Vàng đen - Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất của xã hội hiện đại dùng để sản xuất điện, sử dụng trongcác ngành công nghiệpquan trọng và cũng là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thông vận tải.
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Vàng đen - Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất của xã hội hiện đại dùng để sản xuất điện, sử dụng trongcác ngành công nghiệpquan trọng và cũng là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thông vận tải.Nhận định chung cho rằng thế kỷ XIX là thế kỷ của than, thế kỷ XX là thế kỷ của dầu mỏ và trong những thập kỷ đầu của thế
kỷ XXI, chắc chắn loại nhiên liệu không thể tái sinh được này vẫn chưa thể
bị thay thế bởi khí đốt, than, thuỷ điện, năng lượng hạt nhân, năng lượng gió, mặt trời, địa nhiệt, bởi hơn 80% năng lượng hiện nay được tạo ra bởi dầu mỏ.
Trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, mặt hàng dầu mỏ
là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực, luôn chiếm vị trí số cao về giá trị kim ngạch xuất khẩu Việc khai thác và xuất khẩu hiệu quả mặt hàng này sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp Việt Nam, tăng doanh thu xuất khẩu cho đất nước.
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, thị trường dầu thô thế giới biến động không ngừng do nhiều nguyên nhân khác nhau, do vậy làm ảnh hưởng rất nhiều tới tình hình xuất khẩu dầu thô của Việt Nam Giá dầu trên thế giới biến động lúc tăng, lúc giảm tạo ra những thuận lợi và cả những khó khăn cho hoạt động xuất khẩu dầu của Việt Nam Do vậy, việc
nghiên cứu đề tài “Thị trường dầu mỏ thế giới và ảnh hưởng của nó tới
hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam” để tận dụng những thuận
lợi, khắc phục khó khăn, tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu dầu thô
Trang 2B NỘI DUNG
I Thị trường dầu mỏ thế giới
1 Đặc điểm thị trường dầu mỏ thế giới
Thị trường dầu mỏ thế giới là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch,mua bán về dầu mỏ giữa các quốc gia trên khắp thế giới Nó có những đặcđiểm chung song cũng có những điểm hết sức khác biệt so với các thịtrường khác
Thứ nhất, đây là một thị trường lớn do nhu cầu phong phú, đadạng về dầu mỏ của các quốc gia trên khắp thế giới Trong khi mà cácnguồn tài nguyên không thể tái sinh ngày càng cạn kiệt và những nguồnnăng lượng khác chưa thể thay thế được vai trò chiến lược của dầu mỏ thìnhu cầu về dầu mỏ vẫn ngày một tăng với một số lượng lớn các giao dịchmua bán dầu mỏ giữa các quốc gia, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trênthế giới
Thứ hai, thị trường dầu mỏ còn hết sức nhạy cảm với những biếnđộng về kinh tế, chính trị trên toàn cầu từ đó dẫn đến những biến động trênchính thị trường dầu mỏ Chỉ cần xảy ra một sự bất ổn định về mặt chính trịcủa một trong những quốc gia xuất khẩu dầu như là sự căng thẳng về chínhtrị tại Nigieria hay các hoạt động phá hoại của lực lượng chống đối tại Iraq,
sự bất ổn các nguồn cung từ Nga (vụ Yukos) cũng có thể làm chao đảo thịtrường dầu mỏ
Thứ ba, thị trường dầu mỏ thế giới chịu sự chi phối rất lớn của tổchứcOPEC.Các quyết định, chính sách của OPEC về cung cầu dầu mỏ
