Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn.
Trang 1ĐỀ TÀITRÌNH BÀY CÁC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM
Phần I – Vài nét về thị trường chứng khoán Việt Nam
1 Vài nét về thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, đượcquan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung vàdài hạn Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người muamua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thịtrường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ởthị trường sơ cấp Xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn
ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua
đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán Thị trường chứng khoán là kênh dẫnvốn trực tiếp từ nơi có vốn đầu tư về nơi cần vốn đầu tư, những người có vốn cóthể chuyển vốn của mình trực tiếp đầu tư vào sản xuất không phải thông quatầng lớp trung gian tài chính
Trong quá trình phát triển và hoàn thiện thị trường chứng tồn tại dưới hai
hình thức: Thị trường chứng khoán chính thức và Thị trường chứng khoán phi
tổ chức.
a TTCK chính thức
Hình thái điển hình của thị trường chứng khoán chính thức là Sở giao
dịch chứng khoán (Stock exchange) Mọi việc mua, bán, chuyển nhượng, trao
Trang 2đổi chứng khoán phải tiến hành trong Sở giao dịch và thông qua các thành viêncủa Sở giao dịch theo quy chế của Sở giao dịch chứng khoán Sở giao dịchchứng khoán có thể là tổ chức sở hữu nhà nước, là doanh nghiệp cổ phần hoặcmột hiệp hội và đều có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Có thể dẫn ra những Sở giao dịch chứng khoán nổi tiếng của thế giới như:NYSE( New York Stock exchange), TSE (Tokyo Stock exchange), LSE(London Stock exchange ) v.v…
b TTCK phi tổ chức:
Thị trường chứng khoán phi tổ chức là một thị trường không có hình thái
tổ chức tồn tại, nó có thể là bất cứ nơi nào mà tại đó người mua và người bántrực tiếp gặp nhau để tiến hành giao dịch Nơi đó có thể là tại quầy giao dịch ởcác ngân hàng bất kỳ nào đó Thị trường hình thành như thế gọi là thị trườnggiao dịch qua quầy (Over-the-counter – OTC)
Ngày nay, nhờ vào thành quả của cách mạng tin học, hệ thốngINTERNET đã gắn kết các thành viên của thị trường lại với nhau, do đó việctrao đổi thông tin, tiến hành giao dịch mua bán chứng khoán không phải đến tậnquầy của các ngân hàng và có thể tiến hành ngay trên bàn máy vi tính Đây làmột hình thái của thị trường chứng khoán phi tổ chức bậc cao mới xuất hiệntrong thập kỉ qua Thị trường này chưa có tên chính thức, có người gọi đó là thìtrường thứ ba (Third Market)
2 Quá trình hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam
Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghịđịnh số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho Thịtrường chứng khoán Việt Nam ra đời Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyếtđịnh thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội
Trang 3Việc chuẩn bị cho TTCKVN thực ra đã do Uỷ Ban Chứng khoán Việt Nam rađời bằng Nghị định 75/CP ngày 28-11-1996
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được thànhlập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TT ngày 11-7-1998, chính thức đi vàohoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000 và từ ngày8/8/2007 được đổi tên thành sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh(HOSE) Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thứcchào đời vào ngày 8/3/2005 và được đổi tên thành sở giao dịch chứng khoán HàNội (HASTC) ngày 17/1/2009 Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêmyết và giao dịch chứng khoán của các công ty lớn), TTGDCK Hà Nội sẽ là “sânchơi” cho các DN nhỏ và vừa (với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng)
VN - Index là ký hiệu của chỉ số chứng khoán Việt Nam VN - Index xây dựngcăn cứ vào giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết Với hệ thốngchỉ số này, nhà đầu tư có thể đánh giá và phân tích thị trường một cách tổngquát Chỉ số VN -Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thịtrường cơ sở vào ngày gốc 28-7-2000, khi thị trường chứng khoán chính thức đivào hoạt động
