Trên thế giới, KTNN tại một số nhà nước ra đời từ rất sớm. Ở mỗi nước mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan KTNN có những điểm khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới, KTNN tại một số nhà nước ra đời từ rất sớm Ở mỗi nước môhình tổ chức và hoạt động của các cơ quan KTNN có những điểm khác nhau tuỳ thuộcvào đặc điểm của từng quốc gia Tuy nhiên, vị trí pháp lý cơ quan KTNN thường độclập với cơ quan hành pháp – cơ quan quản lý và sử dụng các nguồn lực kinh tế Nhànước, đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất giúp cho các cơ quan KTNNhoạt động hiệu quả, phù hợp với tuyên bố Lima của tổ chức INTOSAI về các chỉ dẫnkiểm toán Những bài học quốc tế trong việc xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức
bộ máy KTNN được rút ra như vậy là hết sức qúy giá với các quốc gia đi sau như ViệtNam chúng ta
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam được thành lập theo Nghị định 70/CP ngày11/7/1994 của Chính phủ Từ khi thành lập đến nay, vị trí của KTNN đã từng bướcđược nâng cao; chức năng của KTNN từng bước được mở rộng; trách nhiệm củaKTNN trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân ngày càng lớn hơn; những quy định về vịtrí, chức năng của KTNN trong những năm vừa qua là phù hợp với tiến trình ra đời vàphát triển của KTNN và ngày càng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế về cơ quanKTNN của mỗi quốc gia.Về mặt tổ chức, đã xây dựng và đưa vào vận hành một hệthống bộ máy tập trung thống nhất bao gồm các bộ phận tham mưu giúp việc và 7KTNN chuyên ngành ở Trung ương và 9 KTNN khu vực
Bên cạnh một số thành tựu đã đạt được trong tổ chức và hoạt động của KTNNvẫn còn không ít những hạn chế, bất cập làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả vàhiệu lực hoạt động kiểm toán Để xây dựng KTNN thực sự trở thành một công cụmạnh của nhà nước trong giai đoạn mới, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu và vận dụng lýluận về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan KTNN, kinh nghiệmthực tiễn của các cơ quan KTNN trên thế giới vào điều kiện cụ thể phù hợp với pháp
luật về KTNN ở Việt Nam Chính vì những lý do trên đây, em đã chọn đề tài: " Các mô hình tổ chức bộ máy Kiểm toán nhà nước trên thế giới và liên hệ thực tiễn tại Việt Nam"
Đề án của em gồm có 3 phần:
Phần 1: Lý luận chung và kinh nghiệm thế giới về tổ chức mô hình bộ máy
KTTN
Phần 2: Thực trạng về mô hình tổ chức bộ máy KTNN Việt Nam.
Phần 3: Nhận xét và các ý kiến đề xuất hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy
KTNN Việt Nam
Em xin gửi lời cảm ơn đến cô giáo Thạc sỹ Nguyễn Thị Mỹ đã chỉ bảo giúp đỡtận tình để em hoàn thành đề án này Do lượng kiến thức tích luỹ của bản thân còn hạn
Trang 2chế cùng với một thời gian nghiên cứu chưa dài, có thể đề án của em có những thiếusót Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy các cô
Em xin chân thành cảm ơn!
PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ TỔ
CHỨC MÔ HÌNH BỘ MÁY KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
1.1 Những vấn đề chung về kiểm toán nhà nước
1.1.1 Khái niệm Kiểm toán Nhà nước
Giáo trình Lý thuyết Kiểm toán (GS.TS Nguyễn Quang Quynh, TS Nguyễn Thị
Phương Hoa, Nhà xuất bản tài chính, 2008) có đưa ra khái niệm vể KTNN như sau:
"Kiểm toán nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn của Nhà nước thực hiện các chức năng kiểm toán tài sản công" Theo đó, KTNN cùng với kiểm toán độc lập và
kiểm toán nội bộ là ba loại hình kiểm toán khi phân loại kiểm toán theo hệ thống bộmáy tổ chức
Luật KTNN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tháng 6 năm 2005 ghi rõ:
"Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước
do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" (Điều 13).
Theo các khái niệm trên, KTNN được hiểu là cơ quan nhà nước thực hiện chứcnăng giám sát tài chính nhà nước Qua các giai đoạn phát triển của Nhà nước, kiểm tratài chính nhà nước của Nhà nước được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau nhưngđều có mục tiêu là kiểm tra và xác định các khoản chi tiêu tài chính, công quỹ quốc giađược sử dụng đúng mục đích; phát hiện và ngăn chặn các hành vi lạm dụng quyền lựclàm thất thoát tài sản công Ở hầu hết các nước trên thế giới KTNN là công cụ kiểm tratài chính cao nhất của Nhà nước
1.1.2 Mục tiêu thành lập của cơ quan Kiểm toán Nhà nước
Đối với mọi quốc gia trên thế giới, việc sử dụng thống nhất và hiệu quả cáckhoản công quỹ là một trong những đòi hỏi thiết yếu đảm bảo hiệu năng các quyếtđịnh của các cơ quan Nhà nước cũng như sự phát triển bền vững của đất nước với mộtnguồn lực kinh tế, tài chính có hạn Trong điều kiện các Nhà nước quản lý nền kinh tếbằng pháp luật thì càng đỏi hỏi phải có một cơ quan KTNN được pháp luật bảo hộ tínhđộc lập để thực hiện chức năng kiểm toán Ngày nay, khi mà Nhà nước đang ngàycàng mở rộng hoạt động của mình sang lĩnh vực kinh tế - xã hội thì yêu cầu đó càngtrở nên cấp thiết hơn
Trang 3Nói cách khác, mục tiêu thành lập của cơ quan KTNN chính là để đáp ứng yêucầu của công tác kiểm tra tài chính nhà nước Theo tuyên bố Lima (được thông qua tại
Hội nghị lần thứ IX của tổ chức INTOSAI): "Khái niệm và việc hình thành kiểm toán gắn liền với quản trị tài chính công vì quản lý công quỹ là một sự uỷ thác Kiểm toán
