Quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể luôn được pháp luật bảo vệ. Khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác được pháp luật bảo vệ thì chủ thể gây thiệt hại có thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do mình gây ra. Dưới góc độ pháp luật dân sự, hậu quả pháp lý đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại. Khi một người có hành vi trái pháp luật xâm hại tới sức khỏe của chủ thể khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Sức khỏe của con người là vô cùng quý giá, việc xác định tổn hại về sức khỏe rất phức tạp, tuy nhiên cần phải tính toán mức thiệt hại thực tế để đưa ra mức phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Bởi lẽ đó, bộ luật dân sự Việt Nam 1995 đã quy định một cách chi tiết về vấn đề này và được hoàn thiện các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong bộ luật dân sự năm 2005. Để hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cụ thể là vấn đề bồi thường do sức khỏe bị xâm hại, thấy được ưu điểm và những tồn tại trong quy định của pháp luật hiện hành đồng thời đưa ra nhưng quan điểm riêng của nhóm, chúng em xin chọn tình huống số 8 là vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại của ông Nguyễn Xuân Ngà do gia đình bà Nguyễn Thị Kim gây ra. 1. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm. Nêu rõ căn cứ pháp lý đối với từng nhận xét. Ta thấy đây là vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng điển hình do thiệt hại về sức khỏe, giữa nguyên đơn Nguyễn Xuân Ngà và bị đơn Nguyễn Đức Dũng. Trên cơ sở quy định pháp luật cũng như những hiểu biết của các thành viên, nhóm xin trình bày những nhận định của mình về các quyết định của Tòa án: Tuy trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do xô sát giữa nguyên đơn và bị đơn từ năm 2002, nhưng đến 10072004 ông Nguyễn Xuân Ngà mới lập đơn khởi kiện và đến năm 2005 mới được thụ lý giải quyết sơ thẩm, năm 2006 lại được sơ thẩm lại do sai thủ tục tố tụng và đến tận năm 2007 lại được phúc thẩm lần hai; nhưng căn cứ vào thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khoản 1 Điều 15 BLDS 1995 và Điều 2 Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 số 452005QH11 về việc áp dụng hiệu lực hồi tố trong một số trường hợp, cho thấy: vụ án bồi thường thiệt hại này phải xử lý trên cơ sở BLDS 1995 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành về bồi thường thiệt hại của bộ luật này. Bên cạnh đó, căn cứ vào quy định tại điểm a, Khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2004 và hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần “Những quy định chung” của BLTTDS 2004 xác định: trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm hại trước ngày 01012005 thì thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ ngày 01012005; nên vụ án này được thụ lý trên cơ sở tuân thủ thủ tục tố tụng về thời hiệu khởi kiện. Xét thấy quyết định của Tòa án tại bản án phúc thẩm số 922006DSPT ngày 26042006 về việc bác bỏ bản án sơ thẩm số 142005DSST ngày 27122005 với lý do phiên Tòa này đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là đúng đắn và có sơ sở pháp lý. Bởi, căn cứ vào Điều 47 BLTTDS 2004 về các trường hợp phải thay đổi Thẩm phám, Hội thẩm nhân dân thì “ông Trần Sáu (Hội thẩm nhân dân) trước đây đã tham gia xét xử tại phiên tòa hình sự đối với vụ án cố ý gây thương tích nay lại tham gia tại phiên tòa dân sự” – tương ứng với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này. Và vì lý do này nên Tòa phúc thẩm ngày 26042006 đã căn cứ vào khoản 2 Điều 277 BLTTDS 2004 để hủy bản án sơ thẩm.
Trang 1MỞ ĐẦU
Quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể luôn được pháp luật bảo vệ Khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác được pháp luật bảo vệ thì chủ thể gây thiệt hại có thể phải gánh chịu hậu quả pháp
lý bất lợi do mình gây ra Dưới góc độ pháp luật dân sự, hậu quả pháp lý đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại
Khi một người có hành vi trái pháp luật xâm hại tới sức khỏe của chủ thể khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Sức khỏe của con người là vô cùng quý giá, việc xác định tổn hại về sức khỏe rất phức tạp, tuy nhiên cần phải tính toán mức thiệt hại thực tế để đưa ra mức phải bồi thường cho người bị thiệt hại Bởi lẽ đó, bộ luật dân sự Việt Nam 1995 đã quy định một cách chi tiết về vấn đề này và được hoàn thiện các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong
bộ luật dân sự năm 2005
Để hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cụ thể là vấn đề bồi thường do sức khỏe bị xâm hại, thấy được ưu điểm và những tồn tại trong quy định của pháp luật hiện hành đồng thời đưa ra nhưng quan điểm riêng của nhóm, chúng em xin chọn tình huống số 8 là vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại của ông Nguyễn Xuân Ngà do gia đình bà Nguyễn Thị Kim gây ra
Trang 2NỘI DUNG
1 Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm Nêu rõ căn cứ pháp lý đối với từng nhận xét.