Phần II - Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại trên TTCK
1 Vài nét về ngân hàng thương mại
1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của
ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn Ngân hàng thương mại là cầunối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khanthiếu Ngân hàng thương mại hoạt động với mục đích thu lợi nhuận từ hoạt
Trang 4động huy động và cho vay vốn: trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất chovay vốn, phần chênh lệch lãi suất chính là lợi nhuận của ngân hàng Hoạt độngcủa ngân hàng thương mại phục vụ cho nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dânchúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội
1.2 Các mô hình hoạt động của NHTM trên TTCK
Hiện nay, mô hình NHTM hoạt động trên TTCK, trên thế giới có 2 loại:
* Mô hình chuyên doanh (hay còn gọi là mô hình đơn năng):
Theo mô hình này, các công ty chứng khoán là công ty chuyên doanh độclập, các NHTM và các tổ chức tài chính khác không được phép tham gia vàohoạt động kinh doanh chứng khoán
- Ưu điểm:
+ Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng do những ảnh hưởng tiêu cực của thịtrường chứng khoán, và các ngân hàng không được sử dụng vốn huy động đểđầu tư vào lĩnh vực chứng khoán
+ Với sự chuyên môn hoá tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển.Điển hình cho mô hình này là các công ty chứng khoán ở Mỹ, Nhật, Hàn Quốc,
có sự tách bạch giữa hoạt động ngân hàng và lĩnh vực chứng khoán
* Mô hình đa năng bao gồm:
Một là mô hình ngân hàng đa năng hoàn toàn: Mô hình này không có sự
tách bạch nào giữa hoạt động ngân hàng và chứng khoán NHTM không nhữngđược hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ mà còn được hoạt động trong lĩnh vực
Trang 5chứng khoán và bảo hiểm Nó được áp dụng ở các nước Bắc Âu, Hà Lan, Thuỵ
Sĩ, Áo…
- Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinhdoanh, nhờ đó mà giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có khảnăng về tài chính chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán
- Hạn chế: thị trường chứng khoán phát triển chậm vì hoạt động chủ yếu của hệthống ngân hàng dùng vốn để cấp tín dụng và dịch vụ thanh toán, do đó ngânhàng thường quan tâm đến lĩnh vực chứng khoán Bên cạnh đó, còn nhược điểm
là trong trường hợp biến động trên thị trường chứng khoán, hậu quả có thể tácđộng tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ giữa hai loại hình kinh doanh này.Thực tế đã chứng minh thông qua cuộc đại khủng hoảng 1929-1933, hay vụ phásản ngân hàng Barings của Anh năm 1995
Ngược lại, trong trường hợp thị trường tiền tệ biến động có thể ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng Cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ ở Thái Lan là một minh chứng
Hai là mô hình đa năng một phần: Các ngân hàng muốn hoạt động trong
lĩnh vực chứng khoán phải thành lập công ty con - công ty chứng khoán, hoạtđộng độc lập Mô hình này được áp dụng ở Anh và những nước có quan hệ gầngũi với Anh như Canada, Úc Mô hình này có ưu điểm các ngân hàng được kếthợp kinh doanh ngân hàng và kinh doanh chứng khoán, do đó tận dụng được thếmạnh về tài chính, kinh nghiệm, mạng lưới khách hàng rộng khắp của ngânhàng Bên cạnh đó, bởi vì có quy định hoạt động riêng rẽ giữa hai hoạt độngtrên cho nên hạn chế được rủi ro nếu có sự biến động của một trong hai thị
‘trường Đặc biệt, mô hình này phù hợp với những nước mới thành lập thịtrường chứng khoán khi mà cần có tổ chức tài chính lành mạnh tham gia vào thịtrường và khi hệ thống luật, kiểm soát… còn nhiều mặt hạn chế
Trang 6Mỗi một mô hình có những ưu điểm và nhược điểm riêng Vì vậy, tuỳvào thể chế chính trị, đặc điểm nền kinh tế mỗi quốc gia nên chọn cho mình một
mô hình phù hợp nhất để có thể phát huy một cách có hiệu quả nhất vai trò củaNHTM đối với TTCK
2 Vai trò của ngân hàng thương mại đối với thị trường chứng khoán
2.1 Trên thị trường sơ cấp
a Vai trò phát hành:
Các ngân hàng cổ phần phát hành cổ phiếu để tạo nguồn vốn khi mớithành lập hoặc vốn bổ sung thêm trong quá trình hoạt động Ngoài ra, tất cả cácNgân hàng thương mại đều có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn từ nềnkinh tế Ngoài các loại chứng khoán truyền thống là cổ phiếu và trái phiếu, cáccông ty chứng khoán thuộc Ngân hàng thương mại hiện nay còn bán trái phiếuchính phủ (trung ương và địa phương), chứng quyền, trái quyền, các hợp đồngtương lai, hợp đồng quyền chọn phù hợp với thay đổi trên thị trường và môitrường kinh doanh Việc các NHTM phát hành trái phiếu có ý nghĩa quan trọng:một mặt, nó góp phần tăng hàng hoá cho thị trường chứng khoán, mặt khác nó
là một kênh dẫn vốn quan trọng cho các NHTM cho mục tiêu tăng trưởng củanền kinh tế
b Vai trò đầu tư trực tiếp:
Với tiềm lực tài chính mạnh và khả năng sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư dàihạn, các NHTM có thể đóng vai trò là nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu, đặcbiệt là đối với trái phiếu Chính phủ, vốn đòi hỏi tầm nhìn đầu tư trung và dàihạn Trên thực tế, một số lượng lớn trái phiếu Chính phủ và công trái là doNHTM mua Trong năm 2005, tổng lượng trái phiếu Chính phủ phát hành là17.226 tỷ đồng, trong đó các NHTM mua 12.058 tỷ đồng, chiếm khoản 70%
Trang 7c Vai trò phân phối, bảo lãnh phát hành:
Tại một số thị trường tài chính lớn trên thế giới, các trung gian tài chính,trong đó có các NHTM đóng vai trò quan trọng trên thị trường trái phiếu với tưcách là đại lý sơ cấp (Primary Dealers) hoặc bảo lãnh phát hành Tại Việt Nam,bảo lãnh phát hành là phương thức phổ biến nhất đối với trái phiếu Chính phủ.Với độ tín nhiệm cao và tiềm lực tài chính mạnh, các NHTM có ưu thế lớn khitham gia bảo lãnh phát hành Bên cạnh đó, trái phiếu Chính phủ còn được chàobán qua Trung tâm giao dịch chứng khoán và bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhànước
Tuy nhiên, Việt Nam chưa có hệ thống các đại lý sơ cấp Việc hình thành
hệ thống đại lý sơ cấp với sự tham gia của các NHTM sẽ góp phần đẩy nhanh
và hiệu quả qúa trình phân phối trái phiếu Chính phủ
2.2 Trên thị trường thứ cấp
Với vai trò là trung gian trên thị trường, các NHTM có thể thực hiện các nghiệp
vụ sau:
a Kinh doanh trái phiếu:
Mới đưa vào hoạt động từ tháng 8/2005, hoạt động kinh doanh trái phiếucủa NHNT với 13 đối tác là các NHTM và các công ty chứng khoán đã cónhững kết quả hết sức khả quan Tính đến hết năm 2005, tổng doanh số giaodịch đạt khoảng 2.700 tỷ đồng, trong đó chiếm phần lớn là hoạt động bán mualại (chiếm khoảng 2.670 tỷ đồng, tức là khoảng 99%) Do vậy có thể thấy rõràng hoạt động kinh doanh trái phiếu của NHNT thực chất là hoạt động chiếtkhấu, tạo thanh khoản cho thị trường
Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh trái phiếu, công trái với các nhà đầu
tư nhỏ lẻ cũng có tiềm năng phát triển lớn, nhưng chưa được tổ chức thật sự
Trang 8chuyên nghiệp Một ưu điểm nữa của hình thức kinh doanh này là không bị giớihạn bởi thời gian giao dịch của thị trường chứng khoán tập trung.
b Sản phẩm phái sinh:
Các NHTM có thể thực hiện các sản phẩm phái sinh như: hoán đổi, kỳhạn, quyền chọn, hợp đồng tương lai đối với các trái phiếu, cổ phiếu trên thịtrường Ở đây, sự kết hợp liên thị trường giữa thị trường tiền tệ với thị trườngchứng khoán sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư nhiều công cụ để kinh doanh (đầucơ) và bảo hiểm rủi ro, đồng thời tăng tính thanh khoản của thị trường
c Cho vay chứng khoán:
Nghiệp vụ cho vay chứng khoán rất phổ biến đối với các TTCK phát triển.Tại Mỹ, Cục dự trữ liên bang (Fed) thực hiện nghiệp vụ này với các đại lý sơcấp đối với trái phiếu Chính phủ Nghiệp vụ này một mặt làm tăng thanh khoảncủa thị trường, mặt khác giúp Fed điều tiết được lượng cung tiền Tài sản thếchấp thường là tiền mặt Nghiệp vụ cho vay chứng khoán giữa các trung gian tàichính có phạm vi rộng hơn cả về danh mục chứng khoán cho vay cũng nhưdanh mục tài sản thế chấp Bên vay thế chấp tài sản khi nhận chứng khoán vàphải trả lại chứng khoán, đồng thời nhận lại tài sản thế chấp khi đáo hạn Việccho vay chứng khoán thực sự góp phần làm tăng tính thanh khoản của thịtrường, đồng thời có thể giúp các bên tham gia (đặc biệt là đối với các trunggian tài chính) tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kinh doanh chứng khoán đivay hoặc nhận thế chấp
3 Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán
a Ngân hàng thương mại với hoạt động kinh doanh chứng khoán
Kinh doanh chứng khoán là nghiệp vụ mua bán chúng khoán cho chínhmình và tự gánh chịu rủi ro Là một nhà đầu tư có tổ chức, hoạt động kinh
Trang 9doanh chứng khoán của NHTM được xem là yếu tố trợ giúp cho việc tăng chấtlượng và hiệu quả của thị trường Có thể chia hoạt động kinh doanh chứngkhoán của NHTM thành hai nhóm, đó là: hoạt động ngân quỹ
hoạt động đầu tư chứng khoán
Hoạt động ngân quỹ là hoạt động của NHTM thường đầu tư ngắn hạn
vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao, chi phí giao dịch thấp và có tính
ổn định như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được…chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, nhu cầu dự phòng và nhucầu tích trữ
Khác với hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán của
NHTM mang tính đa dạng hơn, ít tập trung vào một loại chứng khoán và vớithời hạn đầu tư dài hơn Là một định chế trung gian tích cực nhất trong lĩnh vựckinh doanh tiền tệ, NHTM tham gia trên TTCK với tư cách là nhà đầu tư và nhàtài trợ cho doanh nghiệp đầu tư chứng khoán NHTM có thể sử dụng các khoảnvốn huy động để thường xuyên tham gia TTCK bằng cách mua các loại cổphiếu và trái phiếu Thực chất của hình thức kinh doanh này là ngân hàng luônluôn mua chứng khoán của khách hàng bằng tiền mặt của mình và bán chokhách hàng không vì mục đích ăn hoa hồng, mà là lợi nhuận chênh lệch giữa thịgiá mua và thị giá bán Nghĩa là ngân hàng sẽ tìm cách mua chứng khoán vớigiá thấp nhất và bán với giá cao nhất có thể Ở các Sở Giao dịch Chứng khoánkhác nhau, thị giá của cùng một loại chứng khoán cũng khác nhau Giữa các SởGDCK có mối liên hệ về thông tin rất chặt chẽ Do đó, các ngân hàng sẽ muacác chứng khoán ở nơi có thị giá thấp để bán ở nơi có thị giá cao để kiếm lờicho tới khi thị giá được cân bằng giữa các thị trường Khi mua cổ phiếu NHTM
có thể trở thành cổ đông lớn của công ty cổ phần tham gia vào việc điều hành vàkiểm soát công ty Bằng nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm dày dạn trongkinh doanh tiền tệ, NHTM có ưu thế hơn các nhà đầu tư khác trong việc nắmbắt thông tin, phân tích chứng khoán và TTCK đúng lúc đem lại lợi nhuận cho
Trang 10ngân hàng Ngoài ra, bằng những phương tiện sẵn có, ngân hàng có thể đầu tưtheo danh mục, quản lý danh mục đầu tư, thành lập quỹ đầu tư, để đầu tư trênTTCK có hiệu quả cao nhất và rủi ro thấp nhất Khi mua trái phiếu, NHTM đãthực hiện các chức năng cho vay của mình Trái phiếu thường có độ rủi rotương đối thấp nên việc đầu tư vào trái phiếu là một hoạt động thường xuyêncủa NHTM Hơn nữa với tính thanh khoản cao, NHTM có thể bán trái phiếu bất
cứ lúc nào khi cần thu hồi vốn
Sau ACB và Sacombank, năm 2009 thị trường chứng khoán đón nhận loạt cổphiếu ngân hàng tham gia niêm yết; gồm: VCB của Vietcombank, CTG củaVietinbank, EIB của Eximbank và SHB của SHB Với quy mô lớn, thanh khoảncao, sự tham gia của nhóm cổ phiếu này tạo thêm sôi động, cũng như tạo ảnhhưởng lớn trên thị trường Nhưng ngoại trừ ngân hàng Sài Gòn Hà Nội, mộtđiểm chung là giá cổ phiếu của nhóm này sau khi chào sàn đều đồng loạt giảmmạnh và hiện đều thấp hơn mức giá của ngày giao dịch đầu tiên Có thể xem kếtquả này là một phần phản ánh của thị trường đối với khó khăn trong hoạt độngcủa các ngân hàng năm 2009 Bên cạnh đó, một loạt ngân hàng thương mại cổphần khác cũng đã xúc tiến kế hoạch niêm yết, như MB, SCB, OCB,DaiABank, Western Bank… sẽ lần lượt chào sàn trong thời gian tới
b NHTM với nghiệp vụ huy động vốn trên TTCK
NHTM là một tổ chức kinh doanh, cũng cần có vốn để hoạt động Vốncủa NHTM có thể hình thành từ nhiều nguồn Một nguồn vốn quan trọng củaNHTM trong nền kinh tế thị trường là huy động vốn trên TTCK, các NHTM cóthể phát hành cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư đẻ huy động vốn trênthị trường
Đối với các NHTM cổ phần phát hành cổ phiếu là một nguồn vốn đặc biệtquan trọng Ngân hàng phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn khi
Trang 11thành lập ngân hàng và trong quá trình hoạt động khi có nhu cầu tăng vốn ngânhàng có thể phát hành thêm cổ phiếu mới theo các quy định của TTCK.