tự nó không phải là cứu cánh mà là bộ phận không thể thiếu của một hệ thống pháp lý nhằm bóc trần những sai lệch so với các chuẩn mực đã được chấp nhận và hành vi vi phạm nguyên tắc về tính hợp pháp, hiệu quả, hiệu lực và tính kinh tế của quản lý tài chính kịp để có thể áp dụng biện pháp chấn chỉnh trong từng vụ việc, làm cho những người liên đới phải chịu trách nhiệm, chấp nhận bồi thường, hay thực hiện các bước
để ngăn ngừa - hay chí ít cũng gây khó khăn - cho những sai phạm đó" (Điều 1 - Tuyên
bố Lima về hướng dẫn các nguyên tắc kiểm toán)
1.1.3 Vai trò của cơ quan Kiểm toán Nhà nước trong bộ máy nhà nước
KTNN góp phần nâng cao tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu năng của việc
quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước Trong các loại hình kiểm toán được
KTNN thực hiện, kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ nhằm kiểm tra xácnhận tính đúng đắn, trung thực, hợp pháp của các tài liệu, số liệu kế toán, các báo cáoquyết toán của các khách thể kiểm toán, Đồng thời góp phần giúp các thông tin vềkinh tế - tài chính của Nhà nước, các cơ quan đơn vị đáp ứng được yêu cầu trung thực,khách quan và công khai Kiểm toán hoạt động nhằm đánh giá tính kinh tế, tính hiệuquả, hiệu năng của việc quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính Thông qua đó, cácChính phủ thấy được các thế mạnh, những việc làm tốt, những hoạt động cần chấnchỉnh; thúc đẩy Chính phủ các các tổ chức kinh tế có sử dụng NSNN nâng cao chấtlượng quản lý và sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách toàn diện cả về tính kinh tế,hiệu quả và hiệu năng
KTNN góp phần nâng cao việc chấp hành và hoàn thiện pháp luật về quản lýkinh tế, tài chính của Nhà nước Trong các cuộc kiểm toán, sự tuân thủ pháp luật vànhững quy định của các cấp có thẩm quyền của khách thể kiểm toán đều được đánhgiá Thông qua hoạt động kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, cơ quan kiểm toán sẽ đánhgiá và kiến nghị các đơn vị được kiểm toán sửa chữa những sai phạm về quản lý kinh
tế - tài chính Như vậy kiểm toán góp phần tích cực vào duy trì sự tuân thủ pháp luậttại các cấp quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu năng quản lý bằng pháp luật của các
cơ quan nhà nước Mặt khác, cơ quan KTNN luôn sẵn có điều kiện thâm nhập thựctiễn để phát hiện và so sánh những mặt ưu nhược điểm của những quy định hiện hành,những chính sách lạc hậu, lỗi thời cản trở sự phát triển của xã hội Từ đó, thông quachức năng tư vấn, KTNN kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước sửa đổi các quyđịnh chưa phù hợp với thực tiễn Những thông tin thu được từ thực tiễn công tác kiểm
Trang 4toán rất hữu dụng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế - tàichính.
KTNN góp phần làm minh bạch các quan hệ kinh tế - tài chính Vai trò này củakiểm toán gắn liền với chức năng công khai các thông tin qua hoạt động kiểm toán màchủ yếu là thông qua hình thức kiểm toán báo cáo tài chính Kiểm toán góp phần xácnhận các thông tin kinh tế - tài chính của Nhà nước, các đơn vị kinh tế đáp ứng đượcyêu cầu trung thực, khách quan và công khai
1.1.4 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản của cơ quan Kiểm toán Nhà nước
* Chức năng: Chức năng chung của các cơ quan KTNN trên thế giới là kiểm tra
tài chính nhà nước, thể hiện trên các khía cạnh cụ thể sau:
- Kiểm tra và xác nhận: nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan KTNN là việctiến hành kiểm tra công tác kế toán, các BCTC, báo cáo quyết toán ngân sách các cơquan, các cấp ngân sách trong bộ máy nhà nước Thông qua đó xác nhận tình đúngđắn, trung thực và hợp pháp của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán ngânsách; đưa ra các kết luận và đánh giá về hoạt động của khách thể kiểm toán
- Chức năng tư vấn: thông qua quá trình kiểm toán, tư vấn cho đơn vị đượckiểm toán về những thiếu sót cần khắc phục, các dự đoán trong tương lai để phòngtránh Đồng thời, tư vấn cho Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan thuộc Chính phủ banhành hoặc sửa đổi các Luật, quy định cho phù hợp với thực tiễn hoạt động của nềnkinh tế
- Chức năng công khai các số liệu và tình hình quản lý, sử dụng NSNN và cácnguồn lực khác do Nhà nước nắm giữ Trong Nhà nước pháp quyền, mọi hoạt độngcủa Nhà nước phải được kiểm tra và giám sát chặt chữ bởi cơ quan lập pháp - nhữngngười do nhân dân bầu ra và đại diện cho nhân dân
* Nhiệm vụ: các nhiệm vụ cơ bản của cơ quan KTNN là:
- Kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm của các cơ quan nhà nước,Chính phủ và các tổ chức kinh tế nhà nước KTNN kiểm tra việc hạch toán các khoảnthu và chi của Nhà nước do Chính phủ đưa ra để quyết toán ngân sách Ngoài ra,KTNN còn xem xét các quy định và nguyên tắc quản lý ngân sách có hiệu lực phápluật đã được tuân thủ hay chưa
- Kiểm toán toàn bộ hoạt động kinh tế của Nhà nước Bên cạnh khoản thu từthuế, Nhà nước còn có các hoạt động kinh doanh và góp vốn KTNN cần phải kiểmtoán các doanh nghiệp có sử dụng vốn của Nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp và cổphần của Nhà nước chiếm đa số Bên cạnh đó, các đánh giá cần đưa ra xem liệu thị
Trang 5trường đã được Nhà nước tác động một cách tích cực chưa, các biện pháp tài chính vàđiều tiết tiền tệ có đảm bảo được các mục tiêu vĩ mô đặt ra hay không.
