NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC ODA 1.1.1 Đặt vấn đề Vốn ODA là một phần của nguồn tài chính chính thức mà Chính phủ các nướcphát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước
Trang 1CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)
1.1 NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)
1.1.1 Đặt vấn đề
Vốn ODA là một phần của nguồn tài chính chính thức mà Chính phủ các nướcphát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ pháttriển kinh tế và phúc lợi xã hội các quốc gia này Vốn ODA bao gồm tất cả các khoảnviện trợ không hoàn lại, có hoàn lại và vay ưu đãi; trong đó phần viện trợ không hoànlại và các yếu tố ưu đãi khác chiếm ít nhất 25% vốn cung ứng Nhiều quốc gia đã thuhút, vận động và sử dụng vốn ODA khá hiệu quả Song không ít quốc gia lại là bài họckhông thành công về quản lý vốn ODA Hơn 15 năm qua, Việt Nam đã có được nhữngthành công đáng kể trong lĩnh vực này, nhưng đồng thời cũng nổi lên nhiều bất cập đòihỏi Chính phủ và Quốc hội phải quan tâm đúng mức
1.1.3 Các hình thức cung cấp ODA bao gồm:
- ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho
nhà tài trợ Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng như hỗ trợ kỹthuật, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật…;
- ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện
ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại”(còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25%đối với các khoản vay không ràng buộc;
- ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu
đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có
“yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đốivới các khoản vay không ràng buộc
1.1.4 Các phương thức cơ bản cung cấp ODA gồm có:
• Hỗ trợ dự án;
• Hỗ trợ ngành;
• Hỗ trợ chương trình;
• Hỗ trợ ngân sách
Trang 21.1.5 Các nguồn cung cấp ODA
- ODA song phương : là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kiathông qua hiệp định được ký kết giữa hai chính phủ
- ODA đa phương : là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF, WB,…)hay tổ chức khu vực (ADB, EU,…) hoặc của một chính phủ của một nước dành cho chínhphủ của một nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa phươngnhư UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc), UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên HiệpQuốc), …
* Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu :
- Ngân hàng thế giới (WB)
- Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
- Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)
1.2 VAI TRÒ CỦA ODA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.2.1 Những mặt tích cực
Tầm quan trọng của ODA đối với các nước đang và kém phát triển là điều khôngthể phủ nhận Điều này được thể hiện rõ qua những thành công mà các nước tiếp nhậnODA đã đạt được Cụ thể như sau:
1.2.1.1 Nhu cầu vốn ODA cho đầu tư phát triển kinh tế
Trong khi các nước đang phát triển đa phần là trong tình trạng thiếu vốn trầm trọngnên thông qua ODA song phương có thêm vốn để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế
Ngoài ODA còn giúp các nước nhận viện trợ có cơ hội để nhập khẩu máy móc thiết
bị cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, từ các nước phát triển.Thông qua nước cung cấp ODA, nước nhận viện trợ có thêm nhiều cơ hội mới để thamgia vào các tổ chức tài chính thế giới, đạt được sự giúp đỡ lớn hơn về vốn từ các tổ chứcnày
1.2.1.2 ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực.
Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước nhận tài trợ là côngnghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến Các nhà tài trợcòn ưu tiên đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực vì họ tin tưởng rằng việc phát triển củamột quốc gia quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn nhân lực
ODA được cấp cho các nước nhận tài trợ thông qua các hoạt động như: Hợp tác kỹthuật, huấn luyện, đào tạo nhằm đào tạo cán bộ chuyên môn để đóng góp vào sự phát triểnkinh tế, xã hội của các nước có người được huấn luyện, đào tạo, cử chuyên gia để chuyểngiao hiểu biết, công nghệ cho các nước đang phát triển thông qua định hướng, điều tra và
Trang 3nghiên cứu, góp ý, cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập cũng là một bộ phận của chươngtrình hợp tác kỹ thuật, hợp tác kỹ thuật theo thể loại từng dự án.
