Bàn về các mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nước với kiểm toán nhà nước việt nam
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……….1
NỘI DUNG: Phần 1: Khái quát chung về kiểm toán Nhà nước và kinh nghiệm thế giới về tổ chức mô hình bộ máy kiểm toán Nhà nước……….2
1.1 Khái quát về kiểm toán nhà nước………2
1.1.1 Sự tất yếu khách quan của việc hình thành kiểm toán nhà nước………2
1.1.2 Khái niệm kiểm toán nhà nước và tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nước……… 2
1.1.3 Vai trò của kiểm toán nhà nước 3
1.2 Các mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nước……… 4
1.2.1 Mô hình tổ chức xét trong mối liên hệ với bộ máy nhà nước…………4
1.2.1.1 Mô hình kiểm toán nhà nước độc lập với cơ quan hành pháp và lập pháp……….4
1.2.1.2 Mô hình kiểm toán nhà nước trực thuộc cơ quan hành pháp… 4
1.2.1.3 Mô hình kiểm toán nhà nước trực thuộc cơ quan lập pháp…….5
1.2.2 Mô hình tổ chức xét theo hình thức tổ chức……… 5
1.2.2.1 Mô hình kiểm toán nhà nước được tổ chức thành “Tòa” (Court) ……… 5
1.2.2.2 Mô hình kiểm toán nhà nước được tổ chức thành “ Văn phòng” (office)……… 6
1.2.3 Mô hình tổ chức xét trong mối quan hệ nội bộ cơ quan……….6
1.2.3.1 Liên hệ ngang……… 6
1.2.3.2 Liên hệ dọc……… 7
1.3 Mô hình tổ chức bộ máy KTNN của một số nước và bài học kinh nghiệm 7
1.3.1 KTNN Cộng hòa liên bang Đức……….7
1.3.2 KTNN Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa……… 9
1.3.3 KTNN Cộng hòa liên bang Nga……… ……….10
Trang 31.3.4 Kinh nghiệm cho kiểm toán nhà nước Việt Nam……….11
Phần 2: Thực trạng về tổ chức bộ máy kiểm toán Nhà nước Việt Nam………… 14
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của bộ máy kiểm toán Nhà nước Việt Nam……… 14
2.2 Mô hình tổ chức kiểm toán Nhà nước Việt Nam……….17
2.2.1 Hình thức tổ chức………17
2.2.2 Cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận trong bộ… ………17
2.2.2.1 Từ trước khi có luật kiểm toán nhà nước……… 17
2.2.2.2 Từ khi có luật kiểm toán nhà nước đến nay……… 18
2.2.3 Phân công, phân cấp trong tổ chức quản lý kiểm toán………24
Phần 3 Nhận xét và đề xuất các giải pháp………26
3.1 nhận xét và đánh giá………26
3.2 đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện………28
KẾT LUẬN……… 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …….33
Trang 4Sơ đồ 1.1 Mô hình tổ chức KTNN độc lập với bộ máy nhà nước……… 4
Sơ đồ 1.2 Mối liên hệ trong cơ quan kiểm toán quốc gia Australia……… 7
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức bộ máy KTNN………26
Trang 5MỞ ĐẦU
Hoạt động kiểm toán đã ra đời từ rất lâu trên thế giới, đến nay kiểm toán pháttriển mạnh đặc biệt là ở khu vực Tây Âu và Bắc Mỹ bằng sự xuất hiện nhiều loạihình kiểm toán ,nhiều mô hình tổ chức và bằng sự thâm nhập sâu vào đời sống xãhội Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì kiểm toán nhànước đóng vai trò quan trọng thực hiện chức năng kiểm tra các hoạt động thu, chingân sách nhà nước và các quỹ công khác Là cơ quan kiểm tra tài chính công caonhất, là công cụ không thể thiếu của Quốc hội và Chính phủ trong điều hành nềnkinh tế nói chung và quản lý nguồn tài sản quốc gia nói riêng Tuỳ thuộc vào thể chếchính trị và sự phân chia quyền lực của mỗi nước mà kiểm toán nhà nước có thể cócác loại mô hình tổ chức khác nhau Nhưng dù được tổ chức dưới hình thức nào thìkiểm toán nhà nước đều được đề cao và được tạo mọi điều kiện thực thi quyền, tráchnhiệm và vị trí độc lập của nó
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế đang pháttriển kiểm toán nhà nước hình thành ở nước ta là sản phẩm tất yếu của công cuộcđổi mới, đồng thời cũng thể hiện sự gia tăng đáng kể của công tác kiểm tra,kiểmsoát trên bình diện vĩ mô của Nhà Nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Đặc biệt trong giai đoạn quá trình hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, Việt Nam làthành viên chính thức của nhiếu tổ chức như: APEC, ASEM, AFTA, WTO… thìhoạt động kiểm toán nói chung và kiểm toán nhà nước nói riêng phải hình thànhnhững hệ thống độc lập từ mặt pháp lý đến bộ máy tổ chức và từng bước hoàn thiệntheo yêu cầu đổi mới của quản lý Vì vậy, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Đinh
Thế Hùng, em đã tiến hành tìm hiểu và chọn đề tài: “Bàn về các mô hình tổ chức
bộ máy Kiểm toán Nhà nước với Kiểm toán Nhà nước Việt Nam”
Nội dung đề án bao gồm 3 phần:
Phần 1: Khái quát chung về kiểm toán nhà nước và kinh nghiệm thế giới về tổ
chức mô hình bộ máy kiểm toán nhà nước
Phần 2: Thực trạng về tổ chức bộ máy kiểm toán Nhà nước Việt Nam.
Trang 6Phần 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ TỔ CHỨC MÔ HÌNH BỘ MÁY KIỂM TOÁN
NHÀ NƯỚC.
1.1 Khái quát chung về kiểm toán nhà nước.
1.1.1 Sự tất yếu khách quan của việc hình thành kiểm toán nhà nước.
Cùng với sự ra đời của nhà nước, sự ra đời và phát triển của tài chính công màchủ yếu là ngân sách nhà nước, yêu cầu đòi hỏi của việc kiểm tra, kiểm soát việc chitiêu ngân sách và công quỹ từ phía nhà nước ngày càng lớn, yêu cầu cải cách hànhchính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước, yêu cầu lành mạnhhóa nền tài chính quốc gia trong cơ chế quản lý kinh tế mới, trong công cuộc đổi mớiđất nước, việc ra đời của kiểm toán nhà nước (KTNN) là một tất yếu
Kinh nghiệm nhiều năm ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy sự hiện diện vàhoạt động của cơ quan KTNN đã góp phần quan trọng vào việc thiết lập và giữ vững
kỷ cương tài chính, chấp hành Luật ngân sách nhà nước, phát hiện và ngăn chặn cáchành vị tham nhũng, lạm dụng, tiêu xài hoang phí tiền của Nhà nước, nhân dân.KTNN đã thực sự trở thành một bộ phận hợp thành không thế thiếu của hệ thốngkiểm tra, kiểm soát của nhà nước Vai trò, tác dụng của KTNN đã được thừa nhận vàkhông một tổ chức nào khác có thể thay thế được vị trí của nó trông kiểm tra, kiểmsoát việc quản lý và sử dụng 1 cách có hiệu quả các nguồn lực nhà nước trong cácđơn vị hành chính công
1.1.2 Khái niệm kiểm toán nhà nước và tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nước.
KTNN là hệ thống bộ máy chuyên môn của nhà nước thực hiện các chức năngkiểm toán tài sản công Ở thời kỳ trung đại, KTNN đã xuất hiện để đối soát tài sảncủa vua chúa Qua quá trình phát triển cho đến nay KTNN ở các nước phát triển đềuthực hiện chức năng kiểm toán các đơn vị ở khu vực công cộng.(1)
Trang 7Tổ chức bộ máy KTNN là hệ thống tập hợp những viên chức nhà nước đểthực hiện chức năng kiểm toán ngân sách và tài sản công
1.1.3 Vai trò của kiểm toán nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường, với chức năng kiểm tra, đánh giá và xác nhậntính đúng đắn chung thực, chính xác ,hợp pháp, hợp lệ của số liệu kiểm toán , báocáo kiểm toán của các đơn vị nhà nước, đơn vị kinh tế, đơn vị sự nghiệp , các đoànthể quần chúng và các tổ chức xã hội, vai trò của KTNN hết sức quan trọng trongviệc kiểm soát việc sử dụng nguồn lực tài chính công, giúp Quốc hội điều hành,quản lý nền kinh tế có hiệu quả, bởi vì:
Thứ nhất, KTNN là một trong những nhân tố góp phần đảm bảo, duy trì tính
kinh tế, tính hiệu quả trong hoạt động kinh tế Thông qua hoạt động của mình,KTNN chỉ rõ việc sử dụng nguồn NSNN trong từng ngành, từng lĩnh vực, từngdoanh nghiệp và các yếu tố cản trở tính hiệu quả các hoạt động trong nền kinh tế.Mặt khác, KTNN còn cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng tin cậy để thực hiện việcphân bổ và điều hành NSNN một cách có hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tiễncủa từng ngành, từng lĩnh vực, từng khu vực, loại trừ những khoản chi phí bất hợp
lý, lãng phí gây thất thoát cho NSNN
Ngoài ra ngành KTNN đã góp phần đánh giá một cách sát thực tình hình tàichính của các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nhà nước làm căn cứ cải tiến quản
lý doanh nghiệp, điều chỉnh các chính sách kinh tế, sắp xếp lại các doanh nghiệpnhà nước (DNNN) cùng với việc huy động vốn đầu tư phát triển
Thứ hai, KTNN thực hiện việc kiểm tra tính hợp pháp, tính hợp lệ trong các
hoạt động kinh tế – tài chính, làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế – tài chínhtrong nền kinh tế Căn cứ vào các văn bản pháp luật mà Quốc hội và các cơ quannhà nước có thẩm quyền ban hành, kiểm toán xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp củacác tàị liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán hàng năm Mọi sai phạm về các quiđịnh về quản lý kinh tế – tài chính được xác lập và duy trì
Trang 8Thứ ba, thông qua hoạt động kiểm toán, KTNN đã đề xuất, kiến nghi nhiều
giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách về kinh tế tài chính và NSNN ở các cơquan, đơn vị trung ương và địa phương
1.2 Các mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nước.
1.2.1 Mô hình tổ chức xét trong mối liên hệ với bộ máy nhà nước 1.2.1.1 Mô hình kiểm toán nhà nước độc lập với cơ quan hành pháp và lập pháp.
Mô hình này được ứng dụng ở hầu hết các nước có nề kinh tế phát triền, có
nhà nước pháp quyền được xây dựng nề nếp, hệ thống kiểm toán đã hình thành từlâu và phát triển ở một trình độ cao ( KTNN Cộng hòa Liên bang Đức, Tòa thẩm kếcủa Cộng hòa Pháp, ), nhờ đó KTNN phát huy được đầy đủ tính độc lập trong việcthực hiện các chức năng của mình
Sơ đồ 1.1 Mô hình tổ chức KTNN độc lập với bộ máy nhà nước.
1.2.1.2 Mô hình kiểm toán nhà nước trực thuộc cơ quan hành pháp.
Trang 9Việc tổ chức cơ quan KTNN trực thuộc cơ quan hành pháp (Chính phủ) điềuhành nhanh nhạy quá trình thực hiện ngân sách và các hoạt động khác Tuy nhiên,
nó cũng hạn chế phần nào tính độc lập của KTNN khi thực hiện chức năng phảnbiện của Chính phủ
Việc tổ chức cơ quan KTNN trực thuộc Chính phủ của các nước khác nhaucũng không hoàn toàn như nhau Chẳng hạn, ở Trung Quốc, KTNN được tổ chứcthành một cơ quan hành chính như một bộ, song có quyền kiểm toán các bộ kháccủa Chính phủ (kể cả bộ Tài chính); hoặc KTNN cũng có thể được tổ chức như một
cơ quan chuyên môn bên cạnh nội các ( như ở Nhật Bản, Indonexia) hay bên cạnhThủ tướng chính phủ (Việt Nam trước đây)… Mô hình này giúp chính phủ điềuhành nhanh nhạy quá trình thực hiện ngân sách và các hoạt động khác