* Quyền hạn: Theo Tuyên bố Lima về hướng dẫn các nguyên tắc kiểm toán, cơ
quan KTNN (cơ quan kiểm toán tối cao) có các thẩm quyền cơ bản như sau:
- Quyền điều tra (Điều 10):
+ Cơ quan kiểm toán tối cao phải được tiếp cận với tất cả hồ sơ và tàiliệu liên quan đến việc quản lý tài chính và phải có quyền yêu cầu, bằng miệng haybằng văn bản, cung cấp bất kỳ thông tin nào mà Cơ quan kiểm toán tối cao đó cho làcần thiết
+ Đối với từng cuộc kiểm toán, Cơ quan kiểm toán tối cao có quyềnquyết định địa điểm tiến hành cuộc kiểm toán có lợi nhất, tại cơ quan được kiểm toánhay tại Cơ quan kiểm toán tối cao
+ Luật pháp hay Cơ quan kiểm toán tối cao (tuỳ từng trường hợp cụ thể)
có quyền ấn định giới hạn thời gian cho việc cung cấp thông tin hay gửi tài liệu và cácgiấy tờ khác, kể cả báo cáo tài chính, cho Cơ quan kiểm toán tối cao
- Quyền thực thi (việc thực hiện các phát hiện của Cơ quan kiểm toán tối cao),(Điều 11):
+ Cơ quan được kiểm toán phải cho ý kiến về các phát hiện của Cơ quankiểm toán tối cao trong thời hạn do pháp luật quy định chung, hay do Cơ quan kiểmtoán tối cao quy định cụ thể, và phải cho biết biện pháp áp dụng đối với các phát hiệnkiểm toán đó
+ Trong trường hợp phát hiện của Cơ quan kiểm toán tối cao khôngđược coi là có giá trị pháp lý và mang tính thực hiện bắt buộc thì Cơ quan kiểm toántối cao phải có quyền tiếp cận tới cơ quan có trách nhiệm để thực thi các biện pháp cầnthiết và yêu cầu các bên hữu quan nhận trách nhiệm của mình
- Ý kiến chuyên môn và quyền tư vấn (Điều 12):
+ Khi cần, Cơ quan kiểm toán tối cao có thể cung cấp cho Quốc hội vàchính quyền kiến thức nghiệp vụ của mình dưới dạng ý kiến chuyên môn, kể cả góp ýcho các dự thảo luật và các quy định tài chính khác Cơ quan chính quyền phải tự mìnhchịu trách nhiệm về việc chấp nhận hay từ chối các ý kiến chuyên môn đó; thêm nữa,việc này phải không báo trước các phát hiện kiểm toán sắp tới của Cơ quan kiểm toántối cao và phải không ảnh hưởng tới hiệu lực của cuộc kiểm toán của Cơ quan kiểmtoán tối cao
+ Quy định về quy trình kế toán đầy đủ và càng đồng bộ càng tốt chỉđược ban hành khi đã thống nhất với Cơ quan kiểm toán tối cao
Trang 61.2 Mô hình tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước
Bộ máy KTNN là hệ thống tập hợp những viên chức nhà nước để thực hiệnchức năng kiểm toán ngân sách và tài sản công Xét trong quan hệ với hệ thống bộmáy nhà nước, KTNN là một phân hệ thực hiện chức năng kiểm toán Việc xem xét vàđánh giá mô hình tổ chức của cơ quan KTNN thường dựa trên hai tiêu chí chủ yếu làđịa vị pháp lý và hình thức tổ chức của nó
1.2.1 Nguyên tắc tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước
Độc lập về tổ chức: sự độc lập về tổ chức của cơ quan KTNN là tiền đề cơ bảncủa mọi công việc kiểm tra nhằm đảm bảo sự kiểm tra theo đúng định hướng và đạthiệu quả Theo thông lệ quốc tế và các chỉ dẫn của tuyên bố Lima, cơ quan KTNN chỉ
có thể hoàn thành các nhiệm vụ theo luật định một cách khách quan và có hiệu lựcnếu như nó được đặt độc lập với đơn vị được kiểm toán và được bảo vệ để chống lạicác tác động từ bên ngoài
Độc lập và khách quan trong hoạt động: sự độc lập của KTNN cần phải đượcđảm bảo trong cả hoạt động của nó từ việc lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện đến đưa
ra kết luận kiểm toán Trong hoạt động của mình, cơ quan KTNN không nên phải tuântheo bất cứ chỉ thị nào và chỉ phải phục tùng luật pháp
Độc lập về nhân viên: nhân viên của cơ quan KTNN ở đây được hiểu là nhữngngười phải đưa ra các quyết định kết luận đại diện cho cơ quan KTNN và phải chịutrách nhiệm với những cơ quan có thẩm quyền kiểm tra cơ quan KTNN Nhân viên ởđây có thể là các kiểm toán viên, các thành viên trong một hội đồng có quyền ra quyếtđịnh hoặc người đứng đầu của cơ quan KTNN
Độc lập về tài chính - nguồn kinh phí hoạt động: cơ quan KTNN phải có quyềntrực tiếp đề nghị cơ quan có quyền quyết định NSNN cấp kinh phí mà cơ quan KTNNcho là cần thiết Đây là tiền đề cơ bản để cơ quan KTNN có thể độc lập trong tổ chức,hoạt động và nhân sự
1.2.2 Phân loại mô hình tổ chức theo địa vị pháp lý
Trong quan hệ với bộ máy nhà nước, KTNN có thể độc lập với hệ thống lậppháp và hệ thống hành pháp hoặc trực thuộc một phía hành pháp hoặc lập pháp
* Trường hợp cơ quan KTNN có vị trí độc lập với cả cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp: mô hình này tôn trọng tối đa tính độc lập cao của cơ quan KTNN.
Nhiệm vụ của KTNN là hỗ trợ cho cả hai cơ quan lập pháp và hành pháp Các đề nghị
và kiểm toán của Quốc hội và Chính phủ chỉ mang tính chất gợi ý chứ không phải chỉ
Trang 7thị hay mệnh lệnh Một số nước theo mô hình này là: Malaixia, Pháp, Philippin,Inđônêxia, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Bồ Đào Nha, Italia, Đức,
Mô hình này có một số ưu điểm lớn nhất là đảm bảo được sự độc lập và kháchquan trong tổ chức và hoạt động của KTNN vì nó không chịu sự chỉ chỉ đạo, chi phốicủa Quốc hội và Chính phủ KTNN không chỉ là công cụ đắc lực cho cơ quan lập pháptrong việc thực hiện quyền giám sát mà thực hiện chức năng tư vấn về các vấn đề kinh
tế, tài chính, góp phần nâng cao việc chấp hành và hoàn thiện pháp luật về kinh tế, tàichính
Trang 8Sơ đồ 1.1: Cơ quan KTNN độc lập cơ quan lập pháp và hành pháp.
Tuy nhiên, mô hình này cũng có một số hạn chế đó là sự đòi hỏi một hệ thốngpháp lý minh bạch và đầy đủ cho hoạt động quản lý kinh tế và tài chính Mặt khác, nóđòi hỏi về khả năng và trình độ cao của kiểm toán viên, đặc biệt là trong việc đánh giá
và ra kết luận kiểm toán
* Trường hợp cơ quan KTNN được đặt trong hệ thống lập pháp: đây là trường
hợp phổ biến nhất trên thế giới, tức là cơ quan này trực thuộc về Quốc hội hoặc cơquan Nghị viện Quốc hội muốn biết tường tận về việc thu chi ngân sách và hoạt độngcủa Chính phủ phải căn cứ vào một cơ quan chuyên môn trực thuộc mình và độc lậpvới Chính phủ để có thể tiến hành một cách độc lập khách quan các cuộc kiểm toán vàđánh giá trung thực về các báo cáo và hoạt động của Chính phủ trình ra Quốc hội Cơquan đó chính là KTNN Mô hình này được áp dụng khá rộng rãi trên thế giới như tạiNga, Anh, Đan Mạch, Ôxtrâylia, Hunggari, Phần Lan, Ba Lan, Séc, Hà Lan,
Sơ đồ 1.2: Cơ quan KTNN thuộc cơ quan lập pháp.
Mô hình này có một số ưu điểm như sau: do sự độc lập của cơ quan KTNN vớiChính phủ nên các đánh giá, kết luận về quản lý và điều hành ngân sách của Chínhphủ sẽ khách quan hơn Quyền hạn của cơ quan KTNN gắn liền với quyền của Quốchội do đó các kết luận kiến nghị của KTNN cũng gắn với vai trò tối cao của Quốc hội.Ngoài ra, hoạt động kiểm toán của KTNN ở đây mang tính chất ngoại kiểm, cung cấpthông tin cho Quốc hội và công bố công khai cho dân chúng nên đảm bảo được tínhminh bạch
Quốc hội Chính phủ
Kiểm toánnhà nước
: Quan hệ chỉ đạo : Quan hệ phối hợp
Quốc hội Chính phủ
Kiểm toánnhà nước
: Quan hệ phối hợp
Trang 9Bên cạnh các ưu điểm nêu trên, mô hình này còn một số hạn chế như: Hoạtđộng kiểm toán tài chính của KTNN chủ yếu thực hiện theo phương thức kiểm tra sau,
do vậy, việc phát hiện sai phạm của cơ quan sẽ không mang tính kịp thời, hạn chế tínhphòng ngừa Trong mô hình này, KTNN vẫn bị ảnh hưởng bởi Quốc hội trên nhiềuphương diện như: cơ chế hoạt động tập thể, quyết định theo đa số, danh sách các đơn
vị được kiểm toán hàng năm, Ngoài ra, các kiến nghị của KTNN cũng thường bịchậm thực hiện do các hoạt động mang tính chất hành chính
* Trường hợp cơ quan KTNN được đặt trong hệ thống hành pháp: mô hình này
không đảm bảo được nguyên tắc độc lập về tổ chức giữa KTNN với các đơn vị đượckiểm toán Để hoạt động có hiệu quả, cần phân định ranh giới giữa trách nhiệm vềquản lý hành chính với trách nhiệm về kiểm tra tài chính Xét về nhiều mặt thì KTNNgiống như một cơ quan kiểm tra nội bộ của Chính phủ Mô hình này được áp dụng tạimột số nước như: Nhật Bản, Arập Xêút, Thái Lan, Lào, Campuchia, Thụy Điển,
Mô hình này có một số ưu điểm là: Chính phủ có sự chủ động trong sử dụngcông cụ kiểm toán nhằm kiểm tra kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính đối với cơquan của mình, từ đó kịp thời ngăn ngừa được các sai phạm KTNN cũng có điều kiệnthuận lợi trong việc tiếp cận với thông tin, số liệu của các cơ quan hành chính Do đócác kết luận và kiến nghị của KTNN, một mặt sẽ đáng tin cậy và phù hợp hơn, mặtkhác sẽ được nhanh chóng triển khai để kịp thời khắc phục các sai sót được phát hiện
Sơ đồ 1.3: Cơ quan KTNN thuộc cơ quan hành pháp.
Bên cạnh đó, mô hình này có một số nhược điểm là: KTNN giống như một cơquan kiểm toán nội bộ của Chính phủ, do đó sẽ thiếu khách quan Địa vị pháp lý củaKTNN cũng sẽ bị giới hạn bởi chức năng và quyền hạn của Chính phủ, nó không làcông cụ trực tiếp phục vụ quyền giám sát tối cao của cơ quan quyền lực nhà nước caonhất
Ngoài ba mô hình phổ biến trên đây, còn một số loại hình khác, đó là cơ quanKTNN trực thuộc Tổng thống hoặc mang một ít quyển lúc của cơ quan tư pháp nhưxét xử về sai phạm trong lĩnh vực tài chính,
Chính phủ Quốc hội
Kiểm toánnhà nước
: Quan hệ chỉ đạo : Quan hệ phối hợp
Trang 101.2.3 Hình thức tổ chức của bộ máy Kiểm toán Nhà nước
Có hai hình thức tổ chức cơ quan KTNN được áp dụng trên thế giới :
* Trong các Nhà nước theo kiểu Liên bang, các cơ quan KTNN được thành lập
riêng tại từng Bang và tại cấp Liên bang Các cơ quan KTNN này độc lập với nhau vềphạm vi hoạt động và ngân sách hoạt động, nhưng lại có sự chỉ đạo và phối hợp chặtchẽ về mặt chuyên môn, nghiệp vụ và đôi khi là cả trong thực hiện nhiệm vụ kiểmtoán Mỗi cơ quan KTNN có cơ cấu tổ chức, nhân sự và quyền hạn cũng khác nhautheo luật pháp từng Bang
* Trong hình thức tổ chức Nhà nước một cách thông nhất thì chỉ có một cơ
quan KTNN chung, tuy nhiên hình thức tổ chức giữa cấp trên và cấp dưới giữa cácnước cũng không giống nhau, cụ thể có hai loại hình phổ biến:
- Thứ nhất, cơ quan KTNN tổ chức các bộ phận theo các cấp ngân sách khác
nhau KTNN trung ương thực hiện kiểm toán với các cơ quan, đơn vị trực thuộc trungương Ở cấp tỉnh, thành phố sẽ thành lập các cơ quan KTNN tỉnh hoặc thành phố và ởcác cấp chính quyền thấp hơn nữa sẽ thành lập các cơ quan KTNN tương ứng Cơquan KTNN cấp dưới phụ thuộc về tổ chức và chịu sự chỉ đạo của cấp trên về hoạtđộng của mình, đồng thời cũng chịu sự chi phối của chính quyền cùng cấp
- Thứ hai, cơ quan KTNN được tổ chức tập trung thống nhất, chỉ có duy nhất
một cơ quan KTNN tại trung ương và các bộ phận KTNN trực thuộc tại các khu vực,thực hiện nhiệm vụ và có cùng một kinh phí hoạt động chung Mô hình này đảm bảođược tính độc lập về mặt tổ chức và hoạt động của cơ quan KTNN với các cấp chínhquyền Đồng thời, có sự phối hợp tốt hơn về chuyên môn, nghiệp vụ, kế hoạch kiểmtoán hàng năm Ngoài ra, hình thức tổ chức này còn tiết kiệm được chi phí hoạt độngcủa cơ quan KTNN do hạn chế được các cấp trực thuộc
1.3 Mô hình tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước của một số nước và bài học kinh nghiệm
1.3.1 Kiểm toán Nhà nước Cộng hòa liên bang Đức
* Về địa vị pháp lý:
Cơ quan kiểm toán Liên bang tại Đức là cơ quan có thẩm quyền tối cao củaLiên bang với tư cách là một thể chế độc lập về kiểm tra tài chính, hoạt động chỉ tuântheo luật pháp Địa vị và nhiệm vụ của KTNN Liên bang được đảm bảo bằng Hiếnpháp KTNN Liên bang không phải là một cơ quan của Chính phủ, cũng không phải là
cơ quan của Quốc hội và cũng không phải là cơ quan tư pháp Vị trí đó đảm bảo tínhđộc lập, khách quan trong hoạt động của cơ quan KTNN
Trang 11* Về tổ chức, bộ máy:
Cơ quan Kiểm toán Liên bang bao gồm các cơ quan kiểm toán khu vực và các
bộ phận kiểm toán Có thể thành lập các nhóm kiểm toán để thực hiện các chức năngđặc thù Cần hình thành bộ phận kiểm toán riêng tại Phủ tổng thống chịu trách nhiệm
về các dịch vụ văn phòng Tại các Bang thành lập cơ quan kiểm toán riêng theo luật tạitừng Bang Hiện nay, KTNN Liên bang tại Đức bao gồm Kiểm toán Liên bang và 9KTNN khu vực cấp dưới và 2 phân viện Cơ cấu tổ chức KTNN Liên bang như sau:
- Các thành viên gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch phụ trách các khu vực kiểm toán
và phụ trách các Vụ và trưởng phân ban kiểm toán
- Chủ tịch và Phó chủ tịch KTNN Liên bang do Quốc hội bầu theo đề nghị củaThủ tướng với nguyên tắc đa số phiếu, nhiệm kỳ 12 năm Các vị trí này chỉ được bầumột lần Chủ tịch và Phó chủ tịch là công chức Nhà nước, không phải là nhà chính trị.Chủ tịch và Phó chủ tịch KTNN Bang do các Đảng phái trong Quốc hội Bang lựa chọn
và Quốc hội chấp thuận
- Chủ tịch KTNN Liên bang đứng đầu KTNN, đứng đầu Hội đồng lãnh đạo và
có thể là Chủ tịch ban lãnh đạo Vụ hoặc khu vực Phó chủ tịch giúp việc Chủ tịch vàthay mặt Chủ tịch lúc Chủ tịch đi vắng
- Hội đồng lãnh đạo KTNN Liên bang có nhiều thành viên được xác định tùytheo thời kỳ, Hội đồng lãnh đạo lập ban Thường vụ của Hội đồng
- Hội đồng khu vực: mỗi vùng lập một Hội đồng khu vực do người đứng đầukhu vực làm chủ tịch và các Trưởng ban kiểm soát của khu vực Chủ tịch và Phó chủtịch KTNN Liên bang có thể tham gia Hội đồng khu vực và khi đó sẽ làm Chủ tịchHội đồng
- Các Vụ: Chịu trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ kiểm toán của KTNN, đứngđầu là Vụ trưởng Trong mỗi Vụ lại chia ra các phân ban kiểm toán
Vụ được tổ chức căn cứ vào chức năng của các Bộ là cơ quan hành chính ởLiên bang, mỗi Vụ phụ trách một Bộ ở Liên bang, một số Vụ tham mưu chỉ chuyên locác vấn đề cơ bản của kiểm toán, có Vụ vừa làm công việc kiểm toán vừa làm tư vấn
Trang 12viện lập ra KTNN, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Quốc vụ viện, chủ quản công táckiểm toán toàn quốc KTNN là cơ quan kiểm toán cao nhất của Trung Quốc Chứcnăng, nhiệm vụ và quyền hạn của KTNN được quy định rõ trong luật pháp Quốc vụviện lập ra cơ quan kiểm toán để kiểm toán giám sát thu chi tài chính của các banngành của Quốc vụ viện và của chính quyền các cấp ở địa phương, các tổ chức tàichính và tiền tệ của Nhà nước, các tổ chức kinh tế và xí nghiệp Nhà nước Cơ quanKTNN thực hiện quyền kiểm toán giám sát độc lập theo quy định của pháp luật, khôngchịu dự can thiệp của các cơ quan hành chính hay cá nhân nào
* Về tổ chức bộ máy:
Ủy ban nhân dân địa phương từ cấp huyện trở lên lập các cơ quan kiểm toán.Tổng KTNN phải do Thủ tướng Quốc vụ viện đề cử và do Đại hội Đại biểu nhân dântoàn quốc quyết định Chủ tịch nước căn cứ vào quyết định của Đại hội Đại biểu nhândân toàn quốc và Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc để bổ nhiệm,miễn nhiệm Tổng KTNN Tổng KTNN là thành viên của Quốc vụ viện
Theo số liệu thống kê, ở cấp trung ương có tới 3.000 nhân viên thực hiện kiểmtoán đối với 29 Bộ và cơ quan của Chính phủ Trong đó tại trụ sở chính có các bộ phậngồm 300 nhân viên; 25 văn phòng kiểm toán di động có 200 nhân viên; 18 văn phòngkiểm toán khu vực với 2500 nhân viên Đối với chính quyền tỉnh, có 7.000 nhân viênkiểm toán thực hiện việc kiểm toán về tài chính đối với tất cả các chính quyền tỉnh;cấp thành phố dưới tỉnh, có 21.000 nhân viên kiểm toán; cấp huyện có 50.000 nhânviên kiểm toán
1.3.3 Kiểm toán Nhà nước Cộng hòa Hàn Quốc
* Địa vị pháp lý:
Ủy ban Kiểm toán của Hàn Quốc được thành lập năm 1948 Đến năm 1963,Hàn Quốc sáp nhập Ủy ban Kiểm toán với Hội đồng Thanh tra với tên gọi mới là Ủyban Kiểm toán và Thanh tra Hàn Quốc (viết tắt là BAI)
Theo Hiến pháp của Hàn Quốc, Ủy ban Kiểm toán và Thanh tra (BAI) trựcthuộc Tổng thống để kiểm tra các quyết toán, khoản thu, khoản chi của Nhà nước, cácquyết toán khác của Nhà nước và của cơ quan khác được lập ra theo luật định cũngnhư hoạt động của nền hành chính Nhà nước và các công chức của nó Tuy trực thuộcTổng thống nhưng BAI độc lập trong khi thực hiện hoạt động của mình từ việc tuyểndụng, sa thải nhân viên, tổ chức cơ quan, lập kế hoạch ngân sách, Sự độc lập củaBAI về việc tuyển dụng và sa thải nhân viên, về tổ chức cơ quan và lập kế hoạch ngânsách của mình phải được tôn trọng ở mức cao nhất
Trang 13* Tổ chức bộ máy:
BAI được tổ chức theo chiều dọc, theo nguyên tắc tập trung thống nhất baogồm các vụ chức năng và vụ kiểm toán chuyên ngành cấp trung ương và kiểm toánkhu vực nhưng không đặt trụ sở ở các địa phương:
- BAI là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể, bao gồm 7 ủy viên kể Chủ tịch.Chủ tịch BAI do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội, nhiệm kỳ là 04năm và chỉ được tái bổ nhiệm một nhiệm kỳ Các ủy viên khác của BAI do Tổng thống