Trang 3cũng như giá dầu đều có tác động rất lớn đến thị trường dầu mỏ thếgiới.Báo cáo của OPEC công bố ngày 13/08/2010 bất chấp nhu cầu dầu mỏcủa Mỹ vẫn ổn định, nhu cầu dầu mỏ của thế giới năm 2010 được dự báotăng thêm 100.000 triệu thùng/ngày, đưa mức tăng nhu cầu dầu mỏ nămnay lên khoảng một triệu thùng/ngày (hay 1,2%), thấp hơn mức 1,7 triệuthùng/ngày được đưa ra trong dự báo trước đây Theo đó, tổng nhu cầu dầu
mỏ được dự báo trong năm nay sẽ đạt mức 85,5 triệu thùng, tăng so vớimức 84,46 triệu thùng của năm ngoái
2 Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC
Thị trường dầu mỏ thế giới chịu sự chi phối và phụ thuộc rất nhiềuvào tổ chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC Đây là một tổ chức đa chính phủđược thành lập bởi các nước Iran, I-rắc, Kwait, Ả Rập Saudi và Venezuelatrong hội nghị tại Baghda (từ ngày 10 tháng 9 đến 14 tháng 9 năm 1960).Các thành viên gồm Qatar (1961), Nam Dương (1962), LiBi (1962).Cáctiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (1967), Algeria (1969) và Nigeria(1971) lần lượt gia nhập tổ chức sau đó.Ecuador (1973 - 1992) và Gabon(1975 - 1994) cũng từng là thành viên của OPEC.Trong năm năm đầu tiênđặt trụ sở cuả OPEC tại Geneve, Thuỵ Sĩ, sau đó chuyển về Viên, Áo từtháng 9/1965.Các nước thành viên OPEC khai thác vào khoảng 40% tổngsản lượng dầu thế giới và nắm giữ khoảng 3/4 trữ lượng dầu thế giới
OPEC có khả năng điều chỉnh hạn ngạch khai thác dầu của cácnước thành viên và qua đó có khả năng khống chế giá dầu trên thị trườngthế giới.Hội nghị các bộ trưởng phụ trách vấn đề năng lượng và dầu mỏ
Trang 4trường dầu mỏ và đề ra các biện pháp phù hợp để đảm bảo việc cung cấpdầu trên thị trường dầu mỏ thế giới Bộ trưởng các nước thành viên thaynhau theo nguyên tắc xoay vòng làm chủ tịch của tổ chức hai năm mộtnhiệm kỳ.
Mục tiêu chính thức được ghi vào hiệp định thành lập OPEC là
ổn định thị trường dầu thô, bao gồm các chính sách khai thác dầu, ổn địnhgiá dầu thế giới và ủng hộ về mặt chính trị cho các thành viên khi bị cácbiện pháp cưỡng chế vì các quyết định của OPEC Nhưng thật ra nhiềubiện pháp được đề ra lại có động cơ bắt nguồn từ quyền lợi quốc gia, thí dụnhư trong cơn khủng hoảng dầu, OPEC đã không tìm cách hạ giá dầu màlại duy trì chính sách cao giá trong thời gian dài Mục tiêu của OPEC thật
ra là một chính sách dầu chung nhằm để giữ giá.OPEC dựa vào việc phân
bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh lượng khai thác dầu, tạo rakhan hiếm hoặc dư dầu giả, thông qua đó có thể có thể tăng, giảm hoặc giữgiá dầu ổn định Có thể coi OPEC như là một liên minh độc quyền luôn tìmcách giữ giá dầu ở mức có lợi nhất cho mình OPEC giữ một vị trí quantrọng nhất trên thị trường dầu mỏ thế giới
3 Những biến động trên thị trường dầu mỏ thế giới
Kể từ khi có ngành công nghiệp dầu khí đến nay, với khởi đầuCông nghiệp dầu khí Mỹ, rồi khi Nga bắt đầu xuất khẩu dầu (1884), vàphát hiện vùng dầu Texas vào cuối thế kỷ XIX, những năm đầu thế kỷ XXVenezuala bắt đầu khai thác dầu, đến chiến tranh thế giới lần thứ hai thì về
cơ bản giá dầu cũng chỉ ở mức từ 5 - 7 USD/1 thùng Từ thập kỷ 70 của thế
kỷ XX đã liên tiếp xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng giá dầu.Đặc biệt trong
Trang 5những năm gần đây giá dầu thế giới luôn ở mức cao, gây ra sự biến độngtrên thị trường dầu mỏ đặc biệt là từ năm 2004 đến nay.