1.2.1.3 Mô hình kiểm toán nhà nước trực thuộc cơ quan lập pháp.
Trong mô hình này, cơ quan KTNN là một cơ cấu trực thuộc Quốc hội ( có thể
là Thượng viện hoặc Hạ viện), là cơ quan kiểm tra tài chính công cao nhất của cơquan quyền lực tối cao Với mô hình này, KTNN trợ giúp đắc lực cho nhà nướckhông chỉ ở kiểm tra thực hiện pháp luật mà còn cả trong việc soạn thảo và xâydựng các sắc luật liên quan đến ngân sách, tài chính, kế toán,… Mô hình này cũngtạo điều kiện tối đa để có thể độc lập và thực hiện chức năng phản biện đối vớiChính phủ, giúp Quốc hội (cơ quan quyền lực tối cao, đại điện cho ý chí và quyềnlực của nhân dân) thực thi quyền kiểm soát các hoạt động tài chính của Chính phủ( cơ quan hành pháp tối cao, trực tiếp vận hành nền tài chính quốc gia)
Mô hình KTNN trực thuộc cơ quan lập pháp được ứng dụng rộng rãi ở nhiềunước trên khắp thế giới như Anh, Mỹ, Canada…
1.2.2 Mô hình tổ chức xét theo hình thức tổ chức.
1.2.2.1 Mô hình KTNN được tổ chức thành “Tòa” (Court)
Đây là mô hình tổ chức KTNN phổ biến ở nhiều nước có nên kinh tế phát triển
ở Tây Âu ( Tòa thẩm kế Pháp - Cour des comptes, KTNN Hà Lan - NetherlandsCourt or Audit…)
Trang 10Được tổ chức theo mô hình “ Tòa”, các cơ quan KTNN này độc lập với cả cơquan lập pháp, cơ quan hành pháp và thường có một địa vị pháp lý đặc biệt Ngoàichức năng kiểm toán các đơn vị thuộc khu vực công, KTNN còn có thể đóng vai tròquan tòa hay công tố viên trong các vụ án xét xử những vi phạm trong việc quản lý
và sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia Ví dụ điển hình là phần lớn các kiểm toánviên nhà nước thuộc Tòa thẩm kế Pháp đều là những quan tòa khi tham gia cơ quanKTNN
1.2.2.2 Mô hình KTNN được tổ chức thành “ Văn phòng” (office)
Đây là kiểu tổ chức KTNN phổ biến ở các nước (Ví dụ: KTNN Anh - the UKNational Audit Office, KTNN Trung Quốc – National Audit Office of The People’sRepublic of China, Văn phòng Tổng kế toán Canada – General Accounting Office,
…)
Cơ quan KTNN được tổ chức theo hình thức “ văn phòng” có thể độc lập với
cả Chính phủ và Quốc hội (Cơ quan kiểm toán quốc gia Australia - NationalAuditing Office) hay trực thuộc Quốc hội (Văn phòng tổng kế toán Canada), haytrực thuộc Chính phủ ( KTNN Trung Quốc)
Được tổ chức theo hình thức “ Văn phòng” KTNN thường chỉ đảm nhận cácchức năng kiểm toán các đơn vị thuộc khu vực công cộng, tư vấn cho cơ quan hànhpháp và lập pháp trong vệc đưa ra những quyết định, những chính sách điều hànhnền tài chính công… chứ không có chức năng phán xét, xét xử những sai phạmtrong quản lý và sử dụng tài sản và nguồn lực quốc gia
1.2.3 Mô hình tổ chức xét trong mối quan hệ nội bộ cơ quan 1.2.3.1 Liên hệ ngang.
Liên hệ ngang là mối liên hệ nội bộ trong cơ quan kiểm toán cùng cấp (trungương, khu vực hay địa phương ) Liên hệ này có thể trực tuyến hay chức năng
Trong liên hệ trực tuyến, tổng kiểm toán trưởng (hoặc phó tổng kiểm toán
được ủy nhiệm) trực tiếp chỉ huy các hoạt động của KTNN Liên hệ trực tiếp có ưuđiểm đảm bảo lệnh của Tổng kiểm toán trưởng được chuyển trực tiếp đến các kiểmtoán viên, bảo đảm điều hành nhanh nhạy và thông tin ngược xuôi kịp thời Tuy
Trang 11nhiên, mô hình này chỉ thích hợp trong điều kiện quy mô kiểm toán và số lượngkiểm toán viên không quá lớn.