Ta thấy đây là vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng điển hình do thiệt hại về sức khỏe, giữa nguyên đơn Nguyễn Xuân Ngà và bị đơn Nguyễn Đức Dũng Trên cơ sở quy định pháp luật cũng như những hiểu biết của các thành viên, nhóm xin trình bày những nhận định của mình về các quyết định của Tòa án:
Tuy trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do xô sát giữa nguyên đơn và bị đơn từ năm 2002, nhưng đến 10/07/2004 ông Nguyễn Xuân Ngà mới lập đơn khởi kiện
và đến năm 2005 mới được thụ lý giải quyết sơ thẩm, năm 2006 lại được sơ thẩm lại do sai thủ tục tố tụng và đến tận năm 2007 lại được phúc thẩm lần hai; nhưng căn cứ vào thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khoản 1 Điều 15 BLDS 1995 và Điều 2 Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 số 45/2005/QH11 về việc áp dụng hiệu lực hồi tố trong một số trường hợp, cho thấy: vụ án bồi thường thiệt hại này phải xử lý trên cơ sở BLDS 1995 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành về bồi thường thiệt hại của bộ luật này Bên cạnh đó, căn cứ vào quy định tại điểm a, Khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2004 và hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần “Những quy định chung” của BLTTDS 2004 xác định: trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm hại trước ngày 01/01/2005 thì thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ ngày 01/01/2005; nên vụ án này được thụ lý trên
cơ sở tuân thủ thủ tục tố tụng về thời hiệu khởi kiện
Xét thấy quyết định của Tòa án tại bản án phúc thẩm số 92/2006/DSPT ngày 26/04/2006 về việc bác bỏ bản án sơ thẩm số 14/2005/DSST ngày 27/12/2005 với lý do phiên Tòa này đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là đúng đắn và có sơ sở pháp lý Bởi, căn cứ vào Điều 47 BLTTDS 2004 về các trường hợp phải thay đổi Thẩm phám,
Hội thẩm nhân dân thì “ông Trần Sáu (Hội thẩm nhân dân) trước đây đã tham gia xét xử tại phiên tòa hình sự đối với vụ án cố ý gây thương tích nay lại tham gia tại phiên tòa dân sự” – tương ứng với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này Và vì lý do này nên
Tòa phúc thẩm ngày 26/04/2006 đã căn cứ vào khoản 2 Điều 277 BLTTDS 2004 để hủy bản án sơ thẩm
Trang 3Mặc dù bản án sơ thẩm số 14/2005/DSST đã bị hủy bỏ do sai phạm về thủ tục tố tụng và được thay thế bằng bản án sơ thẩm số 12/2006/DSST nhưng ta vẫn nên xét đến nội dung quyết định bản án này
Xét nội dung quyết định của các bản án sơ thẩm số 14/2005/DSST, bản án sơ thẩm
số 12/2006/DSST và bản án phúc thẩm số 34/2007/DSPT ta thấy:
Thứ nhất là quyết định giải quyết yêu cầu bồi thường của Tòa án: Cả ba phiên
tòa đều quyết định “Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe của ông Nguyễn Xuân Ngà đối với anh Nguyễn Đức Dũng”, tuy nhiên để xét tính đúng sai của
quyết định ta cần xét đến yêu câu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn là ông Nguyễn Xuân Ngà trên cơ sở quy định của pháp luật tại Điều 613 BLDS 1995 về thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại và mục 1 phần II Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao số 01/2004/NQ – HĐTP:
“Các chi phí được bồi thường phải là các chi phí hợp lý cho việc khám chữa bệnh, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; thu nhập thực tế bị giảm xút của người bị thiệt hại (nếu trước thời điểm bị xâm phạm về sức khỏe người này có làm việc); chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; và tùy từng trường hợp mà Tòa án quyết định có phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại hay không”.
