Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trong mộtthời
Trang 1Những điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/1/2015
Lời nói đầu của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 có đoạn:
“Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt ”
Vai trò của gia đình đối với xã hội là vô cùng quan trọng nên các chế định pháp luật điềuchỉnh vấn đề không những phải đáp ứng được định hướng pháp luật mà còn phải phù hợpvới thực tiễn xã hội Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 qua gần 15 năm áp dụng đượccoi là hành lang pháp lý quan trọng trong việc kế thừa và phát huy chế độ hôn nhân và giađình tốt đẹp của dân tộc ta Tuy nhiên với sự phát triển không ngừng cả về đời sống vậtchất cũng như tinh thần của người dân mà Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bộc lộnhiều bất cập, hạn chế…gây khó khăn cho người dân cũng như cơ quan giải quyết cácvấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình
Chính vì vậy, việc thay đổi luật đã là một điều tất yếu để phù hợp với yêu cầu thực tiễn.Luật hôn nhân và gia đình 2014 (có hiệu lực 1/1/2015) đã được Quốc hội thông qua với
đa số phiếu tán thành được cho là sẽ mang lại nhiều điều tích cực và đổi mới trong vấn đềhôn nhân và gia đình này
1 Thêm nhiều thuật ngữ được giải thích
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật HNGĐ 2014) đã có nhiều thuật ngữ được quyđịnh hơn Những thuật ngữ mới đáng chú ý theo Điều 3 Luật HNGĐ 2014 là:
“4 Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền,
nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trong mộtthời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng
7 Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ
chồng
10 Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách
của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôntheo quy định của Luật này hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ýmuốn của họ
12 Yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó
là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ
15 Ly hôn giả tạo là việc lợi dụng ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính
sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đíchchấm dứt hôn nhân
21 Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo
hoặc thụ tinh trong ống nghiệm
Trang 222 Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì
mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thaivà sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợvà tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung củangười phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con
23 Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người
khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi íchkhác”
2 Nâng độ tuổi kết hôn
Theo Luật HNGĐ 2000 và các văn bản hướng dẫn thì độ tuổi kết hôn là: nam bước sangtuổi 20 (19 tuổi + 1 ngày), nữ bước sang tuổi 18 (17 tuổi + 1 ngày) Tuy nhiên, theo quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ 2014 thì: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ
đủ 18 tuổi trở lên”.
Sở dĩ có việc thay đổi này là vì nếu quy định tuổi kết hôn của nữ là vừa bước qua tuổi 18thì quy định này là không thống nhất với Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự Đó là,theo Bộ luật Dân sự người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, khi xác lập, thựchiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý…
Còn theo Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có đầy đủnăng lực hành vi tố tụng dân sự Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn làkhông hợp lý, thiếu đồng bộ và làm hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập cácgiao dịch như quyền yêu cầu ly hôn thì phải có người đại diện
3 Chuyển từ cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính sang “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”
Khoản 2 Điều 8 Luật HNGD 2014 quy định: “2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.
Việc kết hôn giữa những người cùng giới tính là một vấn đề nhạy cảm, có nhiều ý kiếntrái chiều Tuy nhiên cuối cùng, pháp luật vẫn chưa thừa nhận quan hệ hôn nhân cùng giớitính do còn nhiều vấn đề liên quan đến văn hóa, phong tục…Tuy nhiên, việc quy định
“không thừa nhận hôn nhân cùng giới tính” cũng là một bước tiến mới trong nhận thứccủa mọi người đối với một vấn đề nhạy cảm này
4 Quy định về việc giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như
vợ, chồng mà không đăng ký kết hôn
Điều 14 Luật HNGĐ 2014 quy định:
“1 Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như
vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ vàchồng Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giảiquyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này
Trang 32 Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản
1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thìquan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn”
Điều 15 quy định:
“Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giảiquyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con”
Điều 16 quy định:
“1 Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợchồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trongtrường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và cácquy định khác của pháp luật có liên quan
2 Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ vàcon; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coinhư lao động có thu nhập”
Có một điều đáng chú ý là Luật HNGĐ 2014 coi công việc nội trợ và các công việc kháccó liên quan để duy trì đời sống được coi là lao động có thu nhập Quy định này khá mớivà nó được coi sẽ là một chế định hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi phụ nữ và con
5 Tài sản của vợ, chồng khi kết hôn
Luật HNGĐ 2000 quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng, thiếu cơ chếcông khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng Luật hiện hành chủ yếu đề cập đếnvấn đề đất đai, còn các tài sản khác như chứng khoán, tài sản trong doanh nghiệp thì chưađược đề cập tới, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp
Nay, Luật HNGĐ 2014 quy định cụ thể: việc thỏa thuận phải được lập bằng văn bản cócông chứng hoặc chứng thực trước khi kết hôn Thỏa thuận này vẫn có thể được thay đổisau khi kết hôn Quy định này sẽ làm giảm thiểu sự tranh chấp tài sản sau ly hôn của cáccặp vợ chồng trong tình hình hiện nay
Một số quy định tiêu biểu:
Điều 31 quy định:
“Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của
vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêngcủa vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liênquan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng”
Điều 32 quy định:
“1 Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoảnngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giaodịch liên quan đến tài sản đó
Trang 42 Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản màtheo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyềnxác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật dân sự cóquy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình”.
Điều 34 quy định:
“1 Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy địnhphải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứngnhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuậnkhác
2 Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tàisản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thựchiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giảiquyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này”
Điều 35 quy định:
“1 Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận
2 Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trongnhững trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình”
Điều 36 quy định:
“Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó Thỏa thuận này phải lập thành văn bản”
…
6 Ly hôn
6.1 Mở rộng thêm đối tượng có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
Điều 51 quy định:
“1 Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn
2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên
vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủđược hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họgây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ
3 Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặcđang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”
Trang 56.2 Nguyên tắc chia tài sản
Điều 59 quy định:
“1 Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản
do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặccủa hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này vàtại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sảnkhi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì ápdụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63và 64 của Luật này để giải quyết
2 Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sảnchung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp đểcác bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng
3 Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiệnvật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phầnmình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch
4 Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sảnriêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ,chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đónggóp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác
5 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mấtnăng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôimình
6 Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tưpháp hướng dẫn Điều này”
6.3 Hôn nhân chấm dứt do vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
Luật HNGĐ 2014 đã có những quy định cụ thể về giải quyết vấn đề về tài sản cũng nhưnhân thân khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
Điều 66 quy định:
Trang 6“1 Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quảnlý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quảnlý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
2 Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trườnghợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòaán tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế
3 Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặcchồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phânchia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự
4 Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác”
Điều 67 quy định:
“1 Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng củangười đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thờiđiểm kết hôn Trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tạikhoản 2 Điều 56 của Luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật Trongtrường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đượcxác lập sau có hiệu lực pháp luật
2 Quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng đượcgiải quyết như sau:
a) Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từthời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực Tài sản
do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợlà đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực làtài sản riêng của người đó;
b) Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyếtđịnh của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giảiquyết như chia tài sản khi ly hôn”
6.4 Người trực tiếp nuôi con thì con từ đủ 7 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con
Luật HNGĐ 2000 quy định nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì xem xét nguyện vọng của contuy nhiên Luật HNGĐ 2014 đã giảm độ tuổi của con để xem xét nguyện vọng về ngườinuôi dưỡng sau khi ly hôn là 7 tuổi
7 Cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Luật HNGĐ 2014 có quy định rất mới đó là cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.Việc mang thai hộ phải tuân theo điều kiện nhất định
Điều 95 quy định:
Trang 7“1 Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện củacác bên và được lập thành văn bản.
2 Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai vàsinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
b) Vợ chồng đang không có con chung;
c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý
3 Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;
b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;
c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mangthai hộ;
d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bảncủa người chồng;
đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý
4 Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật vềsinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
5 Chính phủ quy định chi tiết Điều này”
…
8 Mở rộng đối tượng có quyền yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng
Luật HNGĐ 2014 đã mở rộng các đối tượng được quyền yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡnghơn
Điều 119 quy định:
“1 Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định củapháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thựchiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó
2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, cóquyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phảithực hiện nghĩa vụ đó:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ
Trang 83 Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấpdưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điềunày yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thựchiện nghĩa vụ đó”.