Trong liên hệ chức năng, quyền điều hành công việc được phân thành nhiều
khối, mỗi khối lại chia thành nhiều cấp khác nhau Mô hình này thích hợp với bộmáy kiểm toán có quy mô lớn Ví dụ: KTNN Australia
Sơ đồ 1.2 Mối liên hệ trong cơ quan kiểm toán quốc gia Australia
1.2.3.2 Liên hệ dọc.
Liên hệ dọc là mối liên hệ trong nội bộ tổ chức của cơ quan KTNN theo tínhchất cấp bậc, có 2 mô hình chủ yếu:
Mô hình 1: cơ quan KTNN trung ương có mạng lưới ở tất cả các địa phương.
Mô hình này thích hợp với các nước có quy mô lớn, các địa phương phân bố rộng
và phân tán, khối lượng tài sản công tại mỗi địa phương lớn và quan hệ phức tạp.Đồng thời, mỗi địa phương cũng có khối lượng công sản, tài sản tương đối đồngđều Tình hình đó đòi hỏi phải có tổ chức KTNN ngay tại địa phương
Mô hình 2: mô hình cơ quan KTNN trung ương có mạng lưới kiểm toán ở
từng khu vực Những khu vực này trước hết phải có khối lượng công sản đủ lớn và
ở xa trung tâp nên đòi hỏi có KTNN tại thực địa để thực thiện chức năng củaKTNN Mô hình này thích ứng với những nước có quy mô nhỏ song phân tán (Vídụ: Thái Lan)
Trang 121.3 Mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nước của một số nước
và bài học kinh nghiệm.
1.3.1 KTNN Cộng hòa Liên bang Đức.
Vị trí: KTNN Liên bang là cơ quan tối cao của Liên bang, với tư cách một cơ
quan kiểm tra tài chính độc lập chỉ tuân thủ pháp luật Trong khuôn khổ nhữngnhiệm vụ theo luật định, KTNN liên bang hỗ trợ Quốc hội Liên bang, Hội đồngLiên bang và Chính phủ Liên bang trong việc ra quyết định của các cơ quan này.Địa vị pháp lý của KTNN Liên bang và các thành viên cũng như những nhiệm
vụ cơ bản được đảm bảo bằng Hiến pháp Những vấn đề cụ thể được quy định trongcác đạo luật riêng (Luật KTNN Liên bang, Luật Ngân sách Liên bang)
Phạm vi hoạt động: KTNN Liên bang kiểm tra:
- Các khoản thu, các khoản chi, các nghĩa vụ chi tài sản và các khoản nợ
- Các chương trình có ảnh hưởng tới tài chính
- Các khoản lưu giữ và tạm ứng
- Việc sử dụng các kinh phí được bổ sung nhằm tự tạo vốn
Theo Điều 88, Quy chế Ngân sách Liên bang ban hành ngày 19/8/1969,KTNN Liên bang có thể giới hạn phạm vi kiểm toán và cho phép miễn kiểm tra cáchoạt động kế toán
Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động:
- 9 Vụ kiểm toán, mỗi Vụ có 6 Phòng kiểm toán, bao gồm khoảng 600 kiểmtoán viên
- 9 KTNN Khu vực gồm 500 Kiểm toán viên
- Khoảng 1.500 kiểm toán viên trong các cơ quan của Liên bang
- Kế hoạch ngân sách KTNN Liên bang được 78 triệu DM
- Kế hoạch ngân sách KTNN Khu vực được 92 triệu DM
Những quyết định của KTNN Liên bang được biểu quyết tập thể Trongtrường hợp bình thường thì 2 thành viên hữu trách ra quyết định (Vụ trưởng vàTrưởng Phòng kiểm toán) Trong một số trường hợp nhất định thì Chủ tịch hoặcPhó Chủ tịch sẽ tham gia vào Hội đồng (Hội đồng 3 thành viên) Những quyết
Trang 13định trong Hội đồng 2 hoặc 3 thành viên chỉ có thể thông qua với sự nhất trí củatất cả các thành viên Đại hội đồng của KTNN Liên bang chỉ quyết nghị về nhữngvấn đề vượt ra ngoài khuôn khổ 1 Vụ hoặc đặc biệt quan trọng.
1.3.2 KTNN Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Luật kiểm toán Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ban hành ngày 31/8/1994 quyđịnh cơ sở pháp lý của hoạt động KTNN
Mục đích của hoạt động kiểm toán: Nhằm tăng cường sự kiểm tra Nhà nước vềtài chính, bảo đảm trật tự Nhà nước về kinh tế và tài chính, khuyến khích xây dựngchính sách cởi mở và bảo đảm sự phát triển kinh tế quốc dân lành mạnh
Các lĩnh vực chịu kiểm toán:
- Việc thực hiện ngân sách thuộc các ngành của Quốc vụ viện và chính quyềnnhân dân địa phương các cấp
- Các khoản thu, khoản chi của các cơ quan tài chính Nhà nước, các doanhnghiệp và tổ chức
Cơ quan kiểm toán hoạt động theo luật, nhằm kiểm tra tính đúng đắn, tính hợppháp và tính kinh tế của việc thực hiện ngân sách và các khoản thu, khoản chi củacác cơ quan nói trên
Quốc vụ viện và chính quyền địa phương từ cấp huyện trở lên hàng năm phảitrình lên Uỷ ban thường vụ Đại hội nhân dân cấp mình báo cáo hoạt động của Cơquan Kiểm toán đối với việc thực hiện ngân sách và các khoản thu, khoản chi khác
- Các cơ quan Kiểm toán thực hiện sự kiểm toán theo pháp luật một cách độclập, không có sự can thiệp của cơ quan hành chính, tổ chức và cá nhân khác
- Quốc vụ viện lập ra KTNN để lãnh đạo hoạt động kiểm toán trong toàn quốcdưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Quốc vụ viện Tổng Kiểm toán là người lãnh đạoKTNN
Trang 14- Các Cơ quan kiểm toán địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo với chínhquyền nhân dân cùng cấp và Cơ quan kiểm toán cấp trên Về mặt chuyên môn thìtrước hết Cơ quan Kiểm toán cấp trên chịu trách nhiệm.
- Các Cơ quan Kiểm toán kiểm tra việc thực hiện ngân sách và việc quyết toánngân sách cũng như việc quản lý và sử dụng các phương tiện nằm ngoài ngân sáchcùng cấp (kể cả các đơn vị cấp dưới trực thuộc trực tiếp) và của cả chính quyềnnhân dân cấp dưới
1.3.3 KTNN Cộng hòa Liên bang Nga
Vị trí: KTNN Liên bang Nga (KTNN Liên bang) là cơ quan cao nhất hoạt
động thường xuyên của hệ thống kiểm tra tài chính Nhà nước, được lập ra bởi Hộinghị Liên bang và trực thuộc Hội nghị
KTNN liên bang Nga trong hoạt động của mình tuân thủ theo Hiến pháp Liênbang, Đạo luật KTNN và các Đạo luật khác của Liên bang Nga Trong khuôn khổcác nhiệm vụ do luật định, KTNN liên bang Nga độc lập về tổ chức và chức năng.KTNN liên bang Nga là một pháp nhân, có con dấu khắc hình Quốc huy Liênbang
Tổ chức bộ máy: KTNN liên bang bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Kiểm toán
trưởng và bộ máy giúp việc của KTNN liên bang
Chủ tịch KTNN liên bang do Viện Duma quốc gia bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 6năm Nghị quyết về việc bổ nhiệm Chủ tịch KTNN liên bang được Viện Duma quốcgia thông qua với đa số phiếu cuả tất cả đại biểu Viện Duma quốc gia Mọi công dânLiên bang Nga đã tốt nghiệp Đại học tổng hợp, có kinh nghiệm trong lĩnh vực hànhchính Nhà nước, kiểm tra Nhà nước, kinh tế và tài chính đều có thể được bổ nhiệmlàm Chủ tịch KTNN liên bang
Chủ tịch KTNN liên bang không được có quan hệ họ hàng với Tổng thốngLiên bang Nga, Chủ tịch Hội đồng Liên bang, Chủ tịch Viện Duma quốc gia, Chủtịch Chính phủ Liên bang, Thủ trưởng Phủ Tổng thống Liên bang, Chánh Toà án tốicao Liên bang và Chủ tịch Hội đồng trọng tài tối cao Liên bang
Trang 15Chủ tịch KTNN liên bang có quyền tham dự các phiên họp của Hội đồng Liênbang, Viện Duma quốc gia, các Uỷ ban và tiểu ban của Nghị viện, các phiên họpcủa Chính phủ Liên bang và của Đoàn Chủ tịch Chính phủ Liên bang.
Chủ tịch KTNN liên bang không được phép là Đại biểu của Viện Duma quốcgia, là thành viên của Chính phủ Liên bang, không được làm bất kỳ công việc nào
có tính chất sinh lợi, trừ công tác giảng dạy khoa học nghệ thuật
Phó Chủ tịch KTNN liên bang do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm theo nhiệm kỳ
6 năm Nghị quyết bổ nhiệm Phó Chủ tịch KTNN liên bang được thông qua bởi đa
số tất cả các đại biểu Hội đồng Liên bang
Đánh giá kết quả kiểm toán: KTNN liên bang đánh giá một cách có hệ thống
các kết quả thu được từ các biện pháp kiểm tra, khái quát chúng và nghiên cứu cácnguyên nhân và hậu quả của các việc sai trái và vi phạm trong khi tạo các nguồn thu
và chi từ ngân sách Liên bang
Trên cơ sở các dữ liệu có được, KTNN liên bang xây dựng các kiến nghị nhằmhoàn thiện Luật Ngân sách và tiếp tục phát triển hệ thống tài chính và ngân sách củaLiên bang, trình lên Viện Duma quốc gia
Các kiến nghị của KTNN liên bang: Dựa vào các kết quả do các biện pháp
kiểm tra đưa lại, KTNN liên bang kiến nghị với các cơ quan Nhà nước Liên bang,Thủ trưởng các cơ quan, doanh nghiệp được kiểm toán về các biện pháp để khắcphục các thiếu sót, truy cứu trách nhiệm của các quan chức đã vi phạm các Đạo luậtcủa Liên bang và gây ra bê bối
Kiến nghị của KTNN liên bang phải được xem xét trong thời hạn được ấnđịnh, nếu không có thời hạn thì là 20 ngày kể từ ngày nhận được chúng Các biệnpháp được đưa ra để thực hiện kiến nghị phải được thông báo ngay cho KTNN liênbang Nếu trong khi tiến hành kiểm toán mà phát hiện việc biển thủ phương tiện tàichính hoặc tài sản Nhà nước cũng như các vụ việc lạm dụng chức vụ khác thìKTNN liên bang chuyển ngay lập tức các hồ sơ, tài liệu cho các cơ quan bảo vệpháp luật.(2)
Trang 16Mối quan hệ với Chính phủ và Quốc hội
Tại Đức, cơ quan KTNN thực sự được xây dựng như là những cơ quan nhànước độc lập, bằng việc tách cơ quan kiểm tra tài chính khỏi các cơ quan hành pháphay lập pháp về mặt tổ chức sẽ đảm bảo sự tách rời và không đồng nhất giữa ngừờikiểm tra với người bị kiểm tra và giữ được một khoảng cách tối thiểu cần thiết -điều này đảm bảo tính độc lập về mặt nghiệp vụ nhưng có sự phối hợp rất chặt chẽvới nhau, ngoài ra KTNN Liên bang còn thành lập một số kiểm toán khu vực nhưngkhông trực thuộc về mặt hành chính với các bang, điều này cho thấy tính độc lậpcao của KTNN khu vực Điều này tương đối giống với tại Nga khi mà KTNN Trungương chỉ thành lập các KTNN khu vực để không bị các địa phương chi phối
Trái lại, ở Trung Quốc do việc thành lập các cơ quan kiểm toán cùng cấp vớicác chính quyền từ cấp huyện trở lên và chịu sự chỉ đạo song trùng từ 2 cơ quan làchính quyền cùng cấp và KTNN cấp trên do đó hạn chế nhiều đến tính độc lập của
cơ quan này
Đương nhiên ở đây không thể đi tới chỗ hoàn toàn tách rời cơ quan KTNNkhỏi Quốc hội và Chính phủ được, bởi vì việc lập ra cơ quan này cũng nhằm để báocáo cho Quốc hội và Chính phủ biết rõ việc quản lý công quỹ và tài sản quốc gia đãđược thực hiện như thế nào; mặt khác có nhiều lĩnh vực khi thực hiện nhiệm vụkiểm toán rất cần sự hợp tác chặt chẽ từ chính hai cơ quan này đặc biệt trong việc tưvấn các dự luật cho Quốc hội hay kiến nghị Chính phủ phải sửa chữa và khắc phụccác yếu kém trong quản lý và điều hành ngân sách
Hình thức tổ chức
Hình thức tổ chức của các nước được nghiên cứu ở trên cho thấy sự khác nhau,mỗi nước một kiểu từ hình thức có nhiều cơ quan KTNN độc lập nhau như ở Đức,đến hình thức có một cơ quan KTNN nhưng lại được tổ chức theo mô hình tập trungthống nhất như kiểu Nga hay một cách thức là các cơ quan KTNN trực thuộc cả vàochính quyền địa phương như tại Trung Quốc Tuy nhiên các mô hình này đều có sựthích ứng với hình thức tổ chức ngân sách Nhà nước và các quy định trong Hiếnpháp và Luật về tổ chức bộ máy nhà nước của từng nước Việc bổ nhiệm và miễn
Trang 17nhiệm đối với người đứng đầu các cơ quan KTNN thường được sự phê chuẩn củaQuốc hội và người đề cử thường dành quyền cho Chính phủ Nhiệm kỳ công tác củangười đứng đầu và các uỷ viên của nó thường kéo dài hơn nhiệm kỳ của Chính phủ
và Quốc hội, họ chỉ bị miễn nhiệm khi không đủ sức khoẻ, về hưu hoặc vi phạm cácquy định nghề nghiệp
vị được kiểm toán biết Như vậy ở đây có thể nhận thấy một số yếu tố của một cơcấu đồng sự trong vấn đề quyết định
Trong các luật kiểm toán đề nghiên cứu đều đòi hỏi năng lực, trình độ của các
uỷ viên cũng như nhân viên kiểm toán phải đáp ứng được yêu cầu của những côngviệc phức tạp, kinh nghiệm và trình độ chuyên sâu trong lĩnh vực kiểm tra tài chính.Trong luật và các quy định mang tính nội bộ đều yêu cầu một chương trình bồidưỡng, đào tạo nghiệp vụ và được sát hạch qua các kỳ thi hàng năm để đảm bảonhân viên của KTNN luôn được trang bị những kiến thức, kỹ năng mới nhất đápứng yêu cầu của công việc ngày càng khó khăn hơn Đây là điều kiện tất yếu để cóđược các báo cáo kiểm toán với chất lượng cao
Trang 18Phần 2:
THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của bộ máy KTNN Việt Nam.
KTNN Việt Nam ra đời dựa trên những điều kiện phát triển về kinh tế- chính trị như sau:
Điều kiện kinh tế - Yêu cầu của quản lý tài chính Nhà nước
Bản thân hoạt động tài chính nhà nước luôn gắn với sự phát triển của Nhànước và của nền kinh tế Nhà nước tập trung được những nguồn lực khổng lồ trong
xã hội và được sử dụng cho nhiều mục tiêu khác nhau với các quan hệ tài chính tiền
tệ rất phức tạp Vai trò của tài chính nhà nước được thể hiện rõ hơn trong việc đưa
ra những chính sách mang tầm chiến lược, những giải pháp động viên mọi nguồnlực của quốc gia, đảm nhận chức năng quản lý ngân quỹ của Nhà nước, thu đúng,thu đủ theo đúng chính sách của Nhà nước Đồng thời tổ chức phân phối và đầu tưcác nguồn lực đó sao cho có hiệu quả; việc phân phối các nguồn lực này vừa đảmbảo cho an ninh quốc gia vừa đảm bảo sự phát triển kinh tế và sự công bằng Nhưvậy đòi hỏi phải có sự kiểm tra việc quản lý và sử dụng NSNN, Quốc hội với tưcách là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhân dân – chủ thể sở hữu, phải thực hiệnquyền quyết định về tài chính nhà nước Do vậy cần phải kiểm tra, giám sát đối vớicác chủ thể được giao quản lý và sử dụng tài chính nhà nước, mặt khác Chính phủvới tư cách là chủ thể quản lý tài chính nhà nước cũng cần phải kiểm tra việc sửdụng các khoản tài chính này Xuất phát từ nhu cầu đó đã hình thành nên một hệthống các cơ quan kiểm tra, kiểm soát, trong quá trình phát triển của hệ thống ấy tất