Xét yêu cầu của nguyên đơn, tại đơn khởi kiện ngày 10/07/2004 nguyên đơn – ông Nguyễn Xuân Ngà có đưa đề nghị yêu cầu bồi thường các chi phí:
Chi phí khám chữa bệnh:11.472.400 đồng.
Bồi thường thiệt hại do thu nhập giảm sút 2 tháng là 5.000.000 đồng.
Tiền bồi dưỡng để phục hồi sức khỏe 23 hộp sữa Ensure là 2.645.000 đồng
Tiền mua thức ăn, hoa quả bồi dưỡng hai tháng điều trị nằm viện là 1.800.000 đồng Hai tháng sau sau khi ra viện 900.000 đồng.
Bồi thường chi phí đi lại cho người nhà chăm sóc là 1.760.000 đồng (44 ngày đi xem ôm mỗi ngày 40.000 đồng).
Trang 4 Bồi thường do thiệt hại về tinh thần và danh dự nhân phẩm là 1.740.000 đồng
(290.000 đồng x 6 tháng) Tổng số là 25.717.400 đồng”.
Ta thấy yêu cầu những khoản chi phí này là không hoàn toàn hợp lý Bởi lẽ yêu cầu bồi thường của ông Ngà về chi phí khám chữa bệnh chưa rõ ràng cụ thể và không có căn cứ thực tế
Về chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe: tiền sữa bồi dưỡng không thể hiện sự hợp
lý trong thời gian 2 tháng điều trị, cũng như không cụ thể loại sữa, dung tích, giá tiền để
có thể xem xét tính hợp lý, tiền thức ăn và hoa quả mà bị đơn yêu cầu trong vòng hai tháng điều trị không thể hiện sự cần thiết phù hợp, ngoài ra ông Ngà còn đòi bồi thường
cả tiền bồi dưỡng hai tháng sau điều trị là yêu cầu thiếu căn cứ và không thỏa đáng bởi người gây thiệt hại chỉ có trách nhiệm bồi thường cho ông đến khi trạng thái sức khỏe bình phục như ban đầu
Về chi phí về bồi thường do thiệt hại về tinh thần và danh dự nhân phẩm là không
có căn cứ pháp luật Bởi theo Điều 613 BLDS 1995 thì ông chỉ được bồi thường về tinh thần khi có quyết định của Tòa án và không được vượt quá 30 tháng lương tối thiểu tại thời điểm giải quyết bồi thường do Nhà nước quy định (đoạn c tiểu mục 1.5 mục 1 phần 1 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 01/2004/NQ – HĐTP)
Về chi phí bồi thường do thu nhập bị giảm sút ông đề nghị cũng không hề có yếu
tố chứng minh cho yêu cầu này Nên quyết định của các phiên Tòa, chỉ chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Ngà là hợp lý
Nhưng không vì vậy mà các bản án này không có hạn chế: Tại bản án sơ thẩm
số 14/2005/DSST và bản án xử sơ thẩm lại số 12/2006/DSST đều không xác định cụ thể những chi phí mà ông Ngà được bồi thường trong quyết định; tại bản phúc thẩm số 34/2007/DSPT tuy có xác định cụ thể các chi phí được bồi thương nhưng cả ba bản án này đều không xác định cụ thể các chi phí ông Ngà đề nghị bị bác bỏ cũng như nguyên nhân bác bỏ Điều này cho thấy các quyết định này của Tòa án còn chưa hoàn toàn tuân thủ quy định của pháp luật tại khoản 5 Điều 237 và khoản 5 Điều 279 BLTTDS 2004 về bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm
Vì lý do trên nên không thể đánh giá mức chi phí mà Tòa chấp nhận tại hai bản sơ thẩm có thỏa đáng không nên nhóm xin chỉ nhận xét về các chi phí bồi thường được Tòa
án chấp thuận tại bản án phúc thẩm Các chi phí bồi thường được bản án phúc thẩm số
Trang 534/2007/DSPT xác định chưa thực sự thỏa đáng bởi Tòa phúc thẩm chỉ xác định các chi phí bồi thương bao gồm chi phí khám chữa bệnh, tiền gường bệnh, tiền bồi dưỡng, tiền đi lại khám chữa bệnh, chi phí trông nom mà không hề đề cập đến phần thu nhập bị giảm sút của ông Ngà có hay không và có cần được bồi thường không Thêm vào đó Tòa phúc thẩm cũng không hề thể hiện quyết định xem ông Ngà có được hưởng bồi thường thiệt hại về tinh thần hay không (không đảm bao quyền lợi của nguyên đơn được quy định tại Điều 613 BLDS 1995) Trong trường hợp này, Tòa án khi xét xử cần phải yêu cầu nguyên đơn thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình (theo Điều 79 BLTTDS 2004) để đảm bảo quyền và lợi ích cho nguyên đơn – ông Nguyễn Xuân Ngà
