đề cương nghiên cứu thiết kế hệ thông ngân hàng câu hỏi đánh giá kết quả phân môn học vần,Tiếng việt lớp 1(tập 1).Mong muốn có một hệ thống câu hỏi để đáp ứng nhu cầu giảng dạy của giáo viên, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Chưa có ngân hàng câu hỏi đánh giá kết quả học tập của phân môn học vần lớp 1 theo phương pháp đánh giá kết quả học tập mới hiện nay. Theo phương pháp đánh giá mới kết quả học tập học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo, người giáo viên cần có đánh giá phù hợp với các câu hỏi mở để đánh giá được toàn diện học sinh hơn. Ngoài ra, các bậc phụ huynh ngày càng quan tâm đến kỹ năng học vần của trẻ trước khi trẻ bước từ độ tuổi Mẫu giáo lên độ tuổi Tiểu học.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU Tên đề tài:
Thiết kế hệ thống câu hỏi đánh giá kết quả học tập
phân môn Học vần- Tiếng Việt 1(tập 1)
1. Lí do chọn đề tài:
Tính cấp thiết: Mong muốn có một hệ thống câu hỏi để đáp ứng nhu cầu giảng dạy của giáo viên và đánh giá kết quả học tập của học sinh
Tính thực tiễn: Chưa có ngân hàng câu hỏi đánh giá kết quả học tập của phân môn học vần lớp 1 theo phương pháp đánh giá kết quả học tập mới hiện nay
Tính thời sự: Theo phương pháp đánh giá mới kết quả học tập học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo, người giáo viên cần có đánh giá phù hợp với các câu hỏi mở để đánh giá được toàn diện học sinh hơn Ngoài ra, các bậc phụ huynh ngày càng quan tâm đến kỹ năng học vần của trẻ trước khi trẻ bước từ độ tuổi Mẫu giáo lên độ tuổi Tiểu học
Tính chân lí: Đổi mới cách đánh giá kết quả, năng lực học tập môn học vần của học sinh lớp 1, từ đó định hướng cho giáo viên, phụ huynh và các em cách thức phương pháp phù hợp để phát triển trong giai đoạn chuyển tiếp của trẻ mầm non sang tiểu học
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đề tài Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ Học vần, nhằm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt lớp Một của Hoàng Thị Thu (2010)
Công trình này nghiên cứu đưa ra được một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học vần, nhằm nâng cao chất lượng Tiếng Việt lớp 1 Đó là
sử dụng đồ dùng dạy học: tranh ảnh, mô hình, vật thật, mẫu chữ, băng đĩa, sách giáo khoa ;sử dung hệ thống câu hỏi; tổ chức các trò chơi học tập với mục đích là
Trang 2“Học mà chơi, chơi mà học”: trò chơi tô chữ trên tranh, ghép vần- tiếng- từ, trò chơi viết thư, trò chơi hái hoa
3. Mục đích nghiên cứu:
Phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ Học vần
Nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Học vần của học sinh lớp 1
Là bộ công cụ đánh giá kết quả học tập phân môn Học vần của học sinh
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thiết kế hệ thống câu hỏi cho phân môn học vần cần phải căn cứ vào những điều kiện, yếu tố nào?
Thực trạng việc đánh giá kết quả học tập phân môn học vần của học sinh lớp 1
Quy trình thiết kế hệ thống câu hỏi cho phân môn Học vần Tiếng Việt 1 (tập 1)
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống câu hỏi đánh giá kết quả học tập
Đối tượng tham gia nghiên cứu: học sinh và giáo viên lớp 1 Trường Tiểu học Vĩ Dạ
Phạm vi nghiên cứu: Phân môn Học vần Tiếng Việt 1 (tập 1)
Phương pháp nghiên cứu lí luận: thu thập, xử lý tài liệu về tâm sinh lí trẻ, nhận thức và nhân cách của trẻ nói chung và của học sinh lớp 1 nói riêng
Phương pháp điều tra: thiết kế các bộ công cụ bảng hỏi, các phiếu điều tra nhằm nắm bắt thực trạng học vần cũng như cách đánh giá kết quả học tập của phân môn Học vần của khối 1
7. Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung gồm 2 chương Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Điều kiện yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến việc thiết kế hệ thống câu hỏi cho phân môn học vần
Thực trạng việc đánh giá kết quả học tập phân môn học vần của học sinh lớp 1
Chương 2: Hệ thống câu hỏi đánh giá kết quả học tập phân môn Học vần Tiếng Việt 1 (tập 1)
Quy trình thiết kế hệ thống câu hỏi cho phân môn Học vần Tiếng Việt 1
Trang 3B. NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của để tài
1.1.1 Đặc điêm nhận thức cảm tính
1.1.1.1 Cảm giác
Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của chúng ta
Tuy nhiên, ở Tiểu học, cảm giác đã hòa vào dạng nhận thức cảm tính phức tạp nhất, đó là tri giác
Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện
1.1.1.2 Tri giác
Tri giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn ven các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta ([1],118)
Đặc điểm:
Tri giác của HS tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và dễ sai lầm Các em phân biệt đối tượng dễ bị nhầm lẫn
Tri giác của trẻ thường gắn liền với hoạt động thực tiễn
Khi bắt đầu đến trường Tiểu học: Trẻ chưa có khả năng điều khiển tri giác của mình, chưa có khả năng xem xét đối tượng một cách tỉ mỉ và chi tiết
Cảm giác và tri giác có vai trò rất quan trọng trong quá trình nhận thức Nếu như cảm giác là hình thức nhận thức đầu tiên của con người thì tri giác là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi của con người trong môi trường xung quanh
1.1.2 Đặc điểm nhận thức lí tính
1.1.2.1 Tư duy
Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết ([1],122)
Trang 4Đặc điểm:
Tư duy của học sinh lớp 1 là tư duy cụ thể, mang tính hình thức dựa vào trực quan của đối tượng
Khi tiến hành phân tích đối tượng các em khó nhân ra dấu hiệu bản chất của nó
Hoạt động phân tích-tổng hợp của các em còn sơ đẳng
1.1.2.2 Tưởng tượng
Tưởng tượng là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có ([1], 127)
Đặc điểm:
Tưởng tượng của các em học sinh được hình thành và phát triển trong quá trình học tập, các hoạt động của các em
Ở giai đoạn này, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít tổ chức, còn mang nặng tính trực quan
Hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, dễ thay đổi, chưa bền vững
1.1.3 Đặc điểm nhân cách
1.1.3.1 Khả năng tự ý thức:
Tự ý thức là khả năng tự nhận thức về mình, tự tỏ thái độ, tự đánh giá và tự khẳng định vị trí của mình trong mối quan hệ với người khác, với xã hội
Đặc điểm:
Tự nhận thức của trẻ được phát triển như nhận biết rõ bản thân mình, biết được vị trí của mình và mối quan hệ với những người xung quanh
Trẻ bắt đầu tỏ thái độ với mình như hài lòng khi đạt kết quả tốt hoặc làm được việc tốt,đồng thời biết buồn, lo lắng
Bước đầu trẻ tự đánh giá được bản thân mình nhưng còn cảm tính Vì vậy, trẻ hay dựa vào sự đánh giá của mọi người xung quanh để nhìn nhận, đánh giá bản thân mình
1.1.3.2 Tính cách
- Tính cách của trẻ ở giai đoạn này được hình thành nhưng chưa ổn định và có
Trang 5thể thay đổi Trẻ còn nhút nhát và e ngại.
- Trẻ tin tưởng một cách tuyệt đối vào người lớn, sách vở và cả bản thân mình Với trẻ mọi điều ở người lớn nhất là thầy cô nói ra đều đúng và chuẩn mực
- Tính hay bắt chước cũng là một đặc điểm quan trọng của các em Trẻ hay bắt chước người lớn, bạn bè, các nhân vật trong truyện, phim Thực ra bắt chước là con dao "2 lưỡi" Trẻ bắt chước cả cái xấu lẫn cái tốt
- Do đặc điểm hệ thần kinh hưng phấn mạnh hơn ức chế, trẻ bị tác động bởi kích thích bên ngoài, bên trong nên hành vi đôi lúc có tính bồng bột, bướng bỉnh
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm chung về trắc nghiệm
Trắc nghiệm (test) theo tiếng Anh là “thử” “phép thử”, “sát hạch” Theo nghĩa chữ Hán, “trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” là “suy xét, chứng thực”
Có khá nhiều định nghĩa về trắc nghiệm của các nhà Tâm lý học và Giáo dục học Trong giáo trình “Đánh giá và đo lường kết quả học tập”, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã trích dẫn định nghĩa của Gronlund như sau: Trắc nghiệm là một công cụ hay một quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ mà cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể
Theo GS Trần Bá Hoành: Trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp đo
để tham dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý, tưởng tượng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu ) hoặc để kiểm tra, đánh giá một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của học sinh
Từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu “trắc nghiệm” là một công cụ được sử dụng để đo lường thành tích đạt được của cá nhân trong một lĩnh vực học tập cụ thể nào đó Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá kết quả học tập hay năng lực của học sinh sau một khóa học, môn học…
1.2.1.2 Trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan được biểu đạt bằng hệ thống các câu hỏi Người trả lời được chọn câu trả lời đúng hoặc tốt nhất trong số các câu trả lời cho một câu hỏi
Trang 6Người chấm căn cứ vào hệ thống cho điểm khách quan để đánh giá, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm
Ngày nay, việc nâng cao tính khách quan cho quá trình kiểm tra, đánh giá; mang lại kết quả chính xác, công bằng và giảm thiểu được những tiêu cực trong quá trình tổ chức thi cử đang ngày càng được nhiều người quan tâm, ủng hộ
1.2.1.3 Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm
Theo Millman (1984): Ngân hàng câu hỏi thi là một tập hợp các câu hỏi thi nào đó để dễ sử dụng để tổ hợp thành đề thi
Theo Choppin (1981): Ngân hàng câu hỏi thi là tập hợp các câu hỏi được tổ chức và phân loại theo nội dung và được xác định các đặc tính độ khó, độ tin cậy, tính giá trị…
Theo Lâm Quang Thiệp: ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm là tập hợp một số lượng tương đối lớn các câu hỏi trắc nghiệm, trong đó mỗi câu hỏi đã được định
cỡ, tức là được gắn với các phần nội dung xác định và các tham số xác định (độ khó, độ phân biệt)
Trong thực tế, quan niệm về ngân hàng câu hỏi có thể khác nhau tùy theo mục đích sử dụng và mức độ làm chủ khoa học đo lường trong giáo dục Nhưng hầu như tất cả đều thừa nhận rằng các câu hỏi được lưu giữ trong ngân hàng câu hỏi thì phải là những câu hỏi tốt
1.2.2. Phân loại câu hỏi trắc nghiệm
Hiện nay, có nhiều tài liệu viết về trắc nghiệm đã đề cập một cách rất kỹ lưỡng về hình thức, cấu trúc, ưu, nhược điểm và nguyên tắc soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm khách quan Nhưng thường được sử dụng nhiều nhất trong kiểm tra, đánh giá, đó là: + Loại câu trắc nghiệm đúng – sai;
+ Loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn;
+ Loại câu ghép hợp (xứng hợp);
+ Loại câu điền khuyết
1.2.2.1. Loại câu trắc nghiệm đúng – sai
Loại câu trắc nghiệm đúng – sai được trình bày dưới dạng câu khẳng định gồm một hoặc nhiều mệnh đề và học sinh phải trả lời bằng cách lựa chọn Đúng (Đ)
Trang 7hay Sai (S) Câu trắc nghiệm đúng/ sai, đối với câu đúng phải là câu có toàn bộ nội dung phù hợp với tri thức khoa học, trong câu trắc nghiệm chỉ cần có một chi tiết không phù hợp với tri thức khoa học thì toàn bộ câu trắc nghiệm được đánh giá là sai
• Ưu điểm:
- Đây là dạng câu hỏi trả lời nhanh nên có thể hỏi trên diện rộng của chương trình, thích hợp để trắc nghiệm kiến thức về các sự kiện
- Dễ soạn thảo đối với giáo viên và không mất thời gian để tìm cách “đánh lạc” người học vì vậy có thể viết với số lượng lớn câu hỏi bao phủ chương trình
- Học viên không phải viết câu trả lời nên kết quả hoàn toàn đúng so với đáp án, khi chấm điểm nhanh và rất dễ thống nhất
• Nhược điểm:
- Nhược điểm lớn nhất của dạng câu hỏi đúng sai là học viên có thể “đoán mò” mà vẫn có khả năng đúng 50%, khả năng phân biệt học sinh giỏi và học sinh kém thấp Chính nhược điểm này đã hạn chế tính giá trị của phương pháp
1.2.2.2. Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn
Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn (Multiple choice) gồm có hai phần: Phần “gốc” (phần thân chung) và phần “lựa chọn” (phần trả lời):
- Phần gốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất) Phần gốc cũng có thể là hình vẽ, đồ thị Phần gốc phải tạo căn bản cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho ngườilàm bài có thể hiểu rõ câu trắc nghiệm muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp
- Phần lựa chọn gồm một số (thường là 4 hay 5) câu trả lời, trong đó cómột câu trả lời đúng hoặc đúng nhất Các câu trả lời còn lại đều là những “mồi nhử” hoặc câu
“nhiễu” có vẻ như hợp lý để buộc học sinh phải cân nhắc, lựa chọn
• Ưu điểm:
- Để trả lời câu hỏi có nhiều lựa chọn, học sinh phải suy nghĩ để lựa chọn được câu trả lời đúng, tránh được những câu “nhiễu” chứ không chỉ sử dụng trí nhớ đơn
Trang 8thuần Như vậy câu hỏi có nhiều lựa chọn có thể kiểm tra được kiến thức ở mức cao hơn
- Có thể hỏi trên phương diện rộng của chương trình, do đó có thể làm tăng độ giá trị
- Chấm điểm rất nhanh, chính xác nên tiết kiệm được thời gian chấm bài
- Câu hỏi có nhiều lựa chọn thường có độ tin cậy cao nếu các câu trả lời “mồi nhử” không quá sơ hở để học sinh nhận biết một cách dễ dàng
• Nhược điểm:
- Vì chỉ có một câu trả lời đúng trong số các câu trả lời nên nếu học sinh biết trước, học sinh sẽ không cần đọc các câu trả lời khác Trong trường hợp này, những câu
“mồi nhử” hay việc lựa chọn sẽ không có ý nghĩa
- Việc soạn thảo câu hỏi có nhiều lựa chọn mất rất nhiều thời gian Nhiều khi rất khó tìm được câu “ mồi nhử” cho có vẻ hợp lý
- Vì khó biên soạn nên có khi các câu hỏi dễ tập trung vào những kiến thức không quan trọng và do đó sẽ làm giảm đi tính giá trị của câu hỏi
- Học sinh có óc sáng kiến có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn phương án đúng
đã cho, nên họ có thể sẽ không thỏa mãn hay cảm thấy khó chịu
- Câu hỏi có nhiều lựa chọn không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo
- Học sinh cần nhiều thời giờ để đọc câu hỏi và các câu trả lời
1.2.2.3. Loại câu ghép hợp
Loại trắc nghiệm ghép hợp là một dạng đặc biệt của loại trắc nghiệm có nhiều lựa chọn Câu trắc nghiệm ghép hợp thường có hai bộ phận, đó là hai danh mục thông tin gồm những chữ, nhóm chữ hay câu Danh mục thứ nhất được gọi là tiền
đề (thường là danh mục bên trái); danh mục thứ hai được gọi là danh mục trả lời (danh mục bên phải) Người dự thi có nhiệm vụ làm phù hợp mỗi câu tiền đề bằng một ý trả lời đúng tương ứng
• Ưu điểm
- Trắc nghiệm ghép hợp có những ưu điểm của trắc nghiệm có nhiều lựa chọn
Trang 9- Dễ biên soạn và dễ sử dụng.
• Nhược điểm:
- Nếu danh sách trong mỗi danh mục quá dài, sẽ tốn thời gian để biên soạn Mặt khác học sinh sẽ mất nhiều thời gian để đọc cả bản danh mục nhiều lần mới có thể trả lời được Nếu ít câu quá, học sinh dễ đoán ra
1.2.2.4. Loại câu điền khuyết
Câu hỏi điền khuyết hay câu hỏi trả lời ngắn (short answer) là loại câu hỏi cung cấp không đầy đủ thông tin, yêu cầu học sinh phải bổ sung, điền thông tin vào chỗ còn thiếu Câu hỏi điền khuyết có thể được viết theo một trong 6 dạng sau:
- Một câu có để trống một hoặc vài từ, người trả lời có nhiệm vụ đọc kỹ câu đó rồi tìm và điền các từ thích hợp vào ô trống
- Một câu có để trống một hoặc vài chỗ, cho trước 2 hoặc 3 từ hoặc cụm từ (viết trong ngoặc) để người trả lời chọn và điền vào chỗ trống
- Một hình vẽ không có chú thích hoặc chú thích thiếu, người dự thi phải điền chú thích vào vị trí cần thiết
- Hình vẽ bỏ sót vài nét, yêu cầu người dự thi vẽ thêm cho hoàn chỉnh
- Sơ đồ bỏ trống vài khâu hoặc mũi tên, yêu cầu người dự thi vẽ hoặc vẽ thêm cho đủ
- Một câu hỏi xác định cụ thể số ý phải trả lời, yêu cầu người dự thi phải viết các ý đó
• Ưu điểm:
- Là dạng câu hỏi có câu trả lời ngắn và nhanh nên có thể hỏi trên diện rộng của chương trình do đó làm tăng tính giá trị cho bài trắc nghiệm
- Chấm điểm nhanh và đáng tin cậy hơn so với loại luận đề
- Câu hỏi có nhiều dạng nên kiểm tra được nhiều khía cạnh
- Thí sinh mất cơ hội đoán mò
- Giúp học sinh luyện trí nhớ khi học
• Nhược điểm:
- Giáo viên có thể hiểu sai, đánh giá thấp giá trị các câu trả lời sáng tạo, khác với
Trang 10đáp án nhưng vẫn hợp lý Điều này làm cho việc chấm bài mất nhiều thời giờ và điểm của bài thi dù sao cũng kém tin cậy so với bài thi sử dụng một số loại trắc nghiệm khách quan khác (như loại câu hỏi có nhiều lựa chọn)
- Phạm vi khảo sát thường chỉ giới hạn vào chi tiết, các sự kiện vụn vặt, không khảo sát được khả năng tổng hợp của học sinh
1.2.3. Tầm quan trọng của câu hỏi trắc nghiệm
Theo tác giả Lê Đức Ngọc, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được sử dụng với
ba mục đích chính là để giảng dạy, để học tập và để kiểm tra đánh giá
1.2.3.1. Sử dụng trong giảng dạy
- Đổi mới phương pháp dạy học: Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng dựa trên việc xác định các mục tiêu và phân tích nội dung học tập một cách chuẩn mực Vậy nên, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có tác dụng định hướng quá trình dạy học, tránh dạy tủ và học tủ
- Chuẩn hóa kiến thức môn học: Việc kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng và là khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Việc dạy định hướng, theo ngân hàng câu hỏi sẽ cho kết quả tiếp thu môn học như nhau, tránh dạy tùy tiện, bớt chương trình hay sai sót trong quá trình truyền thụ Bên cạnh đó, thông qua kết quả trắc nghiệm, giáo viên sẽ biết nội dung học tập nào được giảng dạy chưa đạt yêu cầu để nghiên cứu thay đổi hoặc điều chỉnh các phương pháp dạy học hiệu quả hơn
- Dạy nhận thức và tư duy bậc cao: Quá trình phân tích, đánh giá, thảo luận và tư duy cho các câu hỏi trắc nghiệm tại lớp đã góp phần dạy nhận thức và tư duy bậc cao cho học sinh, rèn luyện kỹ năng tự định hướng
Như vậy, thông qua ngân hàng câu hỏi, giáo viên sẽ tự điều chỉnh phương pháp dạy học, định hướng và chuẩn hóa kiến thức cần giảng dạy và rèn luyện tư duy bậc cao cho học sinh
1.2.3.2. Sử dụng trong học tập
Ngoài mục đích sử dụng để giảng dạy, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm còn được sử dụng để học tập
- Ngân hàng câu hỏi bám sát mục tiêu, nội dung của môn học vì thế nó mang tính