Về phát hành trái phiếu, NHTM khi có nhu cầu huy động vốn với số lượnglớn có thể phát hành trái phiếu trung và dài hạn Để thu hút các nhà đầu tư vàchiều theo thị hiếu khách hàng có nhiều loại trái phiếu NHTM đã ra đời như: TP
có lãi chuyển đổi, TP chiết khấu, TP có lãi suất thả nổi, TP có lãi suất cố định.Đối với NHTM sẵn có chuyên môn và cơ sở vật chất, việc phát hành trái phiếu
ra công chúng để huy động vốn được xem như là giải pháp mang tính hiệu quảcao
Có thể thấy, với tính chuyên nghiệp cao, với uy tín lớn trên thị trường tàichính, và các mối quan hệ rộng rãi của NHTM, hoạt động phát hành chứngkhoán của các NHTM có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp thông thườngkhác, bên cạnh đó NHTM có thể tự đứng ra phát hành làm giảm chi phí huyđộng vốn Do vậy, chứng khoán của các NHTM phát hành dễ dàng được chấpnhận hơn so với các doanh nghiệp khác
c NHTM với các nghiệp vụ trung gian trên TTCK
Bản thân NHTM là một định chế tài chính trung gian rất phổ biến và hoạtđộng rất tích cực trên thị trường tài chính, do đó nó góp phần cực kỳ quan trọngtrong hoạt động trung gian trên TTCK Nghiệp vụ trung gian bao gồm nhiềuhoạt động mà NHTM đều có thể tham gia với tư cách của một công ty chứngkhoán con Công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần hoặc công ty tráchnhiệm hữu hạn, các tổ chức tín dụng Công ty muốn tham gia kinh doanh chứngkhoán phải khai báo thành lập công ty chứng khoán độc lập
* Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư:
Trang 12Theo đánh giá một cách khách quan và tổng thể, nghiệp vụ quản lý danh mụcđầu tư vân tiếp tục dậm chân tại chỗ, doanh số giao dịch của nghiệp vụ nàykhông cao, còn dè dặt, mang tính tập dượt Điều này một phần là do xu hướngcủa người đầu tư trong giai đoạn đầu thường thích tự đầu tư hơn là uỷ thác chongười khác quản lý, đầu tư hộ mình Thêm vào nữa, đây là nghiệp vụ đòi hỏitính chuyên nghiệp cao trong khi khả năg đáp ứng của công ty chứng khoántrong giai đoạn này còn rất khiêm tốn Ngoài ra, do hàng hoá trên thị trườngchưa nhiều, số lượng cổ phiếu thực được giao dịch thấp hơn nhiều so với sốlượng chứng khoán phát hành do tỷ lệ cổ phần của Nhà nước ở các doanhnghiệp này còn lớn, chưa đa dạng nên không có điều kiện triển khai.
* Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Đây là dịch vụ ngân hàng rất phát triển ở các nước trên thế giới đã cóTTCK, gọi là dịch vụ môi giới chứng khoán (Brokerage service) Công tychứng khoán thuộc ngân hàng sẽ đảm trách dịch vụ này và mang lại cho ngânhàng những lợi nhuận từ lệ phí giao dịch hay hoa hồng giao dịch rất lớn Công
ty chứng khoán thuộc ngân hàng có những ưu thế hơn so với các công ty chứngkhoán khác trong nghiệp vụ môi giới vì:
- Thư nhất, Ngân hàng đã có mối quan hệ sâu sắc với các doanh nghiệp quaviệc tín dụng thanh toán, nắm được các thông tin cần thiết cho việc môigiới chứng khoán, tạo được uy tín với khách hàng
- Thứ hai, Ngân hàng đã có sẵn cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật mộtmạng lưới chi nhánh, đại lý rộng khắp sẵn sàng phục vụ mọi yêu cầu củanhà đầu tư
- Thứ ba, Ngân hàng có đội ngũ cán bộ, nhân viên có nghiệp vụ chuyên môn
về kinh doanh tiền tệ liên quan chặt chẽ và gần gũi với nghiệp vụ môi giớichứng khoán