Thứ hai về vấn đề lỗi của hai bên đương sự ông Nguyễn Xuân Ngà và anh Nguyễn Đức Dũng, là căn cứ quan trọng để xác định chi phí thực tế mà người gây thiệt
hại cần phải bồi thường căn cứ Điều 621 BLDS 1995: Theo trình bày phía bị đơn thì
“ông Ngà cũng có lỗi một phần” nhưng cả hai bản án sơ thẩm đều không đề cập đến lỗi của ông Ngà trong quyết định của bản án, cho thấy sự thiếu trách nhiệm của Tòa án trong việc đảm bảo tính công minh cho các đương sự
Vấn đề lỗi của hai bên đương sự đã được Tòa án phúc thẩm số 34/2007/DSPT tiếp
nhận giải quyết, đây là điều đáng được ghi nhận Theo quyết định của bản án này “Xác định anh Nguyễn Đức Dũng có 80% lỗi gây thiệt hại Ông Nguyễn Xuân Ngà có 20% lỗi gây thiệt hại” hoàn toàn dựa trên cơ sở pháp lý Bởi lẽ ông Ngà đã đẩy cửa nhà bà Kim
khép lại trong trạng thái bức xúc vì trước đó ông đã đề nghị gia đinh nhà bà Kim bịt cửa
sổ này lại nhưng họ không chịu khiến nảy sinh mâu thuẫn và xô xát xảy ra Trong trường hợp này đáng lẽ ông Ngà nên lựa chọn cách thức yêu cầu chính quyền địa phương can thiệp giải quyết vụ việc mở cửa sổ của gia đình bà Kim căn cứ vào quy đinh tại Điều 276 BLDS về hạn chế trổ cửa sổ và Điều 7 Quy chuẩn xây dựng Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 682/BXD-CSXD ngày 14/12/1996 của Bộ trưởng Xây dựng thì sẽ không xảy ra sự việc đáng tiếc này
Tương tự như vậy thì gia đình bà Kim bao gồm cả anh Nguyễn Đức Dũng thấy hành vi gây gổ của ông Ngà phải kiềm chế và báo cáo với chính quyền hoặc tìm cách thỏa thuận, dàn xếp giữa hai bên nhưng anh Dũng với bà Kim cùng gia đình lại dùng gạch đánh ông Ngà gây thương tích 21% Trên cơ sở đó Tòa phúc thẩm ra quyết định
Buộc anh Nguyễn Đức Dũng do bà Nguyễn Thị Kim đại diện phải có trách nhiệm bồi
Trang 6thường thiệt hại cho ông Nguyễn Xuân Ngà 5.748.400 đồng tương ứng với 80% lỗi là
hoàn toàn đúng đắn trên cơ sở quy định tại Điều 621 BLDS 1995
Thứ ba là về vấn đề án phí các phiên tòa – vấn đề quan trọng của các phiên
tòa dân sự: Theo khoản 2 điều 127 BLTTDS 2004: “Án phí bao gồm án phí sơ thẩm và
án phí phúc thẩm” Về vụ việc của ông Nguyễn Xuân Ngà đối với anh Nguyễn Đức
Dũng do bà Nguyễn Thị Kim đại diện, tại bản án sơ thẩm số 14/2005/DSST ngày 27/12/2005 Tòa án sơ thẩm quyết định về vấn đề án phí Sau đó tại Bản án dân sự phúc thẩm số 92/2006/DSPT ngày 26/04/2006, Tòa án đã hủy bản án dân sự số 14/2005/DSST ngày 27/12/2005, như vậy vấn đề án phí cũng được hủy bỏ Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2006/DSST ngày 23/11/2006, Tòa án sơ thẩm tiếp tục đưa ra quyết định về án phí Tại bản án dân sự phúc thẩm số 34/2007/DSPT ngày 05/02/2007, Tòa án phúc thẩm đã quyết
định: Sửa án sơ thẩm: “Án phí: Anh Nguyễn Đức Dũng do bà Kim đại diện phải chịu 280.000 đ tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào 50.000 đ tiền dự phí kháng cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 02308 ngày 06-12-2006 của Thi hành án quận nay còn phải nộp 230.000 đ.Anh Dũng do bà Kim đại diện không phải chịu án phí phúc thẩm.Ông Nguyễn Xuân Ngà phải chịu 70.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm” Như vậy, căn cứ
theo các điều 131, 132 BLTTDS 2004 và chương 3 Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997
về vấn đề án phí, thì quyết định của toàn án phúc thẩm số 34/2007/DSPT ngày 05/02/2007 là đúng đắn
Ngoài ra, về việc “đã nộp bồi thường 5.000.000 đồng” mà bị đơn đã trình bày,
tại hai bản án sơ thẩm trước đó đều không được nhắc đến cũng như không giải quyết trong quyết định của bản án, điều này gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị đơn mà pháp luật luôn bảo vệ Tuy nhiên Tòa án phúc thẩm số 34/2007/DSPT đã
xác định và ghi nhận điều này trong quyết định, xác nhận anh Nguyễn Đức Dũng do bà Nguyễn Thị Kim đại diện đã nộp bồi thường 5.000.000 đ nay còn phải bồi thường 748.400 đ (bảy trăm bốn mươi tám ngàn bốn trăm đồng) nữa – đảm bảo tính công bằng