Từ năm 1948 đến những năm cuối 1960, giá dầu trung bình củathế giới chỉ dao động từ 2,5 - 3 USD/1 thùng Sự ra đời của các nước thànhviên OPEC đảm bảo cho sự ổn định về giá dầu.Cú sốc giá dầu lần thứ nhấtbắt đầu vào cuối tháng 10/1973 khi Syria và Ai Cập tấn công Isarel.Mỹ vàcác nước phương tây đã hỗ trợ mạnh cho Isarel.Trả đũa cho hành động này,hàng loạt các nước xuất khẩu dầu trong khối Arab đã cấm vận xuất dầu chocác nước thân với Isarel.Họ đã cắt giảm lượng dầu sản xuất từ 5 triệu thùngmột ngày xuống còn một triệu thùng Kết quả là trong vòng 6 tháng, giádầu thế giới đã tăng 400% Từ năm 1972 - 1978, giá dầu dao động từ 12 -
14 USD/1 thùng so với giai đoạn trước chỉ có 3 USD/1 thùng Lần biếnđộng tiếp theo được châm ngòi bằng cuộc chiến tranh giữa Iran và Iraqnăm 1979 Kết quả là lượng dầu sản xuất của hai quốc gia này sụt giảm.Giádầu lập tức tăng từ 14 USD/1 thùng năm 1978 lên 38 USD/1 thùng năm
1981, tức tăng 271%.Cú sốc giá dầu thứ ba xảy ra vào giai đoạn Iraq tấncông Kuwait năm 1990 - 1991 Giá dầu từ mức 20 USD/1 thùng đã tănglên 35 USD/1 thùng vào tháng 10/1990
OPEC có sản lượng chính thức 24,84 triệu thùng/ngày, được ápdụng kể từ tháng 1/2009 sau đợt cắt giảm mạnh sản lượng nhằm ngăn chặn
đà giảm giá dầu Trước đó, giá dầu thô đã giảm từ mức cao kỷ lục hơn147USD/thùng hồi tháng 7/2008 xuống còn khoảng 32 USD/thùng trongtháng 12/2008 trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu
Trang 6Mới đây, mặc dù giá dầu tăng lên mức cao nhất trong năm thángqua ở mức trên 85 USD/thùng (06/10/2010) do đồng USD yếu, giới phântích tin rằng giá dầu sẽ lại giảm xuống mức 70-80 USD/thùng trong thờigian tới
Theo dự đoán của các chuyên gia giá dầu thế giới trong năm2011sẽ dao động xung quanh mức 60 -70USD/thùng Giá dầu thế giới sụtgiảm là do kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn và có nguy cơ rơi vào suythoái kép
4 Nguyên nhân của biến động
Giá dầu thô cùng với những sản phẩm của nó có những vị trí hếtsức quan trọng Khi giá dầu lên cao có thể gây thiệt hại to lớn cho nền kinh
tế các nước và tác động đến nền kinh tế toàn cầu nói chung, làm chothương mại và đầu tư quốc tế suy giảm Bối cảnh kinh tế nói chung khi giádầu tăng hiện nay rất khác so với những cơn sốt giá dầu trước đây, tất cảđều xảy ra đồng thời với với hiện tượng phát triển bùng nổ kinh tế do nhiềunền kinh tế hoạt động quá nóng Biến động của giá dầu do nhiều nhân tốnhư nhân tố chính trị và sự bất ổn trên thế giới với yếu tố tâm lý, là nhữngnhân tố có tác động mạnh, còn nhân tố cung cầu là nhân tố quyết định sựbiến động giá dầu trên thị trường thế giới
Nhân tố quyết định gây nên sự biến động trên thị trường mỏ chính
là nhân tố cung cầu Cung dầu thô ngày càng hạn chế do dầu thô là nguồntài nguyên không tái tạo được Hiện nay trên thế giới đang diễn ra hàng loạtcác tranh luận gay gắt về tình trạng cạn kiệt dầu Trong những năm gầnđây, các mỏ mới và lớn, phát hiện ngày càng ít dần, trong lúc các mỏ đang
Trang 7khai thác thì đang đi vào giai đoạn đỉnh điểm của hoặc đang chuyển sanggiai đoạn kết thúc
Bên cạnh đó, chính trị cũng là một nhân tố rất quan trọng gây nên
sự biến động trên thị trường dầu mỏ Trước mắt, chính trị dầu mỏ khôngphải liên quan đến vấn đề thế giới sẽ thiếu dầu mà liên quan đến sự ra đời
và ảnh hưởng ngày càng tăng của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏOPEC đối với nền kinh tế thế giới, tình hình bất ổn ở Trung Đông và cáccuộc xung đột, tranh chấp biên giới, lãnh thổ ở các khu vực hiện nay đặcbiệt ở các khu vực có trữ lượng dầu lớn
Cuối cùng, tâm lý lo ngại cũng là một trong những nguyên nhângây nên sự biến động tăng của giá dầu Tâm trạng lo ngại, sự lo lắng củagiới kinh doanh về sự biến động giá dầu có thể phần nào được tạo ra bởi sựđầu cơ, đã kéo dài cơn sốt giá của thị trường dầu mỏ thế giới
Trang 85 Kinh nghiệm của các nước trước sự biến động giá dầu
Giá dầu cao tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế thế giới,hạn chế tốc đô tăng trưởng, làm cho đời sống khó khăn và theo sau đó lànhững lộn xộn về chính trị xã hội Các nước xử lý vấn đề này tuỳ thuộc vàođiều kiện kinh tế xã hội và tình hình tài nguyên mỗi nước
Các nước OPEC chủ trương giữ giá dầu cao một cách hợp lýtheo lý luận của họ bằng cách điều chỉnh sản lượng chi để mức cung xấp xỉmức cầu Với biện pháp này OPEC vừa đảm bảo có thu nhập cao vừa giữđược nguồn tài nguyên mà họ tin rằng sau vài chục năm nữa, vai trò của họtrên thị trường dầu khí sẽ là tuyệt đối
Các nước sản xuất và xuất khẩu dầu nhỏ hơn thì hoặc là tranhthủ khai thác để tăng nguồn thu, hoặc là hạn chế khai thác trong nước, mởrộng đầu tư khai thác ở nước ngoài, phụ thuộc vào nhu cầu ngân sách Chủtrương tăng cường khai thác để xuất khẩu chứa một nguy cơ tiềm ẩn, bởi vìsau này họ sẽ là những nước nhập khẩu với giá dầu cao hơn gấp nhiều lần
Do vậy, các nước có tiềm năng tài chính thì phát triển chế biến trong nước
để xuất khẩu sản phẩm lọc dầu, hạn chế tối đa xuất sản phẩm thô
Các nước công nghiệp phát triển và các nước thiếu dầu khí thìchủ trương đa dạng hoá nguồn cung, đa dạng hoá nguồn nhiên liệu (sửdụng điện, hydro thay xăng hoặc sản xuất xăng dầu từ khí đốt, than đá…),tiết kiệm năng lượng kể cả đánh thuế cao, nhằm hạn chế nhu cầu sử dụng,đồng thời đầu tư nghiên cứu các nguồn năng lượng mới Để giữ cho giáxăng dầu nội địa ít biến động, các nước này rất tích cực lập kho dự trữ
Trang 9chiến lược, đặc biệt là Mỹ, mục tiêu dầu dự trữ phải đủ dùng trong 9 tháng,Trung Quốc mục tiêu này là 3 tháng.
II Thực trạng sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ tại Việt Nam
1 Khai thác dầu mỏ ở Việt Nam và vai trò của ngành dầu mỏ
Công tác tìm kiếm thăm dò dầu mỏ trên đất liền miền Bắc đã bắtđầu từ những năm 60 của thế kỷ trước và thực sự được mở rộng ra toànlãnh thổ và lãnh hải Việt Nam từ sau ngày đất nước thống nhất Ngày26/6/1986 đã đánh dấu sự bắt đầu của ngành công nghiệp khai thác dầu khi
mỏ Bạch Hổ (thuộc thềm lục địa phía Nam, ngoài khơi tỉnh Bà Rịa - VũngTàu) đã khai thác dòng dầu đầu tiên và chính thức đưa Việt Nam vào danhsách các nước xuất khẩu dầu thô từ năm 1991 Điều đặc biệt quan trọngmang tính bước ngoặt là vào năm 1988 đã khẳng định nguồn trữ lượng dầulớn tích tụ trong đá móng granít nứt nẻ và đã được khai thác.Từ đó đến nay,móng granít nứt nẻ thuộc mỏ Bạch Hổ luôn đóng vai trò chủ lực trong khaithác dầu của Việt Nam Với việc phát hiện và đưa vào khai thác dầu từmóng granít nứt nẻ tại mỏ Bạch Hổ, ngành dầu khí Việt Nam chẳng những
đã chứng tỏ được sự lớn mạnh của mình mà còn mang đến cho nền côngnghiệp dầu thế giới những quan điểm hết sức mới mẻ về việc tìm kiếm,thăm dò, khai thác dầu trong đá móng granít nứt nẻ, một đối tượng mà từtrước đến nay thường ít được chú ý
Trang 10Hiện tại, trên thềm lục địa và đất liền của nước ta có các mỏ Bạch
Hổ, Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Sư Tử Đen, Cái Nước, BungaKekwa, Bunga Raya, Bunga Seroja, Lan Tây, Tiền Hải C…
Ngành dầu khí đóng góp với vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn.TheoTổng Giám đốc Petrovietnam Phùng Đình Thực, Tập đoàn đang đóng góptrung bình 28-30% tổng thu ngân sách Nhà nước, chiếm trung bình 18-20%GDP của cả nước và duy trì mức tăng trưởng trung bình gần 20%/năm