Nghĩa vụ đối với con khi ly hôn
Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi lyhôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con chomột bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trởlên (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là từ đủ 9 tuổi trở lên), thì phải xem xét nguyệnvọng của con
Quy định “về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bênkhông có thoả thuận khác” được sửa thành “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trựctiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc,nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.Ngoài ra, Luật mới cũng có một số điểm mới như: Bổ sung nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô,dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; quy định về con do người vợ mang thai trong thời kỳhôn nhân cũng được luật hóa Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểmchấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ mang thai trong thời kỳ hôn nhân Nếucha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được tòa án xác định
Với những điểm đổi mới như trên, hy vọng rằng, khi đi vào cuộc sống, Luật Hôn nhân vàgia đình sửa đổi năm 2014 sẽ giải quyết được những quan hệ phức tạp trong lĩnh vực hônnhân và gia đình, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, bền vững và hạnh phúc
VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG VIỆC MANG THAI HỘ
Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam (sửa đổi) năm 2014 đã được thông qua tại Kỳ họplần thứ 7, Quốc hội Khoá 13 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2015
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 đã có nhiều quy định mới, trong đó cóquy định Nhà nước cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Đây là một vấn đề pháplý hoàn toàn mới tại Việt Nam Ngoài những ý kiến ủng hộ, thì cũng có không ít ý kiếnbày tỏ sự băn khoăn, thậm chí phản đối
Để cùng nhìn nhận những mặt tích cực, hạn chế của vấn đề này, sau đây là tổng quan cácquy định pháp luật về hoạt động mang thai hộ tại một số quốc gia trên thế giới Hội thảo
Tư pháp Quốc tế Hague (HCCH) được tổ chức tại Hà Lan vào năm 2012 rút ra kết luận:Các thiết chế trên thế giới quy định về mang thai hộ đang được chia ra làm bốn nhóm Cụthể: Nhóm nước chưa có quy định, nhóm nước phản đối, nhóm nước cho phép vì mụcđích nhân đạo và nhóm các nước chấp thuận thương mại hóa
Trang 9Tiến thoái lưỡng nan trong việc hoàn thiện pháp luật :
Tại một số quốc gia có nền y tế và pháp luật tiến bộ như Thụy Điển, Tây Ban Nha, Pháphay Đức, việc mang thai hộ là bất hợp pháp Năm 1991, tòa án tối cao Pháp tuyên bố: “Cơthể con người là không phải để cho mượn, cho mướn hay để bán đi” Quyết định này cấmtuyệt đối mọi hình thức mang thai hộ dẫu là tự nguyện hay được thương mại hóa Mọitrường hợp bị phát hiện sẽ phải hầu tòa, thậm chí bị buộc tội hình sự
Các quốc gia đã hợp pháp hóa việc mang thai hộ lại được chia ra làm hai nhóm nước:Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại Đối với cácquốc gia thuộc nhóm vì mục đích nhân đạo, chẳng hạn như Anh hay Hy Lạp, các thỏathuận mang thai hộ chủ yếu được tiến hành trên cơ sở tự nguyện
Một số quốc gia còn quy định việc thương mại hóa mang thai hộ là vi phạm pháp luật TạiAnh, trừ phi được tòa án yêu cầu, người nhờ mang thai hộ không được phép chi trả bất kỳkhoản tiền nào đối với người mang thai vượt quá “các chi phí hợp lý” trong quá trình thai
kỳ Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có cách giải thích cụ thể nào về “các khoản chi phí hợplý” này có tính xác thực như thế nào Theo luật pháp Anh, mọi khoản chi trả của ngườimẹ phục vụ cho quá trình mang thai đều được xem là “chi phí hợp lý”
Hiện đã có một số quốc gia cho phép công dân nước mình mang thai hộ vì mục đíchthương mại Những quốc gia nổi bật trong danh sách này có thể kể đến Ấn Độ, Ukrainehay Thái Lan Luật pháp các nước này thường không bắt buộc cặp vợ chồng nhờ mangthai hộ phải là công dân của nước đó Thậm chí một số nước chỉ đơn giản hợp pháp hóamang thai hộ vì mục đích chứ không xây dựng hoặc chưa hoàn thiện các văn bản luật đểkiểm soát và hướng dẫn hoạt động này Đối với nhóm nước này, thị trường chợ đen vànạn lạm dụng cơ thể phụ nữ để sinh lời vẫn là một mối lo ngại lớn
Tại Ấn Độ, việc mang thai hộ đã được xác nhận là hợp pháp từ năm 2002 Chỉ mới có Hộiđồng Nghiên cứu y tế Ấn Độ là đơn vị đưa ra các hướng dẫn về kỹ thuật thụ tinh nhân tạovà cách giải quyết các trường hợp mang thai hộ tại các trung tâm y tế Mãi đến năm 2008,
Bộ Phát triển Phụ nữ và Trẻ em của Ấn Độ mới bắt đầu cân nhắc xây dựng bộ luật quảnlý hoạt động mang thai hộ Tuy nhiên, bộ luật này bị trì hoãn mãi đến nay vẫn chưa xâydựng xong, những lỗ hổng pháp lý này sẽ làm hại nhiều nhất đến những phụ nữ vùng thônquê vì họ thiếu kiến thức Những vụ kiện tại Ấn Độ xoay quanh vấn đề mang thai hộ cóthể phải mất đến 10-12 năm để giải quyết Thế nhưng quyền lợi chính đáng của các bênthỏa thuận dường như vẫn là một dấu chấm hỏi quá lớn đối với chính quyền, khi cơ quanchức năng không có bất kỳ một bộ luật hoàn thiện nào trong tay
Nhiều vụ án mang thai hộ vẫn khó giải quyết
Nhiều quốc gia trên thế giới vẫn chưa giải quyết triệt để vấn đề nhân thân của đứa trẻ sinh
ra từ quá trình mang thai hộ Các khúc mắc thường nằm ở thủ tục để người phụ nữ sinh rađứa trẻ từ bỏ quyền làm mẹ của mình Trong một số trường hợp thỏa thuận mang thai hộ,
Trang 10các thủ tục “chuyển giao” quyền nuôi dạy thậm chí phức tạp đến mức cặp vợ chồngkhông được xác nhận danh phận cha mẹ của mình đối với đứa trẻ trên giấy tờ khai sinh.Họ buộc phải nhận đứa trẻ làm con nuôi thay vì là con ruột của mình.
Mang thai hộ: Con sinh ra là con của ai?
Mang thai hộ hay đẻ thuê là những cụm từ không còn xa lạ trong thời gian gần đây Phápluật Việt Nam cũng đã có những quy định nhằm ngăn chặn việc mang thai hộ Trong bốicảnh lấy ý kiến đóng góp sửa đổi Luật hôn nhân và gia đình, việc xây dựng một bộ khungpháp lý để giải quyết những hệ lụy liên quan đến vấn đề mang thai hộ thực sự đang làmđau đầu các nhà làm luật
Cấm hay không cấm mang thai hộ
Với tình trạng vô sinh ngày càng nhiều, vợ chồng hiếm muộn hay đơn giản là khôngmuốn trực tiếp sinh con để giữ vóc dáng thì nhu cầu mang thai hộ, nhu cầu thuê đẻ thựcsự là có thật Pháp luật về hôn nhân và gia đình đã có quy định cấm việc mang thai hộthậm chí có chế tài xử phạt nặng vấn đề này, thế nhưng những “giao dịch” ngầm vẫn tồntại và việc đẻ thuê mang thai hộ vẫn xảy ra
Đa số các ý kiến cho rằng mang thai hộ là vi phạm về đạo đức, thuần phong mỹ tục, viphạm pháp luật Bởi lẽ, với phong tục tập quán của người Việt từ lâu đời: Con ruột phải
do người mẹ mang nặng đẻ đau sinh ra Tình mẫu tử là rất thiêng liêng Mặc dù là mangthai hộ nhưng cũng trải qua chín tháng, mười ngày, do đó sợi dây tình cảm giữa đứa trẻvới người mẹ không thể tự nhiên dứt bỏ Việc sinh ra và phải “trả con” cho người khác,tình “mẫu tử” bị chia cắt là không phù hợp và trái đạo lý
Hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chưa có một quy định nào về vấn đề mangthai hộ tuy nhiên Nghị định số 12/2003/NĐ-CP về sinh con theo phương pháp khoa học
đã nghiêm cấm hành vi mang thai hộ này
Cần có một quy định mở về mang thai thai hộ cho một số trường hợp đặc biệt
Ở một khía cạnh khác, có người lại cho rằng cần cho phép mang thai hộ nhưng nghiêmcấm “giúp trực tiếp” Để bảo vệ quan điểm này, người ta lý giải rằng với những trườnghợp người vợ không thể mang thai nhưng hai vợ chồng đều có khả năng có con, mà thôngqua con đường thụ tinh ống nghiệm, vợ chồng họ lấy trứng và tinh trùng để nuôi phôi thai
Trang 11rồi cấy phôi để chị, em gái hoặc người thân tình nguyện mang thai hộ nhau, thì cần đượcnhìn nhận một cách toàn diện và nhân văn.
Bởi trong quan hệ mang thai hộ này không tồn tại yếu tố "tiêu cực" nào, người chồngkhông có quan hệ tình dục trực tiếp với người mang thai hộ, và đứa trẻ được hình thành từtrứng của người vợ, tinh trùng của người chồng nên dù không phải do người vợ mang thaithì vẫn là "máu mủ" của họ
Do đó vấn đề cấm hay không cấm mang thai hộ cần được Bạn soạn thảo sửa đổi Luật hônnhân và gia đình mang ra bàn thảo tiếp Nên chẳng cần có một quy định mở để đảm bảocho một số trường hợp đặc biệt,
Hệ quả pháp lý mang thai hộ: Con sinh ra là con của ai?