của pháp luật
2 Nêu cách giải quyết của nhóm đối với tình huống nêu trên Nêu rõ các căn cứ pháp lý đối với cách giải quyết của nhóm.
Như đã phân tích ở phần đầu, căn cứ vào thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như khoản 1 Điều 15 BLDS 1995 và Điều 2 Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 số 45/2005/QH11 về việc áp dụng hiệu lực
Trang 7hồi tố trong một số trường hợp, cho thấy vụ án bồi thường thiệt hại này phải xử lý trên cơ
sở BLDS 1995 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành về bồi thường thiệt hại của bộ luật này Vì lẽ đó, căn cứ pháp lý chủ yếu để nhóm giải quyết vụ việc của đề bài đưa ra là BLDS 1995 và Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/4/2004
Điều 613 BLDS năm 1995 quy định:
"Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
1 Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng
bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
2 Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
3 Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc, thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu có.
4 Tùy từng trường hợp, Tòa án quyết định buộc người xâm phạm đến sức khỏe của người khác phải bồi thường một khoản tiền bù đắp về tinh thần mà người đó phải gánh chịu.”
Xét trong vụ việc cụ thể của đề bài đưa ra, ông Ngà có thể được bồi thường chi phí những khoản sau:
Thứ nhất: về chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại.
Theo phần II mục 1 điểm 1.1 nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/4/2004 thì chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dường, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm:
Tiền thuê phương tiện đưa người thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế, tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm,
mổ, truyền máu, vật lý trị liệu… theo chỉ định của bác sĩ
Trang 8 Tiền viện phí
Tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sĩ
Các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có)
Các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống
và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có)
Theo đó, ông Ngà sẽ được bồi thường chi phí về tiền thuốc, tiền viện phí, tiền giường bệnh, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe theo chỉ định của bác sĩ, chi phí đi lại khám chữa bệnh Nhóm em đồng ý với cách giải quyết của tòa phúc thẩm tại bản án dân
sự phúc thẩm số 34/2007/DSPT về các khoản chi phí trên Cụ thể:
Tiền viện phí, tiền thuốc có hóa đơn theo chỉ định của bác sĩ là 3.855.000 đồng
Tiền giường bệnh tại Bệnh viện Việt Nam-Cu Ba là 500.000 đồng
Chi phí đi lại khám chữa bệnh là 760.000 đồng
Chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 1.350.000 đồng
Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Ngà có đơn khiểu nại cho rằng ngoài số tiền được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận thì còn khoản tiền ông phải điều trị tại bệnh xá và tiền thu nhập thêm, nhưng lại không được Tòa án xem xét giải quyết Nhóm em cho rằng việc ông Ngà yêu cầu được bồi thường tiền điều trị tại bệnh xá là hợp lý và được pháp luật ghi nhận Rõ ràng trong nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP quy định chi phí cho việc cứu chữa,
bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe có bao gồm “tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu… theo chỉ định của bác sĩ”, nên chi phí điều trị của ông Ngà tại bệnh xá cũng thuộc
phạm vi trên Do đó, việc tòa án không xem xét giải quyết chi phí điều trị tại bệnh xá cho ông Ngà là một sự thiếu xót
Thứ hai: về thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại.
Trong phần II mục 1 điểm 1.2, nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP đã quy định:
“Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm
Trang 9phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.”
Trong vụ việc trên, ta thấy có chi tiết nói ông Ngà đi làm và có tiền thu nhập tuy nhiên đây chỉ là lời khai từ một phía của ông Ngà Để xác định anh Nguyễn Đức Dũng có phải bồi thường tiền thu nhập bị giảm sút hoặc bị mất của ông Ngà hay không cần phải làm rõ thực tế vụ việc Với tình huống này chúng em xin được chia làm 2 trường hợp như sau:
Ông Nguyễn Xuân Ngà có thu nhập thực tế.
Việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập bị giảm sút trong thời gian điều trị phải được chấp nhận Trong lời yêu cầu bồi thường thiệt hại của mình tại đơn khởi kiện
đề ngày 10/7/2004, “Bồi thường thiệt hại do thu nhập giảm sút 2 tháng là 5.000.000 đồng” Yêu cầu của ông hoàn toàn phù hợp với quy định cua pháp luật, tuy nhiên không
thể chấp nhận ngay mức tiền bồi thường này khi chưa có sự xem xét
Cụ thể: trước hết, ta cần làm rõ thu nhập của ông Ngà là thu nhập ổn định hay có
sự thay đổi mỗi tháng, nếu có sự thay đổi thu nhập giữa các tháng thì cần phải xem xét có xác định được hay không Đồng thời, cần làm sáng tỏ trong thời gian điều trị, thu nhập thực tế của ông Ngà bị mất hay chỉ bị giảm sút Sau khi xác định được các điều trên, ta có thể áp dụng điểm b tiểu mục 1.2 phần II của nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP để tính toán chi phí bồi thường thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của ông Ngà như sau:
Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị
có hay không Nếu có thì tổng số thu nhập là bao nhiêu
Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 này Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất
Ông Nguyễn Xuân Ngà không có thu nhập thực tế.
Trang 10Nếu thực tế ông Ngà không hề có thu nhập như lời khai của ông tại đơn khởi kiện thì yêu cầu bồi thường thiệt hại ở đây sẽ không được chấp nhận Mục đích của bồi thường thiệt hại là bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Tuy nhiên điều đó cũng đồng thời gây tổn thất cho người gây thiệt hại Vì vậy cần xác định một cách tương đối chính xác giá trị cần bồi thường tương ứng để công bằng cho cả đôi bên Do đó, pháp luật đã quy
định chỉ bồi thường khi có thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.
Nếu ông Ngà hoàn toàn không có thu nhập thực tế thì cũng không thể có thu nhập bị mất hay giảm sút trong quá trình điều trị Khoản tiền này không thể bắt anh Dũng bồi thường,
vì đây là chi phí mà kể cả khi không có thiệt hại về sức khỏe và mất thời gian chữa trị, ông Ngà cũng không có được
Thứ ba: về chi phí và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người
bị thiệt hại trong thời gian điều trị.
Trong đơn khởi kiện ông Ngà có yêu cầu khoản chi phí này là “Bồi thường chi phí
đi lại cho người nhà chăm sóc là 1.760.000 đồng (44 ngày đi xem ôm mỗi ngày 40.000 đồng)” Tuy nhiên không thể chấp nhận ngay ý kiến chủ quan từ phía ông Ngà, khi xét
xử cần phải có sự xem xét cân nhắc kĩ càng để đưa ra một con số hợp lý Theo quy định tại Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ Luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế
Ở tình huống trên, bị đơn là anh Nguyễn Đức Dũng cần phải bồi thường chi phí hợp lí cho người chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm các khoản như đã nêu tại Nghị quyết 01/2004 cụ thể là tiền đi lại và tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình tại địa phương nơi thực hiện việc chi phí Tuy nhiên nếu ông Ngà được chữa trị ngay tại địa phương, người chăm sóc cho ông không cần phải thuê trọ thì sẽ không có khoản bồi thường này
Ngoài ra, cần phải bồi thường thêm nếu thu nhập thực tế của người chăm sóc cho ông Nguyễn Xuân Ngà trong thời gian điều trị bị mất (thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định theo quy định tại điểm b tiểu mục 1.3 phần II nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP) Nếu trong thời gian chăm