2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam
Trước khi có nhà máy lọc dầu Dung Quất, Việt Nam chủ yếu xuấtkhẩu dầu thô - sản phẩm dầu mỏ song chưa qua tinh chế.Theo dòng thờigian, sau Bạch Hổ, dầu thô khai thác từ những mỏ khác cũng lần lượt đượcđưa vào thị trường thế giới.Năm 1994, từ mỏ Đại Hùng đã có dầu thô xuấtkhẩu, đây là những sản phẩm đầu tiên có sự hợp tác với các công ty dầu khíphương tây, khi đó là công ty BHPP của Australia Tiếp đến năm 1997, ta
có xuất khẩu dầu thô từ mỏ PM3 - CAA, năm 1998 từ hai mỏ Rạng Đông
và Ruby và năm 2003 có thêm hai mỏ nữa có dầu đó là mỏ Sư Tử Đen và
mỏ Cái Nước
Việt Nam được xếp vào các nước xuất khẩu dầu mỏ là từ năm
1991 khi sản lượng khai thác mới đạt vài ba triệu tấn Đến nay, hàng nămsản lượng dầu khai thác và xuất khẩu của Việt Nam đã đạt hai chục triệutấn
Hiện nay Việt Nam là nước có tên trong danh sách các nước xuấtkhẩu dầu khí trên thế giới và đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á về sảnlượng khai thác dầu thô
Trang 11Hiện Việt Nam đang triển khai khai thác 18 mỏ dầu khí (trong đó
có 17 mỏ trong nước và 1 mỏ ở nước ngoài); thực hiện 57 hợp đồng dầukhí ở trong nước với số vốn thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đạtgần 12 tỷ USD Trong công tác tìm kiếm thăm dò, Tập đoàn dầu khí ViệtNam đã xác định trữ lượng dầu khí phát hiện là 1,3 tỷ tấn quy dầu
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của được triển khai tích cực với
49 thoả thuận được thực hiện tại nhiều nước, trong đó đáng chú ý dự án phát triển mỏ Neneski tại Liên bang Nga, dự án phát triển mỏ Junin 2 tạiVenezuela, dự án thuỷ điện Luong Phabang tại Lào…
Bảng 1: Sản lượng xuất khẩu dầu thô trong những năm gần đây
Theo số liệu thống kê, tổng lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam
7 tháng đầu năm 2010 đạt 4,9 triệu tấn với kim ngạch 3 tỉ USD, giảm45,6% về lượng và giảm 20,1% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm7,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước 7 tháng đầunăm 2010
Trang 12Phần lớn thị trường xuất khẩu dầu thô của Việt Nam 7 tháng đầunăm 2010 đều có độ suy giảm cả về lượng và trị giá, chỉ có 2 thị trường cótốc độ tăng trưởng nhẹ về kim ngạch: thứ nhất là Trung Quốc đạt 378,6nghìn tấn với kim ngạch 231,6 triệu USD, giảm 35,5% về lượng nhưngtăng 5,2% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 7,8% trong tổng kim ngạch; thứhai là Ôxtrâylia.
Ngược lại, những thị trường xuất khẩu dầu thô của Việt Nam 7tháng đầu năm 2010 có độ suy giảm mạnh cả về lượng và trị giá là: TháiLan đạt 86,8 nghìn tấn với kim ngạch 51 triệu USD, giảm 84,8% về lượng
và giảm 80,3% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 1,7% trong tổng kimngạch; tiếp theo đó là Nhật Bản đạt 169 nghìn tấn với kim ngạch 102,7triệu USD, giảm 69,8% vê lượng và giảm 55% về trị giá so với cùng kỳ,chiếm 3,5% trong tổng kim ngạch; Hàn Quốc đạt 229 nghìn tấn với kimngạch 148 triệu USD, giảm 47,8% về lượng và giảm 36,2% về trị giá sovới cùng kỳ, chiếm 5% trong tổng kim ngạch; sau cùng là Malaysia đạt 637nghìn tấn với kim ngạch đạt 387 triệu USD, giảm 50,7% về lượng và giảm22% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 13% trong tổng kim ngạch
3 Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam
Khách hàng mua dầu của Việt Nam rất đa dạng, gồm các công tylớn như BP, Chevon, Exxon Mobil, Shell hay các công ty thương mại củaNhật, Singapo, Trung Quốc và tất cả các nhà máy lọc dầu trong khu vực.Phương thức tiêu thụ dầu của Việt Nam cũng rất đa dạng, từ việc dùng dầuthô đốt thẳng để phát điện đến việc đưa đến lọc tại các nhà máy lọc dầu tại