Trong quá trình soạn thảo sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000 nhiều ý kiến đề cập đến khó khăn, bất cập trong việc giải quyết các vụ liên quan vềmang thai hộ Bởi lẽ hiện tại chưa có quy định cụ thể hậu quả pháp lý như xác định cha,mẹ đứa trẻ được sinh, các quyền nhân thân và tài sản của đứa trẻ với những người có liênquan (người mang thai hộ, người nhờ mang thai hộ)
Nhiều người đặt câu hỏi: Đứa trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ là con của “người đẻ” haycon của người mẹ “nhờ đẻ”? Thực tế người mẹ mang thai hộ và sinh ra đứa trẻ về mặtsinh học thì không phải là mẹ của đứa trẻ ấy, nhưng về mặt quan hệ dân sự lại là quan hệmẹ ruột - con ruột, trong khi về mặt pháp luật lại không được thừa nhận
Việc xác định đứa trẻ là con của người này hay con của người kia không đơn thuần là xácđịnh mối quan hệ cha mẹ con mà còn liên quan đến vấn đề nhân thân, về quyền thừa kế vàcác quyền dân sự khác
Thiết nghĩ, Luật hôn nhân sửa đổi bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cần quyđịnh cụ thể về mang thai hộ, hậu quả pháp lý của việc mang thai hộ nhằm bảo vệ quyềnvà lợi ích của trẻ em sinh ra từ quan hệ này
Đưa mang thai hộ vào… luật?
Nhu cầu mang thai hộ là có thực và đang trở nên rất phổ biến nhưng do pháp luật chưacho phép nên nhiều người đã chấp nhận thực hiện dịch vụ “chui” để có một đứa con Điềunày có thể dẫn đến những tranh chấp pháp lý xảy ra Nhiều ý kiến đã đề xuất đưa hành vimang thai hộ vào trong Luật Hôn nhân gia đình
Trang 12Luật không cho nên phải làm chui
Dù hiện nay luật pháp không cho phép mang thai hộ, nhưng trên thực tế dịch vụ này vẫn
âm thầm diễn ra Điều đáng nói là từ ý nghĩa nhân đạo đúng với nghĩa của của mang thai
hộ là giúp đỡ những người hiếm muộn không thể mang thai có con, việc làm này đã trởthành một “dịch vụ ngầm” mà nhiều người vẫn gọi là “đẻ thuê” hay “cho thuê tử cung”.Người nhờ mang thai và người mang thai hộ chỉ có thỏa thuận miệng về điều kiện và thùlao, sau đó tiến hành thông qua một dịch vụ y tế “chui”, người mang thai hộ phải tuyệt đốigiữ bí mật và bị cách ly với đứa trẻ ngay sau khi sinh ra Vì nhiều gia đình hiếm muộn sẵnsàng trả số tiền lớn lên đến hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng cho một ca sinh hộ nhưthế nên không ít người đã hành nghề… đẻ thuê với nhiều lần mang thai cho người khác
Trên các diễn đàn mạng, không ít người hiếm muộn có nhu cầu cũng dò hỏi thông tin vềdịch vụ này Cũng có nhiều người công khai đăng thông tin “đẻ thuê”, kiểu như: Mình 23tuổi, hiện đang ở TP.HCM Mình nhận mang thai hộ cho gia đình hiếm muộn, một phầngiúp các gia đình, môt phần vì điều kiện kinh tế gia đình mình Mình cao 1m66 nặng55kg, trình độ đại học, đã có 1 bé trai… Mẹ nào có nhu cầu liên hệ…
Trên thực tế, nhu cầu nhờ mang thai hộ là có thật Theo BS Hồ Mạnh Tường, Tổng Thưký Hội Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, có hai nhóm người không thể mang thai, nếu muốncó con chỉ còn cách duy nhất là nhờ mang thai hộ Một là những phụ nữ có tử cung khôngbình thường (tử cung bị dị dạng hay bị các bệnh lý như u xơ hay bệnh về nội mạc, phụ nữbị cắt bỏ tử cung do tai biến sản khoa trước đó…) Hai là những người có tử cung bìnhthường nhưng sức khỏe không cho phép để mang thai, ở nước ta gặp nhiều nhất là bệnhtim
Thực ra trước đây ngành y đã từng áp dụng thành công biện pháp mang thai hộ cho nhữngtrường hợp bị biến chứng trong chương trình kế hoạch hóa gia đình (nạo phá thai nhiềulần hoặc bị cắt tử cung) Mang thai hộ được hiểu là dùng biện pháp kỹ thuật lấy trứng của
vợ và tinh trùng của chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của mộtphụ nữ khác để nhờ người này mang thai hộ Tuy nhiên, việc làm này sau đó phải chấmdứt vì Nghị định 12/2003/NĐ-CP về sinh con theo phương pháp khoa học ra đời với quyđịnh nghiêm cấm hành vi mang thai hộ Từ đây, tất cả những người có nhu cầu đều phảilàm “chui”, một số khác dù sức khỏe không cho phép vẫn mang thai, và hậu quả là chết cảmẹ lẫn con
Trang 13Những tình huống tranh chấp có thể xảy ra
Vì là “chui”, không được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ nên việc mang thai hộ có thể dẫnđến những tình huống tranh chấp khó có thể lường trước được Chẳng hạn như ngườimang thai hộ sau thời gian mang thai ít nhiều cũng có tình cảm máu mủ với đứa trẻ bịsinh ra Vì vậy, cũng có thể xảy ra tình trang “phá hợp đồng”, không giao con cho đối táchoặc bỏ trốn… Lúc này thì người nhờ mang thai hộ đứng trước hoàn cảnh trớ trêu, khôngthể kiện đối tác vì rõ ràng trên luật pháp, đứa trẻ sinh ra là con của người mang thai hộ;cũng không thể bỏ đứa con đó vì trên thực tế nó là máu mủ của mình… Hoặc cũng cótrường hợp, đối tượng mang thai hộ khi đã trở thành chuyên nghiệp có thể nghĩ ra nhiềuchiêu vòi vĩnh, hành hạ khổ chủ như đòi thêm tiền, ra nhiều điều kiện tréo nghoe Hoặcquá đáng hơn, sau khi nhận tiền rồi tìm cách “chuồn”, người đẻ thuê sẽ phá thai và tiếptục hành trình lừa đảo của mình… Tất nhiên trong trường hợp này, khổ chủ là người nhờmang thai cũng chẳng biết kêu ai vì họ không được pháp luật bảo vệ
Ngược lại, người mang thai hộ cũng có nguy cơ gặp không ít rủi ro khi thực hiện dịch vụ
“chui” Thực tế những người mang thai hộ thường là những người có hoàn cảnh khókhăn, ở các vùng nông thôn, sự tiếp cận và hiểu biết pháp luật thấp Các thỏa thuận nhiềukhi lại không có hợp đồng, khi trao con cho người khác lại bị “bùng” tiền không đượcthanh toán Lúc đó ai sẽ là người bảo vệ họ Hoặc cũng có trường hợp trong quá trìnhmang thai gia đình người nhờ mang thai hộ có trục trặc trong hôn nhân hoặc vi phạmpháp luật như ly dị hoặc bị chết, bị bắt đi tù không nhận đứa con nữa Hoặc khi đứa bésinh ra gặp rắc rối về sức khỏe như sinh non, ốm yếu, dị tật… người nhờ mang thai khôngmuốn nhận, trốn tránh Khi đó người mang thai hộ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, có thể dẫnđến những hành động sai trái khác như phá thai, bỏ con, cho con, bán con… Việc mangthai hộ, nhất là mang thai hộ nhiều lần cũng có thể dẫn đến nhiều nguy cơ cho ngườimang thai hộ như tai biến sản khoa gây vô sinh, hoặc thậm chí mất mạng
Ngoài ra, các vấn đề pháp lý khác như xác định cha, mẹ đứa trẻ được sinh ra, các quyềnnhân thân và tài sản của đứa trẻ với những người có liên quan như người mang thai hộ,người nhờ mang thai hộ… cũng không được pháp luật đề cập tới Vì vậy, nếu thuận cả haibên thì không sao, nhưng nếu xảy ra những tranh chấp phát sinh thì đứa trẻ sinh ra có thểgặp nhiều thiệt thòi
Có nên luật hóa?
Vấn đề mang thai hộ đã được đưa ra bàn thảo nhiều lần và bao giờ cũng có 2 luồng ý kiếntrái chiều Trước đó, vấn đề này đã được đưa vào nội dung của tiến trình lấy ý kiến sửađổi, bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 Theo đó, hầu hết mọi người đều nhậnthấy việc mang thai hộ vừa là một giải pháp nhân đạo đối với những trường hợp hiếm
Trang 14muộn, vừa giải quyết được những tranh chấp đang diễn ra trong thực tế khi mang thai hộđang diễn ra rất phổ biến nhưng lại thiếu sự điều chỉnh của pháp luật Tuy nhiên, vì nhiềulý do nên hiện nay mang thai hộ chưa được Luật pháp công nhận Trong lần sửa đổi LuậtHôn nhân và Gia đình lần này, Bộ Tư pháp một lần nữa lại lấy ý kiến về việc chấp nhậnhay tiếp tục cấm mang thai hộ, và lần này nhiều ý kiến vẫn cho rằng cần thiết phải luậthóa TS Nguyễn Văn Cừ, Phó Chủ nhiệm Khoa Luật dân sự (ĐH Luật Hà Nội) nêu ýkiến: Mặc dù pháp luật không công nhận nhưng thực tế việc này vẫn diễn ra Vì vậy vấnđề mang thai hộ cần đưa vào luật để kiểm soát, nếu không sẽ có những hậu quả khó lườngsau này
Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến lo ngại việc cho phép mang thai hộ sẽ kéo theo hiệntượng nhiều phụ nữ vì những lý do khác nhau không muốn mang thai, mà áp dụng biệnpháp này, từ đó sẽ dẫn đến tình trạng thương mại hóa, dịch vụ mang thai hộ sẽ nở rộkhông kiểm soát được TS Nguyễn Văn Cừ cho rằng, vấn đề này Luật cần quy định chặtchẽ về hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan để việc mang thai hộ mangđúng ý nghĩa là việc làm nhằm mục đích nhân đạo, tạo điều kiện cho những cặp vợ chồngkhông có khả năng sinh con được quyền làm cha, mẹ Chẳng hạn như việc nhận con và trảcon giữa người nhờ mang thai hộ và người được nhờ mang thai hộ như thế nào, xác nhận
ai là mẹ đẻ đứa bé, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên…
Một số ý kiến đề xuất mang thai hộ chỉ nên cho phép trong phạm vi gia đình, tức ngườiđược nhờ mang thai hộ là chị hoặc em của người nhờ mang thai hộ để tránh những tranhchấp phức tạp về sau Ngược lại cũng có ý kiến cho rằng nếu chỉ cho trong phạm vi giađình thì sẽ có rất nhiều người thiệt thòi, như những người không có chị em nào để nhờmang thai hộ hoặc nếu có mà chị em đó không muốn mang thai hộ… Vì vậy, để tránhtrường hợp đẻ thuê thì Luật cần quy định các trường hợp người phụ nữ không thể có khảnăng mang thai phải nhờ người mang thai hộ phải được xác định bởi một hội đồng khoahọc y tế
Ngoài ra, một vướng mắc nữa mà nếu đưa vào luật phải quy định chặt chẽ, đó là việcphân định ai sẽ là mẹ đứa trẻ Hiện nay, theo quy định của pháp luật thì người sinh ra đứatrẻ mới là mẹ đẻ Trong khi đó, trường hợp con sinh ra bởi người mang thai hộ thì kháiniệm huyết thống được hiểu theo nhiều hướng khác nhau Thứ nhất có thể theo hướng củapháp luật hiện hành, tức là người mang thai hộ là mẹ đẻ của đứa trẻ Thứ hai quan hệhuyết thống được hiểu là giữa đứa con sinh ra và người phụ nữ có trứng thụ tinh (ngườinhờ mang thai hộ) Tất nhiên, vì ý nghĩa nhân đạo của việc làm này, cách hiểu theo ýnghĩa thứ 2 là có lý hơn Và vì vậy, giữa bên nhờ mang thai hộ và bên nhận mang thai hộcũng cần thiết phải có văn bản thỏa thuận có sự chứng nhận của cơ quan chức năng, đểthống nhất việc đứa trẻ sau này là con của cặp vợ chồng hiếm muộn (người nhờ mangthai) Cụ thể, phải xác định rõ đứa trẻ được sinh ra trong trường hợp này là con đẻ củangười có huyết thống với trẻ qua giám định ADN…
Trang 15Có thể thấy mang thai hộ vẫn là một vấn đề khá nhạy cảm Nhưng dù sao nó cũng là mộtthỏa thuận dân sự hình thành trên cơ sở tự nguyện, tự do ý chí và bình đẳng, vì vậy phápluật cần sớm công nhận và bảo vệ sự thỏa thuận này để tránh những biến tướng vi phạmpháp luật và tránh những tranh chấp xảy ra khi không có luật điều chỉnh.
THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT: CHUNG SỐNG TRƯỚC NGÀY 3 THÁNG 1 NĂM
Chỉ cần chung sống như vợ chồng?
Những thẩm phán theo cách hiểu thứ nhất cho rằng trong trường hợp này, quan hệ giữaông A và bà C vẫn được công nhận là hôn nhân thực tế dù vừa vi phạm về hình thức(không đăng ký kết hôn) vừa vi phạm về nội dung (ông A đã có vợ hợp pháp là bà B).Các thẩm phán lý giải: Theo Điều 3 Nghị quyết 35, hai bên nam nữ chung sống với nhaunhư vợ chồng trước ngày 3-1-1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệulực) nhưng không đăng ký kết hôn thì được tòa công nhận là vợ chồng khi ly hôn Nhưvậy, điều khoản trên không hề quy định nam nữ sống với nhau như vợ chồng phải có đủđiều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình
Vì luật không quy định nên các thẩm phán cho rằng chỉ cần điều kiện duy nhất là hai bênchung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 thì công nhận họ là vợ chồng màkhông cần điều kiện gì khác Luật pháp không bắt buộc mà chỉ khuyến khích họ đi đăngký kết hôn nên giả sử họ không đăng ký thì thực chất họ vẫn có mối quan hệ vợ chồng.Hay phải đủ các điều kiện kết hôn?
Ngược lại, nhiều thẩm phán khác không đồng tình với cách hiểu trên Theo họ, ông A vàbà C sẽ không được công nhận là vợ chồng dù hai bên có tổ chức cưới hỏi đàng hoàng, cósống chung từ năm 1970 bởi ông A đang có vợ là bà B
Trang 16Theo các thẩm phán, Điều 3 Nghị quyết 35 chỉ châm chước cho các trường hợp sốngchung với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 mà vi phạm điều kiện về hình thức làchưa đăng ký kết hôn; còn về nội dung phải thì tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn theoLuật Hôn nhân và gia đình năm 1960 (Trừ những trường hợp cán bộ miền Nam tập kết raBắc trước giải phóng lấy tiếp vợ hai, đã có thông tư hướng dẫn riêng).
Tòa Dân sự TAND Tối cao đồng ý với quan điểm này vì Điều 35 Nghị quyết 35 khôngyêu cầu có đủ điều kiện kết hôn cũng không có nghĩa là không cần tuân thủ điều kiện khikết hôn Theo Tòa Dân sự, thẩm phán hiểu khái niệm không quy định điều kiện kết hônđồng nghĩa với khái niệm không cần đủ điều kiện kết hôn là máy móc và không chínhxác Đánh đồng hai khái niệm trên sẽ dẫn đến chuyện áp dụng pháp luật thiếu thống nhất.Mặt khác, Tòa Dân sự cho rằng nếu áp dụng theo quan điểm thứ nhất thì rất khó xử lýnhững trường hợp đặc biệt như những người cùng dòng máu về trực hệ như cha, con, anhem; cha mẹ nuôi với con nuôi Tương tự là giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi vớicon nuôi; cha chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; cha dượng với con riêng của vợ; mẹkế với con riêng của chồng; những người có họ trong phạm vi ba đời… Bởi thực tế cótrường hợp thuộc một trong các trường hợp trên sống với nhau như vợ chồng, có tổ chứclễ cưới, thực sự chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ nhau nhưng làm sao có thể công nhận họlà vợ chồng được!
Theo một lãnh đạo Tòa Dân sự, luật hôn nhân và gia đình các năm 1960, 1986 và 2000đều quy định hôn nhân muốn được coi là hợp pháp trước hết phải thỏa mãn các điều kiệnkết hôn, không vi phạm điều cấm của pháp luật Do đó, Điều 3 Nghị quyết 35 của Quốchội cũng không thể thoát ly ngoài các quy định đó
Không chỉ dựa vào câu chữ
Theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, khi tìm hiểu, giải thích pháp luật, để đảm bảo tính chínhxác và không mâu thuẫn với quy định khác thì không chỉ căn cứ vào câu chữ cụ thể màcòn phải tổng hợp các quy định về các vấn đề đó Có như vậy mới đảm bảo tính ổn địnhvà thống nhất trong việc giải thích và áp dụng pháp luật, không rơi vào chuyện áp dụngmáy móc, trái thực tế, trái đạo đức
Không thể vi phạm điều kiện về nội dung
Tôi cho rằng trong trường hợp hai người sống với nhau nhưng vi phạm điều kiện kết hônvề nội dung như đang có vợ (chồng) hoặc vi phạm đạo đức thì không nên công nhận hônnhân thực tế cho họ Nếu có tranh chấp thì tòa chỉ nên giải quyết về vấn đề tài sản hoặccon chung cho họ
Nếu chấp nhận một cách dễ dãi theo kiểu luật không quy định điều kiện theo quan điểmthứ nhất thì sẽ có người được công nhận nhiều hôn nhân một lúc, gây nhiều khó khăn, rắcrối khi giải quyết hậu quả phát sinh
Thẩm phán HOÀNG VĂN HẢI, Phó Chánh án TAND tỉnh Tây Ninh
Phải hiểu đúng tinh thần nghị quyết
Trang 17Theo tôi, phải hiểu theo cách thứ hai mới đúng tinh thần Nghị quyết 35 bởi ngoài các điềukiện về mốc thời gian nêu trên thì phải có đủ điều kiện kết hôn mới có thể coi là hôn nhânthực tế Điều kiện kết hôn ở đây có thể hiểu là yếu tố đương nhiên cho một cuộc hôn nhâncó ý nghĩa.
Tôi nghĩ chẳng ai máy móc mà công nhận vợ chồng cho những người thiếu năng lực hành
vi hoặc có quan hệ họ hàng gần gũi, có dòng máu trực hệ với nhau cả
Luật sư NGUYỄN MINH TÂM, Đoàn Luật sư TP.HCM
TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: HẾT SỐNG CHUNG = LY HÔN THỰCTẾ?
Posted on 06/04/2009 by Civillawinfor
HOÀNG LAM
Chồng tự ý bỏ vợ đi “tòm tem” với bà khác, tòa công nhận đã ly hôn trên thực tế? Chuyệntức mình này đã xảy ra với bà N Vừa chớm qua tuổi 18, bà và ông H được gia đình haibên tổ chức lễ cưới nhưng cả hai không đăng ký kết hôn Theo luật định, đây là hôn nhânthực tế vì hai bên đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1974, tức trước ngày 3-1-1987
Không sống chung, mất chồng như chơi!
Cuộc sống vợ chồng ban đầu cũng hòa thuận, hạnh phúc Năm 1982, khi bà N mang thaicon thứ năm thì quan hệ của họ trở nên căng thẳng Biết chồng mình đang để ý đến ngườikhác nên bà N ra sức ngăn cản Khổ nỗi ông H đã không lắng nghe mà lại còn đánh vợ.Tủi thân, bà bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và tần tảo nuôi con, lòng vẫn mong có lúcchồng sẽ quay về với mình
Nhưng ông H vẫn quyết đâm đơn ra tòa đòi ly hôn vợ Tại tòa, ông công khai thừa nhậnmình và vợ bé đã có với nhau bốn mặt con Hội đồng xét xử sơ thẩm hôm ấy bày tỏ thái
độ bất mãn thay cho bà N Họ cho rằng ông H thiếu trách nhiệm làm chồng, làm cha vàquyết định bác yêu cầu ly hôn của ông Cấp sơ thẩm còn tuyên hủy việc kết hôn trái phápluật giữa ông H với người vợ hai Sau đó, tuy chống án không thành nhưng ông H vẫntiếp tục chung sống với vợ hai
Năm 1994, ông H xích mích với bạn nhậu nên bị đánh chết Chín năm sau, cha ruột củaông kiện đòi con dâu thứ hai trả đất do con trai chết để lại Ông bảo ngày xưa mình giaođất cho con trai theo kiểu cho sử dụng tạm chứ không cho luôn Phúc thẩm vụ án hồitháng 3-2004, TAND tỉnh Bình Dương xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng củaông H., giờ ông H chết thì phát sinh thừa kế Nếu muốn thì cha ông H cần khởi kiện yêucầu chia thừa kế
Lạ lùng ở chỗ TAND tỉnh lại kết luận ông H và bà N đã ly hôn trên thực tế Tòa này chorằng tuy cả hai cấp tòa không cho ông H ly hôn với bà N nhưng quan hệ vợ chồng giữahọ đã không còn tồn tại Họ không sống chung suốt từ năm 1982 đến khi ông H bị đánh
Trang 18chết Hơn nữa, khi ông H bị đánh chết, bà chẳng thể hiện sự quan tâm, cũng không tốgiác kẻ gây án Trong khi đó, người vợ sau đã chung sống với ông H từ trước năm 1987nên đủ tư cách là vợ thực tế của ông H (!?).
Nhận định oái oăm của TAND tỉnh khiến bà N ngẩn người vì bị tước mất quyền làm vợ,mất luôn quyền thừa hưởng di sản của chồng Đến khi bà được người khác chỉ vẽ cáchnộp đơn xin giám đốc thẩm thì thời hạn kháng nghị đã không còn
Chưa ly hôn thì vẫn là vợ chồng
Năm 1977, ông B chung sống không đăng ký kết hôn với bà T và có hai con chung Năm
1987, ông bỏ quê lên thị xã chung sống với bà K nhưng chừng 10 năm sau mới đăng kýkết hôn với bà này Ít năm sau, ông B lại quan hệ với phụ nữ khác Nói không được, bà
K bèn nộp đơn yêu cầu TAND thị xã cho ly hôn với ông B
Sơ thẩm vụ án hồi tháng 5-2008, TAND thị xã xác định hôn nhân giữa ông B với người
vợ đầu là hôn nhân thực tế Tòa tuyên hủy quan hệ hôn nhân giữa ông với bà K mặc dùhọ có đăng ký kết hôn Theo dõi vụ việc, dư luận râm ran nhận xét vì sao bà K có đăngký kết hôn với ông B đàng hoàng, đã sống chung 21 năm, có hai mặt con mà vẫn bị đẩy
ra đường tay trắng
Tuy nhiên, cách xử lý nêu trên của TAND thị xã được TAND tỉnh cho là hợp lý và đượcgiữ y tại phiên xử phúc thẩm Bởi lẽ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cấm kết hôntrong trường hợp đang có vợ hoặc có chồng Vào thời điểm đăng ký kết hôn với bà K.,ông B đang bị ràng buộc bởi cuộc hôn nhân hợp pháp với bà T Tuy bị hủy kết hôn tráipháp luật, quyền lợi về tài sản của bà K vẫn được xem xét, giải quyết tùy thuộc khả năngchứng minh tài sản nào là “của anh, của em, của chúng ta”
Pháp luật về hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ đều quy định việc ly hôn phải được tòaán ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc ra bản án ly hôn Trước giờ, pháp luậtchỉ thừa nhận hôn nhân thực tế chứ không thừa nhận ly hôn thực tế Bởi vậy, nếu bên vợhoặc bên chồng chưa chết, cũng chưa ra tòa ly hôn thì không ai có quyền tùy tiện “khaitử” cuộc hôn nhân hợp pháp của họ
MỘT ÔNG LẤY HAI BÀ: AI LÀ VỢ HỢP PHÁP?
Posted on 25/04/2008 by Civillawinfor
Một vụ án ly hôn hy hữu vừa được TAND quận 10, TP HCM, đưa ra xét xử Người chồngchung sống không đăng ký với 2 bà vợ, nay muốn ra tòa ly hôn với bà vợ đầu tiên và chiatài sản Nhưng tòa không chấp nhận mà lại tuyên hủy cuộc hôn nhân trái pháp luật củaông với bà vợ thứ hai
Vấn đề pháp lý nảy sinh trong vụ án này là ai được công nhận làm vợ hợp pháp củanguyên đơn – ông L Thời điểm ông ăn ở với hai người phụ nữ diễn ra trước 1/6/1976 –ngày thống nhất pháp luật giữa hai miền Nam – Bắc, trong đó có luật Hôn nhân và giađình năm 1959 quy định chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Trang 19Theo hồ sơ xác minh của tòa án, năm 1958, ông L và bà S sống chung tại một căn hộ dochính quyền cũ cấp cho ông Sau nhiều năm chung sống và sinh hạ được 7 người con, haingười phát sinh mâu thuẫn Ông L thường bỏ nhà đi nơi khác.
Năm 1972, ông L chính thức sống như vợ chồng với bà T., và có với nhau 3 mặt con.Gần đây, ông quay về căn nhà cũ sống cùng bà S Dù được bà chăm sóc chu đáo, nhưngông L cho rằng con cái thiếu tôn trọng cha nên gia đình thường xảy ra mâu thuẫn Ông đềnghị được ly hôn và chia tài sản là ngôi nhà trên
Phó chánh tòa dân sự TP HCM Nguyễn Văn Triệu: “Chỉ có một người hợp pháp
Theo tôi, điều kiện để được công nhận là hôn nhân thực thế là hai người phải sống chungnhư vợ chồng trước ngày 3/1/1987, có con chung, được họ hàng và láng giềng thừa nhận.Nếu ai có đủ điều kiện này thì được xem xét, công nhận Nếu có nhiều người cùng đủđiều kiện thì ưu tiên công nhận cho người đến trước Nếu họ không đủ thì mới xét đếntrường hợp sau Một khi đã công nhận người nào đó thì phải bác người kia”
Theo TAND quận 10, quan hệ hôn nhân giữa ông L và bà S là hôn nhân thực tế, thể hiệnqua việc hai người đã sống chung từ năm 1958, và có 7 người con Tòa nhận định, giađình có xảy ra mâu thuẫn, nhưng chưa đến mức trầm trọng Các con và vợ vẫn chăm sócông chu đáo Mục đích xin ly hôn chỉ để chia tài sản, do vậy không thể vì lý do này mànói ông không còn tình cảm với gia đình Đặc biệt, khi chưa chấm dứt quan hệ vợ chồngvới bà S., ông lại sống chung với bà T Đây là việc làm trái pháp luật, không thể duy trì vàchấp nhận được Nếu không hủy bỏ thì khác nào tiếp tay cho một quan hệ xấu…
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia pháp luật, căn cứ những điều kiện được công nhận làhôn nhân thực tế thì bà S và T đều như nhau Quan hệ giữa họ với ông L cùng được xáclập trước ngày 3/1/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) và có conchung…
Có ý kiến phải xem xét đến mối quan hệ thực của “cuộc tình tay ba” này Có thể với mộtbà, ông L chỉ chung sống mà không có tình cảm Còn trường hợp kia, ông lại yêu thương.Khi đó, không thể nói rằng bà nào đến trước thì được công nhận Việc chung sống là tựnguyện không đăng ký kết hôn, với mỗi người ông L đều sống một thời gian dài, cónhiều tình cảm khăng khít, có con và tài sản chung… Do vậy không thể nói rằng bà nàyđược, bà kia không
Họ cho rằng không thể đem luật hiện nay để áp dụng cho những gia đình đã hình thànhtrước khi có luật Luật hôn nhân và gia đình ở miền Nam trước đây tuy có quy định chế
độ hôn nhân một vợ một chồng, nhưng thực tế vẫn chấp nhận cho người đàn ông lấy vợlẽ Tại thông tư 69 hướng dẫn thực hiện Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 ở miền Bắc,giải thích với các trường hợp gia đình một chồng nhiều vợ hình thành trước khi luật cóhiệu lực chỉ hủy hôn nhân hoặc cho ly hôn khi người vợ có yêu cầu Theo quan niệm này,cả hai người phụ nữ trên đều là vợ hợp pháp
SOURCE: Pháp Luật TP HCM
Trang 20THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI: XÁC LẬP NUÔI CONNUÔI CÓ NHIỂU RẮC RỐI
Posted on 11/12/2010 by Civillawinfor
NGUYỄN THANH XUÂN
Pháp luật về đăng ký nuôi con nuôi có những quy định cụ thể về việc xác lập quan hệ chamẹ và con; giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho ngườiđược nhận làm con nuôi được chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội Luật hiệnhành cũng không cấm người độc thân không được quyền nhận con nuôi Tuy nhiên, khixác lập quan hệ nuôi con nuôi trong thời điểm độc thân và sau đó lại kết hôn, thì ngườicòn lại có được quyền trở thành cha, mẹ nuôi hay không, điều này pháp luật còn bỏ ngỏ.Tháng 3.2009, ông Lâm Thành đến UBND xã T.D, huyện L.V, tỉnh Đồng Tháp yêu cầuđăng ký làm cha nuôi cháu bé chưa tròn một tuổi Tại thời điểm đăng ký và xác lập quanhệ nuôi con nuôi thì ông Thành trong tình trạng độc thân, do đó khi đăng ký khai sinh chocon nuôi, bản chính giấy khai sinh chỉ có tên cha, không ghi tên mẹ Sự việc tưởng chừngđơn giản, nhưng đến tháng 5.2010 ông Thành đăng ký kết hôn với bà Trần Thị Ngọc Hoa.Khi có giấy chứng nhận kết hôn, ông Thành đến UBND xã yêu cầu ghi tên người vợ mớicưới của mình vào giấy khai sinh của con nuôi để người con nuôi có cha, mẹ trong hồ sơ,sau này không ảnh hưởng đến tình cảm cha mẹ và thuận lợi trong cuộc sống UBND xã đãtra cứu các quy định pháp luật, nhưng vẫn không rõ trường hợp trên có được giải quyếthay không, vì pháp luật hiện hành không quy định về trường hợp này
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định rõ điều kiện của người được nhận làm connuôi, theo đó một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là
vợ chồng Tuy nhiên, trong điều luật này chỉ công nhận việc nuôi con nuôi khi tại thờiđiểm nhận nuôi con nuôi cả hai người là cha, mẹ nuôi phải là vợ chồng Luật cũng nhưcác văn bản hướng dẫn không quy định một người độc thân xác lập quan hệ nuôi connuôi, sau đó kết hôn thì vợ/chồng của họ được quyền xác lập quan hệ nuôi con nuôi tiếptheo, để trở thành cha/mẹ nuôi Điều này đã gây rắc rối cho chính quyền sở tại, khi ngườidân có yêu cầu giải quyết, như trường hợp của ông Thành
Mặt khác trên thực tế, khi nhận nuôi con nuôi ông Thành trong tình trạng độc thân, điềunày hoàn toàn phù hợp với quy định và pháp luật không cấm Nhưng sau đó, người vợhợp pháp của ông Thành lại tiếp tục đăng ký nuôi con nuôi đối với đứa con nuôi củachồng mình thì liệu có mâu thuẫn với quy định chung về nuôi con nuôi hay không? (vìđứa con nuôi chỉ có thể làm con nuôi của một người, hoặc của cả hai người là vợ chồng).Có ý kiến cho rằng, trong vụ việc này ông Thành đã được UBND xã cấp giấy chứng nhậnkết hôn, do đó ông có yêu cầu ghi bổ sung họ và tên vợ vào giấy khai sinh của người connuôi thì bà Hoa thì phải đến UBND xã – nơi cấp giấy khai sinh người con nuôi của ôngThành làm thủ tục hồ sơ xin nhận nuôi con nuôi của ông Thành làm con nuôi của mình.Sau khi có quyết định nuôi con nuôi, UBND xã sẽ bổ sung họ và tên bà Hoa vào giấy khaisinh của người con nuôi, từ đó bà Hoa sẽ là mẹ nuôi của con ông Thành Điều này theoquy định của pháp luật chưa phù hợp, vì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định
Trang 21một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng Việcbà Hoa tiếp tục yêu cầu được nhận con nuôi của ông Thành lần thứ hai là không đúng,dẫn đến việc hai người nhận nuôi một đứa con nuôi.
Rắc rối từ trường hợp trên cho thấy, quy định pháp luật hiện hành chưa rõ, dẫn đến rắc rốicho cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi và gây khó cho côngdân Điều này cũng phát sinh nhiều cách hiểu và áp dụng luật khác nhau, dẫn đến giảiquyết không thống nhất Có thể, UBND xã áp dụng quy định: người con nuôi chỉ có thểlàm con nuôi của một người, hoặc của cả hai người là vợ chồng tại bất kỳ thời điểm nàonên khi ông Thành xác lập quan hệ hôn nhân thì vợ của ông Thành cũng có quyền làm mẹnuôi Cũng có thể hiểu, quy định một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặccủa cả hai người là vợ chồng tại thời điểm nhận nuôi con nuôi, do đó khi vợ ông Thànhmuốn làm mẹ nuôi thì không thể giải quyết
Tránh tình trạng áp dụng luật không thống nhất, nên có hướng dẫn cụ thể để giải quyếtvướng mắc, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân
CẦN HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ CHẤM DỨT VIỆC NUÔI CON NUÔI VÀHỦY VIỆC NUÔI CON NUÔI
Posted on 05/01/2010 by Civillawinfor
THS NGUYỄN PHƯƠNG LAN – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội
1 Chấm dứt việc nuôi con nuôi:
Việc nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôivà người được nhận làm con nuôi Với mục đích như vậy, quan hệ này thường rất chặtchẽ và bền vững, không thể dễ dàng phá vỡ được Tuy nhiên vì không gắn bó trên cơ sởhuyết thống, nên quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chỉ tồn tại về mặt pháp lý.(1)Nếutrong quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ, tình cảm cha mẹ và con hình thành một cách tựnhiên, thì trong quan hệ nhận nuôi con nuôi, tình cảm giữa hai bên đòi hỏi phải có mộtquá trình thử thách, trải nghiệm và xây dựng Điều đó hoàn toàn không dễ dàng, mà nóđòi hỏi sự cố gắng của cả hai phía Vì vậy, trong những trường hợp nhất định, việc nuôicon nuôi có thể chấm dứt Xuất phát từ thực tiễn nuôi con nuôi, pháp luật nước ta đã quyđịnh về việc chấm dứt nuôi con nuôi trong Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐnăm 2000 Nhưng thế nào là chấm dứt việc nuôi con nuôi thì chưa được quy định, màtheo chúng tôi thì đây là khái niệm có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để phân biệt với huỷviệc nuôi con nuôi Luật HN&GĐ năm 2000 mới chỉ quy định về căn cứ, quyền yêu cầuvà hậu quả pháp lý của việc chấm dứt nuôi con nuôi tại các Điều 76, 77, 78 Tuy nhiên,theo chúng tôi, các quy định của pháp luật về vấn đề này còn có một số điểm bất cập,không phù hợp với thực tiễn, mục đích cũng như bản chất của việc nuôi con nuôi Có thểthấy điều đó qua một số nội dung sau:
1.1 Khái niệm chấm dứt việc nuôi con nuôi:
Trang 22Chấm dứt việc nuôi con nuôi chỉ đặt ra trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định, xuấtphát từ yêu cầu của các bên chủ thể và phải được Toà án quyết định Việc nhận nuôi connuôi phải có sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới có giá trị pháp lý,
do đó việc chấm dứt nuôi con nuôi cũng phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnquyết định, vì việc nhận nuôi con nuôi hay chấm dứt nuôi con nuôi có ảnh hưởng sâu sắcđến quyền, lợi ích của cả hai phía: người nhận nuôi và người con nuôi, đồng thời còn ảnhhưởng tới lợi ích chung của xã hội Chấm dứt việc nuôi con nuôi được áp dụng trongtrường hợp việc nuôi con nuôi đã được thực hiện, đã có hiệu lực thực tế, tức là quan hệcha mẹ và con giữa người nuôi và con nuôi đã được thiết lập Chấm dứt nuôi con nuôi tứclà chấm dứt quan hệ cha mẹ và con đó giữa hai bên
Từ những đặc điểm cơ bản đó có thể đưa ra khái niệm chấm dứt việc nuôi con nuôi nhưsau: Chấm dứt việc nuôi con nuôi là việc chấm dứt quan hệ pháp luật cha mẹ và con giữacha mẹ nuôi và con nuôi do Toà án quyết định khi có những căn cứ mà pháp luật quy địnhtheo yêu cầu của những người có quyền yêu cầu
1.2 Căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi:
*Căn cứ thứ nhất: Theo quy định tại Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000, một trong nhữngcăn cứ chấm dứt nuôi con nuôi là: “Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyệnchấm dứt quan hệ nuôi con nuôi” ( khoản 1 Điều 76) Quy định này không phù hợp vớimục đích và bản chất của việc nuôi con nuôi Khi nhận nuôi con nuôi, cả hai bên đềunhằm xác lập quan hệ cha mẹ và con Quan hệ cha mẹ và con là bền vững, chặt chẽ,không thể chấm dứt một cách dễ dàng, đơn giản Hơn nữa, tình cảm gắn bó thực sự giữacha mẹ nuôi và con nuôi cũng không thể “tự nguyện chấm dứt” là chấm dứt được Nếukhông vì những lý do khác gây ảnh hưởng sâu sắc, làm sứt mẻ, thương tổn về tình cảmgiữa hai bên cha mẹ nuôi và con nuôi, làm cho quan hệ nuôi con nuôi khó có thể tiếp tục,thì việc chấm dứt nuôi con nuôi đương nhiên không xảy ra Do đó nếu không có lý donghiêm trọng gì thì cha mẹ nuôi và con nuôi cũng không bao giờ tự nguyện thoả thuậnchấm dứt quan hệ nuôi con nuôi Quan hệ nuôi con nuôi được thiết lập trên cơ sở tình cảmgiữa hai bên và tình cảm đó luôn được củng cố, vun đắp qua năm tháng mà hai bên cùngchung sống, nên không thể dễ dàng xoá bỏ hay mất đi được Vì lẽ đó, quy định này cóphần không phù hợp với thực tiễn
Trước đây, pháp luật phong kiến cho phép con nuôi được trở về nhà cha mẹ đẻ của mìnhkhi “con trai trưởng, con trai thứ nhà người con nuôi đều chết mất cả, không có ai nối dõicho hai thân sinh ra mình, thì người con nuôi ấy được trình bày tình đó với cha mẹ nuôi,chọn người khác làm con trưởng rồi bản thân người con nuôi mới được về chịu tang báohiếu cho cha mẹ sinh ra mình…Nếu không có mạng lệnh của cha mẹ nuôi mà tự tiện bỏnhà ấy về nhà mình thì sẽ bị khép vào tội bất hiếu”(2) hoặc khi “cha mẹ nuôi kia có con,mà cha mẹ đẻ không có con nữa, nay muốn trở về, cho phép”(3) Tuy nhiên việc cho phépcon nuôi trở về nhà cha mẹ đẻ của mình không phải là chấm dứt việc nuôi con nuôi Bởivì “trong trường hợp này, người con nuôi nói trên vẫn lui xuống làm con thứ của cha mẹnuôi để đền báo cái công nuôi nấng từ trước”(4) Pháp luật phong kiến rất coi trọng chữhiếu Đạo hiếu đòi hỏi con cái (con đẻ cũng như con nuôi) phải hết sức thành kính phụng
Trang 23dưỡng, kính trọng và vâng lời cha mẹ, ông bà, nhất là những người có công nuôi dưỡngmình Do đó, việc chấm dứt nuôi con nuôi theo pháp luật phong kiến hầu như không đặt
ra Con nuôi cũng như con đẻ có thể bị cha mẹ từ khi con có những hành vi vi phạm phápluật, có hành vi du đãng, lăng mạ ông bà, cha mẹ thân thuộc…(5)
Trong thực tiễn xét xử có thể xảy ra tình huống cha mẹ đẻ trong hoàn cảnh quá khó khăn
đã đồng ý cho con mình làm con nuôi người khác, việc nhận nuôi con nuôi đã được đăngký theo thủ tục luật định Sau này, cha mẹ đẻ có kinh tế khá giả nên muốn nhận lại con.Cả hai bên, cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi đều tự nguyện và có yêu cầu chấm dứt quan hệnuôi con nuôi Đó là trường hợp của bố mẹ cháu Đoàn Văn T và mẹ nuôi là Đoàn ThịTrang D tại quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh (6)Vậy trong trường hợp này có căn cứ đểchấm dứt quan hệ nuôi con nuôi không? Căn cứ theo quy định tại Điều 76 Luật HN&GĐnăm 2000 thì không có căn cứ để chấm dứt việc nuôi con nuôi trong trường hợp này, vìgiữa cha mẹ nuôi và con nuôi hoàn toàn không có mâu thuẫn, không có các dấu hiệu đượcquy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 76 Nhưng không thể áp dụng quy định tại khoản 1Điều 76 vì trong trường hợp trên không phải là người con nuôi tự nguyện chấm dứt mà làcha mẹ đẻ của người con nuôi yêu cầu chấm dứt Vì vậy, đầu năm 2004, khi có đơn yêucầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, Toà án quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh đã từ chối thụ lývới lý do không có tranh chấp Đến nay, theo quy định tại khoản 5 Điều 28 Bộ luật tốtụng dân sự (BLTTDS) thì đây là một loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án,tuy nhiên về luật nội dung thì không có căn cứ để giải quyết, như đã phân tích ở trên Đâylà thực tiễn cần sớm có quy định cụ thể tương ứng để Toà án có căn cứ giải quyết khi cácđương sự có yêu cầu
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, cần bỏ quy định tại khoản 1 Điều 76 LuậtHN&GĐ năm 2000 vì nó không phù hợp với thực tiễn, với mục đích và bản chất của việcnuôi con nuôi, làm giảm ý nghĩa của việc nuôi con nuôi
*Căn cứ thứ hai, “Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành viphá tán tài sản của cha, mẹ nuôi” (khoản 2 Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000) Căn cứ nàycó thể coi đó là lỗi của người con nuôi đối với cha, mẹ nuôi Cần lưu ý rằng, con nuôiphải có những hành vi này đối với chính cha, mẹ nuôi thì mới là căn cứ chấm dứt việcnuôi con nuôi; còn nếu con nuôi có những hành vi này đối với người khác thì không phảilà căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi.(7)
*Căn cứ thứ ba, “Cha mẹ nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản 3 Điều 67 hoặc khoản
5 Điều 69 của Luật này” (khoản 3 Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000)
Khoản 3 Điều 67 quy định: “Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức laođộng, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác”
Khoản 5 Điều 69 quy định: “Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha,mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích về một trong cáctội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãihoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ
dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm
Trang 24đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc conlàm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội”.
Qua các quy định trên cho thấy, khi cha mẹ nuôi có một trong những hành vi trên thì đượccoi là có căn cứ cho việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi Mặc dù các quy định trênkhông nêu rõ những hành vi này của cha mẹ nuôi là đối với con nuôi hay đối với bất cứngười nào khác, nhưng cần phải hiểu rằng đó là những hành vi của cha mẹ nuôi đối vớicon nuôi trong quá trình thực hiện việc nuôi con nuôi, thì mới trở thành căn cứ chấm dứtviệc nuôi con nuôi Đây là những hành vi có lỗi của cha, mẹ nuôi, xâm phạm một cáchnghiêm trọng đến lợi ích của người con nuôi Vì vậy khi cha, mẹ nuôi có một trong nhữnghành vi trên thì con nuôi hoặc người giám hộ của con nuôi có thể yêu cầu chấm dứt việcnuôi con nuôi Điều 76 viện dẫn đến khoản 5 Điều 69 Luật HN&GĐ năm 2000 Tuynhiên quy định tại khoản 5 Điều 69 lại chưa rõ ràng, chưa có sự phân biệt giữa hành vi vàtội phạm, quy định lẫn lộn giữa nhóm hành vi và nhóm tội phạm làm cho điều luật lủngcủng, khó hiểu Điều gây ra sự khó hiểu và lủng củng trong đoạn này là ở chỗ sử dụng từkhông nhất quán, xắp xếp lộn xộn giữa hành vi và tội phạm, có chỗ thì sử dụng từ “tội”như “các tội xâm phạm tình dục trẻ em”, nhưng toàn bộ các hành vi được liệt kê ở đoạngiữa thì lại không sử dụng từ này, nên làm cho người đọc không hiểu những hành vi đó đãbị xác định là tội phạm hay chưa, như hành vi dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưathành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em và ý cuối cùng của khoảnnày lại không dùng từ “tội” mà dùng từ “hành vi” , đó là” có hành vi xúi giục, ép buộccon làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội”…Với cách diễn đạt như vậy tạikhoản 5 Điều 69 làm cho điều luật khó hiểu, khó áp dụng
Do đó, theo chúng tôi, cách quy định tại khoản 3 Điều 76 là chưa rõ ràng, có thể đưa tớinhiều cách áp dụng pháp luật, cách hiểu khác nhau Do đó cần quy định cụ thể, trực tiếp,theo hướng: Được coi là căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi khi cha, mẹ nuôi đã có mộttrong các hành vi sau: lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tìnhdục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác; có hành vi xúi giục, ép buộc con làmnhững việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội; ngược đãi hoặc hành hạ con nuôi; hoặc cha,mẹ nuôi đã bị kết án mà chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tínhmạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con nuôi …
1.3 Về hậu quả pháp lý của việc chấm dứt nuôi con nuôi:
Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt nuôi con nuôi quy định tại Điều 78 Luật HN&GĐnăm 2000 cụ thể hơn so với quy định tại Điều 39 Luật HN&GĐ năm 1986, tuy nhiên mốiquan hệ giữa cha mẹ đẻ với người con đã làm con nuôi như thế nào thì pháp luật chưa cóquy định rõ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 78 Luật HN&GĐ năm 2000 thì “khi chấm dứt việc nuôicon nuôi theo quyết định của Toà án, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôicũng chấm dứt; nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mấtnăng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mìnhthì Toà án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom,
Trang 25nuôi dưỡng” Quy định này có thể hiểu là khi việc nuôi con nuôi chấm dứt sẽ phát sinhhậu quả pháp lý theo hai hướng:
– Một là, chấm dứt mọi quan hệ về nhân thân và về tài sản giữa cha mẹ nuôi và con nuôikể từ thời điểm quyết định của Toà án về chấm dứt việc nuôi con nuôi có hiệu lực phápluật
– Hai là, khôi phục lại quan hệ cha mẹ và con giữa cha mẹ đẻ và người đã làm con nuôi.Tuy nhiên vấn đề này chưa được pháp luật quy định rõ ràng nên còn có quan điểm khácnhau Nhưng theo chúng tôi, điều rõ ràng là hậu quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi cómối liên hệ chặt chẽ và tuỳ thuộc vào hậu quả pháp lý của việc nhận nuôi con nuôi
Vấn đề là ở chỗ, theo quy định của pháp luật hiện hành thì chỉ thừa nhận một hình thứcnuôi con nuôi duy nhất là nuôi con nuôi đơn giản – việc nuôi con nuôi không làm chấmdứt các mối liên hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ với người con đã cho làm con nuôi Điều đócũng có thể được hiểu là các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ với con được cho làm connuôi không hề bị thay đổi, vẫn giữ nguyên, mặc dù có sự kiện nhận nuôi con nuôi Do vậytrong thực tế có những trường hợp việc nuôi con nuôi được xác lập về mặt pháp lý (cóđăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nhưng giữa cha mẹ nuôi và con nuôi khônghề tồn tại quan hệ cha mẹ và con, thậm chí ngay cả việc chăm sóc, nuôi dưỡng con nuôi;con nuôi vẫn sống trong gia đình cha mẹ đẻ của mình như không có việc nhận nuôi connuôi Theo quy định tại Điều 74 Luật HN&GĐ năm 2000 thì “giữa cha mẹ nuôi và connuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của Luật này, kể từ thờiđiểm đăng ký việc nuôi con nuôi”, nhưng các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con
đã cho làm con nuôi như thế nào thì pháp luật không có quy định, trừ quyền thừa kế vàmột số quyền nhân thân gắn liền với con liệt sĩ, con thương binh, con của người có côngvới cách mạng thì có quy định rõ là vẫn được giữ nguyên Còn các quyền và nghĩa vụkhác của cha mẹ đẻ đối với con cho làm con nuôi không có quy định cụ thể, nên có thể cónhiều cách hiểu khác nhau Như vậy khi xảy ra tranh chấp về quyền cha mẹ giữa cha mẹ
đẻ và cha mẹ nuôi trong quá trình thực hiện việc nuôi con nuôi sẽ không có căn cứ để giảiquyết, do đó khó bảo vệ được quyền lợi chính đáng của cả hai bên cha mẹ đẻ và cha mẹnuôi Vì vậy, theo chúng tôi cần có quy định cụ thể theo hướng khi việc nuôi con nuôiđược xác lập thì những quyền nào của cha mẹ đẻ đối với người con đó sẽ chấm dứt,quyền nào vẫn tồn tại, và khi chấm dứt việc nuôi con nuôi thì những quyền nào bị chấmdứt trước đây giữa cha mẹ đẻ và con sẽ được khôi phục lại Theo quan điểm của chúngtôi, khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi trước pháp luật thì trách nhiệm cha mẹ của cha mẹ
đẻ đã được chuyển giao một cách hợp pháp sang cho cha mẹ nuôi Vì vậy giữa cha mẹnuôi và con nuôi có tất cả các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con Do đó các quyền gắnliền với trách nhiệm của cha mẹ đối với con phải được chuyển sang cho cha mẹ nuôi, nhưquyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, quyềm mang họ tên của cha mẹ nuôi,nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con nuôi gây ra… Khi có quyết định của Toà án về chấmdứt việc nuôi con nuôi thì những quyền và nghĩa vụ nào đã được chuyển giao cho cha mẹnuôi sẽ được khôi phục đối với cha mẹ đẻ Tuy nhiên những điều đó cần được pháp luậtquy định cụ thể, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết vụ việc
Trang 262 Hủy việc nuôi con nuôi:
Huỷ việc nuôi con nuôi lần đầu được quy định tại Điều 24 Luật HN&GĐ năm 1959: “…Toà án nhân dân có thể huỷ bỏ việc công nhận ấy, khi bản thân người con nuôi hoặc bấtcứ người nào, tổ chức nào yêu cầu, vì lợi ích của người con nuôi”.Tuy nhiên khái niệm
“huỷ bỏ” trong điều luật này được hiểu và áp dụng trong thực tiễn xét xử bao hàm cả việcchấm dứt nuôi con nuôi Luật HN&GĐ năm 1986 không quy định về huỷ việc nuôi connuôi, mà chỉ quy định việc chấm dứt nuôi con nuôi tại Điều 39 Tuy nhiên trong thực tếxét xử, nếu có sự vi phạm một trong các điều kiện của việc nuôi con nuôi khi xác lập quanhệ nuôi con nuôi, Toà án vẫn áp dụng Điều 39 Luật HN&GĐ năm 1986 để tuyên huỷ việcnuôi con nuôi đó, bởi vì việc nuôi con nuôi đó là không hợp pháp
Luật HN&GĐ năm 2000 cũng không có quy định nào về huỷ việc nuôi con nuôi, mặc dùvấn đề này có thể nảy sinh trong thực tiễn xét xử Ví dụ: Khi việc nhận nuôi con nuôi viphạm một trong các điều kiện của việc nuôi con nuôi, như vi phạm độ tuổi, thiếu sự tựnguyện của cha đẻ hoặc mẹ đẻ, có sự gian lận về nguồn gốc của đứa trẻ v.v…hoặc nhậnnuôi con nuôi nhằm những mục đích trái pháp luật như sử dụng con nuôi vào mục đíchmại dâm, mua bán ma tuý… Những trường hợp này không thuộc các trường hợp chấmdứt nuôi con nuôi được quy định tại Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000 nên không thể ápdụng để giải quyết Do đó với quy định của pháp luật hiện hành thì không có cơ sở pháplý để xử lý các trường hợp vi phạm điều kiện nuôi con nuôi khi xác lập quan hệ nuôi connuôi Như vậy, pháp luật chưa có quy định cụ thể phân biệt giữa huỷ việc nuôi con nuôivà chấm dứt việc nuôi con nuôi Theo chúng tôi cần phải có quy định cụ thể về huỷ việcnuôi con nuôi, vì huỷ việc nuôi con nuôi hoàn toàn khác với chấm dứt việc nuôi con nuôivề bản chất, căn cứ và hậu quả pháp lý
– Về bản chất pháp lý: Huỷ việc nuôi con nuôi là thái độ của nhà nước không công nhậnviệc nuôi con nuôi do sự vi phạm một trong các điều kiện của việc nuôi con nuôi Việcnuôi con nuôi đó là không có giá trị pháp lý Huỷ việc nuôi con nuôi có ý nghĩa như chếtài đối với việc vi phạm điều kiện nuôi con nuôi Còn chấm dứt việc nuôi con nuôi khôngphải là chế tài
– Căn cứ pháp lý: Căn cứ để huỷ việc nuôi con nuôi là sự vi phạm một trong các điều kiện
đã được pháp luật quy định đối với việc nuôi con nuôi Ví dụ: thiếu sự đồng ý của chahoặc mẹ đẻ hoặc của người giám hộ của đứa trẻ; việc nuôi con nuôi không đúng với mụcđích của nó; người nhận nuôi không có đủ các điều kiện cần thiết theo quy định của phápluật…Các căn cứ này xuất hiện khi xác lập việc nuôi con nuôi
Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi là những căn cứ được quy định tại Điều 76 LuậtHN&GĐ năm 2000 Các căn cứ này thường là hành vi có lỗi của người nuôi hoặc connuôi đối với nhau nảy sinh trong quá trình thực hiện việc nuôi con nuôi, làm cho việc nuôicon nuôi khó có thể tiếp tục một cách bình thường Ví dụ: Con nuôi xúc phạm nghiêmtrọng đến thân thể, nhân phẩm của cha mẹ nuôi, phá tán tài sản của cha mẹ nuôi; cha mẹnuôi đối xử tàn tệ với con nuôi…
– Hậu quả pháp lý: Việc chấm dứt nuôi con nuôi không có hiệu lực hồi tố, không xoá bỏhiệu lực của việc nuôi con nuôi đó trong quá khứ, mà chỉ làm chấm dứt quan hệ cha mẹ