Nguồn vốn ODA có vai trò tích cực hỗ trợ phát triển năng lực con người trong việcđào tạo hàng vạn cán bộ cho nước tiếp nhận trên rất nhiều lĩnh vực như nghiên cứu cơ bản
và ứng dụng khoa học, công nghệ, quản lý kinh tế và xã hội, thông qua việc cung cấp họcbổng nhà nước, cử chuyên gia nước ngoài để đào tạo tại chỗ trong quá trình thực hiện cácchương trình, dự án ODA, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, cungcấp trang thiết bị nghiên cứu và triển khai,
1.2.1.3 ODA giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Các dự án ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thường ưu tiên vào pháttriển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi choviệc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả nước Bên cạnh đócòn có một số dự án giúp Việt Nam thực hiện cải cách hành chính nâng cao hiệu quả hoạtđộng của các cơ quan quản lý nhà nước
1.2.1.4 ODA giúp các nước đang phát triển xây dựng và hoàn thiện khung thể chế pháp lý
ODA có vai trò quan trọng hỗ trợ các nước đang phát triển xây dựng và hoàn thiệnkhung thể chế, pháp lý (xây dựng và hoàn thiện các Luật, các văn bản dưới Luật) thôngqua việc cung cấp chuyên gia quốc tế, những kinh nghiệm và tập quán tốt của quốc tế vàkhu vực trong lĩnh vực pháp luật đặc biệt trong bối cảnh các nước đang phát triển chuyểnđổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
1.2.1.5 ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển.
Việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho cácnhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khảnăng mang lại lợi nhuận
ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho các nướcđang và chậm phát triển, nó còn có tác dụng làm tăng khả năng thu hút vốn từ nguồn FDI
và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước, góp phần thực hiện thành côngchiến lược hướng ngoại Tất cả các nước theo đuổi chiến lược hướng ngoại đều có nhịp độtăng trưởng kinh tế rất nhanh và biến đổi cơ cấu kinh tế trong nước mạnh mẽ trong mộtthời gian ngắn để chuyển từ nước Nông - Công nghiệp thành những nước Công - Nôngnghiệp hiện đại, có mức thu nhập bình quân đầu người cao
Như vậy, đầu tư của chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây mới các cơ sở
hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết nhằm làm cho môi trường đầu
tư trở nên hấp dẫn hơn Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn vànếu chỉ dựa vào vốn đầu tư trong nước thì không thể tiến hành được do đó ODA sẽ lànguồn vốn bổ sung hết sức quan trọng cho ngân sách nhà nước Một khi môi trường đầu
tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI Mặt khác, việc sử dụng vốn ODA để
Trang 4đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu
tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận
1.2.2 Những mặt hạn chế
Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, ODA cũng có không ít những mặt hạn chế.Hạn chế rõ nhất của viện trợ phát triển chính thức ODA là các nước nếu muốn nhận đượcnguồn vốn này phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp viện trợ Mức độ đáp ứng càng caothì viện trợ tăng lên càng nhiều Các yêu cầu này đều gắn với những lợi ích và chiến lượcnhư mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh -quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướngvào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thayđổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thếgiới) Ví dụ:
- Nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ cácngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nướctiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danhmục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trựctiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lờicao
- Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắnvới việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí làkhông cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo,lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đếnhơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự
án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường laođộng thế giới)
- Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệtnhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhậnODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất
- Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thôngthường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ,
dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhàthầu hoặc hỗ trợ chuyên gia
Ngòai ra, ngay ở trong một nước, tình trạng tập trung ODA vào các thành phốtrọng điểm cũng tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế xã hội của quốc gia đó, làmcho hố ngăn cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn càng trở nên cách biệt Bên cạnh
đó, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốnODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quátrình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các
Trang 5công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tìnhtrạng nợ nần.
Trang 6CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ NGUỒN VỐN ODA
2.1 Hành lang pháp lý
Nhận thức được rằng ODA là một nguồn lực có ý nghĩa quan trọng từ bên ngoài,chính phủ Việt Nam luôn luôn coi trọng và quan tâm đến việc huy động các nguồn vốnODA Trước hết, để duy trì lòng tin đối với các nhà tài trợ nhằm duy trì các nguồn cungcấp ODA, chính phủ Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện khung pháp lý cho việc khaithác và sử dụng nguồn vốn ODA thông qua việc ban hành các chính sách và các văn bảnpháp lý điều tiết các hoạt động liên quan đến ODA, cụ thể:
Từ năm 1993 đến nay, tùy theo yêu cầu của thực tế mà Chính phủ từng bước hoànthiện môi trường pháp lý thông qua các Nghị định nhằm điều chỉnh công tác quản lý và sửdụng nguồn vốn ODA một cách hiệu quả, cụ thể :
• Năm 1993 Chính phủ ban hành nghị định số 58/NĐ-CP về quản lý và trả nợ nước ngoài
• Năm 1994 nghị định số 20/NĐ-CP quản lý nguồn vốn về hỗ trợ phát triển chính thức
• Năm 1997 – 1999, dựa trên thực tiễn và yêu cầu đổi mới, Chính phủ ban hành nghị định87/1997/NĐ-CP thay thế nghị định 20/NĐ-CP và nghị định 90/1998/NĐ-CP thay thếnghị định 58/NĐ-CP
• Năm 2001, nghị định 17/2001/NĐ-CP được ban hành thay thế nghị định 87/NĐ-CP nhằmhoàn thiện hơn nửa về quy chế vay và trả nợ nước ngoài
• Nghị định 131/2006/NĐ-CP ban hành ngày 9/11/2006, về việc “Quản lý và sử dụngnguồn hỗ trợ phát triển chính thức” và thay thế Nghị định 17/2001/NĐ-CP về quản lý và
nhằm thu hút các chuyên gia tham gia công tác tại Việt Nam
Hiện nay, việc quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức được quy địnhbởi nghị định 131/2006/NĐ-CP có những điểm đáng chú ý có thể liệt kê như:
• Thứ nhất, tính đồng bộ của Nghị định về quản lý và sử dụng ODA với các văn bản phápluật chi phối khác trong các lĩnh vực như đầu tư, xây dựng công trình, thuế, đền bù, giảiphóng mặt bằng, ký kết và tham gia các điều ước quốc tế khung và cụ thể về ODA Sự hàihòa với các quy định của nhà tài trợ cũng được thể hiện rõ trong Nghị định này, đặc biệt làkhâu theo dõi và đánh giá các chương trình và dự án ODA
• Thứ hai, Nghị định đã thể hiện sự phân cấp trong quản lý và sử dụng vốn ODA tương tựnhư đối với đầu tư công Theo Nghị định, Thủ tướng Chính phủ chỉ phê duyệt Danh mụcyêu cầu tài trợ; các chương trình, dự án ODA quan trọng quốc gia; các chương trình, dự
án kèm theo khung chính sách và trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng Việc quyết định đầu
tư và phê duyệt các chương trình và dự án ODA khác đều phân cấp cho Thủ trưởng các cơ
Trang 7quan chủ quản Sự phân cấp mạnh mẽ này một mặt tạo ra sự chủ động và nâng cao vai tròlàm chủ, trách nhiệm của các ngành, các cấp, song mặt khác cũng đặt ra thách thức vềnăng lực quản lý và tổ chức thực hiện đối với các bộ, ngành và địa phương
• Thứ ba, công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng ODA thông qua việc Bộ Kế hoạch
và Đầu tư và các nhà tài trợ công bố rộng rãi thông tin về nguồn ODA, các chính sách vàđiều kiện tài trợ để các đơn vị đề xuất có điều kiện để chuẩn bị và đề xuất các chươngtrình, dự án ODA
• Thứ tư, công tác theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA được quy định cụ thể
và toàn diện, tiệm cận với tập quán quốc tế
Nghị định 131/2006/NĐ-CP nhằm đồng bộ với các văn bản pháp quy khác có liênquan như Nghị định 12/2000/NĐ-CP về quản lý đầu tư và xây dựng, Nghị định111/2006/NĐ-CP của Chính phủ về đấu thầu và xét thầu v.v
Nước ta có 4 cấp tham gia vào quá trình quản lý thu hút và sử dụng vốn ODA, baogồm:
2.2 Tình hình huy động và giải ngân nguồn vốn ODA từ năm 1993 đến nay.
Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết hỗ trợphát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam lên tới 80 tỷ USD trong giai đoạn 1993-2012,góp phần đưa Việt Nam gia nhập nhóm các nước có mức thu nhập trung bình thấp
Cách đây 20 năm, ngày 8/11/1993, Hội nghị bàn tròn về ODA dành cho Việt Nam
đã được tổ chức tại Paris, Pháp Sự kiện quan trọng này chính thức đánh dấu sự mở đầumối quan hệ hợp tác phát triển giữa nước Việt Nam trên đường đổi mới và cộng đồng cácnhà tài trợ quốc tế
(Nguồn: Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Trang 8Hiện có khoảng 50 nhà tài trợ song phương và đa phương đang hoạt động, cungcấp nguồn ODA và vốn vay ưu đãi cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội của ViệtNam.
Tổng vốn ODA ký kết trong các điều ước quốc tế cụ thể từ năm 1993 đến 2012 đạttrên 58,4 tỷ USD, chiếm 71,69% tổng vốn ODA cam kết, trong đó vốn vay ưu đãi đạt 51,6
tỷ USD và chiếm khoảng 88,4%, vốn ODA không hoàn lại đạt 6,76 tỷ USD và chiếmkhoảng 11,6%
Trong hai thập kỷ qua, tổng nguồn vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỷ USD, chiếmtrên 66,92% tổng vốn ODA ký kết
(Nguồn: Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Theo số liệu thống kê, tỷ trọng ODA vốn vay trong tổng vốn ODA tăng dần từ 80% trong thời kỳ 1993-2000 lên 93% thời kỳ 2006-2010 và gần đây đã ở mức 95,7% trong hai năm 2011-2012
(Nguồn: Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Trang 9Có thể thấy mức giải ngân vốn ODA đã có tiến bộ qua các năm song chưa tương xứng với mức cam kết.
Tỷ lệ giải ngân vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam năm 2011 đứng thứ nhì và năm 2012 đứng thứ nhất thế giới, tỷ lệ giải ngân của WB tại Việt Nam tăng từ 13% năm
2011 lên 19% năm 2012
(Nguồn: Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Lĩnh vực giao thông vận tải và bưu chính viễn thông được ưu tiên tiếp nhận và sửdụng nguồn vốn ODA lớn nhất trong tổng số 7 lĩnh vực khoảng 16,47 tỷ USD, trong đó15,9 tỷ USD là ODA vốn vay
Trong thời kỳ 1993-2012, ngành giao thông vận tải đã hoàn thành và đang thựchiện 132 dự án, trong đó đã hoàn thành 83 dự án với vốn ODA đạt 5 tỷ USD và đang thựchiện 49 dự án với số vốn ODA khoảng 12 tỷ USD
(Nguồn: Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Trang 10Ngành năng lượng và công nghiệp có tổng vốn ODA được ký kết trong thời kỳ1993-2012 đạt khoảng 10 tỷ USD, trong đó viện trợ không hoàn lại không đáng kể,khoảng 0,1% Tổng số nhà tài trợ là 32, trong đó có 26 nhà tài trợ song phương và 6 nhàtài trợ đa phương
Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo nhậnđược nguồn vốn ODA đứng thứ ba với tổng trị giá ký kết khoảng 8,85 tỷ USD (ODA vốnvay: 7,43 tỷ USD, ODA viện trợ không hoàn lại: 1,42 tỷ USD)
(Nguồn: Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Hiện vẫn tồn tại tình trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA không đồng đềugiữa các tỉnh trên địa bàn các vùng trong cả nước trong đó vùng đồng bằng sông Hồngtiếp nhận nguồn vốn ODA lớn nhất với 10,42 tỷ USD và vùng Tây Nguyên tiếp nhậnnguồn vốn ODA thấp nhất với 1,36 tỷ USD
(Nguồn: Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Trang 11Chính phủ Việt Nam có chính sách sử dụng ODA để hỗ trợ các ngành, lĩnh vực và địaphương ưu tiên, nhất là đối với những địa bàn có nhiều khó khăn trong từng thời kỳ pháttriển.
(Nguồn: Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Nhật Bản là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam trong giai đoạn
1993-2012 với khoảng 19,81 tỷ USD Pháp đứng thứ hai với 3,91 tỷ USD Hàn Quốc đứng thứ
ba với 2,33 tỷ USD WB đứng đầu trong nhóm 6 ngân hàng phát triển với khoảng 20,1 tỷUSD Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đứng thứ hai với 14,23 tỷ USD vốn ODA camkết
Trong năm 2012, tổng số viện trợ phát triển chính thức (ODA) mà các nước và tổchức quốc tế dành cho Việt Nam trong năm tài khoá 2012 là 7,386 tỷ USD, thấp hơn sovới mức xấp xỉ 7,9 tỷ USD của năm 2011 Con số 7,4 tỷ USD ODA là đáng khích lệ trongbối cảnh hầu hết các quốc gia đều phải tập trung nguồn lực để đối phó với bất ổn kinh tế
“Số tiền này cũng thể hiện sự ưu ái của các nhà tài trợ khi Việt Nam đã bước quá ngưỡng thu nhập trung bình” (Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu Bùi Quang Vinh) Cũng
trong năm này, Việt Nam tiếp tục nhận được sự giúp đỡ lớn từ các định chế tài chính như
WB, ADB… cũng như đối tác truyền thống là Nhật Bản (đã công bố mức tài trợ 1,9 tỷUSD trước đó)
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, tính đến đầu tháng 12/2012, giải ngânODA của Việt Nam đạt 3,2 tỷ USD Con số dự kiến của cả năm là 3,65 tỷ USD Con sốnày chỉ chiếm chưa đầy một nửa số vốn 7,9 tỷ USD cam kết nhưng tăng 10% so với mứcgiải ngân hơn 2,9 tỷ USD của năm 2010
Đến năm 2013 tổng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi trên 7 tỷ USD, tuy nhiên 6tháng đầu năm 2013 đã giải ngân trên 3,8 tỷ USD, tăng 20 % cùng kỳ năm 2012 Một số
dự án ODA có giá trị lớn, như nhà máy xử lý nước thải tập trung tại Yên Xá, Thanh Trì,
Trang 12Hà Nội trên 306 triệu USD; Dự án Xây dựng đường sắt đô thị Hà Nội tuyến số 1 - giaiđoạn 1 (ga Ngọc Hồi) trị giá 179,2 triệu USD; Dự án nâng cao an toàn cầu đường sắt HàNội – TP HCM hơn 148 triệu USD các nguồn vốn này tập trung nhiều vào lĩnh vựcGTVT với hơn 1,4 tỷ USD, chiếm 37,37% Ngay sau đó là lĩnh vực cấp nước và môitrường (881 triệu USD= 22,98%) Ngược lại các lĩnh vực khác như nông nghiệp và pháttriển nông thôn kết hợp với xóa đói giảm nghèo, năng lượng, phát triển đô thị…chỉ chiếm
tỷ trọng khiêm tốn Trong đó, Bộ GTVT có 44 dự án, với 19 dự án có mức giải ngân từ40% trở lên so với kế hoạch năm, 16 dự án mức giải ngân thấp dưới 20%, điển hình là dự
án cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi (4%); cao tốc Bến Lức – Long Thành (16%); đường sắt
đô thị Hà Nội tuyến số 1 (19%) Tại TP HCM với 21 dự án, trong đó có 10 dự án đầu tư
và 11 dự án hỗ trợ kỹ thuật Tổng mức giải ngân ODA 6 tháng đầu năm 2013 đạt 1.783 tỷđồng
Các chương trình, dự án có quy mô vốn lớn dự kiến ký kết năm 2013 gồm: Dự ánkết nối khu vực trung tâm đồng bằng Mê Công (544 triệu USD), Nhà ga hành khách quốc
tế T2 - sân bay Nội Bài (332 triệu USD), Dự án Phát triển hạ tầng giao thông ĐBSCL(176 triệu USD)
Theo số liệu được đưa ra tại Diễn đàn Đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) 2014,tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết năm 2014 hơn 5 tỷ USD, bằng 76,91% so vớimức của năm 2013 Trước đó, tổng vốn ODA và nguồn vốn vay ưu đãi ký kết với nhà tàitrợ trong năm 2013 đạt hơn 6,5 tỷ USD (ODA vốn vay và nguồn vốn vay ưu đãi xấp xỉ6,14 tỷ USD, ODA viện trợ không hoàn lại đạt 366 triệu USD)
Trong các lĩnh vực nhận được vốn ODA thì những lĩnh vực như giao thông vận tải,năng lượng tập trung nhiều nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi trong khi các lĩnh vựckhác như nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp với xóa đói giảm nghèo, nănglượng, y tế, giáo dục và đào tạo, thể chế,…chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn
Trong khi đó, mức giải ngân vốn ODA và vốn vay ưu đãi trong 11 tháng đầu nămước đạt khoảng 4,96 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: vốn vaykhoảng 4,84 tỷ USD, viện trợ không hoàn lại khoảng 116 triệu USD
Tình hình thực hiện và giải ngân các chương trình, dự án ODA và vốn vay ưu đãigiữa các ngành, lĩnh vực và giữa các địa phương chưa thực sự đồng đều Các lĩnh vực nhưgiao thông, năng lượng điện, phát triển đô thị, nông nghiệp và phát triển nông thôn có tiến
độ thực hiện tốt hơn nhiều so với các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục và đào tạo, thôngtin truyền thông, lao động, thương binh và xã hội Tương tự, giải ngân của các thành phốlớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh có mức cao hơn nhiều so với các địa phương kháctrong cả nước
Trong năm tài khóa 2015, nguồn vốn vay ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam
dự kiến 165 tỉ Yen Hiện JICA đang thực hiện 150 dự án, trong đó tiếp tục triển khai mới
Trang 1313 dự án mới nữa Trong năm tài khóa 2015 chú trọng vào một số lĩnh vực như: Hoànthiện cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống xã hội, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế;tăng cường hiệu quả của đầu tư công… Theo đó, Việt Nam vẫn là đối tác lớn nhất củaNhật Bản, là quốc gia đứng đầu thế giới cả về số lượng và tổng kinh phí nhận viện trợODA mà JICA hỗ trợ.
2.3 Thành tựu từ nguồn tài trợ vốn ODA
Trong vòng 17 năm trở lại đây, nguồn vốn ODA đã đóng một vai trò hết sứcquan trọng trọng chiến lược phát triển kinh tế; thúc đẩy phát triển nông nghiệp nôngthôn xóa đói giảm nghèo; và đóng góp trong một số lĩnh vực xã hội của Việt Nam
2.3.1.Đóng góp cho phát triển kinh tế:
ODA góp phần rất lớn thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước
ta Ở Việt Nam, mô hình kinh tế công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu đã tạo cho nước
ta cơ hội phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, quá trình này ban đầu gặp không ít khókhăn do sự yếu kém về cơ sở hạ tầng kinh tế, trong khi Việt Nam còn là một đất nướcnghèo, nhu cầu về xây dựng các cơ sở vật chất phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đạihóa đối lập với khả năng đáp ứng nội tại của nền kinh tế Nguồn vốn ODA tập trungchủ yếu vào các lĩnh vực: Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, năng lượng và côngnghiệp – những lĩnh vực đòi hỏi vốn và kỹ thuật hết sức tiên tiến, nhưng ngân sách ViệtNam còn hạn chế; khu vực tư nhân trong và ngoài nước trong thời gian đầu phát triểnhầu như không mặn mà bởi vốn cao mà thời gian thu hồi vốn thì chậm, chưa kể đây lànhững lĩnh vực nhạy cảm, ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng nên gặp phải rào cảnrất lớn từ phía Nhà Nước Những dự án lớn, những công trình trong lĩnh vực giao thông
và điện đã hoàn thành và đưa vào sử dụng góp phần tạo điều kiện cho Việt Nam mởrộng tái sản xuất, tạo môi trường thuận lợi thu hút nguồn vốn trong nước và vốn đầu tưtrực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam Đócũng là động lực mạnh mẽ cho sự tăng trưởng vượt bậc của Việt Nam trong những nămgần đây
Nhờ sự hỗ trợ này, thời gian qua, hệ thống đường bộ ở miền Bắc đã được cải thiệnđáng kể như quốc lộ 1, 5, 10, 18; nhiều cảng biển lớn đã và đang được hoàn thiện như HảiPhòng, Cái Lân, Tiên Sa (Đà Nẵng); nhiều công trình có ý nghĩa quan trọng được xâydựng như đại lộ Đông-Tây (TP Hồ Chí Minh), cầu Bãi Cháy (Quảng Ninh), Cầu ThuậnKiều (Hải Phòng), cầu Thanh Trì (Hà Nội), đường hầm xuyên đèo Hải Vân; các bệnh việnlớn được khôi phục và nâng cấp như Bệnh viện Chợ Rẫy (TP Hồ Chí Minh), Bệnh việnBạch Mai; các nhà máy thuỷ điện và nhiệt điện quy mô lớn như Phả Lại 2, Phú Mỹ 1,Hàm Thuận-Đa Mi, Đa Nhim, Đại Ninh, thuỷ điện Đại Thi ở Tuyên Quang(360 triệu ),nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả(272 triệu), nhà máy thuỷ điện thượng Kon tum(100triệuUSD)
Bên cạnh việc cung ứng về vốn, các dự án ODA còn mang lại công nghệ, kỹ
thuật hiện đại, nghiệp vụ chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến Các chương trình
hợp tác kỹ thuật do các chính phủ các nước tài trợ thực hiện tiến hành ở Việt Nam với rất