bổ nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch BAI Nhiệm kỳ của một ủy viên BAI là 04 năm,nhiệm kỳ của một ủy viên BAI kết thúc khi người đó tròn 65 tuổi
- Các ủy viên BAI do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch BAI,lương của các ủy viên BAI cao ngang với lương của một Thứ trưởng Lương của Chủtịch BAI sẽ được Tổng thống xác định thông qua sắc lệnh ở mức giữa lương của Thủtướng và lương của một ủy viên Hội đồng Nhà nước
- Văn phòng của BAI gồm 1 Tổng thư ký (ủy viên Hội đồng ủy viên) và 02 phóTổng thư ký và các viên chức khác Văn phòng được chia thành các Vụ, phòng và Bankiểm toán bao gồm:
+ 7 vụ kiểm toán chuyên ngành trong đó vụ VI và VII phụ trách và kiểm soátcông tác kiểm toán tại các địa phương
+ Ban kiểm soát dự án Chính phủ, Ban kiểm toán văn hóa và môi trường
+ Các vụ chức năng tuộc bộ phận quản lý và tham mưu gồm: Vụ Hợp tác quốc
tế, Vụ quản lý nhân sự, Vụ quản lý và hoạch định thông tin, Vụ Pháp chế, Viện quản
lý và đào tạo kiểm toán thanh tra
+ Ngoài ra theo Luật Kiểm toán và Thanh tra Hàn Quốc, để đáp ứng nhu cầu tưvấn, Chủ tịch BAI có thể thành lập một Hội đồng tư vấn riêng cho mình
1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
1.3.4.1 Tính độc lập của cơ quan KTNN
Sự độc lập về tổ chức của cơ quan KTNN là tiền đề cơ bản của mọi công việckiểm tra nhằm đảm bảo sự kiểm tra đúng theo định hướng và đạt hiệu quả Các quyđịnh về một cơ quan KTNN tại cả ba nước đều được đề cập đến trong Hiến pháp vàcoi đó như là một cơ quan có thẩm quyền cao trong kiểm tra tài chính nhà nước Tuynhiên, chỉ có Hiến pháp của Liên bang Đức có những quy định đề cập rõ đến tính độclập của cơ quan KTNN Trong Hiến pháp của Trung Quốc cũng có nói đến tính độclập này và tại cả ba nước tính độc lập của cơ quan này đều được nói rõ hơn trong cácđạo luật về kiểm toán Mô hình tổ chức cyả các cơ quan KTNN phải phù hợp với sựphát triển về kinh tế và phân cấp NSNN, chính nó là sự cụ thể hóa các quy định trong
Trang 14Hiến pháp và các đạo luật, quyết định đến tính độc lập và hiệu quả hoạt động của cơquan này
Đồng thời với sự độc lập về tổ chức là sự đòi hỏi phải có sự độc lập vêf nhânviên kiểm toán và độc lập về ngân quỹ hoạt động Sự độc lập về nhân viên cho phépnhững người có thẩm quyền đưa ra các xác nhận và đánh giá về các vấn đề tài chínhkhông bị lệ thuộc vào các áp đặt và can thiệp từ bên ngoài đối với các kết luận kiểmtoán Sự độc lập về ngân quỹ hoạt động cho phép hoạt động kiểm toán có đủ tínhkhách quan cần thiết trong việc lựa chọn quy mô và mẫu kiểm toán cần thiết trong việcđánh giá về hiệu quả quản lý tiền và tài sản nhà nước của Chính phủ Nói cách khác,độc lập về tài chính là tiền đề cơ bản cho phương thức làm việc mang tính tự chủ
1.3.4.2 Mối quan hệ với Chính phủ và Quốc hội:
Như đã trình bày ở trên, tại Đức và Hàn Quốc, cơ quan KTNN thực sự đượcxây dựng như là những cơ quan nhà nước độc lập về tổ chức với cơ quan hành pháp vàlập pháp Điều này đảm bảo tính độc lập về mặt nghiệp vụ nhưng lại có sự phối hợpchặt chẽ giữa KTNN với các cơ quan khác Ngoài ra, như ta thấy tại Đức, KTNN Liênbang còn thành lập một số kiểm toán khu vực nhưng không trực thuộc về mặt hànhchính với các Bang, điều này đảm bảo tính độc lập cao của KTNN khu vực Tại TrungQuốc, cơ quan kiểm toán được thành lập cùng cấp với các cấp chính quyền và chịu sựchỉ đạo từ hai cơ quan là chính quyền cùng cấp và KTNN cấp trên, điều này hạn chếtính độc lập của cơ quan này
Tuy nhiên, việc tách rời hoàn toàn cơ quan KTNN khỏi Quốc hội và Chính phủ
là điều không thể, bởi vì việc lập ra cơ quan này cũng nhằm phục vụ cho Quốc hội vàChính phủ biết rõ việc quản lý công quỹ và tài sản quốc gia được thực hiện như thếnào Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, KTNN cần có sự hợp tác chặt chẽ từchính hai cơ quan này đặc biệt trong việc tư vấn các dự luật cho Quốc hội hay kiếnnghị Chính phủ phải sửa chữa và khắc phục các yếu kém trong quản lý và điều hànhngân sách
Ngoài ra, cơ quan KTNN cần được độc lập trong việc lựa chọn chương trình vàmục tiêu kiểm toán hàng năm, được độc lập thực hiện các chương trình đã xây dựng
mà không chịu sự tác động, chi phối từ các cơ quan khác Điều này đã thực sự đượctôn trọng trong mô hình KTNN tại Đức và Hàn Quốc
1.3.4.3 Hình thức tổ chức:
Hình thức tổ chức cơ quan KTNN của ba nước đã nghiên cứu ở trên có sự khácnhau, từ hình thức có nhiều cơ quan KTNN độc lập nhau như ở Đức, đến hình thức cómột cơ quan KTNN nhưng lại được tổ chức theo mô hình tập trung thống nhất nhưkiểu Hàn Quốc hay các cơ quan KTNN trực thuộc cả vào chính quyền địa phương như
Trang 15tại Trung Quốc Tuy nhiên, đặc điểm chung của ba mô hình tổ chức cơ quan KTNNtrên là có sự thích ứng với hình thức tổ chức NSNN và pháp luật về tổ chức bộ máynhà nước của từng nước Việc bổ nhiệm và miễn nhiệm người đứng đầu cơ quanKTNN thường do Quốc hội phê chuẩn và Chính phủ thường là người đề cử Nhiệm kỳcông tác của người đừng đầu và các ủy viên của nó thường kéo dài hơn nhiệm kỳ củaChính phủ và Quốc hội.
Việc lựa chọn mô hình tổ chức của KTNN phải phù hợp với việc phân cấpNSNN và sự đòi hỏi vai trò của KTNN trong hệ thống các cơ quan kiểm soát của Nhànước Mô hình cơ quan KTNN thống nhất từ trung ương đến các khu vực mà không lệthuộc vào các cơ quan chính quyền địa phương tỏ ra hiệu quả hơn trong việc đưa racác kế hoạch hoạt động cũng như đảm bảo sự độc lập cần thiết trong các kết luận của
cơ quan KTNN Mô hình này cũng phù hợp với các chỉ dẫn trong tuyên bố củaINTOSAI nhằm giảm thiểu sự can thiệp từ chính quyền - khách thể của kiểm toán
Trang 16PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC BỘ MÁY
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
2.1.1 Bối cảnh ra đời của Kiểm toán Nhà nước
Mỗi cơ quan KTNN ở mỗi nước trên thế giới ra đời trong những điều kiện kinh
tế, chính trị và thời điểm lịch sử khác nhau KTNN tại một số nước ra đời từ rất sớm:KTNN Pháp ra đời năm 1807, KTNN tại Anh được thành lập năm 1834, KTNN TháiLan năm 1875, Hoàn cảnh ra đời của cơ quan KTNN tại mỗi nước không hoàn toàngiống nhau nhưng đều dựa trên những điệu kiện phát triển nhất định của Nhà nước,những điều kiện kinh tế - chính trị chín muồi Ở nước ta, KTNN ra đời cũng dựa trênnhững điều kiện sau đây:
* Điều kiện kinh tế: yêu cầu của quản lý tài chính nhà nước Sự kiểm tra việc
quản lý cà sử dụng NSNN là một đòi hỏi ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới Quốc hộivới tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho nhân dân phải thựchiện quyền quyết định về tài chính nhà nước Do vậy, cần phải kiểm tra, giám sát đốivới các chủ thể được giao quản lý và sử dụng tài chính nhà nước Xuất phát từ nhucầu đó đã hình thành nên một hệ thống các cơ quan kiểm tra, kiểm soát, trong quátrình phát triển của hệ thống ấy tất yếu hình thành nên một tổ chức độc lập từ bênngoài và hoạt động mang tính chuyên môn cao nhằm kiểm tra, đánh giá mọi hoạt độngquản lý và sử dụng tài chính nhà nước - đó là cơ quan KTNN Mặt khác trong điềukiện của nền kinh tế thị trường, chức năng quản lý và điều tiết nền kinh tế của Nhànước là hết sức quan trọng Các biện pháp kinh tế của nhà nước lại tác động lớn đếnnhững cân đối của nền kinh tế, sự ổn định và tăng trưởng kinh tế là xuất hiện nhu cầukiểm tra tài chính nhà nước Đây chính là đòi hỏi về sự ra đời và hoạt động hiệu quảcủa cơ quan KTNN
* Điều kiện chính trị: đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền Đặc điểm cơ bản nhất
của Nhà nước pháp quyền chính là việc quản lý xã hội bằng pháp luật Chính đặc tínhnày đòi hỏi Nhà nước với tư cách là đại diện cho nhân dân phải quản lý và sử dụngđúng mục đích, đúng pháp luật, hiệu quả, tiết kiệm mọi nguồn lực kinh tế xã hội.Trong điệu kiện đó, cần có KTNN với tư cách là một tổ chức hoạt động độc lập đểđánh giá quá trình quản lý và sử dụng các nguồn lực kinh tế của Nhà nước Do đó,chình Nhà nước pháp quyền là nhân tố môi trường chính trị - pháp luật của sự ra đờiKTNN
Trang 172.1.2 Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển Kiểm toán Nhà nước
Đường lối chủ trương về phát triển KTNN được thể hinện qua nhiều nghị quyết
và văn kiện của Đảng Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương Đảng, khóaVIII: Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước CHXHCN
Việt Nam trong sạch, vững mạnh đã đề ra: "Đề cao vai trò của cơ quan KTNN trong việc kiểm toán mọi cơ quan, tổ chức có sử dụng NSNN Cơ quan Kiểm toán báo cáo kết quả kiểm toán cho Quốc hội, Chính phủ và công bố công khai cho dân biết" Trong
báo cáo của BCH Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng cũng nêu rõ: "Đổi mới chế độ kế toán, kiểm toán, thanh tra tài chính, chế
độ báo cáo, thông tin, bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh phải công khai, minh bạch đối với tài chính doanh nghiệp Xây dựng luật quản lý vốn và tài sản của Nhà nước; ứng dụng rộng rãi khoa học - công nghệ mới trong quản lý tài chính, nâng cấp từng bước áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về công khai và nghiệp vụ kế toán, kiểm toán đối với hệ thống tài chính Thiết lập cơ chế giám sát tài chính - tiền tệ nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, kiểm soát các luồng vốn, các khoản nợ, trả nợ, mở rộng các hình thức công khai tài chính Nâng cao hiệu lực pháp lý và chất lượng KTNN như một công cụ mạnh của nhà nước".
Quốc hội, với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền giámsát NSNN, cũng đã có nhiều nghị quyết về phát triển KTNN Mới đây, Uỷ banThường vụ Quốc hội đã ban hành kèm theo Nghị quyết số 927/2010/UBTVQH12
ngày 19 tháng 4 năm 2010 Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020 Trong đó nêu rõ: "Chiến lược phát triển Kiểm toán Nhà nước đến năm 2020 phải quán triệt các quan điểm sau:
1.1 Phát triển KTNN thành công cụ trọng yếu và hữu hiệu của Đảng và Nhà nước trong kiểm tra, kiểm soát việc quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước; hỗ trợ, phục vụ đắc lực cho hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong thực hiện chức năng giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, của các địa phương.
1.2 Phát triển KTNN đảm bảo quán triệt và phù hợp các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; tuân thủ quy định của hệ thống pháp luật của Nhà nước
và đảm bảo tính độc lập đối với hoạt động kiểm toán nhà nước nhằm thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ của KTNN theo quy định của pháp luật, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu quản lý ngân sách, tiền và tài sản nhà nước trong công cuộc đổi mới.
1.3 Phát triển KTNN phải đảm bảo quán triệt quan điểm cải cách hành chính nói chung, cải cách tài chính công nói riêng, xác định cho được quy mô hợp lý trong từng thời kỳ đủ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Từng bước xây dựng cơ quan KTNN chuyên nghiệp, hiện đại, phát triển hợp lý về số lượng hợp lý và nâng cao về chất lượng, hết sức coi trọng về chất lượng, tinh gọn về bộ máy, tiết kiệm kinh phí,
Trang 18hoạt động hiệu quả Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin hiện đại trong quản lý và hoạt động kiểm toán.
1.4 Nhà nước có chính sách ưu tiên thích đáng các nguồn lực cần thiết cho tổ chức bộ máy và hoạt động của KTNN, chính sách đầu tư phát triển công nghệ thông tin, chính sách hỗ trợ đào tạo, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
1.5 Phát triển KTNN phải đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với các nguyên tắc, thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam.".
Để bảo đảm yêu cầu phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá vàtiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, chiến lược trên cũng đề ra mục tiêu
phát triển KTNN đến năm 2020 là "Nâng cao năng lực hoạt động, hiệu lực pháp lý, chất lượng và hiệu quả hoạt động của KTNN như một công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; xây dựng KTNN có trình độ chuyên nghiệp cao, từng bước hiện đại, trở thành cơ quan kiểm tra tài chính công có trách nhiệm và uy tín, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế”
Qua đó, có thể thấy rằng, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vai trò quantrọng của cơ quan KTNN trong hệ thống các cơ quan kiểm tra, kiểm soát của Nhànước nhằm tăng cường việc kiểm tra, đánh giá và việc sử dụng công quỹ của các cơquan nhà nước, các cấp chính quyền nhằm ngăn chặn tham nhũng và chống lãng phí
2.1.3 Kết quả đạt được trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước
Trên thế giới, cơ quan KTNN của một số nước đã có lịch sử phát triển hàngtrăm năm và được khẳng định như một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thốngcác cơ quan kiểm tra tài chính của một Nhà nước hiện đại Tại Việt Nam, nghị định số70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ đã cho phép thành lập cơ quan KTNN nhằmthực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính nhà nước trong điều kiệnnền kinh tế chuyển đổi nhanh sang nền kinh tế thị trường Qua hơn 10 năm hoạt động,KTNN đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế về vị trí, vai trò, chức năng và quyền hạn củaKTNN trong bộ máy nhà nước Để phù hợp với tiến trình cải cách nền hành chínhquốc gia, xây dựng Nhà nước pháp quyền góp phần phân bổ, quản lý và sử dụng cácnguồn lực tài chính nhà nước và tài sản nhà nước một cách tiết kiệm và hiệu quả, ngănngừa các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí của công, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hộikhóa XI đã thông qua Luật KTNN quy định về vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của KTNN Đây là văn bản pháp lý caonhất quy định về KTNN, đánh dấu bước phát triển mới về chất của hệ thống các công
cụ kiểm tra, kiểm soát ở Việt Nam trong thời kỳ mới; khẳng định quyết tâm của Đảng
và Nhà nước trong việc thiết lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lý nguồn tài chínhquốc gia Vị trí của KTNN đã không ngừng được nâng cao; chức năng và nhiệm vụcủa KTNN được mở rộng, giúp Quốc hội, Chính phủ kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hơnviệc quản lý, sử dụng NSNN và tài sản nhà nước Quy định về vị trí, chức năng của
Trang 19KTNN theo Luật KTNN là phù hợp với tiến trình ra đời và phát triển của KTNN vàngày càng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế Điều này cho thấy KTNN là một công cụquan trọng nằm trong một hệ thống các cơ quan kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước;khẳng định vai trò không thể thiếu được trong bộ máy nhà nước pháp quyền hiện nay.Mặc dù còn nhiều khó khăn thử thách, nhưng bước đầu KTNN đã đạt được những kếtquản rất đáng khích lệ, thể hiện trên các mặt như sau:
- Sau khi được thành lập, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của KTNN là vừa xâydựng tổ chức bộ máy, vừa phát triển đội ngũ cán bộ kết hợp với việc thực hiện nhiệm
vụ hàng năm được giao Đến nay, KTNN đã có một hệ thống tổ chức thống nhất từTrung ương đến các khu vực, với một đội ngũ đông đảo các kiểm toán viên, các bộphận giúp việc và tham mưu Bước đầu xây dựng được cơ sở vật chất như trụ sở làmviệc, mua sắm cá trang thiết bị thiết yếu cho hoạt động kiểm toán và quản lý của cả hệthống KTNN, đáp ứng được nhiệm vụ năm sau cao hơn năm trước do Chính phủ vàQuốc hộ giao
- Bước đầu, KTNN đã đánh giá được tính kinh tế, tình hiệu quả và hiệu năngcủa việc quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước Mặc dù trước mắt, mớitập trung chính vào việc kiểm toán BCTC, báo cáo quyết toán ngân sách, quyết toáncác công trình xây dựng, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ mới chỉ được ápdụng hạn chế nhưng đã đem lại kết quả tốt, góp phần thiết thực cho công tác điều hành
vĩ mô của nhà nước
- Góp phần nâng cao hiệu lực pháp luật về kinh tế - tài chính của Nhà nướcbằng các kết quả kiểm toán của mình, giúp Quốc hội và Chính phủ trong việc phêduyệt dự toán và tổng quyết toán NSNN Đồng thời cũng qua đó giúp các đơn vị kiểmtoán chấn chỉnh những sai sót trong việc chấp hành chế độ chính sách của Nhà nước
- Đóng góp ý kiến trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế - tàichính của Nhà nước thông qua các phát hiện về sự bất cậ của các chế độ, chính sáchkhông phù hợp với thực tế Đồng thời, phản ảnh được các ý kiến đóng góp của các đơn
vị được kiểm toán đối với cơ quan ban hành chính sách đẻ hoàn thiện hơn hệ thốngpháp luật về kinh tế - tài chính
2.2 Mô hình tổ chức Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
2.2.1 Địa vị pháp lý, chức năng của Kiểm toán Nhà nước trong bộ máy nhà nước
2.1.1.1 Giai đoạn từ khi thành lập đến trước khi có Luật KTNN:
Trước khi Luật KTNN ra đời, KTNN là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiệnchức năng kiểm tra tài chính nhà nước Cơ quan KTNN được thành lập theo Nghị định
số 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ Với chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng