− Hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xác định Các nhân tố cấu thành hoạt động nghiên cứu khoa học a Chủ thể của nghiên cứu khoa học Theo quan điểm hàn lâm nghiên
Trang 1ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HOC Câu 1: Hoạt động nghiên cứu khoa học là gì? NCKH có các đặc điểm gì? Phân tích những nhân tố cấu thành hoạt động nghiên cứu khoa học?
Khái niệm: nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện qui luật
của sự vật hiện tượng và vận dụng các qui luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật và hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng
Đặc điểm của nghiên cứu khoa học
a Tính mới
Nghiên cứu khoa học là quá trình thâm nhập vào thế giới của những sự vật mà con người chưa biết Vì vậy, quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Tính mới là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học
b Tính tin cậy
Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần, do nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau
c Tính thông tin
Sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện: một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm
- Do khả năng của người nghiên cứu chưa đủ tầm xử lý vấn đề
- Do giả thuyết nghiên cứu đặt sai
- Do những tác nhân bất khả kháng
g Tính kế thừa
Trang 2Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong trong các lĩnh vực khoa học rất khác xa nhau Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu
− Hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xác định
Các nhân tố cấu thành hoạt động nghiên cứu khoa học
a Chủ thể của nghiên cứu khoa học
Theo quan điểm hàn lâm nghiên cứu khoa học là của các nhà khoa học có phẩm chất trí tuệ và tài năng đặc biệt, được đào tạo chu đáo Quan điểm này không sai, nhiều nhà khoa học tài năng đã có những phát minh đóng góp lớn cho khoa học của nhân loại; nhưng chúng
ta không nên quan niệm nghiên cứu khoa học là của riêng nhà khoa học “thực thụ”, trong thực tế cũng có những người sản xuất bình thường có thể nghiên cứu khoa học, họ thử nghiệm để tìm kiếm những cái mới phục vụ cho sản xuất và đời sống Ngoài ra với sự cần thiết liên kết đa ngành, chủ thể nghiên cứu có khi là một tập thể
b Mục đích của nghiên cứu khoa học
Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá các quy luật vận động của thế giới tự nhiên và xã hội, nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất hay tạo ra những giá trị tinh thần, thoả mãn nhu cầu của con người Nghiên cứu khoa học không chỉ đơn thuần để nhận thức thế giới mà còn nhằm phục vụ lợi ích của xã hội, con người Các mục tiêu của nghiên cứu khoa học được phân thành 4 dạng chính:
− Mục tiêu nhận thức: nhằm phát triển kho tàng tri thức của nhân loại
− Mục tiêu sáng tạo: tạo ra công nghệ mới, nâng cao trình độ văn minh, năng suất lao động
− Mục tiêu kinh tế: góp phần làm tăng trưởng kinh tế xã hội
− Mục tiêu văn hoá, văn minh: Mở mang dân trí, nâng cao trình độ, hoàn thiện con người ở mức cao hơn
c Phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp nghiên cứu khoa học là con đường, giải pháp tiếp cận để phát hiện bản chất vấn đề Phương pháp nghiên cứu khoa học rất đa dạng, tuỳ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Có thể là tổng quan các kết quả đã có; khảo sát phân tích, đánh giá; thử nghiệm cách sản xuất mới; hệ thống hoá - mô hình hoá các quy luật khách quan, phân tích chuyên gia,
Trang 3Phương pháp nghiên cứu khoa học biểu hiện ở 3 cấp độ: i) Phương pháp luận, ii) Phương pháp cụ thể, iii) Logic của tiến trình thực hiện hoạt động nghiên cứu Ba vấn đề này
có mối quan hệ theo cấp độ lý luận và tính cụ thể để tổ chức nghiên cứu
Phương pháp luận Phương pháp
Hình 1.2 Các cấp độ phương pháp nghiên cứu khoa học
Trong nghiên cứu khoa học, hai khái niệm phương pháp luận và phương pháp cụ thể
là gần gũi với nhau nhưng không đồng nhất Phương pháp luận là hệ thống quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo để xác định phương hướng tiếp cận để giải quyết vấn đề nghiên cứu; vì vậy nó thuần tuý lý luận Phương pháp cụ thể là cách thức, thủ thuật cụ thể; vừa có tính lý luận vừa thực tiễn Phương pháp luận chỉ đạo phương pháp cụ thể, phương pháp cụ thể xuất phát từ phương pháp luận trong sự thống nhất chung
d Sản phẩm của nghiên cứu khoa học
Khoa học luôn hướng đến cái mới Sản phẩm của nghiên cứu khoa học là những thông tin mới, sản phẩm mới, lý thuyết mới, Nhiều ý tưởng khoa học độc đáo đi trước thời đại đã dẫn dắt sự phát triển của thực tiễn Tuy nhiên cũng cần có nhận thức cái mới không phải quá lớn lao Trong điều kiện phân hóa khoa học theo từng lĩnh vực hẹp, cái mới
có thể rất nhỏ nhưng sẽ góp phần đóng góp cho phát triển xã hội
e Giá trị khoa học
Trang 4Giá trị khoa học được quyết định bởi độ tin cậy, tính ứng dụng và quy mô, phạm vi
áp dụng phục vụ cuộc sống Sản phẩm khoa học phải có tính khách quan, có thể kiểm tra và đánh giá được
Câu 2: tại sao khi NCKH, người nghiên cứu phải thực hiện tổng quan vấn đề nghiên cứu?
Tổng quan vấn đề nghiên cứu là việc xem xét các tài liệu, thông tin của các tri thức, kết quả nghiên cứu liên quan đến vấn đề quan tâm, từ đây phát hiện ra các chỗ thiếu hụt, nhu cầu nghiên cứu; khẳng định ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu và đưa ra giải pháp định hướng nghiên cứu
Tổng quan vấn đề nghiên cứu sẽ làm cho người đọc rõ ràng hơn về sự cần thiết của nghiên cứu Vì vậy cần trình bày các sự kiện, bằng chứng để hỗ trợ cho việc làm rõ vấn đề, nhu cầu nghiên cứu Các bằng chứng có thể từ phần tổng quan vấn đề nghiên cứu, các nghiên cứu trước đây của, những thử nghiệm ban đầu đã tiến hành hoặc từ các nguồn có sẵn khác Sử dụng các dữ liệu thống kê hoặc sự kiện là hỗ trợ tốt cho việc này, tuy nhiên cần bảo đảm số liệu đó là xác thực và được cập nhật Các thông tin chung chung là không hữu ích ở đây; mà cần cung cấp các thông tin có tính cơ sở để chứng minh rằng bạn am hiểu lĩnh vực này và nhu cầu nghiên cứu là có thực, cấp thiết
Câu 3: Trình bày ngắn gọn các giai đoạn của 1 quy trình nghiên cứu trong quản lý và KD
Quy trình nghiên cứu trong quản lý và kinh doanh
a Xác định vấn đề nghiên cứu
Bước đầu tiên trong quá trình nghiên cứu trong quản lý và kinh doanh là xác định vấn đề nghiên cứu Xác định vấn đề nghiên cứu trong nghiên cứu quản lý kinh doanh là nhận dạng được: i, Các vấn đề nghiên cứu là gì? ii, Vấn đề nghiên cứu trong quá trình quản
lý và kinh doanh thường xuất phát từ đâu? iii, Bằng cách nào để có được các vấn đề đó? iv,
Mô hình nghiên cứu trong vấn đề nghiên cứu là gì? v, Cụ thể hóa thực tiễn bằng mô hình lý thuyết như thế nào?
Phát hiện được vấn đề nghiên cứu là một bước rất quan trọng trên bước đường phát triển nhận thức Tuy nhiên nêu vấn đề lại chính là công việc khó nhất đối với các nhà nghiên cứu trẻ tuổi, còn ít kinh nghiệm Nghiên cứu một đề tài khoa học nên bắt đầu từ cái gì? Câu trả lời trong trường hợp này luôn là "Hãy bắt đầu từ phát hiện vấn đề nghiên cứu", nghĩa là đặt
câu hỏi Chính vì vậy, một điều cần lưu ý là: vấn đề nghiên cứu cần được trình bày dưới
dạng một câu nghi vấn
Như vây, vấn đề nghiên cứu là câu hỏi được đặt ra khi người nghiên cứu đứng trước mâu thuẫn giữa tính hạn chế của tri thức khoa học hiện có với yêu cầu phát triển tri thức đó
ở trình độ cao hơn
b Thiết kế nghiên cứu
Là thiết kế một chiến lược để đạt được mục tiêu nghiên cứu Điều này đồng nghĩa với việc phải xác định một cách cụ thể cái gì mình muốn đạt được và xác định phương hướng và cách tối ưu để có thể đạt được nó
Trang 5c Chọn mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu nghiên cứu là bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu Việc này sẽ giúp chúng ta giảm được thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu, nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu về tính xác của nghiên cứu Hầu hết các nghiên cứu về kinh tế - xã hôi – nhân văn đều thuộc nhóm nghiên cứu có chọn mẫu đại diện
Cách chọn mẫu nghiên cứu được học phần đầu tiên của môn học Nguyên lý thống kê (chọn mẫu ngẫu nhiên, chọn mẫu hệ thống và chọn mẫu theo phương pháp phân tích chuyên gia)
Nguyên tắc chọn mẫu nghiên cứu:
− Mẫu quá lớn: Chi phí lớn
− Mẫu quá nhỏ: Thiếu tin cậy
− Mẫu chọn phải ngẫu nhiên, theo đúng chỉ dẫn về phương pháp
1 + Ngẫu nhiên/ngẫu nhiên hệ thống
2 + Ngẫu nhiên hệ thống phân tầng
3 + v.v…
d Thu thập dữ liệu nghiên cứu
Quá trình thu thập dữ liệu là một công việc rất quan trọng trong quá trình thực hiện nghiên cứu nói chung và nghiên cứu trong quản lý và kinh doanh nói riêng Cần phân biệt hai khái niệm khác nhau là dữ liệu và thông tin Đây là 2 phạm trù độc lập trong quá trình nghiên cứu Thông tin có thể biến thành dữ liệu và dữ liệu sau khi được xử lý được biến thành thông tin
Quá trình thu thập dữ liệu thông thường trong các nghiên cứu là quá trình thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp bằng nhiều cách khác nhau như thu thập, điều tra bằng bảng câu hỏi, phỏng vấn, quan sát …mục đích việc thu thập nhằm để có được dữ liệu để phân tích và nghiên cứu
e Xử lý và phân tích dữ liệu nghiên cứu
Kết quả của quá trình thu thập dữ liệu là một bộ dữ liệu cho phép người nghiên cứu
xử lý và phân tích phục vụ cho quá trình nghiên cứu Dữ liệu chúng ta thu thập được tồn tại dưới 2 dạng là dữ liệu mang tính chất định tính và dữ liệu mang tính chất định lượng Các
dữ liệu và thông tin định tính cần được phân tích để xây dựng các luận cứ, khái quát hóa nhằm phát hiện ra các quy luật, phục vụ cho việc chứng minh hoặc bác bỏ những giả thuyết khoa học Có 2 phương pháp để xử lý dữ liệu và thông tin:
− Xử lý toán học đối với các dữ liệu và thông tin định lượng Đây là việc sử dụng toán thống
kê để xác định xu hướng diễn biến của tập hợp số liệu thu thập được, tức là xác định quy luật thống kê để tập hợp số liệu
− Xử lý logic đối với các tài liệu và thông tin định tính: Đây là việc đưa ra các phán đoán về bản chất các sự kiện, đồng thời thể hiện những liên hệ logic, của các sự kiện, các phân hệ trong hệ thống các sự kiện được xem xét
f Kết luận và báo cáo kết quả nghiên cứu
Khâu cuối cùng trong quá trình nghiên cứu là kết luận lại những nội dung đã thực hiện trong quá trình nghiên cứu Báo cáo kết quả nghiên cứu là công việc hệ trọng, đây là cơ
Trang 6sở để đánh giá những đóng góp của tác giả và sử dụng để ứng dụng vào thực tế, đồng thời
nó là bút tích để lại cho các đồng nghiệp sau này
Câu 4: Thế nào là 1 vấn đề nghiên cứu trong quản lý và kinh doanh? Phân loại những vấn đề thường đc nghiên cứu trong quản lý và kinh doanh.
Vấn đề nghiên cứu trong quản lý và kinh doanh là những vấn đề mâu thuẫn trong lĩnh vực quản lý và kinh doanh mà nhà nghiên cứu phải giải quyết về lý luận và thực tiễn bằng phương pháp cụ thể Vấn đề cần nghiên cứu là sự kiện, hiện tượng mới chưa ai biết hoặc vấn đề chưa giải quyết được với kiến thức cũ, đòi hỏi phải đầu tư nghiên cứu mới có thể giải quyết được Trong quản lý và kinh doanh, các vấn đề nghiên cứu có thể phân chia thành các lĩnh vực như: tổng quát về kinh tế, kinh doanh, doanh nghiệp; tài chính, kế toán, hành vi tổ chức và quản lý, tiếp thị và bán hàng
Khi nhận được một nhiệm vụ nghiên cứu, người nghiên cứu trước hết phải xem xét có những vấn đề nghiên cứu nào cần được đặt ra Có thể có ba tình huống được đặt ra, thể hiện
ở hình 2.1:
Lĩnh vực quan tâm
Có vấn đề Không có vấn đề Giả vấn đề
Có vấn đề
Có nghiên cứu Không có nghiên cứu Nghiên cứu theo hướng khác
Hình 2.1 Các tình huống của vấn đề nghiên cứu
Tình huống thứ nhất: Có vấn đề nghiên cứu Như vậy sẽ có nhu cầu trả lời vào vấn đề
nghiên cứu, nghĩa là sẽ tồn tại hoạt động nghiên cứu
Tình huống thứ hai: Không có vấn đề hoặc không còn vấn đề Trường hợp này không
xuất hiện nhu cầu trả lời, nghĩa là không có nghiên cứu
Trang 7Tình huống thứ ba: Tưởng là có vấn đề, nhưng sau khi xem xét thì lại không có vấn đề hoặc
có vấn đề khác Gọi đó là "giả vấn đề " Phát hiện "giả vấn đề" vừa dẫn đến tiết kiệm chi phí, vừa tránh được những hậu quả bất ưng cho hoạt động thực tiễn
Phân loại vấn đề nghiên cứu trong quản lý và kinh doanh
a.Vấn đề nghiên cứu tổng quát về kinh tế, kinh doanh và doanh nghiệp
− Xu hướng phát triển của các doanh nghiệp hoặc ngành
− Giá cả và lạm phát
− Môi trường kinh doanh toàn cầu
Trong nghiên cứ tổng quát về kinh tế, kinh doanh và doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu thường quan tâm đến dự báo Độ dài của dự báo bao gồm các loại: dự báo ngắn hạn (dưới 1 năm), dự báo trung hạn (trên 1 năm, dưới 5 năm), dự báo dài hạn (trên 5 năm)
b.Vấn đề nghiên cứu về tài chính và kế toán
− Dự báo khuynh hướng của lãi suất
− Tiên đoán giá trị hàng hóa, cổ phiếu và trái phiếu
− Nghiên cứu liên quan đến sát nhập và thôn tính doanh nghiệp
− Nghiên cứu quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro
− Nghiên cứu sự tác động của thuế khóa
− Phân tích doanh mục đầu tư
− Nghiên cứu về các tổ chức tài chính
− Nghiên cứu về lợi nhuận kỳ vọng
− Mô hình định giá tài sản vốn
− Nghiên cứu rủi ro tín dụng
− Phân tích chi phí
c.Vấn đề nghiên cứu về hành vi tổ chức và quản lý
− Quản lý chất lượng
− Phong cách lãnh đạo
− Năng suất lao động
− Hiệu quả của tổ chức
− Nghiên cứu về cơ cấu tổ chức
− Nghiên cứu về sự liên lạc và không khí tổ chức
d.Vấn đề nghiên cứu về tiếp thị và bán hàng
− Đo lường tiềm năng thị trường
− Phân tích thị phần
− Nghiên cứu phân khúc thị trường
− Sự quyết định đặc tính của thị trường
− Phân tích doanh số bán hàng
Trang 8− Nghiên cứu các kênh phân phối
− Thử nghiệm sản phẩm mới
− Nghiên cứu quảng cáo
− Nghiên cứu hành vi và sự thỏa mãn của người tiêu dùng
Câu 5: khung logic của vấn đề nghiên cứu là gì? Việc xây dựng khung logic của một vấn đề nghiên cứ cụ thể đc xây dựng theo trình tự nào? Xác định các cấp mục tiêu cho một nghiên cứu cụ thể.
Khung logic là một công cụ quản lý với mục đích tạo ra thiết kế tốt thể hiện tính logic của nghiên cứu và các cấu phần mà nó đóng góp Về căn bản nó được sử dụng để hỗ trợ người lập kế hoạch nghiên cứu cấu trúc và định dạng ý tưởng của họ trong một mẫu tiêu chuẩn một cách rõ ràng
Trình tự xây dựng khung logic của vấn đề nghiên cứu
a Xác định mục đích nghiên cứu
Mục đích hay mục tiêu tổng thể là mục tiêu ở cấp cao hoặc là tác động có tính lâu dài của nghiên cứu ở trong vùng, khu vực hoặc quốc gia Mục đích là lý do căn bản để tiến
hành nghiên cứu này Nó cũng chính là tầm nhìn trong tương lai mà nghiên cứu này hỗ trợ
để đạt đuợc, nhưng nó không thể đạt được hoàn toàn bởi nghiên cứu này Nghiên cứu này sẽ đóng góp vào mục đích tổng thể, nhưng để hoàn thành được mục đích này thì còn cần nhiều nghiên cứu khác
b.Xác định mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu hay mục tiêu cụ thể là tác động trực tiếp, đo đếm được của nghiên cứu, đó chính là kết quả cuối cùng được hoàn thành của nghiên cứu
Tại sao nghiên cứu này cần được tiến hành? tác động mong đợi của nó là gì? Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là mô tả tác động mà nó tạo ra bởi việc hoàn thành các kết quả/sản phẩm nghiên cứu Cần phải mô tả rõ ràng mục tiêu, mặc dù nghiên cứu hướng đến đạt các mục tiêu, nhưng nó không trực tiếp sản xuất ra, mà thông qua các kết quả, sản phẩm đầu ra của nghiên cứu Nhưng đồng thời cũng không nhầm lẫn nó với các kết quả đầu ra
Các mục tiêu nghiên cứu cần cụ thể, đo lường được kết quả của nghiên cứu và là cơ
sở để xác định phương pháp luận nghiên cứu và đánh giá kết quả nghiên cứu Không được nhầm lẫn giữa mục tiêu và mục đích tổng thể, mục tiêu là cụ thể và trực tiếp
Các mục tiêu cần được viết vắn tắt và cô đọng để mô tả những gì mà nghiên cứu mang lại Mỗi một mục tiêu không viết quá 2 câu
c.Xác định kết quả nghiên cứu
Kết quả (các sản phẩm đầu ra) là kết quả mà nghiên cứu bảo đảm đạt được.
Nghiên cứu sẽ hoàn thành cái gì? Đây là các kết quả của nghiên cứu hoặc đầu ra thích hợp để dự án đạt được các mục tiêu cụ thể và cũng là điều mà nhà nghiên cứu cam kết
sẽ tạo ra theo như kế hoạch Đầu ra của nghiên cứu cần được làm rõ như là các kết quả mà chúng là cần thiết để bảo đảm cho việc đạt được mục tiêu của nghiên cứu Đầu ra cần được
Trang 9viết dưới dạng chuỗi các kết quả theo thời gian Trong nghiên cứu, nó có thể là các đầu ra cụ thể của năm thứ 1, năm tiếp theo, mà trong đó kết quả cuối cùng cần được chỉ ra ở từng thời điểm cụ thể trong khung logic.
d.Xác định nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu hay các hoạt động nghiên cứu là các hành động chủ chốt được tiến hành nhằm tạo ra được kết quả đầu ra.
Làm thế nào nghiên cứu được hoàn thành? Các họat động/nội dung nghiên cứu là các yếu tố hành động cần thiết để hoàn thành được các kết quả/đầu ra và là trách nhiệm của nhà nghiên cứu Mỗi một mục tiêu của các cấp độ đầu ra cần có một hoạt động hoặc nhóm hoạt động để hỗ trợ cho việc này; các họat động được xác định như là chiến lược hành động để hoàn thành được từng kết quả/đầu ra
Nhiều trường hợp có sự nhầm lẫn, lẫn lộn giữa mục tiêu và nội dung nghiên cứu Cần hiểu rõ rằng mục tiêu là điều cần đạt được, trong khi đó nội dung như là một hoạt động cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đó
e.Xác định giả định quan trọng
Các giả định là các sự kiện, điều kiện, quyết định quan trọng, nằm ngoài sự quản lý của nghiên cứu nhưng lại rất thiết để đạt được mục tiêu ở các cấp độ khác nhau Các giả
định quan trọng là các điều kiện, nhân tố bên ngoài, nó không được quản lý hoặc tiến hành bởi nghiên cứu, nhưng việc đạt được các mục tiêu lại phụ thuộc vào nó Tuy nhiên cũng lưu
ý là không đưa ra các giả định có tính hiển nhiên, hoặc ngược lại là không thể xảy ra; đồng thời cũng không đưa ra giả định chung chung hoặc đó là việc mà nghiên cứu phải làm, ví dụ như: trời sẽ không mưa vào thời điểm đó, tiếp cận được các hiện trường thích hợp, Giả định, tóm lại là nhân tố bên ngoài, thực sự quan trọng, có khả năng xảy ra và là điều kiện cần để đạt được mục tiêu ở một cấp độ nào đó
f.Xác định các chỉ tiêu đo lường nghiên cứu
Chỉ tiêu đo lường: các chỉ tiêu/chỉ báo cho biết việc đạt được các mục tiêu ở các cấp
độ Đây là các thông số để đo lường, thẩm định mức độ đạt được của các mục tiêu ở các cấp
độ, nó bao gồm các thông số định lượng, định tính, chất lượng và thời gian hoàn thành
Các chỉ thị cần được xác định định lượng, chi tiết ở các cấp độ theo yêu cầu của các mục tiêu, và chúng cần bảo đảm để các mục tiêu cao hơn đạt được Để làm rõ chỉ tiêu thẩm định về số lượng, chất lượng và thời gian cần đưa ra con số, ngày tháng hoặc mô tả chất lượng cụ thể có thể đo lường được; điều này là quan trọng để giám sát hiệu quả (tại cấp độ kết quả/đầu ra) và đánh giá (tại cấp độ mục tiêu) Chỉ tiêu ở cấp độ mục tiêu cần chỉ ra cái gì
là quan trọng, đồng thời là số lượng, chất lượng và thời gian; và nó độc lập với kết quả đầu
ra Chỉ tiêu ở cấp độ đầu ra và mục đích tổng thể cần như là nhân tố để thẩm định khách quan bao gồm các giá trị định lượng, định tính và thời gian
g.Xác định phương tiện thẩm định chỉ tiêu
Phương tiện là các nguồn cụ thể của các dữ liệu cần thiết để xem xét mức độ đạt được của các mục tiêu ở các cấp độ để thẩm định các chỉ tiêu.
Xác định các nguồn thông tin để thẩm định các chỉ tiêu, và các bằng chứng điển hình
để cho biết cái gì đã đạt được Tại cấp độ hoạt động thường là các báo cáo tiến độ Tại cấp
Trang 10đầu ra thường là các ấn phẩm, bài báo, bài giảng, hoạt động lan rộng, Họat động thẩm định cũng cần xác định các hành động cần thiết theo yêu cầu để thu thập thêm các căn cứ để đánh giá.
h.Xác lập ma trận khung logic
Nhằm sắp xếp một cách hệ thống phục vụ cho việc thực hiện nghiên cứu và giám sát
và đánh giá Việc hoàn thiện khung logic cần quan tâm nhiều hơn đến các cột CHỈ TIÊU và PHƯƠNG TIỆN THẨM ĐỊNH và tính logic theo CHIỀU ĐỨNG từ trên xuống và dưới lên
Xác định mục tiêu nghiên cứu
Việc xác định mục tiêu nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi: Nghiên cứu này được thực hiện để làm gì? Thông thường, mục đích nghiên cứu của tác giả là tìm tòi làm rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu, đưa ra giải pháp làm thay đổi, chuyển biến đối tượng theo hướng tích cực hơn
Mục đích, mục tiêu của nghiên cứu được cụ thể hóa bằng cây mục tiêu
Mục tiêu: “Làm cái gì” What: Cái đích về nội dung mà người nghiên cứu vạch ra để định hướng nỗ lực tìm kiếm Khi viết mục tiêu, bắt đầu bằng các động từ: xác định, đánh giá, đề xuất, tìm ra, chọn ra, nâng cao
Mục tiêu phải đảm bảo nguyên tắc SMART: Specific – Cụ thể
Measurable – Đo đượcAchievable – Khả thiRealistic – Hiện thựcTimebound – Có thời gianMục đích: “nhằm vào việc gì” For What: Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Khi viết mục đích, chú ý các trạng từ chỉ mục đích: nhằm, để, nhằm để, góp phần
Phần này trình bày mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể mà nghiên cứu nhắm đến Các mục tiêu nên dùng động từ hành động để chỉ rõ nghiên cứu dự định làm gì Cần trình bày được thông số sẽ dùng để đánh giá mục tiêu Mục tiêu chung được trình bày trước Sau
đó, các mục tiêu cụ thể để đạt được mục tiêu chính sẽ được trình bày sau Các mục tiêu cụ thể nên được trình bày ngắn gọn, mỗi mục tiêu một dòng và tách biệt theo thứ tự thực hiện
Câu 6: việc đặt tên những đề tài nghiên cứu dựa trên nguyên tắc nào và tuân thủ những yêu cầu gì? Ví dụ (đặt tên một đề tài nghiên cứu cụ thể và phân tích việc tuân thủ các yêu cầu đặt tên)
Nguyên tắc đặt tên đề tài nghiên cứu
Tên đề tài diễn đạt cần ngắn, gọn, chính xác, dễ hiểu, bao quát được đối tượng, mức
độ, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Ví dụ:
Trang 11− Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liên kết của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam
− Nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Hải Dương
− Nghiên cứu vấn đề phát triển bền vững công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
− Chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
− Phát triển các khu công nghiệp đồng bộ trên địa bàn Hà Nội
− Mô hình tổ chức và cơ chế quản lý khâu truyền tải điện ở Việt Nam
− Xây dựng và quản lý thương hiệu của các doanh nghiệp may Việt Nam
− Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam
− Đánh giá và công nhận chất lượng đối với phòng thí nghiệm ở Việt Nam
− Hoạt động tài chính của các doanh nghiệp công nghiệp trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam
− Giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế (Nghiên cứu điển hình từ ngành dệt may Việt Nam)
− Phát triển sản xuất nguyên phụ liệu may mặc Việt Nam
− Phát triển loại hình doanh nghiệp tư nhân trong công nghiệp Việt Nam
− Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế
− Bảo đảm lợi ích của bên Việt Nam trong thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam
− Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ
Tên đề tài nghiên cứu khoa học khác với tên tác phẩm văn học Tên tác phẩm văn học có thể mang ý nghĩa ẩn dụ sâu xa Còn tên đề tài khoa học chỉ được mang một ý nghĩa, không cho phép hiểu hai hay nhiều nghĩa
Tên đề tài tránh dài dòng, nên ít chữ, chứa nhiều thông tin và key word
Tên đề tài tránh nhiều từ: của, thì, mà, là
không nên đặt tên đề tài luận văn bằng những cụm từ có độ bất định cao về thông tin, như: - Vài suy nghĩ về …
- Thử bàn về …
- Về vấn đề …
-Góp phần vào ánh nhiều từ: của, thì, mà, là
Cách đặt tên đề tài mập mờ trên đây chỉ thích hợp cho một bài báo, không thích hợp cho một công trình khoa học, như luận văn, luận án và các công trình khoa học khác
Trang 12Yêu cầu cần tuân thủ khi đặt tên đề tài:
Tên đề tài nghiên cứu được đặt dựa trên tính chất của đề tài (lý luận hay thực tiễn) và mức độ (rộng, hẹp) của đề tài
Căn cứ chọn đề tài nghiên cứu:
Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không?
Đề tài có ý nghĩa thực tế hay không?
Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu không?
Có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài hay không?
Đề tài này mình có thích hay không?
Không nên chọn các đề tài
− Quá rộng, tổng quát hoặc quá hẹp, quá cụ thể
− Khó tiếp cận, tiến hành khó khăn, không gắn với các hoạt động hàng ngày của bản thân người nghiên cứu
− Khó thiết kế công cụ đánh giá, xác định sản phẩm, việc đánh giá kết quả nghiên cứu không
rõ ràng, khó phân định đúng sai
− Vượt quá khả năng của người nghiên cứu
Câu 7: trong thực tiễn cần thiết phải xây dựng các nguồn lực nào cho nghiên cứu?
XÁC ĐỊNH CÁC NGUỒN LỰC CẦN THIẾT CHO NGHIÊN CỨU
Sau khi đã xác định tất cả các cấu phần liên quan đế nghiên cứu, cần thiết tính toán đến các nguồn lực cho nghiên cứu, các nguồn lực này cần được làm rõ cụ thể theo phương pháp tiếp cận ứng với từng mục tiêu nghiên cứu Câu hỏi là: Nhân lực, thiết bị, phương tiện
và các nguồn lực khác là sẵn sàng để giải quyết được vấn đề nghiên cứu trong thực tiễn?
Yêu cầu về nguồn lực có thể bao gồm ít nhất 7 hạng mục: Nguồn lực con người, phương tiện, thiết bị, nguồn cung cấp, tài chính, hỗ trợ về tổ chức, và các nguồn lực liên quan khác Các hạng mục này cần được xác định, tính toán cụ thể khi thảo luận để chuẩn bị
đề xuất kinh phí cho dự án nghiên cứu
a. Nguồn nhân lực
Sự sẵn sàng về nguồn nhân lực để tiến hành tất cả các khía cạnh của nghiên cứu là yếu tố cốt lõi để bảo đảm nghiên cứu thành công Điều này không chỉ bao gồm cá nhân các nhà nghiên cứu, kỹ thuật viên nghiên cứu, trợ lý nghiên cứu; mà còn quan trọng là các nhân viên hỗ trợ, hành chính, kế toán và trợ lý hiện trường Những người này là sẵn sàng tại các thời điểm theo kế hoạch nghiên cứu? Họ đã có đủ kỹ năng thích hợp cho nghiên cứu? Có hay chưa cơ chế giám sát thích hợp để quản lý sự tham gia trong nghiên cứu? Như vậy
Trang 13nhà nghiên cứu cần chuẩn bị để quản lý các thành tố nguồn nhân lực của nghiên cứu một cách thích hợp và thỏa đáng
b. Phương tiện, thiết bị
Phương tiện cần thiết cho nghiên cứu cần phải hết sức cụ thể Phòng thí nghiệm, hiện trường như thế nào để hoàn thành nghiên cứu? Các phương tiện cần thiết là sẵn sàng ở các thời điểm nghiên cứu thích hợp?
Kế hoạch về chuẩn bị và sử dụng thiết bị cũng có tầm quan trọng như là nguồn nhân lực và phương tiện Trong trường hợp đặc biệt, thiết bị chuyên ngành cần phải có, và điều quan trọng là người nghiên cứu cần có đủ kỹ năng để sử dụng và bảo quản thiết bị đó Nếu cần thiết phải có đào tạo, và như vậy thì nguồn kinh phí sẽ ở đâu?
Tất cả các nghiên cứu liên quan đến quản lý và kinh doanh đều yêu cầu có nguồn cung cấp các vật tư văn phòng phẩm, thiết bị, Cần làm rõ nguồn cung cấp, chất lượng, giá cả, thời gian, cho các hạng mục nghiên cứu
c. Tài chính
Sau khi thẩm định, tính toán những gì mà nghiên cứu cần như nguồn nhân lực, phương tiện, thiết bị, nguồn cung cấp, trên cơ sở đó xác định nguồn tài chính cần có Yêu cầu hỗ trợ cho nghiên cứu luôn luôn được cân bằng giữa ý tưởng của người nghiên cứu với nguồn ngân sách thực tế, do vậy điều này cần có sự cân đối giữa mục tiêu nghiên cứu với nguồn tài chính tối thiểu phải có để có thể hoàn thành nghiên cứu
d. Hỗ trợ về tổ chức thể chế
Một cách chắc chắn là nghiên cứu cần có sự hỗ trợ của cơ quan về tài chính, thiết bị,
sử dụng phương tiện, và các cơ quan, tổ chức, địa phương khác về điều kiện làm việc, nghiên cứu Làm rõ điều này sẽ là thuận lợi cho việc triển khai kế hoạch nghiên cứu
Một số nghiên cứu cần có giấy phép hoặc chấp thuận chính thức ở một số hoạt động,
do vậy cũng cần có sự hỗ trợ về mặt pháp lý Ví dụ như nghiên cứu biến đổi gien (Genetically modified organism – GMOs) hoặc du nhập côn trùng để điều khiển sinh học,
Câu 8: vì sao trong nghiên cứu khoa học, ng nghiên cứ cần phải xây dựng đề cương nghiên cứu? xác định các thành phần cơ bản trong cấu trúc của đề cương nghiên cứu?
Mục đích của việc xây dựng đề cương nghiên cứu
Một đề cương nghiên cứu có mục đích cơ bản là nhằm thuyết phục người đọc rằng, tác giả có một đề xuất nghiên cứu đáng giá (so với yêu cầu của cấp độ nghiên cứu đang đưa ra), có tính cạnh tranh và có một kế hoạch bài bản để đảm bảo hoàn thành nghiên cứu Do vậy, một đề cương nghiên cứu cần bao gồm các yếu tố cần thiết để người đọc có thể đánh giá đề xuất nghiên cứu được trình bày Các yếu tố này nhằm trả lời cho các câu hỏi: Vấn đề nghiên cứu là gì? Kế hoạch nghiên cứu ra sao? Tại sao cần tiến hành như vậy? Làm thế nào
để thực hiện kế hoạch đó?
Các lý do căn bản để người làm nghiên cứu cần và nên viết đề cương nghiên cứu bao gồm:
Trang 14(1) Cho tác giả nghiên cứu một cơ hội để cân nhắc kỹ càng về lựa chọn của mình, để công bố và xác định rõ rằng mình muốn nghiên cứu vấn đề gì;
(2) Cung cấp cho bản thân tác giả một bản dàn ý và hướng dẫn tiến trình thực hiện nghiên cứu; Đề cương là một bản kế hoạch hành động, mô tả phạm vi nghiên cứu, các bước tiến hành công việc nghiên cứu và kết quả mong muốn đạt được;
(3) Đề cương đóng vai trò một công cụ giao tiếp giữa nhà nghiên cứu với những người đánh giá, cấp phép hoặc cấp kinh phí cho nghiên cứu, cho phép người hướng dẫn, đơn vị quản lý hay nhà tài trợ hiểu rõ tác giả muốn nghiên cứu vấn đề gì và kế hoạch để thực hiện nó như thế nào;
(4) Cho nhà nghiên cứu một cơ hội để nhận được các phản hồi, đóng góp của người hướng dẫn khoa học, của hội đồng khoa học cũng như những người quan tâm khác để hoàn chỉnh hơn dự kiến nghiên cứu của mình;
(5) Đóng vai trò như một bản “hợp đồng” giữa tác giả với người hướng dẫn hay đơn
vị quản lý; Đề cương, khi đã được thông qua, chính là một bản hợp đồng có sự đồng thuận của tất cả các bên tham gia, bao gồm nhà nghiên cứu, người hướng dẫn, nhà quản lý, nhà tài trợ Không một ai trong số đó có thể đứng ngoài mà không được sự nhất trí của tất cả các bên
(6) Là hồ sơ xin cấp phép (về mặt học thuật, đạo đức, cấp học bổng hay kinh phí) cho triển khai nghiên cứu
Vì những lý do trên, các tổ chức quản lý hay cấp phép nghiên cứu luôn yêu cầu người dự định triển khai nghiên cứu phải làm đề cương Lưu ý rằng, bất kỳ đề cương nghiên cứu nào
cũng bao gồm các kế hoạch dự định làm, các kết quả mong muốn sẽ đạt được Vì vậy, người
viết phải trình bày sao cho những người đọc thấy những dự định, đề xuất không quá đơn giản, nhưng cũng không viển vông
Các đề cương nghiên cứu thường cần có các phần cơ bản sau đây:
- Tiêu đề: tên của nghiên cứu; tên tác giả;
- Giới thiệu: (Lý do lựa chọn đề tài hay đặt vấn đề)
- Mục tiêu của nghiên cứu
- Dự kiến các kết quả đạt được
- Nội dung nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
- Kế hoạch thực hiện
- Dự trù kinh phí
- Tài liệu tham khảo
Câu 9: phương pháp nghiên cứu cụ thể là gì? Có những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào trong quản lý và kinh doanh