệp góp phần giải quyết được những khó khăn của người dân, doanh nghiệp gặp

phải khi tiến hành xác lập quyền sở hữu công nghiệp

Đại diện sở hữu công nghiệp là một khái niệm còn khá mới tại Việt Nam, hoạt động

này chính thức có văn bản pháp luật hướng dẫn vào năm 1996 với Nghị định của Chính

phủ số 63/CP, và đỉnh cao là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có quy định về “Đại diện sở

hữu công nghiệp”

Qua tìm hiểu người viết nhận thấy hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp là rất cần

thiết, có vai trò quan trọng trong việc thực thi và xác lập quyền sở hữu công nghiệp

Thông qua các tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, người dân và doanh nghiệp

sẽ tiếp cận được thủ tục xác lập, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác liên quan đến quyền

sở hữu công nghiệp một cách chuẩn mực, khoa học và đúng quy định pháp luật một cách

nhanh chóng, tiện lợi đem lại lợi ích vô cùng to lớn

Chính vì vậy, người viết chọn “Khía cạnh pháp lý về đại diện sở hữu công

nghiệp Lý luận và thực tiễn” làm đề tài cho luận văn của mình

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Tìm hiểu hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp là mục đích của người viết, thông

qua đó sẽ mổ xẻ các vấn đề lý luận, pháp lý và tình hình hoạt động đại diện sở hữu công

nghiệp hiện nay Người viết sẽ chủ yếu khảo sát hoạt động của hai chủ thể: Tổ chức dịch

vụ đại diện sở hữu công nghiệp và Người đại diện sở hữu công nghiệp Đồng thời người

viết cũng mong muốn rằng, luận văn của mình sẽ giúp ích, là tài liệu tham khảo cho

những người muốn kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong giới hạn của đề tài người viết hoàn toàn dựa vào các quy định pháp luật của

Việt Nam, tài liệu hiện hành, sẽ làm rõ các khái niệm, lịch sử hình thành, vai trò, đặc

điểm… xung quanh hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp; Quy định pháp lý như: Điều

kiện để tổ chức, cá nhân được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp là thế nào,

chức năng- phạm vi hoạt động ra sao, điều kiện để một cá nhân được cấp chứng chỉ hành

nghề; Tình hình hoạt động của ngành này hiện nay như về số lượng người được cấp

chứng chỉ, tổ chức kinh doanh dịch vụ này, cũng những điểm tồn tại về mặt pháp lý, thực

trạng hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp và cùng một số kiến nghị của người viết

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 11 SVTH: Lý Bang

Để hoàn thành luận văn người viết dựa vào các phương pháp như: phương pháp

nghiên cứu lý luận trên các loại tài liệu (sách, giáo trình, tạp chí…); phương pháp phân

tích tổng hợp từ các số liệu của Cục Sở hữu trí tuệ; phương pháp phân tích luật viết;

phương pháp so sánh, so sánh các quy định pháp luật trước đây và quy định pháp luật hiện

tại và phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu thực tế

5 Bố cục của đề tài

Luận văn của người viết được chia làm ba chương: Chương 1 Khái quát chung về

đại diện sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam; Chương 2 Những quy định của

pháp luật về đại diện sở hữu nghiệp và Chương 3 Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với

hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp hiện nay Một số tồn tại và kiến nghị

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

“Đại diện sở hữu công nghiệp” là tên gọi chung của “Tổ chức dịch vụ đại diện sở

hữu công nghiệp” và “Người đại diện sở hữu công nghiệp” hành nghề trong tổ chức đó

Cá nhân, tổ chức này kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp chuyên làm các

dịch vụ: đại diện cho cá nhân, tổ chức nộp đơn lên Cục Sở hữu trí tuệ xác lập quyền sở

hữu công nghiệp; tư vấn và làm các dịch vụ khác liên quan đến việc xác lập và thực thi

quyền sở hữu công nghiệp, trong đó vai trò đại diện là quan trọng và dễ nhận thấy nhất

của các Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

1.1 Lược sử hình thành và phát triển cơ chế đại diện sở hữu công nghiệp

1.1.2 Giai đoạn trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ

Đại diện sở hữu công nghiệp được pháp luật các nước và các điều ước quốc tế coi

như là một hoạt động dịch vụ, tuân theo các quy định trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và quy

Năm 1982 Cục Sở hữu trí tuệ thành lập, thực hiện chức năng quản lý nhà nước

trong việc xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, Phòng Thương mại và

Công nghiệp Việt Nam (VCCI) với chức năng là một tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện

cho cộng đồng doanh nghiệp nhằm xúc tiến các hoạt động thương mại, đầu tư, hợp tác

1

Vụ công tác pháp luật, Những nội dung cơ bản của Luật SHTT, Nxb Tư pháp, trang 157

Trang 11

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 12 SVTH: Lý Bang

khoa học - công nghệ, được Chính phủ chỉ định độc quyền đại diện cho các doanh nghiệp

nước ngoài đăng ký bảo hộ các tài sản sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Với nhiệm vụ này, năm 1984 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã

thành lập một đơn vị chuyên môn thực hiện chức năng đại diện sở hữu trí tuệ có tên giao

dịch tiếng Anh là Patent & Trademark Bureau (P&TB) Đến 2007, để phù hợp với quy

định mới của Luật doanh nghiệp 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Patent & Trademark

Bureau (P&TB) chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Sở hữu trí

tuệ VCCI Với nhiệm vụ đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp trong việc xúc tiến các

hoạt động thương mại và đầu tư …, đặc biệt là hoạt động tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp

trong và ngoài nước đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ tại

Việt Nam

Trước năm 2005 chưa có Luật Sở hữu trí tuệ, hoạt động dịch vụ đại diện sở hữu

quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp hướng dẫn hoạt động Lúc bấy giờ bắt đầu xuất

hiện thuật ngữ “Đại diện sở hữu công nghiệp”, “Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công

nghiệp” và “Người đại diện sở hữu công nghiệp” ở Việt Nam Tóm lại, cơ chế đại diện sở

hữu công nghiệp được hình thành ở Việt Nam vào những năm 1984, và trở nên phổ biến,

nhiều người biết đến từ năm 1996, khi cơ chế đại diện sở hữu công nghiệp có văn bản

pháp luật hướng dẫn

1.1.2 Giai đoạn từ khi có Luật Sở hữu trí tuệ cho đến nay

Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp đã được hình thành ở Việt Nam từ

năm 1996, hoạt động dưới hình thức tổ chức kinh doanh có điều kiện, có chức năng đại

diện cho tổ chức, cá nhân trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền về xác lập và bảo đảm

thực thi quyền sở hữu công nghiệp Đến năm 2007, đã có 65 tổ chức dịch vụ đại diện sở

hữu công nghiệp được thành lập với 237 người đại diện sở hữu công nghiệp hoạt động

trong tổ chức đó Số lượng đơn sở hữu công nghiệp nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ thông qua

các tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp ngày một tăng Số lượng đơn sở hữu

công nghiệp nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ thông qua các tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu

công nghiệp ngày một tăng Năm 2000, số lượng này chỉ chiếm 57 82 %, đến năm 2005

Trang 12

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 13 SVTH: Lý Bang

Năm 2005 Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội ban hành, hoạt động đại diện sở hữu

công nghiệp chính thức có văn bản luật hướng dẫn Đối tượng đại diện được mở rộng ra

cho tất cả các đối tượng có nhu cầu Đây là một đòi hỏi thực tế, vì xác lập quyền sở hữu

công nghiệp nhu cầu của các doanh nghiệp, bởi lẻ tình trạng xâm phạm bản quyền, làm

giả, làm nhái xâm phạm nghiêm trọng quyền sở hữu công nghiệp nó diễn biến rất phức

tạp, khó kiểm sót

Trước thực trạng như vậy Quốc hội, Chính phủ và các Bộ đã ban hành các văn bản

pháp luật hướng dẫn để bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ, cũng như quyền sở hữu công

nghiệp, bằng cách xã hội hóa công tác hỗ trợ xác lập quyền sở hữu công nghiệp, cho phép

cá nhân, tổ chức được hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, bằng cách ban

hành các văn bản pháp luật điều chỉnh, tạo một khung pháp lý vững chắc cho hoạt động

đại diện sở hữu công nghiệp

Các văn bản luật điều chỉnh hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp: Luật sở hữu trí

tuệ 2005, phần đại diện sở hữu công nghiệp được quy định ở Điều 151 đến Điều 155; Luật

sữa đổi, bổi sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2009, đợt sửa đổi này phần đại diện

sở hữu công nghiệp được sửa đổi ở khoản 1 Điều 154, theo đó cho phép “hợp tác xã” kinh

doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, loại bỏ các tổ chức hành nghề luật sư nước

ngoài hành nghề tại Việt Nam thì không được hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công

nghiệp

Bên cạnh luật điều chỉnh, hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp cũng được các

Nghị định hướng dẫn như: Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy

định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công

nghiệp, từ Điều 27 đến Điều 29.a; Nghị định 122/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định

số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Nghị đinh 97/2010/NĐ-CP

của Chính phủ, ngày 21 tháng 9 năm 2010 về Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở

hữu công nghiệp

Nhằm cụ thể, chi tiết hóa các quy định của luật, nghị định hoạt động đại diện sở

hữu công nghiệp được các thông tư hướng dẫn như: Thông tư số 01/2007TT-BKHCN

ngày 14 tháng 02 năm 2007 của Bộ Khoa học và công nghệ hướng dẫn thi hành nghị định

số 103/2006/NĐ-CP; phần đại diện sở hữu công nghiệp được quy định từ Điểm 53 đến

Điểm 59; Thông tư số 22/2009/TT-BTC ngày 04 tháng 02 năm 2009 của Bộ Tài chính

Trang 13

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 14 SVTH: Lý Bang

quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quán lý và sử dụng phí sở hữu công nghiệp; Thông tư

số 13/2010/TT-BKHCN, của Bộ Khoa học và Công nghệ, ban hành ngày 30 tháng 7 năm

2010, Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 17/2009/TT-BKHCN ngày

18/6/2009 và Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007;

Hiện nay hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp chưa phổ biến, chỉ tập trung ở một

số đô thị lớn, có hoạt động thương mại và công nghiệp diễn ra sôi nổi như Hà Nội và

Thành phố Hồ Chí Minh Nguồn nhân lực phục vụ ngành này còn quá ít, nơi đào tạo

nghiệp vụ cũng như pháp luật về sở hữu công nghiệp không nhiều

1.2 Khái niệm về đại diện sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam

1.2.1 Khái niệm đại diện sở hữu trí tuệ, đại diện sở hữu công nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm Đại diện sở hữu trí tuệ

Theo pháp luật Việt Nam “Đại diện sở hữu trí tuệ” được hiểu là các tổ chức đại

diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan; tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền

liên quan; Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp và cá nhân được ủy quyền đại

diện sở hữu trí tuệ khác Các tổ chức này đại diện cho tổ chức, cá nhân và thành viên của

mình trước cơ quan nhà nước để xác lập, bảo hộ và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ,

người đại diện sở hữu trí tuệ không phải là người sở hữu tài sản trí tuệ đó chỉ là người

được ủy quyền đại diện của người sở hữu tài sản trí tuệ đó

1.2.1.2 Khái niệm đại diện sở hữu công nghiệp

Luật Sở hữu trí tuệ không định nghĩa đại diện sở hữu công nghiệp, mà chỉ ra rằng

đại diện sở hữu công nghiệp bao gồm Tổ chức kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công

nghiệp và cá nhân hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp trong tổ chức đó Tổ chức kinh

doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp được gọi là “Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu

công nghiệp” và cá nhân hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp được gọi là “Người đại

“Đại diện về sở hữu công nghiệp” dùng để chỉ chung tổ chức dịch vụ đại diện sở

diện sở hữu công nghiệp” là tên gọi chung cho các tổ chức, cá nhân hành nghề kinh doanh

dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp Khi nhắc tới cụm từ “đại diện sở hữu công nghiệp”

Trang 14

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 15 SVTH: Lý Bang

ta hình dung sự tồn tại của hai chủ thể “Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp” và

“Người đại diện sở hữu công nghiệp

Đại diện sở hữu công nghiệp theo Luật SHTT 2005 5

1.2.2 So sánh “đại diện sở hữu công nghiệp” với “đại diện” trong luật dân sự

1.2.2.1 Sơ lược về “đại diện” trong luật dân sự

Đại diện là việc một người (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác

(người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện Cá

nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua đại

diện Cá nhân không để được người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ

phải tự xác lập, thực hiên giao dịch đó

Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc được ủy quyền Người được đại

diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập Người

đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2

Điều 143 Bộ luật dân sự 2005 Đại diện có hai hình thức là đại diện theo pháp luật và đại

diện theo ủy quyền

1.2.2.2 Điểm giống và khác nhau giữa “đại diện sở hữu công nghiệp” và

“đại diện” trong luật dân sự

Như trình bày ở phần trên đại diện trong luật dân sự so với đại diện sở hữu công

nghiệp thì đại diện trong luật dân sự nó có tính bao quát, rộng hơn đại diện sở hữu công

Người đại diện SHCN

Trang 15

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 16 SVTH: Lý Bang

nghiệp, hai cơ chế này có điểm giống nhau là bảo đảm lợi ích hợp pháp của người được

đại diện, xét kỷ ta thấy những điểm khác biệt sau:

Đại diện trong luật dân sự chia ra hai hình thức là đại diện theo pháp luật và đại

diện theo ủy quyền, đại diện sở hữu công nghiệp chỉ có một hình thức duy nhất là chủ sở

hữu tài sản trí tuệ đó ủy quyền cho người đại diện; phạm vi đại diện trong luật dân sự rất

rộng bao gồm tất cả các giao dịch dân sự vì lợi ích người được đại diện, còn phạm vi đại

diện sở hữu công nghiệp chỉ các quyền sở hữu công nghiệp

Người đại diện của chế định đại diện trong luật dân sự cũng rất rộng, miễn cá nhân

đủ năng lực hành vi dân sự và không rơi vào quy định tại khoản 2 Điều 143 Bộ Luật dân

sự 2005, người đại diện của đại diện sở hữu công nghiệp chỉ bó hẹp ở người có chứng chỉ

hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp và được ủy quyền đại diện Người đại diện trong

luật dân sự đôi khi là người đại diện theo quyết định của Tòa án, ngươi đứng đầu pháp

nhân, chủ hộ gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác còn người đại diện sở hữu công nghiệp là do

ý chí của cá nhân người ủy quyền, không bị chỉ định bởi một cá nhân, cơ quan và tổ chức

nào cả

1.2.3 Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

1.2.3.1 Khái niệm Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Từ đại diện trong từ điển tiếng Việt được hiểu là thay mặt, người thay mặt Nghĩa

làm thay một công việc, sự việc nào đó Ví dụ: Văn phòng đại diện, Cơ quan đại diện,

người đại diện Dịch vụ trong kinh tế học được định nghĩa những thứ tương tự như

hàng hóa nhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những

sản phẩm thiên về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong

khoảng giữa sản phẩm hàng hóa- dịch vụ Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động

hậu đại và các hoạt động phía trước nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác

với nhau Mục đích của việc tương tác là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của

khách hàng theo cách khách hàng mong đợi cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng Dịch

vụ là một quá trình có mức độ vô hình cao Việc tạo ra hay hình thành hay hình thành một

dịch vụ thường xảy ra trong quá trình tương tác giữa khách hàng với tổ chức, thẩm chí có

những dịch vụ sẽ không xảy ra nếu không có sự hiên diện của khách hàng, chẳng hạn như

dịch vụ cắt tóc

Dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp là việc Người đại diện sở hữu công nghiệp

thông qua Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp thực hiện các công việc cho

Trang 16

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 17 SVTH: Lý Bang

khách hàng như: đại diện, tư vấn hay làm các dịch vụ khác liên quan đến xác lập và thực

thi quyền sở hữu công nghiệp Nó được hiểu tương tự như một dịch vụ pháp lý và khách

hàng sẽ trả thù lao cho người thực hiện dịch vụ Theo Nghị định số 63/CP năm 1996 của

Chính phủ “Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp” được hiểu là doanh nghiệp đã

đăng ký hoạt động theo pháp luật, được Cục sở hữu công nghiệp cấp Giấy chứng nhận Tổ

những doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức dịch vụ khoa học và

công nghệ được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật và có đăng ký kinh

doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký

kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, được Cục Sở hữu trí tuệ cho phép

hoạt động Tổ chức này có Người đại diện sở hữu công nghiệp hành nghề, chuyên làm các

dịch vụ tư vấn, đại diện, các dịch vụ khác liên quan đến việc xác lập và bảo đảm thực thi

các quyền sở hữu công nghiệp

1.2.3.2 Phân biệt Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp và một số

tổ chức đại diện bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan

Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên qua là tổ chức phi lợi nhuận do

chính các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận thành

lập, hoạt động theo quy định của pháp luật nhằm mục đích bảo vệ quyền tác giả, quyền

liên quan

a Sơ lược về các tổ chức đại diện bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan

Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện các hoạt động

theo ủy quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan như:

Thực hiện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan Đàm phán cấp phép, thu và phân chia

tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác từ việc cho phép khai thác các quyền

được ủy quyền; Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên, tổ chức hòa giải khi

có tranh chấp Có các quyền và nhiệm vụ: Thực hiện các hoạt động khuyến khích sáng tạo

và các hoạt động xã hội khác; Hợp tác với các tổ chức tương ứng của các tổ chức quốc tế

và của các quốc gia trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan; Báo cáo theo định

kỳ và đột xuất về hoạt động đại diện tập thể cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các

Trang 17

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 18 SVTH: Lý Bang

quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Ở Việt Nam hiện nay có 4 tổ chức

quản lý tập thể quyền tác giả và quyền liên quan

- Trung tâm bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam (VCOMC), được thành lập

theo Quyết định số 18/2002/HNS-QĐ ngày 19 tháng 4 năm 2002 của Hội nhạc sỹ Việt

Nam và Công văn chấp thuận số 28/BTCCBCP-TCPCP của Ban tổ chức cán bộ Chính

phủ (nay là Bộ Nội vụ) Là tổ chức phi Chính phủ, phi lợi nhuận, thực hiện quản lý tập thể

đối với các quyền tác giả âm nhạc được ủy thác Nguyên tắc hoạt động, phi lợi nhuận,

hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi nhuận mà mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp của các tác giả và chủ sở hữu tác phẩm; minh bạch về thông tin tài chính; lưu trữ dữ

liệu tác giả – tác phẩm chính xác, theo dõi chính xác việc sử dụng tác phẩm, phân phối

chính xác tiền bản quyền tác giả tới các tác giả, chủ sở hữu tác phẩm Sử dụng nguồn

nhân lực một cách tối ưu, đạt hiệu quả cao nhất có thể Khai thác và bảo vệ quyền tác giả

đối với tác phẩm âm nhạc được pháp luật công nhận bảo hộ trên cơ sở hợp đồng ủy thác

quyền tác giả, giúp cơ quan Nhà nước trong việc hoạch định và thực hiện chính sách về

quyền tác giả; giúp đỡ những người sử dụng tác phẩm được thuận lợi và đảm bảo; góp

phần xây dựng và phát triển văn hóa âm nhạc thông qua hoạt động xã hội nghề nghiệp

Mục đích cao nhất của Trung tâm bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam là đảm bảo

rằng nhạc sĩ, chủ sở hữu tác phẩm được hưởng đầy đủ những quyền lợi ích chính đáng,

những thành quả do chính công sức sáng tạo của họ mang lại, từ đó có điều kiện để tiếp

tục công hiến, sáng tạo nhiều hơn nữa, thúc đẩy sự phát triển của nền âm nhạc Việt Nam

cũng như thế giới Trung tâm bảo vệ quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam hoạt động với chức

năng nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả

âm nhạc trong phạm vi quyền được quy định theo pháp luật Việt Nam, cụ thể nhiệm vụ

của trung tâm này là phối hợp với các cơ quan hữu quan, phổ biến kịp thời, đầy đủ luật

pháp, chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước trong lĩnh vực bản quyền tác giả và

các hoạt động của trung tâm tới các chủ sở hữu quyền tác giả và các hoạt động của trung

tâm tới các chủ sở hữu quyền tác giả có hợp đồng ủy thác với trung tâm

- Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam (RIAV), Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm

Việt Nam ra đời năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh, do ông Trần Chiến Thắng, Thứ

8

Tính đến năm 2011

Trang 18

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 19 SVTH: Lý Bang

sản xuất băng đĩa, trung tâm phát hành và một số cá nhân là nhạc sỹ Hoạt động theo

nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải Tập hợp các đơn vị sản xuất băng đĩa ghi

âm vào một tổ chức hiệp hội nhằm hợp tác, hỗ trợ nhau để thúc đẩy phát triển băng đĩa

ghi âm vào một tổ chức hiệp hội nhằm hợp tác, hỗ trợ nhau để thúc đẩy phát triển băng

đĩa ghi âm, góp phần thúc đẩy sáng tạo, phổ biến các giá trị âm nhạc và các loại hình nghệ

thuật dân tộc khác, và tinh hoa âm nhạc thế giới đến công chúng RIAV có nhiệm vụ

tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước về quyền tác

giả và công nghệ ghi âm đến hội viên và công chúng, thông tin tư vấn về tiến bộ của lĩnh

vực công nghệ ghi âm đến các thành viên; tổ chức hòa giải khi có tranh trấp giữa các hội

viên; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên khi bị xâm phạm

- Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam (VLCC), Trung tâm Quyền tác giả

Văn học Việt Nam được thành lập năm 2004 theo Công văn số 2118/BNV-TCPCP ngày

23 tháng 8 năm 2004 của Bộ Nội vụ Bộ máy tổ chức trung tâm gồm: Hội đồng tư vấn;

Hội đông quản lý; Ban điều hành Trung tâm có phạm vi hoạt động trên cả nước, có tư

cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng Mục đích hoạt động của trung tâm là tập hợp

các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả vào một tổ chức nhằm hợp tác, hỗ trợ nhau để thúc

đẩy hoạt động sáng tác và khai thác có hiệu quả quyền tác giả

định của Bộ Nội vụ Việt Nam, ngày 29 tháng 3 năm 2010, là tổ chức tự nguyện, tự quản,

dân chủ, bình đẳng, công khai, không vụ lợi, không vì mục đích lợi nhuận, tự trang trải

kinh phí, chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, là tổ chức đại

diện cho người nắm giữ quyền, là cầu nối giữa người nắm giữ quyền và người sử dụng tác

phẩm, vừa phục vụ lợi ích của người nắm giữ quyền, người sử dụng, vừa phục vụ lợi ích

chung của xã hội Mục đích của trực tiếp và cụ thể của Vietrro là đại diện cho người nắm

giữ quyền khai thác giá trị kinh tế của các tác phẩm mà họ ủy quyền, thông qua việc cho

phép sử dụng tác phẩm dưới hình thức sao chụp và một số hình thức sử dụng số, bao gồm

sao chép và sử dụng Internet Hiệp hội ra đời nhằm bảo vệ quyền, lợi ích cho những người

sáng tác trước mọi hình thức sao chép tác phẩm; khuyến khích sáng tạo và tạo điều kiện

cho người sử dụng tiếp cận hợp pháp với tác phẩm

b Điểm giống và khác nhau giữa Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

với các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan

Trang 19

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 20 SVTH: Lý Bang

Từ trình bày trên ta nhận thấy giữa Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp và

Tổ chức đại diện tập quyền tác giả, quyền liên quan có những khác biệt:

- Thứ nhất, Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có chia ra thành

4 tổ chức riêng biệt: Trung tâm bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam, Hiệp hội Công

nghiệp Ghi âm Việt Nam,Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam và Hiệp hội Quyền

sao chép Việt Nam Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp là một tổ chức thống

nhất, không có sự tách biệt riêng lẻ

- Thư hai, Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan là tổ chức phi lợi

nhuận, phi Chính phủ Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu là tổ chức có lợi nhuận, có chức

năng kinh doanh và chịu sự quản lý của Chính phủ mà trực tiếp là Cục Sở hữu trí tuệ

- Thư ba, Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giải, quyền liên quan không phải

doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp chính

là doanh nghiệp Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan hoạt động mang

tính chất hiệp hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp bảo vệ những thành viên của mình Còn Tổ

chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp mang dáng dấp của một tổ chức nghề nghiệp

hơn

- Thứ tư, khác nhau về đối tượng tác động, Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả,

quyền liên quan có đối tượng tác động là quyền tác giả, quyên liên quan Tổ chức đại diện

sở hữu công nghiệp có đối tượng tác động là quyền sở hữu công nghiệp

- Thứ năm, có sự tách biệt rõ rệt Tổ chức đại diện, tư vấn, dịch vụ quyền tác giả,

quyền liên quan chia làm hai nhánh Nhánh một, “Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả,

quyền liên quan”, nhánh hai, “Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan” Ở

Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp không có sự tách biệt này, mà nó là một tổ

chức thống nhất Thống nhất ở đây được hiểu là việc “đại diện, tư vấn và làm dịch vụ”

nằm trong một tổ chức

Nhìn chung ở hai tổ chức này có đối tượng tác động riêng, nên có những điểm khác

biệt nhau là dễ hiểu Tuy nhiên, xét kỷ hơn thì hai tổ chức này có những điểm giống nhau:

hoạt động của các tổ chức này là nhằm mục đích nâng cao nhận thức, tôn trọng hơn nữa

các tài sản trí tuệ; thông qua các hoạt động các tổ chức này sẽ bảo vệ được các chủ sở hữu

tài sản trí tuệ một cách hợp pháp, góp phần cho họ an tâm sáng tạo các sản phẩm trí tuệ

phục vụ con người

1.2.4 Cá nhân đại diện sở hữu công nghiệp

Trang 20

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 21 SVTH: Lý Bang

Cá nhân đại diện sở hữu công nghiệp còn được gọi là “Người đại diện sở hữu công

nghiệp”, là người hoạt động trong Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, có chứng

chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp do Cục Sở hữu trí tuệ cấp

1.2.4.1 Khái niệm Người đại diện sở hữu công nghiệp

Khái niệm người đại diện sở hữu công nghiệp bắt đầu xuất hiện từ những năm 1996

khi Nghị định số 63/CP của Chính phủ ra đời, theo đó “Người đại diện sở hữu công

nghiệp” được hiểu là thành viên chuyên nghiệp của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công

Các văn bản pháp luật hướng dẫn hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp hiện nay

không có định nghĩa cụ thể về Người đại diện sở hữu công nghiệp, mà chỉ quy định về

điều kiện được cấp chứng chỉ hành nghề, thu hồi chứng chỉ và điều kiện kinh doanh dịch

vụ Như vậy, xét một cách tổng thể quy định của pháp luật thì “Người đại diện sở hữu

công nghiệp” được hiểu là những người kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp,

được Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng chỉ hành nghề và hoạt động trong một Tổ chức dịch vụ

đại diện sở hữu công nghiệp Người đại diện sở hữu công nghiệp là những người chuyên

làm các dịch vụ đại diện, tư vấn, và làm các dịch vụ khác liên quan đến việc xác lập và

thực thi các quyền sở hữu công nghiệp, họ được xem tương tự như những người làm dịch

vụ pháp lý, nhận thù lao từ khách hàng

1.2.4.2 Điều kiện cá nhân được hành nghề kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Hầu như trong tất cả các ngành nghề để được hoạt động, tồn tại thì cần có những

điều kiện nhất định, hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp cũng vậy, cá nhân muốn hành

nghề thì phải đáp ứng các điều kiện quy định của Luật Sở hữu trí tuệ khi đáp ứng các điều

kiện này cá nhân này được gọi là “Người đại diện sở hữu công nghiệp”, bao gồm hai điều

kiện:

- Thứ nhất, có chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

- Thứ hai, hoạt động cho một tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Có chứng chỉ hành nghề là điều kiện tiên quyết để một cá nhân có thể hành nghề

dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, hay để họ được phép hoạt động trong một tổ chức

dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

9

Điều 55 Nghị định của Chính phủ số 63/CP ngày 24/10/1996

Trang 21

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 22 SVTH: Lý Bang

1.2.4.3 Đặc điểm của người đại diện sở hữu công nghiệp

Trước hết người đại diện sở hữu công nghiệp là những người am hiểu pháp luật sở

hữu trí tuệ, đặc biệt là pháp luật sở hữu công nghiệp Bởi lẽ, để được công nhận là Người

đại diện sở hữu công nghiệp thì họ phải đáp ứng các điều kiện luật định và phải chảy qua

kỳ kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp; Người đại diện sở hữu công nghiệp là

người trên 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có bằng tốt nghiệp đại học, thường

trú tại Việt Nam và là công dân của Việt Nam; Từng trực tiếp làm công tác pháp luật liên

tục 05 năm trở lên về sở hữu công nghiệp tại Việt Nam hay quốc tế; hoặc đã được đào tào

pháp luật về sở hữu công nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận; Người

đại diện sở hữu công nghiệp có khi họ chính là tác giả luận văn tốt nghiệp đại học, sau đại

học về đề tài sở hữu công nghiệp Đặc biệt, Người đại diện sở hữu công nghiệp không

phải là công chức, viên chức làm việc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và thực

thi quyền sở hữu công nghiệp

1.2.4.4 Vai trò của người đại diện sở hữu công nghiệp

Người đại diện sở hữu công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động của Tổ chức

dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp Quyết định sự tồn tại, thành công hay thất bại của tổ

chức mà họ làm việc, là bộ mặt của tổ chức khi khách hàng đến giao dịch, một lực lượng

tích cực trong việc thúc đẩy xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp, bởi hơn ai hết

người đại diện sở hữu công nghiệp là những người có kiến thức chuyên môn và đạt được

một chuẩn mực hiểu biết về pháp luật sở hữu công nghiệp

Trong quá trình hành nghề Người đại diện sở hữu công nghiệp sẽ phát hiện được

những thiếu sót, kẻ hở, dư thừa của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, từ đó có

đóng góp tích cực hơn trong việc hoàn thiện pháp luật hơn Khi tiến hành các thủ tục đăng

ký sở hữu công nghiệp, Cục Sở hữu trí tuệ chỉ giao dịch với chủ đơn hoặc người đại diện

hợp pháp của chủ đơn, như vậy, nếu Người đại diện sở hữu công nghiệp đại diện cho tổ

chức, cá nhân trong việc nộp đơn xác lập quyền sở hữu công nghiệp thì họ giữ vai trò rất

quan trọng cho sự thành công hay thất bại của việc nộp hồ sơ xác lập quyền sở hữu công

nghiệp Người đại diện sở hữu công nghiệp và Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công

nghiệp có mối quan hệ rất mật thiết, bởi sự hiện hữu của người đại diện sở hữu công

nghiệp chính là điều kiện để tổ chức tồn tại Thông qua sự hoạt động của Người đại diện

sở hữu công nghiệp như: làm đại diện nộp đơn, tư vấn và làm các dịch vụ khác liên quan

đến việc xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp sẽ hình thành nên vai trò, chức

Trang 22

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 23 SVTH: Lý Bang

năng của tổ chức này Người đại diện sở hữu công nghiệp chính là bộ mặt của tổ chức, khi

hoạt động họ nhân danh tổ chức tham gia vào các quan hệ với khách hàng, nhà nước, là

sợi dây kết nối khách hàng với tổ chức

1.3.Vai trò, đặc điểm và chức năng của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

1.3.1 Vai trò của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Dịch vụ có vai trò thúc đẩy các ngành sản xuất vật chất, sử dụng tốt hơn nguồn lao

động trong nước, tạo thêm việc làm cho người người lao động Sự phát triển của ngành

dịch vụ còn cho phép khai thác tốt hơn các tài nguyên thiên nhiên nhiên và sự ưu đãi của

tự nhiên, các di sản văn hóa, lịch sử, cũng như các thành tựu của cuộc cách mạng khoa

học – công nghệ – kỹ thuật hiện đại để phục vụ cho con người Tạo mối quan hệ giữa

ngành sản xuất trong nước và giữa nước ta với nước ngoài Mỗi ngành dịch vụ đều có vai

trò riêng, thông qua hoạt động của Người đại diện sở hữu công nghiệp, chức năng của Tổ

chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, sẽ hình thành nên vai trò của tổ chức này, các

vai trò đó là:

- Một là, hoạt động của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp là một

trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy việc bảo hộ một cách hiệu quả quyền

của chủ sở hữu, tác giả đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, đồng thời tạo điều kiện

thuận lợi cho việc tiếp cận hệ thống chuẩn mực, nguyên tắc bảo hộ, một các nhanh chóng

- Hai là, hoạt động của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp tác

động tích cực đến việc hình thành ý thức bảo hộ các quyền sở hữu công nghiệp trong xã

hội

- Ba là, Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp chung tay cùng Cục Sở

hữu trí tuệ thực thi quyền sở hữu công nghiệp, nâng cao kiến thức người dân về sở hữu

công nghiệp thông qua các hoạt động tư vấn, đại diện và làm các dịch vụ liên quan đến sở

hữu công nghiệp, các buổi hội thảo về đại diện sở hữu công nghiệp

- Bốn là, hoạt động của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp góp

phần thúc đẩy công tác xác lập, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp, tạo điều

kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các nhà sáng tạo phát triển hoạt động nghiên cứu

phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế

10

Trang 15, Những nội dung cơ bản của Luật SHTT, Nxb Tư pháp, Hà Nội – 2006

Trang 23

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 24 SVTH: Lý Bang

- Năm là, trong quá trình hoạt động Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công

nghiệp phát hiện những kẻ hở, thiếu sót của Luật Sở hữu trí tuệ Từ đó có những đóng góp

tích cực giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung, đặc biệt là pháp luật

về sở hữu công nghiệp

- Cuối cùng, Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp là một tổ chức đại

diện cho chủ thể quyền, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp

và có trách nhiệm cung cấp chứng cứ chứng minh hoặc các thông tin về hành vi xâm

phạm quyền sở hữu công nghiệp chủ thể quyền mà mình đang là đại diện, có trách nhiệm

Các vai trò này được hình thành trong suốt quá trình tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ

đại diện sở hữu công nghiệp hoạt động

1.3.2 Đặc điểm của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp chính là doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ

chức hành nghề luật sư và tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được thành lập và hoạt

động theo quy định của pháp luật Có chức năng hoạt động dịch vụ đại diện sở hữu công

nghiệp trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động

có đăng ký kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp Có Người đại diện sở hữu

công nghiệp hoạt động trong tổ chức và người đứng đầu tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu

công nghiệp hoặc người được ủy quyền phải là người đại diện sở hữu công nghiệp Tổ

chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp có trụ sở hoạt động, tên gọi riêng được ghi nhận

trong Giấy đăng ký kinh doanh hoặc Giấy đăng ký hoạt động, được Cục Sở hữu trí tuệ cấp

công nhận đủ điều kiện hành nghề dịch vụ đại sở hữu công nghiệp

Tóm lại để nhận biết một Tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp thì phải thỏa điều

kiện: là tổ chức (doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề luật sư và các tổ chức dịch

vụ khoa học- công nghệ); có đăng ký kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp và

người đứng đầu tổ chức hoặc người được ủy nhiệm phải là Người đại diện sở hữu công

Trang 24

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 25 SVTH: Lý Bang

Luật sở hữu trí tuệ ghi nhận ba loại hình hoạt động của Tổ chức dịch vụ sở hữu

công nghiệp đó là: đại diện, tư vấn và làm dịch vụ liên quan đến quyền sở hữu công

nghiệp Chức năng của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp được định hình

thông qua hoạt động người đại diện sở hữu công nghiệp làm việc trong tổ chức, các chức

năng đó là: Đại diện cho khách hàng làm và nộp đơn trước cơ quan nhà nước có thẩm

đăng ký Sáng chế, Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, Nhãn hiệu, Kiểu dáng công

nghiệp và đăng ký Chỉ dẫn địa lý Tư vấn về vấn đề liên quan đến thủ tục xác lập và thực

vấn, đàm phán ký kết và đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ; Tư vấn về hiệu lực

Bằng độc quyền; Tư vấn liên quan đến việc lựa chọn và sử dụng nhãn hiệu hàng hóa.v.v

Cung cấp thông tin về tình trạng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp; Tra cứu và

cung cấp thông tin về đăng ký và sử dụng nhãn hiệu hàng hóa; Đưa ra phương án giải

quyết khiếu nại về quyết định không chấp nhận đơn, khiếu nại không cấp văn bằng bảo

hộ; Yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ khác của các đơn vị khác Tiến hành các thủ

tục sửa đổi, thay đổi chủ văn bằng, thu hẹp phạm vi bảo hộ, duy trì, gia hạn hiệu lực,

chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp Yêu cầu chấm dứt,

hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ Tham gia tố tụng với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi

ích của khách hàng liên quan đến sở hữu công nghiệp tại Tòa án

Ngoài những chức năng chính (luật định) nêu trên, Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu

công nghiệp có thể thêm những chức năng phụ như: phối hợp với các cơ quan chức năng

xử lý các tranh chấp, vi phạm liên quan đến sở hữu công nghiệp Khiếu nại và giải quyết

khiếu nại liên quan đến thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp Ngoài ra, Tổ chức dịch

vụ đại diện sở hữu công nghiệp còn tổ chức những buổi hội thảo, tập huấn trong nước và

quốc tế về sở hữu công nghiệp, tư vấn chương trình xây dựng, quản lý và phát triển nhãn

hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý

Lưu ý: Chức năng hoạt động của tổ chức còn phụ thuộc vào năng lực của tổ chức

đó, nên các tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp có chức năng không đồng nhất nhưng cơ

bản là đáp ứng các chức năng đại diện nêu trên

Trang 25

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 26 SVTH: Lý Bang

1.4 Sự cần thiết có đại diện sở hữu công nghiệp

Cần thiết có đại diện sở hữu công nghiệp, chính là sự cần thiết có Tổ chức dịch vụ

đại diện sở hữu công nghiệp và người đại diện sở hữu công nghiệp, bởi có hai chủ thể này

sẽ tạo nên hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp

1.4.1 Sự cần thiết có Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Thực thi quyền sở hữu công nghiệp là vấn đề ngày càng trở nên quan trong đối với

sự phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế Những năm qua, Chính phủ đã tập trung

chỉ đạo đẩy mạnh các biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp và đạt được kết quả

khả quan, được quốc tế ghi nhận Tuy nhiên, việc xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

vẫn diễn biến phức tạp, kéo dài và còn phổ biến trong nhiều lĩnh vực, gây thiệt hại cho

chủ sở hữu và người tiêu dùng, gây bức xúc trong dư luận và ảnh hưởng xấu đến sự phát

cũng góp phần giảm tình trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, thúc đẩy nền kinh tế

Số lượng đơn nộp xác lập quyền SHCN vào Cục Sở hữu trí tuệ 16

quyền sở hữu công nghiệp, Cục có 281 công chức, viên chức như vậy trung bình một

người làm việc phải tiếp nhận 144 đơn trên năm, dẫn đến tình trạng quá tải, tồn động công

tác xử lý đơn nộp xác lập quyền sở hữu công nghiệp là không tránh khỏi, bằng chứng là

các năm 2009, 2010 và 2011 trung bình năm nào cũng có khoảng 8000 đơn tồn động, gây

thiệt hại về kinh tế cho các chủ thể quyền Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp ra

đời chính là cánh tay trái, hỗ trợ đắc lực cho Cục Sở hữu trí tuệ và khách hàng trong việc

xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp

Trang 26

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 27 SVTH: Lý Bang

Mặt khác, đối tượng bắt buộc nộp đơn xác lập quyền sở hữu công nghiệp thông qua

đại diện hợp pháp tại Việt Nam Các đối tượng là cá nhân nước ngoài không thường trú

tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất kinh doanh tại Việt

tượng nêu trên nếu có nhu cầu xác lập quyền sở hữu công nghiệp nếu không có tổ chức

này thì không thể xác lập được, bởi luật định bắt buộc họ phải nộp đơn thông qua đại

diện

Vai trò của các Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp đã và đang khẳng định

được vai trò, uy tín của mình trong quá trình thực thi và xác lập quyền sở hữu công

nghiệp Nộp đơn thông qua đại diện sở hữu công nghiệp, hồ sơ sẽ được kiểm tra sơ bộ

trước khi nộp lên Cục Sở hữu trí tuệ, giúp Cục Sở hữu trí tuệ giảm tải trong khâu xét

duyệt hồ sơ, số lượng đơn tồn đồng sẽ giảm đi đáng kể

1.4.2 Sự cần thiết có Người đại diện sở hữu công nghiệp

Sự có mặt của người đại diện sở hữu công nghiệp, chính là điều kiện để tổ chức

dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp tồn tại và phát triển, vì luật quy định người đứng đầu

Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu là người có chứng chỉ hành nghề, giả sử nếu một tổ chức

kinh doanh không có người có chứng chỉ hành nghê, thì tổ chức đó không đáp ứng điều

kiện kinh doanh dịch vụ đại sở hữu công nghiệp Mặt khác nữa, hai chủ thể này có mối

quan hệ rất mật thiết với nhau, vai trò của người đại diện sở hữu công nghiệp sẽ hình

thành nên chức năng của tổ chức này Từ các phân tích trên cần thiết có Tổ chức dịch vụ

đại diện sở hữu công nghiệp, bởi đây là một đòi hỏi từ thực tiễn, cũng như nhu cầu về

dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp là rất lớn trong xã hội Bởi trong nền kinh tế trí thức,

tài sản trí tuệ luôn được tôn trọng, xác lập quyền sở hữu công nghiệp chính là xác lập tài

sản trí tuệ

Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẠI

DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

2.1 Quy định của pháp luật về Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

18

Khoản 2 Điều 89 Luật SHTT

Trang 27

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 28 SVTH: Lý Bang

Tổ chức dịch vụ đại diên đại diện sở hữu công nghiệp là tổ chức thành lập theo quy định

của pháp luật, có chức năng kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, là nơi làm việc,

giao dịch giữa khách hàng và người đại diện sở hữu công nghiệp

2.1.1 Các chủ thể trong hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp

Hoạt động của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp cơ bản có các chủ thể

tham gia khi thực hiện: Thứ nhất, Người đại diện sở hữu công nghiệp, là người trực tiếp

hoạt động trong Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp Họ tham gia đại diên, tư

vấn và các dịch vụ liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp theo yêu cầu của khách hàng,

nhân danh tổ chức; Thứ hai, khách hàng của Tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp, là

những người có nhu cầu và tìm đến tổ chức này nhằm mục đích tìm người đại diện, tư vấn

và làm dịch vụ liên quan đến xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp; Thứ ba, Cơ

quan Nhà nước có thẩm quyền về sở hữu công nghiệp, là nơi tiếp nhận đơn, kiểm tra tính

chính xác, hợp lệ và xử lý hồ sơ trước khi cấp văn bằng bảo hộ, cơ quan này hiện nay là

Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ

Tuy nhiên cũng có trường hợp xuất hiện chủ thể thứ tư, đó là khi khách hàng yêu cầu

hủy bỏ, tranh chấp các văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của các đơn vị, cá nhân

khác (người liên quan) Lúc này các chủ thể sẽ là: Khách hàng, người đại diện, người liên quan

và Nhà nước

2.1.2 Điều kiện thành lập Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Tổ chức đáp ứng các điều kiện sau đây được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công

nghiệp với danh nghĩa là Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp: Là doanh nghiệp được

thành lập và hoạt động theo pháp luật về doanh nghiệp; Hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã

được thành lập và hoạt động theo pháp luật về hợp tác xã; Các tổ chức hành nghề luật sư được

thành lập và hoạt động theo pháp luật về luật sư, trừ chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư

nước ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn một trăm phần trăm vốn nước ngoài, công ty luật

trách nhiệm hữu hạn dưới hình thức liên doanh giữa tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam và tổ

chức hành nghề luật sư nước ngoài; Các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được thành lập

và hoạt động theo pháp luật về khoa học và công nghệ

Ngoài những điều kiên nêu trên pháp luật về sở hữu công nghiệp còn quy định: Người

đại diện theo pháp luật của Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp hoặc người thuộc tổ

chức được người đại diện theo pháp luật của tổ chức ủy quyền trong hoạt động kinh doanh dịch

vụ đại diện sở hữu công nghiệp phải đáp ứng các điều kiện hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu

Trang 28

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 29 SVTH: Lý Bang

công nghiệp Nghĩa là cá nhân đó có chứng chỉ hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp và hoạt

động cho một tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Tổ chức này phải có chức năng hoạt động dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp được ghi

nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, các

loại giấy tờ này phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp

Lưu ý: Chi nhánh các đơn vị phụ thuộc khác của các Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu

công nghiệp được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp dưới danh nghĩa của tổ

chức mà mình phụ thuộc

2.1.3 Ghi nhận Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Tổ chức có đủ các điều kiện kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp,

được ghi nhận là tổ chức kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp trong Sổ đăng

ký quốc gia về đại diện sở hữu công nghiệp và công bố trên Công báo sở hữu công

nghiệp theo yêu cầu của tổ chức đó sau khi nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật

Lúc này thì mới chính thức được thực hiện quyền kinh doanh, hành nghề dịch vụ đại diện sở

hữu công nghiệp, để được ghi nhận tổ chức, cá nhân đó phải có hồ sơ gửi đến Cục Sở hữu trí

tuệ yêu cầu ghi nhận, hồ sơ bao gồm: 02 bản Tờ khai yêu cầu ghi nhận Tổ chức dịch vụ đại

tin về người đại diện của tổ chức có chứng chỉ hành nghề; Bản sao giấy chứng nhận đăng ký

kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của tổ chức; Bản sao quyết định tuyển

dụng hoặc hợp đồng lao động của tổ chức đối với người có chứng chỉ hành nghề là

người đại diện theo ủy quyền của tổ chức và bản sao văn bản uỷ quyền đại diện của

người đứng đầu tổ chức; Bản sao chứng từ nộp lệ phí (trường hợp nộp lệ phí qua dịch vụ bưu

chính hoặc nộp trực tiếp vào tài khoản của Cục Sở hữu trí tuệ)

Lưu ý: Tất cả các tài liêu, giấy tờ liên quan là bảo sao thì phải xuất trình bản chính để

đối chiếu, trừ trường hợp bản sao đó được chứng thực

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ yêu cầu ghi nhận Tổ chức dịch vụ đại

diện sở hữu công nghiệp, Cục Sở hữu trí tuệ tiến hành việc xem xét hồ sơ theo trình tự tương tự

như thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

2.1.4 Ghi nhận Người đại diện sở hữu công nghiệp vào Tổ chức dịch vụ đại diện sở

hữu công nghiệp

19

Mẫu số: 03-YCGN, Thông tư 01/2007/TT-BKHCN

Trang 29

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 30 SVTH: Lý Bang

Khi Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp có tuyển dụng thêm người mới vào

làm việc, tổ chức này phải có nhiệm vụ làm các thủ tục yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ để ghi nhận

người đại diên sở hữu công nghiệp vào Sổ đăng ký quốc gia về đại diện sở hữu công nghiệp,

thuận tiện cho việc quản lý Hồ sơ gồm có: 02 bản Tờ khai yêu cầu ghi nhận người đại diện

diện sở hữu công nghiệp nơi cá nhân hành nghề; Bản sao quyết định tuyển dụng hoặc hợp

đồng lao động của tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp đối với cá nhân (xuất trình

bản chính để đối chiếu, trừ trường hợp bản sao đó được chứng thực); Bản sao chứng từ nộp

lệ phí (trường hợp nộp lệ phí qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp trực tiếp vào tài khoản của Cục

Sở hữu trí tuệ)

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ yêu cầu ghi nhận người đại diện sở hữu

công nghiệp, Cục Sở hữu trí tuệ tiến hành việc xem xét hồ sơ theo trình tự tương tự như thủ tục

cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

2.1.5 Xóa tên Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp bị xoá tên trong Sổ đăng ký quốc gia

về đại diện sở hữu công nghiệp và việc xóa tên được công bố trên Công báo sở hữu công

nghiệp trong các trường hợp sau đây:

- Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp chấm dứt kinh doanh dịch vụ đại

diện sở hữu công nghiệp;

- Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp không còn đáp ứng đầy đủ các điều kiện

kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Trong các trường hợp có căn cứ khẳng định Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công

nghiệp không đáp ứng điều kiện kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp nữa,

Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định xoá tên tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

trong Sổ đăng ký quốc gia về đại diện sở hữu công nghiệp; và công bố việc xóa tên trên

Công báo sở hữu công nghiệp trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày ký quyết định Mọi tổ

chức, cá nhân có quyền yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ xóa tên tổ chức đại diện sở hữu công

nghiệp, nếu có căn cứ khẳng định tổ chức đó không còn đủ điều kiện kinh doanh

Chú ý: Việc xóa tên người đại diện sở hữu công nghiệp cũng tương tự như xóa tên

Tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp

20

Mẫu số: 03-YCGN, Thông tư 01/2007/TT-BKHCN

Trang 30

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 31 SVTH: Lý Bang

2.2 Quy định của pháp luật về cá nhân hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công

nghiệp

2.2.1 Chương trình đào tạo pháp luật sở hữu công nghiệp

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư

pháp quy định cụ thể về Chương trình đào tạo pháp luật về sở hữu công nghiệp Cá nhân

được coi là đã tốt nghiệp khoá đào tạo pháp luật về sở hữu công nghiệp quy định Luật Sở

hữu trí tuệ trong các trường hợp sau đây: Tác giả luận văn tốt nghiệp đại học, sau đại học về đề

tài sở hữu công nghiệp; Tốt nghiệp khoá đào tạo về sở hữu công nghiệp được Bộ Khoa học

và Công nghệ công nhận

2.2.2 Điều kiện cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Để được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp cá nhân

phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: Cá nhân là công dân Việt Nam, nghĩa là mang

Quốc tịch nước Việt Nam; Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở

lên, không bị mắc các bệnh làm mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; Thường trú tại

Việt Nam, cá nhân đó có đăng ký thường trú với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và

tốt nghiệp đại học, không phân biệt học bằng đại học đó có ngành học là gì, kể cả những

ngành không liên quan gì đến sở hữu công nghiệp Miễn có bằng tốt nghiệp đại học là đáp

ứng điều kiện này; Đã trực tiếp làm công tác pháp luật về sở hữu công nghiệp liên tục 05

năm trở lên hoặc trực tiếp làm công tác thẩm định các loại đơn đăng ký sở hữu công

nghiệp tại cơ quan quốc gia hoặc quốc tế về sở hữu công nghiệp về sở hữu công nghiệp từ

05 năm trở lên hoặc đã tốt nghiệp các khóa đào tạo pháp luật về sở hữu công nghiệp được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận; Cá nhân đó không phải là công chức, viên

chức đang làm việc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo đảm thực thi

quyền sở hữu công nghiệp; Đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra về nghiệp vụ đại diện sở hữu công

nghiệp do cơ quan có thẩm quyền tổ chức

21

Điều 18 Luật cư trú 2006

Trang 31

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Trang 32 SVTH: Lý Bang

Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu

công nghiệp cho những cá nhân khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên và dựa trên hồ

sơ yêu cầu cấp của họ

Lưu ý: Cá nhân là tác giả của luận văn tốt nghiệp đại học, sau đại học về đề tại sở

hữu công nghiệp, tốt nghiệp khóa đào tạo về sở hữu công nghiệp được Bộ Khoa học và

Công nghệ công nhân cũng đủ tiểu chuẩn đáp ứng điều kiện này

2.2.3 Kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Đối tượng được dự kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp là những cá

nhân đáp ứng các điều kiện được trình bày ở phần trên, có hồ sơ gửi đến Cục Sở hữu trí

tuệ để đăng ký kiểm tra

2.2.3.1 Hội đồng kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Hội đồng kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp do Cục sở hữu trí tuệ

thành lập, có nhiệm vụ ra đề kiểm tra, tổ chức kiểm tra và chấm bài kiểm tra theo Quy chế

kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp do Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ ban

hành (Quy chế kiểm tra) Hội đồng Kiểm tra gồm có Chủ tịch Hội đồng – là Cục trưởng

Cục sở hữu trí tuệ, Phó Chủ tịch Hội đồng, Ủy viên thư ký và các thành viên khác do Chủ

tịch Hội đồng chỉ định từ Danh sách các chuyên gia có thể tham gia Hội đồng kiểm tra

Danh sách các chuyên gia có thể tham gia Hội đồng kiểm tra gồm các chuyên gia am hiểu

pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp thuộc Cục

Sở hữu trí tuệ và các tổ chức xã hội nghề nghiệp về đại diện sở hữu công nghiệp do Bộ

trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt trên cơ sở đề xuất của các cơ quan, tổ chức

đó Các quyết định của Hội đồng được thông qua theo nguyên tắc biểu quyết với 2/3 ý

kiến đồng ý của các thành viên Hội đồng Thù lao cho công việc của các thành viên Hội

đồng được chi bằng nguồn thu từ phí kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp theo

Quy chế kiểm tra

2.2.3.2 Đăng ký dự kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Cá nhân có nhu cầu để được dự kỳ kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp

thì phải gửi hồ sơ đến Cục Sở hữu trí tuệ xem xét, làm thủ tục cần thiết để dự thi

Hồ sơ đăng ký dự kiểm tra được nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ gồm một bộ tài liệu

sau: 02 bản Tờ khai đăng ký dự kiểm tra theo mẫu; Bản sao Bằng tốt nghiệp đại học; Tài

liệu chứng minh người đăng ký dự kiểm tra đã được đào tạo về pháp luật sở hữu công

nghiệp hoặc đã có kinh nghiệm trong hoạt động này; Bản sao Chứng chỉ tốt nghiệp khóa

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm