- Tầm quan trọng của dầu mỏ - Đặc điểm thị trường dầu mỏ thế giới - Diễn biến giá dầu năm 2014 - 2015 - Nguyên nhân của sự suy giảm giá dầu - tác động của biến động giá dầu tới kinh tế thế giới và Việt Nam
Trang 1Phần nội dung: Biến động giá dầu thời gian qua Chương 1: Tổng quan thị trường dầu mỏ thế giới
Biến lãnh địa của mình trở thành thiên đường, đó là dầu mỏ Đóng vai trò nguồn gốc của xung đột, đó cũng là dầu mỏ Trở thành công cụ chi phối trên chính trường quốc
tế, lại cũng là dầu mỏ Trong bức tranh toàn cảnh thế giới, không chỗ nào thiếu bóng dáng vàng đen, chỉ khác nhau có nơi nhiều, nơi ít
- Đối với nền kinh tế
+ Dầu mỏ cùng với các loại khí đốt còn được gọi là “vàng đen” bởi sự ứng dụng rộng rãi của nó trong hầu hết các hoạt động của con người Đây là một trong những nguyên liệu quan trọng nhất của xã hội hiện đại dùng để sản xuất điện và cũng là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thông vận tải, nguồn nhiên liệu cho nhiều ngành công nghiệp sản xuất đặc biệt là công nghiệp điện và công nghiệp hóa dầu
+ Đối với một số quốc gia xuất khẩu dầu thì ngành công nghiệp dầu lửa chính là xương sống của cả nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của ngân sách
+ Đối với một số quốc gia nhập khẩu dầu mỏ, dù chỉ là một sự thay đổi nhỏ lượng cung, một sự biến động giá dầu đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự vận động của cả nền kinh tế
- Đối với chính trị
Chính vì tầm quan trọn và tính khan hiếm của dầu mỏ đã làm cho nó trở thành trung tâm của các cuộc tranh cãi, nó được nhiều nước sử dụng như một công cụ để mặc
cả các vấn đề chính trị, kinh tế khác Không chỉ vậy thực tế cho thấy dầu mỏ còn là nguyên nhân của nhiều cuộc xung đột, chiến tranh trên thế giới Có thể lấy vài ví dụ như sau:
+ Cuộc chiến Iran – Irag năm 1980
+ Cuộc chiến Irag – Kuwait 1993
+ Chiến tranh Irag 2003
+ Sự tranh giành đường ống dẫn dầu giữa Nga – Trung Quốc
…
Trang 2Nói về dầu mỏ, ngành kinh doanh dầu mỏ và ảnh hưởng của ngành công nghiệp này đến nền kinh tế Daniel Yergin – tác giả cuốn sách nổi tiếng “Dầu mỏ - tiền bạc và quyền lực” đã phát biểu như sau:
“Dầu mỏ là ngành kinh doanh lớn nhất và toàn diện nhất thế giới, là ngành công nghiệp vĩ đại nhất trong số các ngành công nghiệp vĩ đại từng xuất hiện trong mấy thập
kỷ cuối thế kỷ XIX… Ngành kinh doanh này, trong thế kỷ XX, đã mở rộng tới mọi đối tượng, từ các nhà khoan dầu mạo hiểm, các nhà thúc đẩy kinh doanh hoạt ngôn, các ông chủ doanh nghiệp độc đoán, tới các bộ máy doanh nghiệp quan liêu lớn và các công ty nhà nước Sự bành trướng của nó là hiện thân cho sự phát triển của thương mại, thị trường, chiến lược kinh doanh, những thay đổi về công nghệ, và các nền kinh tế quốc gia
và quốc tế của thế kỷ XX Lịch sử dầu mỏ đã chứng kiến sự ra đời của nhiều hợp đồng và nhiều quyết định quan trọng - do các cá nhân, công ty và các quốc gia thực hiện Đôi khi chúng ra đời dựa trên những suy tính kỹ càng, và đôi khi, chúng lại chỉ đơn giản là kết quả của một sự tình cờ Không ngành kinh doanh nào có thể định nghĩa rõ ràng và chính xác ý nghĩa của rủi ro và phần thưởng cũng như tầm quan trọng của cơ hội và số phận như ngành dầu mỏ”
- Daniel Yergin, Dầu mỏ - tiền bạc và quyền lực
Thị trường dầu mỏ thế giới là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán về dầu
mỏ giữa các quốc gia trên khắp thế giới Nó có những đặc điểm chung song cũng có những điểm hết sức khác biệt so với các thị trường khác
Thứ nhất, đây là một thị trường lớn do nhu cầu phong phú, đa dạng về dầu mỏ của các quốc gia trên khắp thế giới Trong khi mà các nguồn tài nguyên không thể tái sinh ngày càng cạn kiệt và những nguồn năng lượng khác chưa thể thay thế được vai trò chiến lược của dầu mỏ thì nhu cầu về dầu mỏ vẫn ngày một tăng với một số lượng lớn các giao dịch mua bán dầu mỏ giữa các quốc gia, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên thế giới
Trang 3Thứ hai, thị trường dầu mỏ còn hết sức nhạy cảm với những biến động về kinh tế, chính trị trên toàn cầu từ đó dẫn đến những biến động trên chính thị trường dầu mỏ Chỉ cần xảy ra một sự bất ổn định về mặt chính trị của một trong những quốc gia xuất khẩu dầu như là sự căng thẳng về chính trị tại Nigieria hay các hoạt động phá hoại của lực lượng chống đối tại Iraq, sự bất ổn các nguồn cung từ Nga cũng có thể làm chao đảo thị trường dầu mỏ
Thứ ba, thị trường dầu mỏ thế giới chịu sự chi phối rất lớn của tổ chức OPEC Các quyết định, chính sách của OPEC về cung cầu dầu mỏ cũng như giá dầu đều có tác động rất lớn đến thị trường dầu mỏ thế giới
Một số yếu tố của thị trường dầu mỏ thế giới
- Nguồn cung:
Theo thống kê của tổ chức năng lượng quốc tế ( IEA) tổng nguồn cung dầu thô trên thế giới vào khoảng 84 triệu thùng/ngày Nhiên liệu hóa lỏng 93,3 triệu thùng/ ngày
Dự báo, đến năm 2030, tổng cung dầu thô toàn thế giới khoảng 94 triệu thùng /ngày Nhiên liệu lỏng 112 triệu thùng/ngày
Ngoài những thông tin dự báo từ phía IEA, những con số trữ lượng và sản lượng khai thác của 10 quốc gia hàng đầu thế giới dưới đây sẽ phản ánh tiềm lực của nguồn cung cho thị trường dầu mỏ thế giới
Bảng 1.1: 10 quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới
Vị
thứ Quốc gia
Trữ lượng (tỷ thùng)
Trang 45 Kuwait 104.0
7 Các tiểu Vương Quốc Arap Thống
Bảng 1.2: 10 quốc gia có sản lượng khai thác dầu thô lớn nhất trên thế giới:
8 Các tiểu Vương Quốc Arap Thống Nhất 3,087,000
Theo IEA, 10 quốc gia này có sản lượng khai thác chiếm trên 60% sản lượng dầu thế giới Theo các chuyên gia nghiên cứu, nguồn cung cấp này có thể cạn kiệt trong vòng
50 năm tới
Tuy nhiên cùng với sự bùng nổ của công nghiệp khai thác dầu đá phiến đã làm cho nguồn cung tăng lên đáng kể trong thời gian gần đây
- Về phía thị trường tiêu thụ:
Trang 5Châu Á là thị trường tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất thế giới: 26 triệu thùng/ ngày, chiếm gần 30% thế giới Theo nhu cầu sử dụng dầu mỏ làm nhiên liệu trong giao thông vận tải vàlàm nguyên liệu trong các ngành công nghiệp từ những nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc , Ấn Độ đã làm cho nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ của khu vực này tăng nhanh đột biến trong những năm gần đây
Với nhịp độ phát triển kinh tế kỹ thuật hiện nay, nhu cầu tiêu thụ dầu thô trên thế giới hàng năm tăng từ 1- 2% / năm
Dự báo, nhu cầu tiêu thụ dầu thô tại Châu Á đến năm 2030 có thể đạt tới 42,6 triệu thùng /ngày, chiếm khoảng 38% thế giới
Song ,cũng do nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng suy yếu trong năm 2014 cùng với các nền kinh tế phát triển ở Châu Âu và Nhật Bản đình trệ mà nhu cầu tiêu thụ dầu thô thế giới đang suy giảm
Trang 6Chương 2: Biến động giá dầu năm 2014 và nguyên nhân
Năm 2014 và 3 tháng đầu năm 2015 đánh dấu một thời gian đầy biến động với thị trường dầu mỏ thế giới khi mà giá dầu liên tiếp lao dốc
Trang 7Biểu đồ 2.1 : Biến động giá dầu WTI năm 2014
Giá dầu WTI đạt đỉnh 107 USD/thùng hồi tháng 6 và kết thúc năm 2014 ở mức dưới 53 USD/thùng
Sang năm 2015, giá dầu tiếp tục lao dốc, cụ thể:
+ Ngày 12 tháng 1 giá dầu WTI chạm đáy mới với 46.07 USD/thùng, mức thấp nhất kể từ tháng 3 năm 2009
+ Ngày 16 tháng 3 giá dầu thô WTI tiếp tục chạm đáy mới với 42.85 USD/thùng
Trang 8Đối với những loại dầu thô khác như Brent, Dubai…tình hình biến động tương tự
và đều xác lập đáy vào tháng 3 năm 2015
Tuy nhiên kể từ tháng 4 năm 2015 giá dầu thô thế giới đã có dấu hiệu phục hồi khi
mà sản xuất dầu khí đá phiến tại Mỹ có dấu hiệu đi xuống, nhu cầu tăng trưởng dầu mỏ được Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) nâng dự báo tiêu thụ lên đồng thời tổ chức này cũng cắt giảm dự báo nguồn cung dầu của các nước ngoài Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) Bên cạnh đó một vài lý do chính trị khác cũng là nguyên nhân kéo giá dầu đi lên
Tốc độ tăng trưởng nhu cầu sử dụng dầu mỏ chậm lại, nguồn cung trên toàn thế giới bị dư thừa, quyết tâm sắt đá của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) muốn buộc các nhà sản xuất dầu từ đá phiến của Mỹ phải phá sản và những mục tiêu chính trị khác liên quan đến Saudi Arabia và Nga.… là những nguyên nhân chính làm giá dầu lao dốc trong thời gian qua
2.2.1. Nguyên nhân từ phía cầu
Châu Á là thị trường tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất thế giới trong đó Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ… luôn nằm trong top những quốc gia nhập khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới Tuy nhiên chỉ số sản xuất và tăng trưởng GDP Trung Quốc giảm; nhiều quốc gia trong tiến trình hội nhập đã dỡ bỏ trợ cấp xăng dầu và tình hình khó khăn, khủng hoảng tại Nhật Bản và EU – thị trường tiêu thụ dầu lớn thứ hai thế giới là những nguyên nhân chính làm cho nhu cầu tiêu thụ dầu giảm
Bên cạnh đó, sự tiến bộ của Khoa học kỹ thuật đã phát minh và đưa vào sử dụng những công nghệ mới sử dụng những nguồn năng lượng sạch, thân thiện với môi trường như nước, năng lượng mặt trời, khí nén và cả những phát minh nhằm tiết kiệm năng lượng đã phần nào dịch chuyển cầu dầu mỏ sang các dạng năng lượng khác
Trang 9IEA uớc tính năm 2014 sản lượng được cung cấp bởi các nước phi OPEC tăng trưởng 1,68 triệu thùng/ ngày Năm 2015 dự tính tăng 1,24 triệu thùng/ ngày
Cuộc cách mạng khí đá phiến tại Mỹ và công nghệ khai thác dầu cát phát triển là những nguyên nhân chính làm cho sản lượng dầu khối phi OPEC tăng mạnh từ đó làm cung dầu khí thế giới tăng mạnh
- Cách mạng dầu khí đá phiến
Trữ lượng dầu đá phiến (345 tỉ thùng) chiếm 1/10 tổng trữ lượng dầu thô trên toàn thế giới Trữ lượng khí đá phiến (206.000 tỉ mét khối) chiếm 1/3 tổng trữ lượng khí đốt toàn thế giới Tuy nhiên cho đến nay Mỹ là quốc gia duy nhất khai thác thương mại nguồn năng lượng này
Có thể hiểu cách mạng dầu khí đá phiến là dùng để chỉ hiện tượng nguồn cung dầu khí Mỹ bùng nổ nhờ công nghệ khai thác đứt gãy thủy lực và khoan ngang các mỏ đá phiến Cuộc cách mạng khí đá phiến đã xảy ra vào năm 2010 và cách mạng dầu đá phiến xảy ra trong giai đoạn 2013 -2014 Theo thống kê chính thức của Cơ quan Năng lượng quốc tế IEA, từ năm 2007-2014, sản lượng khí đá phiến của Mỹ tăng trung bình 50% mỗi năm, tương đương mức tăng từ 5% lên 36% trong tổng thị phần khí đốt Còn về dầu thì từ
2008 đến nay, sản lượng khai thác của Mỹ đã tăng đến 70% lên mức 8,7 triệu thùng/ngày.Nếu như những năm trước Mỹ là cường quốc nhập khẩu dầu khí thì hiện nay
Mỹ đã vượt Nga trở thành nước sản xuất khí đốt lớn nhất thế giới
Mặt khác, nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật nên chi phí sản xuất dầu khí đá phiến của Mỹ ngày một giảm, giúp sản lượng khai thác ngày càng tăng Cụ thể, chi phí sản xuất dầu khí đá phiến của Mỹ từ 60 USD/thùng năm 2014 được dự báo sẽ hạ không phanh đến mức chỉ còn trên 12 USD/thùng vào cuối năm 2015 Do đó dự báo của IEA, trong thời gian tới Mỹ sẽ vượt Ả rập Xê út và Nga trở thành nhà sản xuất dầu thô số 1 thế giới là hoàn toàn tin tưởng được
- Công nghiệp khai thác dầu cát
Dầu cát chiếm tới gần 2/3 trữ lượng dầu trên thế giới khoảng gần 2000 tỷ thùng, dầu cát chủ yếu tập trung ở: Canada, Venezuela, Kazakhstan và Nga Mặc dù trữ lượng dầu cát lớn nhưng do chi phí khai thác cao và làm ảnh hưởng đến môi trường nên sản lượng khai
Trang 10thác không cao, tuy nhiên cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật những năm gần đây công nghiệp khai thác dầu cát đã phát triển thêm một bước, chi phí khai thác giảm dẫn đến sản lượng cung tăng cao, riêng dự án Kearl (Emperial Oil, Exxon Mobil) đã có năng suất 345000 thùng/ngày Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần làm tăng sản lượng cung dầu toàn thế giới
2.2.3. Động thái từ OPEC và các nguyên nhân chính trị khác
Trong bối cảnh nhu cầu dầu mỏ giảm, nguồn cung phi OPEC tăng mạnh nhưng OPEC vẫn quyết định giữ nguyên sản lượng 30 triệu thùng/ ngày lại càng làm cho giá dầu rơi tự do Lý do mà Saudi Arabia – quốc gia đứng đầu OPEC và là nhà xuất khẩu dầu lửa lớn nhất thế giới đưa ra là OPEC muốn mở rộng thị phần và chinh phục các thị trường mới nổi để bù đắp vào nhu cầu giảm của toàn cầu Mặt khác giá dầu thấp sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế thế giới từ đó sẽ làm tăng nhu cầu dầu từ đó giá dầu sẽ tăng trở lại
Tuy nhiên, theo nhiều phân tích ngoài lý giải chính thức trên, nguyên nhân thực sự không đơn giản như vậy mà đằng sau đó là những “âm mưu” chính trị liên quan trực tiếp đến Mỹ, Nga, Iran và một số nước khác
Theo một số phân tích OPEC từ chối cắt giảm sản lượng là muốn thấy giá thấp đẩy ông lớn Mỹ ra khỏi thị trường Một điểm cần lưu ý là dầu OPEC được khai thác với chi phí rất rẻ và chất lượng cao trong khi chi phí khai thác dầu đá phiến của Mỹ cao Nếu giá bán cao hơn giá thành các nhà khai thác dầu của Mỹ sẽ phải ngừng sản xuất và rút lui khỏi thị trường Tuy nhiên thực tế cho thấy phân tích này là chưa đủ thuyết phục, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật các nhà sản xuất của Mỹ đã cắt giảm được chi phí khai thác đáng kể, với mức giá hiện nay các nhà sản xuất dầu khí đá phiến của Mỹ vẫn có lợi nhuận
Một số nguồn tin khác lại cho hay nguyên nhân Saudi Arabia từ chối cắt giảm sản lượng liên quan trực tiếp đến Mỹ nhưng hoàn toàn trái ngược với giả thiết trên Tháng 9/2014, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry thăm quốc gia Hồi giáo này và mục đích của chuyến thăm là để hai bên thống nhất chính sách dầu khí của Saudi Arabia nhằm hạ giá dầu thô Chỉ ít lâu sau, Saudi Arabia nâng mức sản lượng lên và từ chối mọi yêu cầu của
Trang 11Theo các nhà phân tích các động cơ địa chính trị trong trường hợp này chủ yếu liên quan tới Nga và Iran Đối với Mỹ, đó là việc chuyển hóa những xung đột với hai quốc gia này thành cuộc chiến kinh tế mà không cần tuyên bố hay can thiệp quân sự (ít nhất là tới thời điểm này) Đối với cả hai nước trên, giá dầu sụt giảm gây ra khủng hoảng kinh tế do tầm quan trọng chiến lược của mặt hàng xuất khẩu này đối nền kinh tế của họ Trong trường hợp của Nga, tác động tiêu cực này còn đồng hành với các biện pháp trừng phạt của Mỹ và các đồng minh châu Âu, bắt nguồn từ cuộc xung đột tại miền Đông Ukraine, việc mở rộng NATO với các căn cứ quân sự Mỹ tại các nước láng giềng của Nga và dự án của Moskva xây dựng một đường ống khí đốt tới châu Âu vòng qua phía Nam Ukraine
Còn với Iran, đó là các vấn đề về chương trình hạt nhân, ảnh hưởng tại khu vực Trung Đông và các dự án dẫn dầu và khí đốt Các vấn đề này cũng liên quan trực tiếp tới Saudi Arabia và Qatar, những nước muốn kiểm soát hoàn toàn dòng chảy khí đốt tới châu
Âu Để đạt được mục tiêu này, họ phải tìm cách cắt đứt nguồn cung của Nga, thay thế bằng khí đốt của Qatar và các đồng minh trong khu vực Trung Đông, và đảm bảo đường vận tải dầu khí của mình không bị Nga hay Iran can thiệp Và chính ở điểm này, vai trò của Syria là hết sức quan trọng Chính quyền của ông Bashar Al-Assad tại Syria luôn là một đồng minh quan trọng của Nga và Iran Ông Assad từng tuyên bố (chỉ hai tháng trước khi nổ ra cuộc nổi dậy vũ trang chống đối chính quyền của ông) rằng sẽ tham gia một “đường ống khí đốt Hồi giáo”, chuyển khí đốt của Iran qua Iraq và Syria để kết nối tới Hy Lạp và sau đó là thị trường Liên minh châu Âu Dự án này nếu thực hiện sẽ mang lại nhiều lợi nhuận cho Syria, và cả Liên minh châu Âu cũng được hưởng lợi, nhưng châu
Âu đã phản đối với sự trợ giúp từ các đồng minh của họ tại vùng Vịnh Mặt khác, Syria cũng nằm trên tuyến đường mà Qatar và các đối tác dự định xây dựng Tuy nhiên Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia hiện vẫn là nhà trung chuyển khí đốt quan trọng của châu Âu, lại nằm ngoài tuyến đường mà Nga và Iran hậu thuẫn Những quyền lợi địa chính trị này giải thích vì sao Saudi Arabia, Qatar, Thổ Nhĩ Kỳ và các đồng minh phương Tây của họ lại ủng hộ phe nổi dậy tại Syria Đối với Mỹ, chiến thắng của các đồng minh của họ tại khu vực trong cuộc tranh chấp các dự án đường ống này đồng nghĩa với việc đảm bảo các