1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Luận văn kinh tế: Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam

175 435 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận án kinh tế gồm 178 trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo. MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 1.1. Bối cảnh nghiên cứu 5 1.1.1. Lạm phát mục tiêu và ổn định kinh tế vĩ mô 5 1.1.2. Lạm phát mục tiêu và kinh tế Việt Nam 6 1.2. Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về chính sách lạm phát mục tiêu 7 1.2.1. Các nghiên cứu ngoài nước về chính sách lạm phát mục tiêu 7 1.2.2. Các nghiên cứu trong nước về chính sách lạm phát mục tiêu 9 1.3. Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về cơ chế tỷ giá hối đoái 11 1.3.1. Các nghiên cứu ngoài nước về cơ chế tỷ giá hối đoái 11 1.3.2. Các nghiên cứu trong nước về cơ chế tỷ giá hối đoái 14 1.4. Mối quan hệ tỷ giá hối đoái lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 17 1.4.1. Các nghiên cứu ngoài nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 17 1.4.2. Các nghiên cứu trong nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 19 1.5. Khoảng trống trong các nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và đóng góp của luận án 23 1.5.1. Khoảng trống trong các nghiên cứu 23 1.5.2. Phương pháp tiếp cận của luận án 25 1.5.3. Kết quả nghiên cứu dự kiến, đóng góp và điểm mới của luận án 26 1.5.4. Bố cục trình bày luận án 27 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ CƠ CHẾ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 30 2.1. Một số vấn đề lý luận về chính sách lạm phát mục tiêu 30 2.1.1. Lạm phát và chính sách lạm phát mục tiêu 30 2.1.2. Đặc trưng của chính sách lạm phát mục tiêu 32 2.1.3. Lợi ích của chính sách lạm phát mục tiêu 33 2.1.4. Thách thức đối với chính sách lạm phát mục tiêu 37 2.1.5. Các vấn đề kỹ thuật trong quá trình thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 39 2.1.6. Điều kiện để áp dụng lạm phát mục tiêu 43 2.2. Một số vấn đề lý luận về cơ chế tỷ giá hối đoái 46 2.2.1. Tỷ giá hối đoái và cơ chế tỷ giá hối đoái 46 2.2.2. Phân loại cơ chế tỷ giá hối đoái 47 2.2.3. Một số tiêu chí cơ bản để lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái 51 2.2.4. Điều kiện để linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái 52 2.3. Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và chính sách lạm phát mục tiêu 56 2.3.1. Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và chính sách lạm phát mục tiêu 56 2.3.2. Mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái sang lạm phát và khả năng thực thi lạm phát mục tiêu 63 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ KHẢ NĂNG THỰC THI CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 70 3.1. Thực trạng chính sách tiền tệ trong giai đoạn 2005 2015 tại Việt Nam 70 3.1.1. Cơ sở pháp lý của chính sách tiền tệ 70 3.1.2. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ 71 3.1.3. Đánh giá khuôn khổ chính sách tiền tệ hiện nay và sự cần thiết thực thi 73 3.2. Khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam 75 3.2.1 Về hạ tầng kỹ thuật 75 3.2.2. Về thể chế độc lập của Ngân hàng Nhà nước 78 3.2.3. Về hệ thống tài chính 80 3.2.4. Về cơ cấu kinh tế 85 CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ LỰA CHỌN CƠ CHẾ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI NHẰM THỰC THI CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 94 4.1. Thực trạng tỷ giá hối đoái giai đoạn 20052015 tại Việt Nam 94 4.1.1. Cơ sở pháp lý về cơ chế tỷ giá hối đoái 94 4.1.2. Thực trạng diễn biến tỷ giá hối đoái 96 4.1.3. Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của cơ chế tỷ giá hối đoái 99 4.2. Lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực thi chính sách lạm phát mục 102 4.2.1. Dựa trên cơ sở Lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” 102 4.2.2. Dựa trên cơ sở mô hình đánh giá hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát 112 4.2.3. Đánh giá việc lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực thi chính sách 123 CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI NHẰM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 127 5.1. Cơ chế điều hành chính sách lạm phát mục tiêu và lộ trình thực hiện 127 5.1.1. Thể chế của Ngân hàng Nhà nước 127 5.1.2. Xác định mục tiêu chính sách lạm phát mục tiêu và công cụ truyền dẫn 129 5.1.3. Xác định chỉ số và khung lạm phát mục tiêu 130 5.1.4. Lộ trình thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu 133 5.2. Giải pháp linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện lạm phát mục tiêu ở Việt Nam 135 5.2.1. Xây dựng tỷ giá trung tâm và điều chỉnh biên độ tỷ giá phù hợp 135 5.2.2. Sử dụng hiệu quả dự trữ ngoại hối để can thiệp ổn định thị trường ngoại hối 136 5.2.3. Phát triển thị trường ngoại hối 142 5.2.4. Quản lý và giám sát rủi ro tỷ giá 143 KẾT LUẬN 148 CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Việt Nam đã từng trải qua thời kỳ lạm phát phi mã của giai đoạn 1989 1991 (lạm phát trung bình hàng năm ở mức 57%), song Việt Nam cũng đã vượt qua giai đoạn này bằng các giải pháp tiền tệ phù hợp, và lạm phát đã hạ nhiệt kể từ năm 1995 xuống mức 12,9%. Đây được xem là một thành tựu nhất định của Việt Nam. Tuy nhiên đánh giá khách quan, những chính sách chống lạm phát trong giai đoạn này phát huy hiệu lực tức thời là do nền kinh tế lúc đó còn nhỏ, độ mở kinh tế thấp. Trong giai đoạn 2005 đến nay, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhờ vậy mà kinh tế đất nước đã có những thay đổi lớn cả về vị thế và tiềm lực, đạt được nhiều thành tựu nổi bật, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng GDP (bình quân hàng năm hơn 6% trong giai đoạn 2005 2015). Cũng như các nền kinh tế mới nổi, các chính sách kinh tế của Chính phủ trong thời gian qua chủ yếu tập trung, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay nói cách khác tăng trưởng kinh tế đã được chú trọng hơn trong việc giải quyết mối quan hệ tương hỗ giữa tăng trưởng và lạm phát. Nên ngay khi lạm phát quay trở lại vào năm 2005 đã diễn biến phức tạp hơn, nhiều thời điểm đã vượt mục tiêu điều hành và đã đạt ở mức 2 con số. Lạm phát trong giai đoạn này đã chịu tác động rất lớn từ các yếu tố bên ngoài do quá trình hội nhập quốc tế và đặc biệt là lạm phát kỳ vọng có ảnh hưởng lớn đến lạm phát thực tế. Việc quản lý ổn định giá cả đã thật sự phải đối mặt với nhiều khó khăn và lạm phát đã trở thành một hiện tượng kinh tế đầy quan ngại. Theo kinh nghiệm điều hành của một số nước thì trong bối cảnh áp lực lạm phát ngày càng gia tăng, các nước thường hướng tới mục tiêu hàng đầu và duy nhất trong công tác điều hành chính sách tiền tệ đó là duy trì lạm phát thấp và ổn định. Và khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thường được chú ý nhất lúc này chính là khuôn khổ chính sách lạm phát mục tiêu (LPMT). Chính sách LPMT là một cơ chế chính sách tiền tệ (CSTT) đã được Ngân hàng Trung ương (NHTW) nhiều nước trên thế giới áp dụng, bao gồm cả các quốc gia phát triển như Anh, Úc, Nhật Bản… cũng như các nước đang phát triển như Brazin, Thái Lan, Indonexia… Sự áp dụng thành công chính sách lạm phát mục tiêu của các quốc gia trong việc duy trì một tỷ lệ lạm phát ổn định khiến cho Ngân hàng Trung ương nhiều nước cũng cân nhắc việc sử dụng chính sách này. Tuy nhiên, liệu đây có phải là một khung chính sách có thể áp dụng với mọi quốc gia và là một lựa chọn thích hợp cho Việt Nam? Một trong những điều kiên quyết, trong trường hợp Việt Nam thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu là phải có cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt, vì chỉ có linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái thì chính sách tiền tệ mới được đảm bảo tính độc lập, từ đó mới có thể thực hiện được chính sách lạm phát mục tiêu. Tuy nhiên, tỷ giá cũng là một trong những vấn đề rất được quan tâm trong một nền kinh tế, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, đang hòa nhập vào kinh tế thế giới như Việt Nam. Có thể nói, tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là yếu tố rất nhạy cảm, có ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội; nhất là trong bối cảnh mở cửa hội nhập của Việt Nam, tỷ giá hối đoái càng có vai trò quan trọng, là một “cầu nối” hoạt động kinh tế trong và ngoài nước. Được coi là mấu chốt trong quản lý kinh tế vĩ mô, tỷ giá hối đoái có tác động ngược trở lại đến các mối quan hệ kinh tế, và lên giá cả hàng hóa. Vì vậy việc linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái để thực hiện được chính sách lạm phát mục tiêu không phải là một việc dễ dàng. Bởi đối với một nền kinh tế đang phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng như Việt Nam thì những cú sốc từ bên ngoài vàhoặc sự phát triển chưa toàn diện của thị trường tài chính nói chung và thị trường ngoại hối nói riêng có khả năng tạo ra sự biến động mạnh của tỷ giá, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến các biến số kinh tế vĩ mô, trong đó bao gồm cả lạm phát và mục tiêu lạm phát. Thực tế này đòi hỏi điều hành chính sách tỷ giá cần thận trọng và hợp lý, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam sẽ thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu. Vấn đề trên đặt ra yêu cầu cần tiếp tục có nhiều nghiên cứu khoa học có giá trị ứng dụng cao về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu. Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sỹ.

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Bối cảnh nghiên cứu 5

1.1.1 Lạm phát mục tiêu và ổn định kinh tế vĩ mô 5

1.1.2 Lạm phát mục tiêu và kinh tế Việt Nam 6

1.2 Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về chính sách lạm phát mục tiêu 7

1.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước về chính sách lạm phát mục tiêu 7

1.2.2 Các nghiên cứu trong nước về chính sách lạm phát mục tiêu 9

1.3 Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về cơ chế tỷ giá hối đoái 11

1.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước về cơ chế tỷ giá hối đoái 11

1.3.2 Các nghiên cứu trong nước về cơ chế tỷ giá hối đoái 14

1.4 Mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 17

1.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 17

1.4.2 Các nghiên cứu trong nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 19

1.5 Khoảng trống trong các nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và đóng góp của luận án 23

1.5.1 Khoảng trống trong các nghiên cứu 23

1.5.2 Phương pháp tiếp cận của luận án 25

1.5.3 Kết quả nghiên cứu dự kiến, đóng góp và điểm mới của luận án 26

1.5.4 Bố cục trình bày luận án 27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ CƠ CHẾ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 30

2.1 Một số vấn đề lý luận về chính sách lạm phát mục tiêu 30

2.1.1 Lạm phát và chính sách lạm phát mục tiêu 30

Trang 2

2.1.2 Đặc trưng của chính sách lạm phát mục tiêu 32

2.1.3 Lợi ích của chính sách lạm phát mục tiêu 33

2.1.4 Thách thức đối với chính sách lạm phát mục tiêu 37

2.1.5 Các vấn đề kỹ thuật trong quá trình thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 39

2.1.6 Điều kiện để áp dụng lạm phát mục tiêu 43

2.2 Một số vấn đề lý luận về cơ chế tỷ giá hối đoái 46

2.2.1 Tỷ giá hối đoái và cơ chế tỷ giá hối đoái 46

2.2.2 Phân loại cơ chế tỷ giá hối đoái 47

2.2.3 Một số tiêu chí cơ bản để lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái 51

2.2.4 Điều kiện để linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái 52

2.3 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và chính sách lạm phát mục tiêu 56

2.3.1 Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và chính sách lạm phát mục tiêu 56

2.3.2 Mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái sang lạm phát và khả năng thực thi lạm phát mục tiêu 63

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ KHẢ NĂNG THỰC THI CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 70

3.1 Thực trạng chính sách tiền tệ trong giai đoạn 2005 - 2015 tại Việt Nam 70 3.1.1 Cơ sở pháp lý của chính sách tiền tệ 70

3.1.2 Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ 71

3.1.3 Đánh giá khuôn khổ chính sách tiền tệ hiện nay và sự cần thiết thực thi 73

3.2 Khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam 75

3.2.1 Về hạ tầng kỹ thuật 75

3.2.2 Về thể chế độc lập của Ngân hàng Nhà nước 78

3.2.3 Về hệ thống tài chính 80

3.2.4 Về cơ cấu kinh tế 85

CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ LỰA CHỌN CƠ CHẾ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI NHẰM THỰC THI CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 94

4.1 Thực trạng tỷ giá hối đoái giai đoạn 2005-2015 tại Việt Nam 94

Trang 3

4.1.1 Cơ sở pháp lý về cơ chế tỷ giá hối đoái 94

4.1.2 Thực trạng diễn biến tỷ giá hối đoái 96

4.1.3 Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của cơ chế tỷ giá hối đoái 99

4.2 Lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực thi chính sách lạm phát mục 102

4.2.1 Dựa trên cơ sở Lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” 102

4.2.2 Dựa trên cơ sở mô hình đánh giá hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát 112

4.2.3 Đánh giá việc lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực thi chính sách 123

CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI NHẰM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 127

5.1 Cơ chế điều hành chính sách lạm phát mục tiêu và lộ trình thực hiện 127 5.1.1 Thể chế của Ngân hàng Nhà nước 127

5.1.2 Xác định mục tiêu chính sách lạm phát mục tiêu và công cụ truyền dẫn 129

5.1.3 Xác định chỉ số và khung lạm phát mục tiêu 130

5.1.4 Lộ trình thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu 133

5.2 Giải pháp linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện lạm phát mục tiêu ở Việt Nam 135

5.2.1 Xây dựng tỷ giá trung tâm và điều chỉnh biên độ tỷ giá phù hợp 135

5.2.2 Sử dụng hiệu quả dự trữ ngoại hối để can thiệp ổn định thị trường ngoại hối 136

5.2.3 Phát triển thị trường ngoại hối 142

5.2.4 Quản lý và giám sát rủi ro tỷ giá 143

KẾT LUẬN 148 CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BQLNH Tỷ giá bình quân liên ngân hàng

CPI Chỉ số giá tiêu dùng

CSTT Chính sách tiền tệ

DSGE Mô hình cân bằng động học ngẫu nhiên tổng quát DTBB Dự trữ bắt buộc

GDP Tổng sản lượng quốc dân

IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế

LPMT Lạm phát mục tiêu

NHTW Ngân hàng Trung ương

NHNN Ngân hàng Nhà nước

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

OLS Hồi quy phương trình đơn dạng chuẩn

REER Tỷ giá hiệu lực thực

TCTD Tổ chức tín dụng

TCTK Tổng Cục Thống kê

TGHĐ Tỷ giá hối đoái

TTNH Thị trường ngoại hối

TTNTLNH Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

VAR Mô hình tự hồi quy theo vectơ

VECM Mô hình hiệu chỉnh sai số vectơ

VND Việt Nam Đồng

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Một số nguyên tắc lựa chọn cơ chế TGHĐ 51

Bảng 3.1: Các biến số dùng trong các mô hình VAR 77

Bảng 3.2: Cấu trúc mô hình VECM tháng/quý 78

Bảng 3.3: Giá trị và tốc độ tăng xuất nhập khẩu giai đoa ̣n 2005-2015 87

Bảng 3.4: Độ mở ngoại thương giai đoạn 2005-2015 (%) 87

Bảng 4.1: GDP phân theo khu vực 114

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị 117

Bảng 4.3: Kết quả độ trễ của mô hình 118

Bảng 4.4 : Hệ số hiệu ứng dẫn truyền tỷ giá sang lạm phát 119

Bảng 4.5: Kết quả phương sai của CPI 120

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Các điều kiện ban đầu áp dụng chính sách LPMT 45

Hình 2.2: Quan hệ IS-LM-BP dưới cơ chế tỷ giá cố định 59

Hình 2.3: Quan hệ IS-LM-BP dưới cơ chế tỷ giá linh hoạt 61

Hình 2.4: Lý thuyết Bộ ba bất khả thi 62

Hình 2.5: Tỷ giá ảnh hưởng đến lạm phát qua kênh trực tiếp 64

Hình 3.1: CPI mục tiêu và CPI thực tế giai đoạn 2005-2015 73

Hình 3.2: Phân loại thị trường tài chính 80

Hình 3.3: Diễn biến GDP giai đoạn 2005-2015 86

Hình 3.4: Diễn biến CPI giai đoạn 2005-2015 88

Hình 3.5: Diễn biến Đô la hóa giai đoạn 2005-2015 89

Hình 4.1: Mức độ tự do hóa giao dịch vốn 102

Hình 4.2: Diễn biến dòng vốn giai đoạn 2005-2015 109

Hình 4.3: Phản ứng cú sốc của tỷ giá đến lạm phát 118

Hình 5.1: Mô hình NHNN độc lập với Chính phủ trong thực thi CSTT 128

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Việt Nam đã từng trải qua thời kỳ lạm phát phi mã của giai đoạn 1989 - 1991 (lạm phát trung bình hàng năm ở mức 57%), song Việt Nam cũng đã vượt qua giai đoạn này bằng các giải pháp tiền tệ phù hợp, và lạm phát đã hạ nhiệt kể từ năm

1995 xuống mức 12,9% Đây được xem là một thành tựu nhất định của Việt Nam Tuy nhiên đánh giá khách quan, những chính sách chống lạm phát trong giai đoạn này phát huy hiệu lực tức thời là do nền kinh tế lúc đó còn nhỏ, độ mở kinh tế thấp

Trong giai đoạn 2005 đến nay, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh

tế thế giới Nhờ vậy mà kinh tế đất nước đã có những thay đổi lớn cả về vị thế và tiềm lực, đạt được nhiều thành tựu nổi bật, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng GDP (bình quân hàng năm hơn 6% trong giai đoạn 2005 - 2015) Cũng như các nền kinh tế mới nổi, các chính sách kinh tế của Chính phủ trong thời gian qua chủ yếu tập trung, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - hay nói cách khác tăng trưởng kinh tế đã được chú trọng hơn trong việc giải quyết mối quan hệ tương hỗ giữa tăng trưởng và lạm phát Nên ngay khi lạm phát quay trở lại vào năm 2005 đã diễn biến phức tạp hơn, nhiều thời điểm đã vượt mục tiêu điều hành và đã đạt ở mức 2 con số Lạm phát trong giai đoạn này đã chịu tác động rất lớn từ các yếu tố bên ngoài do quá trình hội nhập quốc tế và đặc biệt là lạm phát kỳ vọng có ảnh hưởng lớn đến lạm phát thực tế Việc quản lý ổn định giá cả đã thật sự phải đối mặt với nhiều khó khăn và lạm phát đã trở thành một hiện tượng kinh tế đầy quan ngại

Theo kinh nghiệm điều hành của một số nước thì trong bối cảnh áp lực lạm phát ngày càng gia tăng, các nước thường hướng tới mục tiêu hàng đầu và duy nhất trong công tác điều hành chính sách tiền tệ đó là duy trì lạm phát thấp và ổn định

Và khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thường được chú ý nhất lúc này chính là khuôn khổ chính sách lạm phát mục tiêu (LPMT) Chính sách LPMT là một cơ chế chính sách tiền tệ (CSTT) đã được Ngân hàng Trung ương (NHTW) nhiều nước trên thế giới áp dụng, bao gồm cả các quốc gia phát triển như Anh, Úc, Nhật Bản… cũng như các nước đang phát triển như Brazin, Thái Lan, Indonexia… Sự áp dụng thành công chính sách lạm phát mục tiêu của các quốc gia trong việc duy trì một tỷ

Trang 8

lệ lạm phát ổn định khiến cho Ngân hàng Trung ương nhiều nước cũng cân nhắc việc sử dụng chính sách này Tuy nhiên, liệu đây có phải là một khung chính sách

có thể áp dụng với mọi quốc gia và là một lựa chọn thích hợp cho Việt Nam?

Một trong những điều kiên quyết, trong trường hợp Việt Nam thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu là phải có cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt, vì chỉ có linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái thì chính sách tiền tệ mới được đảm bảo tính độc lập, từ đó mới có thể thực hiện được chính sách lạm phát mục tiêu Tuy nhiên,

tỷ giá cũng là một trong những vấn đề rất được quan tâm trong một nền kinh tế, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, đang hòa nhập vào kinh tế thế giới như Việt Nam Có thể nói, tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là yếu tố rất nhạy cảm, có ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội; nhất là trong bối cảnh mở cửa hội nhập của Việt Nam, tỷ giá hối đoái càng có vai trò quan trọng, là một “cầu nối” hoạt động kinh tế trong và ngoài nước Được coi là mấu chốt trong quản lý kinh tế

vĩ mô, tỷ giá hối đoái có tác động ngược trở lại đến các mối quan hệ kinh tế, và lên giá cả hàng hóa

Vì vậy việc linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái để thực hiện được chính sách lạm phát mục tiêu không phải là một việc dễ dàng Bởi đối với một nền kinh tế đang phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng như Việt Nam thì những cú sốc từ bên ngoài và/hoặc sự phát triển chưa toàn diện của thị trường tài chính nói chung và thị trường ngoại hối nói riêng có khả năng tạo ra sự biến động mạnh của tỷ giá, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến các biến số kinh tế vĩ mô, trong đó bao gồm cả lạm phát và mục tiêu lạm phát Thực tế này đòi hỏi điều hành chính sách tỷ giá cần thận trọng và hợp

lý, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam sẽ thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu Vấn

đề trên đặt ra yêu cầu cần tiếp tục có nhiều nghiên cứu khoa học có giá trị ứng dụng cao về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sỹ

Trang 9

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là lựa chọn được cơ chế tỷ giá hối đoái phù hợp để thực hiện được chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận án đã:

- Hệ thống hóa các mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

- Phân tích thực trạng tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát và khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam

- Rút ra những kết luận về việc lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu và đề xuất lộ trình cũng như các giải pháp cần thiết để thực thi

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là lạm phát mục tiêu, cơ chế tỷ giá hối đoái, và mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với việc thực hiện lạm phát mục tiêu Theo đó, luận án tập trung nghiên cứu các lý luận cơ bản về lạm phát mục tiêu, cơ chế tỷ giá hối đoái; và nghiên cứu mối quan hệ/tác động giữa tỷ giá hối đoái - lạm phát và khả năng thực hiện lạm phát mục tiêu, trong đó luận án có kiểm định lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” và có sử dụng mô hình phân tích tự hồi quy theo vectơ (VAR) để đo lường hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát

Phạm vi nghiên cứu của luận án: luận án nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài trong giai đoạn 2005-2015 và đề xuất các biện pháp thực hiện đến năm

2025 tại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp nghiên cứu của luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp định lượng Cụ thể, nghiên cứu tiến hành đo lường quy mô và xác định thời điểm của hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá hối đoái vào lạm phát Mô hình phân tích tự hồi quy theo vectơ VAR được sử dụng với sự hỗ trợ của phần mềm Eview 8.1 để có thể phân tích sâu hơn phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) với

Trang 10

những thay đổi của tỷ giá Từ đó đưa ra những nhận định và một số kiến nghị chính sách liên quan Số liệu sử dụng từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2015 bao gồm các số liệu về giá dầu (OIL), tỷ giá hối đoái trên thị trường liên ngân hàng (ER), khoảng cách sản lượng (OPGAP), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), cung tiền VNĐ (M2), lãi suất tiền gửi USD kỳ hạn 3 tháng, chỉ số Đôla hóa (FCD/M2), và lãi suất tiền gửi VND

kỳ hạn 3 tháng Nguồn để lấy các số liệu thống kê nêu trên là từ Tổng cục Thống kê (TCTK), Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Thống kê tài chính quốc tế của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), và Hãng tin Reuters

5 Kết cấu của luận án

Kết cấu của luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được chia thành 5 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về chính sách lạm phát mục tiêu và cơ chế tỷ giá hối đoái

Chương 3: Thực trạng chính sách tiền tệ và khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam

Chương 4: Thực trạng tỷ giá hối đoái và lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực thi chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam

Chương 5: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực thi chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu

1.1.1 Lạm phát mục tiêu và ổn định kinh tế vĩ mô

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong bối cảnh kinh tế vĩ mô và lạm phát ổn định, nền kinh tế sẽ vận hành thuận lợi và hiệu quả hơn, với các kết quả tích cực về tích lũy, đầu tư, tăng trưởng, và việc làm, qua đó góp phần cải thiện đời sống người dân Lạm phát cao làm giảm thu nhập thực của người dân, nếu diễn biến trong một thời gian dài sẽ không khuyến khích đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời kích hoạt bong bóng tài sản Hệ quả đi kèm là tăng trưởng kinh tế thấp, thậm chí có cả những bất ổn về mặt xã hội và chính trị Trong khi đó, giảm phát/thiểu phát cũng để lại nhiều hệ lụy tiêu cực, khi nó làm tăng tiền lương thực, kéo theo suy thoái hoặc trì trệ kinh tế Hơn nữa, giảm phát cũng làm tăng lãi suất thực, do đó làm tăng giá trị của các khoản nợ danh nghĩa; khi đó, tình trạng vỡ nợ

có thể xảy ra trên diện rộng

Ổn định lạm phát góp phần hạn chế các tín hiệu méo mó về giá cả khiến nguồn lực bị phân bổ không hiệu quả Vì vậy, làm thế nào duy trì và kiểm soát được lạm phát ở mức hợp lý trở thành vấn đề trung tâm, mục tiêu tối cao của CSTT để phát huy tác dụng kích thích và giảm tác động cản trở của lạm phát Nếu đảm bảo

sự ổn định tiền tệ và duy trì lạm phát ở mức hợp lý, CSTT sẽ góp phần thực hiện tốt mục tiêu tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, thực tế cho thấy lợi ích ngắn hạn về giảm

tỷ lệ thất nghiệp hay tăng tổng sản lượng GDP có thể xung đột với mục tiêu ổn định giá cả Do đó, chủ trương nâng lãi suất để chống lạm phát thường vấp phải sự phản đối từ công luận do hệ lụy đi kèm là tăng thất nghiệp và giảm tốc độ tăng trưởng Bên cạnh đó, việc NHTW có độc lập trong mục tiêu điều hành hay không cũng là một vấn đề, bởi nếu NHTW chịu sức ép từ Chính phủ trong việc kích thích tăng trưởng thì cam kết với mục tiêu lạm phát sẽ yếu đi Nếu không có chiến lược thông tin và tạo niềm tin phù hợp, NHTW sẽ khó nhận được sự ủng hộ của thị trường khi chuyển sang tư duy chống/kiểm soát lạm phát

Trang 12

Trước tình hình đó, nhiều quốc gia đã chính thức đặt mục tiêu ổn định lạm phát lên ưu tiên cao nhất Theo đó, đến nay đã có nhiều quốc gia áp dụng và cân nhắc áp dụng chính sách LPMT Tuy nhiên, cơ chế này vẫn còn hết sức mới mẻ Những nghiên cứu đã có cả về lý luận và thực tiễn đều chưa cho thấy tính ưu việt tuyệt đối của bất cứ dạng thức điều hành chính sách LPMT nào, chủ yếu do bối cảnh và cơ cấu kinh tế của từng nước

1.1.2 Lạm phát mục tiêu và kinh tế Việt Nam

Thực tế cho thấy dù đạt được khá nhiều thành tựu kinh tế - xã hội, Việt Nam vẫn phải chịu lạm phát cao trong nhiều giai đoạn, đặc biệt trong thời kỳ hậu gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), lạm phát cao và đi kèm với bất ổn trong nhiều năm Trong những năm đầu sau khi mới gia nhập WTO, Việt Nam đã gặp phải nhiều rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô chưa từng hiện hữu trước đây Chẳng hạn, giá hàng hóa thế giới tăng cao trong điều kiện nền kinh tế khá mở đối với nhập khẩu và chưa phát triển được các biện pháp hạn chế nhập khẩu phù hợp với quy định của WTO Một loạt rủi ro khác đi kèm với các dòng vốn nước ngoài vào ồ ạt, trong khi

tỷ giá được neo (thiếu linh hoạt) và khả năng giám sát tài chính còn bất cập Bản thân những áp lực lạm phát dồn tụ từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào đầu tư công và tăng trưởng tín dụng cũng chỉ hiện hữu trong các năm sau 2007 Chính vì vậy, trong thời gian đầu, các cơ quan hoạch định chính sách dường như gặp lúng túng khi ứng phó với các loại rủi ro này Tuy nhiên, công tác điều hành chính sách kinh tế vĩ mô đã dần dần trở nên bài bản hơn Những cải thiện này xuất phát từ sự học hỏi kinh nghiệm từ những lần ứng phó với bất ổn kinh tế vĩ mô

Trong thời gian gần đây, việc thay đổi tư duy điều hành của Chính phủ và NHNN - dành ưu tiên cao nhất cho kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô - chính là một bước khởi đầu thuận lợi Chính ở đây, Chính phủ và NHNN cần cân nhắc một khuôn khổ chính sách nhằm duy trì lạm phát ổn định, tạo điều kiện cho phân bổ nguồn lực hiệu quả và kích thích đầu tư, tăng trưởng trong dài hạn Khuôn khổ chính sách LPMT là một đối tượng phù hợp để có những cân nhắc thấu đáo cả

về khả năng ứng dụng và, nếu có, điều chỉnh cần thiết và lộ trình để áp dụng ở Việt Nam

Trang 13

Một trong những điều kiên quyết, trong trường hợp Việt Nam thực hiện chính sách LPMT, là phải có chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt Tuy nhiên, TGHĐ là một biến số kinh tế vĩ mô chịu tác động đan xen phức tạp và tác động đến nhiều biến kinh tế vĩ mô khác như: dòng vốn đầu tư nước ngoài nhất là dòng vốn đầu tư gián tiếp, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của nền kinh tế cũng như các khoản vay bằng ngoại tệ của các tổ chức, doanh nghiệp trong nước, hàm lượng nhập khẩu kết tinh trong xuất khẩu Do vậy, điều hành chính sách tỷ giá là một vấn đề hết sức khó khăn Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu sắc vào thị trường tài chính tiền tệ quốc tế Luồng vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là luồng vốn đầu tư gián tiếp đổ vào thị trường Việt Nam gia tăng mạnh, làm thay đổi quan hệ về cung cầu ngoại tệ trên thị trường, ảnh hưởng không nhỏ tới diễn biến và công tác điều hành tỷ giá, quản lý ngoại hối của NHNN Trước những biến chuyển cơ bản của các cân đối vĩ mô trên thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và sự xuất hiện của nhân tố tác động mới với những xu hướng biến động và hệ quả khó lường, trong bối cảnh Việt Nam áp dụng chính sách LPMT, thì việc điều hành chính sách tỷ giá cần thận trọng và hợp lý, đòi hỏi có nhiều nghiên cứu sâu, rộng

Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp những luận chứng khoa học, cùng các bằng chứng định lượng ở mức độ cho phép, về lạm phát mục tiêu, cơ chế tỷ giá hối đoái, khả năng thực hiện lạm phát mục tiêu, việc lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam, cũng như những đề xuất để thực hiện

1.2 Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về chính sách lạm phát mục tiêu

1.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước về chính sách lạm phát mục tiêu

Mishkin (2000, 2001, 2004) đã đưa ra định nghĩa rõ ràng về chính sách LPMT, đề cập đến những lợi ích và bất lợi của chính sách LPMT và rút ra một số bài học từ kinh nghiệm thực hiện chính sách LPMT của Chile và Brazil trong giai đoạn cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000 Theo đó nghiên cứu đã gợi ý rằng chính sách LPMT là một chiến lược chính sách tiền tệ đã được sử dụng thành công ở các nước công nghiệp và đang trở thành một sự lựa chọn hấp dẫn cho các

Trang 14

nước có nền kinh tế thị trường mới nổi như Chile, Brazil, Cộng hòa Séc, Ba Lan, Nam Phi

Freedman và Laxton (2009) đã xem xét mức lạm phát tại New Zealand, Canada và Anh Quốc trong giai đoạn từ cuối những năm 1960 đến đầu những năm

1990, để đưa ra lý do các nước phải áp dụng chính sách LPMT Đó là do (i) các nước gặp khó khăn trong việc sử dụng neo danh nghĩa khác (mục tiêu tỷ giá và mục tiêu tiền tệ), (ii) các nước mong muốn giảm tỷ lệ lạm phát và neo kỳ vọng lạm phát thông qua một mục tiêu đơn giản có thể quan sát được Nghiên cứu này đã giải quyết vấn đề cốt lõi về việc tại sao NHTW lại lựa chọn tỷ lệ lạm phát thấp là mục tiêu chính sách của mình và tại sao có nhiều nước trên thế giới lựa chọn chính sách LPMT là khuôn khổ để đạt được mục tiêu đó

Schaechter, Stone, và Zelmer (2000) nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng chính sách LPMT của các nước công nghiệp và các nước thị trường mới nổi trong giai đoạn cuối những năm 1990 Nghiên cứu đã đưa ra nhận định về những nền tảng để chính sách LPMT toàn phần được thiết lập thành công, bao gồm: (i) khuôn khổ thể chế; (ii) các vấn đề về hoạt động điều hành chính sách tiền tệ; (iii) các khía cạnh tổ chức của NHTW; và (iv) các vấn đề chuyển đổi Đóng góp quan trọng nhất của các tác giả là khẳng định những yếu tố trên không cần phải được thiết lập tất cả trước khi các nước bắt đầu chuyển đổi sang khuôn khổ chính sách LPMT toàn phần Vì vậy, các nước có nhu cầu chuyển đổi sang chính sách LPMT có thể hoàn thiện dần các điều kiện trên song song với việc triển khai thực hiện chính sách LPMT

Batini, Kuttner và Laxton (2006) đã đánh giá tình hình của 31 nền kinh tế áp dụng chính sách LPMT trong giai đoạn đầu những năm 2000 để đưa ra bốn nhóm điều kiện nhằm thực hiện chính sách LPMT: (i) hạ tầng kỹ thuật; (ii) sức khỏe hệ thống tài chính; (iii) tính độc lập của thể chế; và (iv) cơ cấu kinh tế Nhóm nghiên cứu kết luận rằng cho dù các điều kiện khác nhau có được thỏa mãn hay không thì việc áp dụng chính sách LPMT lúc ban đầu đều mang lại một kết quả tốt Nghiên cứu này có giá trị lớn đối với các nước đang trong quá trình xem xét chuyển đổi sang thực hiện chính sách LPMT, thông qua việc khảo sát, đánh giá thực trạng các nhóm điều kiện nêu trên tại nền kinh tế của nước mình

Trang 15

Freedman và Otker-Robe (2010) đã nghiên cứu nhiều khó khăn, thách thức tại các nước thực hiện chính sách LPMT giai đoạn những năm giữa và cuối 2000

Từ đó các tác giả đưa ra ba điều kiện cốt lõi để thực hiện chính sách LPMT, đó là (i) mục tiêu lạm phát là mục tiêu ưu tiên trong các mục tiêu của chính sách tiền tệ; (ii) không có áp chế tài chính; và (iii) độc lập về công cụ chính sách tiền tệ Đa số các điều kiện và các yếu tố khác được coi là căn bản đối với khuôn khổ chính sách LPMT có thể được thiết lập sau khi đưa ra áp dụng chính sách LPMT, bao gồm: xây dựng các mô hình chính thức để dự báo lạm phát, nghiên cứu về cơ chế phát hành các báo cáo về chính sách tiền tệ hoặc các báo cáo về lạm phát, củng cố hệ thống tài chính thông qua việc cải thiện quy chế giám sát các định chế tài chính và khuyến khích sự phát triển các thị trường trái phiếu dài hạn bằng đồng bản tệ

Như vậy, các nghiên cứu ngoài nước về chính sách LPMT đã cung cấp những lý luận cơ bản về việc thực hiện chính sách LPMT, bao gồm định nghĩa, lợi ích và bất lợi, các khó khăn thách thức cũng như các điều kiện cần thiết để vận hành chính sách LPMT Các luận cứ khoa học này có giá trị to lớn đối với các nước đang thực hiện cũng như các nước chuẩn bị thực hiện chính sách LPMT Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ dừng lại nghiên cứu ở một số nước điển hình đã thực hiện chính sách LPMT trên thế giới mà chưa nghiên cứu các trường hợp của một số nước đang xem xét chuyển sang thực hiện chính sách LPMT như Việt Nam Ngoài ra, các công trình nghiên cứu này mang nhiều giá trị “lịch sử” vì đã đánh giá, phân tích việc thực thi chính sách LPMT của các nước chủ yếu là trong giai đoạn những năm 2000 trở

về trước mà chưa có các nghiên cứu cập nhật tình hình thực hiện chính sách LPMT các năm gần đây Cuối cùng, các nghiên cứu trên cũng chưa xem xét, đánh giá tác động của cơ chế TGHĐ đến việc thực thi chính sách LPMT

1.2.2 Các nghiên cứu trong nước về chính sách lạm phát mục tiêu

Các tác giả Đỗ Thị Đức Minh (2005) và Nguyễn Hữu Nghĩa (2005) nghiên cứu khuôn khổ chính sách tiền tệ ở Việt Nam và đề xuất áp dụng chính sách tiền tệ theo LPMT đến năm 2015 Các nghiên cứu đã đề cập đến các nội dung về chính sách LPMT, phân tích các điều kiện để có thể đưa ra áp dụng cơ chế điều hành chính sách tiền tệ này tại Việt Nam Các tác giả đều cho rằng hiện tại Việt Nam

Trang 16

chưa áp dụng được cơ chế điều hành chính sách LPMT hoàn toàn, tuy nhiên cần có các bước, có lộ trình để chuẩn bị các điều kiện cho việc áp dụng khuôn khổ chính sách LPMT Các nghiên cứu đã đưa ra cơ sở lý luận khoa học về chính sách LPMT, tuy nhiên những đề xuất và lộ trình thực hiện chính sách LPMT tại Việt Nam đến năm 2015 của tác giả đã không còn mang tính “thời sự”

Các tác giả Phí Trọng Hiển (2005), Bùi Duy Hưng (2006), Lý Hoàng Ánh (2007), Nguyễn Thị Hiền và Nguyễn Hoàng Ánh (2013) đã nghiên cứu, so sánh kinh nghiệm áp dụng chính sách LPMT của một số nước như Úc, Brazil, Chile, Hàn Quốc và Thái Lan trong những năm 1990 để đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam Theo các tác giả: (i) lựa chọn chính sách LPMT phải trên cơ sở sau một thời kỳ kiềm chế lạm phát thành công; (ii) chỉ số CPI và chỉ số lạm phát cơ bản phải sử dụng song song để đo lường lạm phát; (iii) chính sách LPMT phải có tính linh hoạt cao; và (iv) chính sách LPMT phải đảm bảo sự công khải minh bạch và gắn liền với trách nhiệm cao của NHTW Tuy nhiên các nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc nêu một

số giải pháp mà chưa có lộ trình/thời gian cụ thể để thực hiện chính sách LPMT tại Việt Nam

Các tác giả Võ Trí Thành (2006) và Bùi Văn Hải (2007) đã đề cập đến những đặc điểm, ưu điểm, hạn chế của chính sách LPMT Đồng thời các tác giả cũng đưa ra các điều kiện áp dụng chính sách tiền tệ theo LPMT Các bài nghiên cứu này đã trích dẫn các bằng chứng thực nghiệm chỉ ra mối liên kết trực tiếp giữa LPMT và phạm vi cụ thể của hoạt động kinh tế nói chung, đã củng cố quan điểm cho rằng chính sách LPMT có mối quan hệ cải thiện toàn bộ hoạt động kinh tế Từ

đó, đóng góp quan trọng nhất của các tác giả là đã nêu một số hàm ý cho Việt Nam (i) mức độ độc lập về thể chế của NHNN, (ii) hạ tầng kỹ thuật; (iii) cơ cấu kinh tế; (iv) trình độ phát triển ngân hàng - tài chính ở Việt Nam Tuy nhiên các nghiên cứu này cũng chưa chỉ ra được lộ trình để thực hiện chính sách LPMT ở Việt Nam

Nhóm nghiên cứu NGND.TS Nguyễn Văn Hà (2007) trong đề tài nghiên cứu cấp ngành Ngân hàng đã (i) cung cấp các sở cứ về phương hướng đổi mới cơ chế điều hành chính sách tiền tệ lấy lạm phát làm mục tiêu ở Việt Nam; và (ii) xác định cơ chế truyền tải của chính sách tiền tệ lấy lạm phát làm mục tiêu vào nền kinh

Trang 17

tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam Nghiên cứu có giá trị cao khi

đã đưa các các kịch bản áp dụng chính sách LPMT đối với Việt Nam cũng như lộ trình và các giải pháp cần thiết Tuy nhiên các giải pháp này chỉ áp dụng đến năm

2013, vì vậy cần phải có các nghiên cứu khác cập nhật trong giai đoạn hiện tại

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam (2012) đã có nghiên cứu “Lạm phát mục tiêu và hàm ý đối với khuôn khổ chính sách tiền tệ ở Việt Nam” Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm các nước áp dụng chính sách LPMT và thực tiễn điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã đánh giá kết quả, hạn chế của cơ chế điều hành chính sách tiền tệ hiện nay của Việt Nam và đưa

ra một số gợi ý chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách tiền tệ hiện hành và tạo tiền đề cho việc áp dụng chính sách LPMT ở Việt Nam Đồng thời các tác giả còn đánh giá khả năng áp dụng chính sách LPMT của Việt Nam Từ đó đề xuất lộ trình và nhóm giải pháp nhằm áp dụng thành công chính sách LPMT ở Việt Nam đến năm 2016 Nghiên cứu có tính ứng dụng tại các cơ quan quản lý của Việt Nam trong việc hoàn thiện các điều kiện và chuyển sang áp dụng chính sách LPMT

Như vậy, các nghiên cứu trong nước về chính sách LPMT đã cung cấp những bài học kinh nghiệm từ các nước đã áp dụng chính sách LPMT trên thế giới,

đã đưa ra những luận chứng khoa học về khả năng áp dụng chính sách LPMT ở Việt Nam, bước đầu đã xây dựng được lộ trình và đề xuất các giải pháp cần thiết để có thể thực hiện được chính sách LPMT Tuy nhiên nội dung của các nghiên cứu dừng lại ở tính “lịch sử” mà chưa cập nhật những diễn biến mới, ngoài ra các nghiên cứu chưa quan tâm đến vai trò của tỷ giá hối đoái trong việc thực thi chính sách LPMT

1.3 Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về cơ chế tỷ giá hối đoái

1.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước về cơ chế tỷ giá hối đoái

Theo nghiên cứu của Mai Thu Hiền (2013), trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về cơ chế TGHĐ, theo đó cơ chế tỷ giá theo Bubula và Otker-Robe (2002) được chia thành 13 loại dựa trên hoạt động của tỷ giá và dự trữ quốc tế; Dubas và các tác giả khác (2005) chia thành 6 loại căn cứ vào sự biến động của tỷ giá đa phương, tỷ giá song phương của một quốc gia với đồng tiền neo vào dự trữ quốc tế; Frankel (2003) chia thành 9 loại; Ghosh và các tác giả khác (2002) chia thành 10

Trang 18

loại bằng cách kết hợp hệ thống “de jure” và “de facto” của IMF; Kutter và Posen (2001) chia thành 4 loại dựa trên mức độ mà theo đó chế độ tỷ giá thực thi những quy định về chính sách; Levy-Yeyati và Sturzenegger (2002) chia thành 5 loại căn

cứ vào sự biến động tỷ giá, sự thay đổi tỷ giá và dự trữ; Nitithanprapas và Willett (2002) chia thành 5 loại; Reinhart và Rogoff (2004) chia thành 15 loại dựa trên sự biến động của tỷ giá song phương; Stone và các tác giả khác (2004) chia thành 8 loại được xác định bởi sự lựa chọn neo danh nghĩa Tuy nhiên nổi bật nhất về việc phân loại cơ chế TGHĐ phải kể đến nghiên cứu của IMF theo hệ thống “de jure” và

“de facto”

Mundell (1961) đã đưa ra lý thuyết về “Vùng tiền tệ tối ưu”, lý thuyết về sự lựa chọn cơ chế tỷ giá tập trung vào những đặc điểm quyết định đến việc xác định một cơ chế tỷ giá xét trên khả năng duy trì cân bằng đối nội và cân bằng đối ngoại Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng (i) đối với các nền kinh tế nhỏ, mở cửa thì cơ chế tỷ giá cố định sẽ phù hợp hơn; (ii) một nước càng ít đa dạng hoá trong cơ cấu sản xuất, xuất khẩu và ngoại thương càng tập trung về địa lý thì cơ chế tỷ giá cố định càng phù hợp; (iii) những nước có cơ cấu xuất khẩu kém đa dạng thì các nguồn thu ngoại hối thường có nhiều biến động, do tập trung vào một số mặt hàng nhất định, và thường có xu hướng neo đậu tỷ giá nhằm tránh những tác động xấu khi tỷ giá biến động mạnh

Frankel (1999) khi nghiên cứu cơ chế tỷ giá hối đoái của các nước trong khoảng thời gian những năm 1980 và những năm 1990 đã khẳng định không thể tồn tại một cơ chế tỷ giá phù hợp với mọi quốc gia, và không có một cơ chế tỷ giá nào phù hợp với một quốc gia mãi mãi Điều quan trọng nhất để trả lời câu hỏi một quốc gia nên áp dụng chế độ tỷ giá cố định hay thả nổi là phải xem xét quy mô và mức độ

mở cửa của quốc gia đó Nghiên cứu đã giúp các nước nhìn nhận rằng không nên theo đuổi một cơ chế tỷ giá tối ưu của một quốc gia nào đó, mà cần phải xem xét điều kiện kinh tế của nước mình và thời điểm áp dụng cơ chế TGHĐ cụ thể

Một lý thuyết thường được các nhà kinh tế của IMF (1997) sử dụng trong lựa chọn cơ chế tỷ giá thì lại tập trung vào những tác động của những biến động ngẫu nhiên trong nền kinh tế quốc nội Theo mô hình này, một cơ chế tỷ giá tối ưu phải

Trang 19

nhằm ổn định hoạt động kinh tế vĩ mô, tức là nhằm giảm thiểu những biến động về sản lượng, tiêu dùng, mức giá cả trong nước và một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác Thứ tự lựa chọn cơ chế tỷ giá cố định hay linh hoạt phụ thuộc vào tính chất và nguồn gốc gây ra biến động đối với nền kinh tế, sự ưu tiên của Chính phủ và cơ cấu đặc thù của nền kinh tế Cơ chế tỷ giá lựa chọn không chỉ thuần túy nằm giữa một

cơ chế hoàn toàn cố định và một cơ chế hoàn toàn thả nổi Thay vào đó, có một loạt những cơ chế tỷ giá với các mức độ linh hoạt khác nhau của tỷ giá phản ánh các mức độ can thiệp khác nhau trên thị trường ngoại hối Lý thuyết này đã giúp các quốc gia xây dựng nguyên tắc lựa chọn là nếu nguyên nhân biến động chủ yếu từ trong nước như thay đổi về cầu tiền tệ thì mức độ cố định của tỷ giá càng cao, còn nguyên nhân biến động chủ yếu từ bên ngoài thì cơ chế tỷ giá phù hợp cần gia tăng mức độ linh hoạt của tỷ giá

IMF (2007) đã đưa ra các điều kiện để linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ: (1) Phát triển thị trường ngoại hối có tính thanh khoản cao, theo đó chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán ở mức nhỏ, phí giao dịch thấp, doanh số giao dịch lớn, hệ thống giao dịch/thanh toán phải thuận tiện, và các đối tượng tham gia thị trường phải rộng; (2) can thiệp của NHTW được thực hiện một cách có chọn lựa hoặc không định trước, theo đó NHTW phải xây dựng chính sách về mục tiêu, thời gian và khối lượng can thiệp; (3) lựa chọn neo danh nghĩa thay thế neo TGHĐ cố định và (4) quản lý và giám sát rủi ro tỷ giá, đặc biệt ở khu vực tư nhân Nghiên cứu có giá trị giúp các quốc gia có cơ sở lý luận để tiến hành khảo sát thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp để đáp ứng những điều kiện cần thiết nêu trên trong quá trình linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ

Như vậy các nghiên cứu ngoài nước về cơ chế TGHĐ đã cung cấp các luận chứng khoa học về các cơ chế TGHĐ khác nhau, cách lựa chọn cơ chế TGHĐ phù hợp với điều kiện của từng nước, cũng như đưa ra các khuyến nghị cần thiết khi thực hiện chuyển đổi cơ chế TGHĐ mang tính chất linh hoạt hơn Tuy nhiên các nghiên cứu chỉ đánh giá TGHĐ trong mối quan hệ với các biến số kinh tế vĩ mô khác mà chưa nhìn nhận trong mối quan hệ với việc thực hiện chính sách LPMT Ngoài ra, các nghiên cứu trên cũng chỉ dừng lại ở việc đưa ra các luận điểm chung

Trang 20

áp dụng cho tất cả các nước trên thế giới mà chưa có nghiên cứu dành riêng cho Việt Nam

1.3.2 Các nghiên cứu trong nước về cơ chế tỷ giá hối đoái

Nguyễn Trần Phúc và Nguyễn Đức Thọ (2009) đã đánh giá chính sách tỷ giá

ở Việt Nam giai đoạn 1985-2008, từ đó đã có những lập luận khá thú vị khi cho rằng cơ chế tỷ giá tại Việt Nam hiện không phải là “thả nổi có quản lý” như NHNN vẫn thường công bố Theo nghiên cứu của hai tác giả, Chính phủ và NHNN hiện đang duy trì việc “quản lý” nhiều hơn là “thả nổi” đối với tỷ giá Bài nghiên cứu đã gợi ý cho NHNN cần quan tâm tới tỷ giá thực hiệu quả (REER - real effective exchange rate) và cho rằng sự thay đổi của chỉ số này cần phải được theo dõi sát sao Tuy nhiên, giai đoạn nghiên cứu 1985-2008 chưa phải là giai đoạn thể hiện rõ các biến chuyển mạnh mẽ trong việc xây dựng chính sách TGHĐ sau khi Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế

Nguyễn Thị Thu Thảo (1995) đã đề cập tới tỷ giá và cơ chế tỷ giá thời điểm

1995 khi cơ chế hai tỷ giá cố định, cứng nhắc đã được thay thế bằng việc NHNN công bố một tỷ giá chính thức và biên dộ dao động so với tỷ giá chính thức Bên cạnh đó, tác giả đã nghiên cứu TGHĐ tại ba quốc gia ở Châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, từ đó phân tích lợi thế cũng như hạn chế của cơ chế tỷ giá cố định và cơ chế tỷ giá linh hoạt, cuối cùng rút ra kinh nghiệm là “ở Việt Nam cơ chế

tỷ giá hỗn hợp phù hợp và đạt hiệu quả tối ưu hơn cả” Nghiên cứu đã có những đóng góp về kinh nghiệm quốc tế và đã hàm ý cho NHNN trong việc xây dựng cơ chế TGHĐ phù hợp, tuy nhiên giai đoạn nghiên cứu những năm 1995 này không còn mang tính “thời sự”

Dương Thị Thanh Mai (2002) đã thu thập kinh nghiệm về điều hành tỷ giá tại ba quốc gia Venuezuela, Thái Lan và Trung Quốc, đồng thời phân tích định lượng các mối quan hệ giữa thay đổi tỷ giá với thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), lạm phát (CPI), xuất nhập khẩu và cán cân thương mại trong giai đoạn 1989-2000 Nghiên cứu đã so sánh kết quả phân tích định tính và phân tích định lượng để đưa ra một số định hướng và kiến nghị chính sách tỷ giá của Việt Nam Như vậy, bên cạnh việc phân tích định tính, nghiên cứu đã có những bước đầu phân

Trang 21

tích định lượng về mối quan hệ giữa TGHĐ và các biến kinh tế vĩ mô khác (bao gồm cả lạm phát) Tuy nhiên nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS và thực tế số liệu của Việt Nam giai đoạn này còn nhiều bất cập, chưa được đồng bộ nên kết quả phân tích còn rất hạn chế, hầu như chỉ có thể dùng làm tài liệu tham chiếu, bổ trợ cho kết quả đã xem xét phân tích định tính trước đó

Lê Thị Tuấn Nghĩa (2004) đã kết hợp nghiên cứu hai nội dung quan trọng là

cơ chế điều hành tỷ giá và hiệu quả của chính sách tiền tệ, đồng thời dành một thời lượng khá lớn để phân tích các công cụ của CSTT như nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ giá… Kinh nghiệm từ các nước Mỹ, Hàn Quốc, và Trung Quốc đã được giới thiệu với trọng tâm là ba công cụ: nghiệp

vụ thị trường mở, lãi suất tái chiết khấu, và dự trữ bắt buộc để làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu tập trung nhiều vào chính sách tiền tệ hơn là hoàn thiện cơ chế TGHĐ Ngoài ra, tác giả đã đề cập tới mô hình của Mundell-Fleming khi phân tích “Bộ ba bất khả thi” trong phần cơ sở lý luận, nhưng nghiên cứu chưa tiến hành khảo sát, đánh giá thực tế tại Việt Nam như tại Luận án này

Hoàng Thị Lan Hương (2009) đã tiến hành thu thập số liệu để kiểm định, tiến hành phân tích các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng theo từng giai đoạn của chế

độ tỷ giá ở Việt Nam từ 2000 đến 2011, đồng thời so sánh Việt Nam với Thái Lan, Trung Quốc và ba quốc gia láng giềng Đông Nam Á khác Nghiên cứu đã đưa ra kết luận về việc lựa chọn cơ chế tỷ giá, điều tiết tỷ giá thông qua công cụ phá giá tiền

tệ, biên độ dao động và dự trữ ngoại hối Tác giả đã sử dụng mô hình kinh tế lượng

để đánh giá mối quan hệ giữa TGHĐ và các biến số kinh tế vĩ mô khác thông qua kiểm định điều kiện Marshall-Lerner ở Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu chưa tiến hành kiểm định hiệu ứng dẫn truyền của TGHĐ vào lạm phát như tại Luận án này

Các tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Đinh Tuấn Minh, Tô Trung Thành, Lê Hồng Giang, Phạm Văn Hà (2010) đã có bài nghiên cứu “Lựa chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế” Theo nhóm tác giả, Việt Nam đang theo đuổi

cơ chế neo tỷ giá có điều chỉnh, và hiện nay cơ chế này hoạt động không hiệu quả khiến Việt Nam Đồng (VND) lên giá nhiều so với các đồng tiền của các nước đối

Trang 22

tác, gây ra sự sụt giảm tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và sự gia tăng nhập siêu của nền kinh tế nội địa Bài nghiên cứu đã có ba đề xuất quan trọng, đó là (1) Việt Nam chuyển sang cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý; (2) khi từ bỏ cơ chế neo tỷ giá, NHNN Việt Nam phải trở nên độc lập và (3) hiện đại hóa thị trường ngoại hối

Ngân hàng Nhà nước, Vụ Quản lý Ngoại hối đã thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, “Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái phù hợp trong điều kiện hiện nay” (2009) với sự tham gia của Nguyễn Quang Huy (chủ nhiệm đề tài) Đề tài

đã khẳng định cơ chế tỷ giá hiện nay của Việt Nam là cơ chế linh hoạt có quản lý, việc sử dụng công cụ tỷ giá bình quân liên ngân hàng và biên độ tỷ giá đã góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ và tác động của biến động tỷ giá trên thị trường nước ngoài, hạn chế tình trạng nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán Nghiên cứu đã có những ứng dụng nhất định đối với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc vận hành cơ chế TGHĐ Tuy nhiên từ năm 2009 đến nay, chính sách tỷ giá đã có nhiều thay đổi để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy cần tiếp tục có những nghiên cứu cập nhật diễn biến TGHĐ hơn

Ngân hàng Nhà nước, Viện Chiến lược đã xây dựng đề án “Chính sách tỷ giá

áp dụng cho Việt Nam trong điều kiện hiện nay” (2010) trên cơ sở bảy sản phẩm nghiên cứu: (1) Kinh nghiệm áp dụng cơ chế điều hành tỷ giá của một số nước trong các thời kỳ khủng hoảng - bài học rút ra cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; (2) Nghiên cứu cơ cấu xuất nhập khẩu Việt Nam, các thị trường xuất khẩu và xác định những nhân tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong từng thời kỳ; (3) Phân tích diễn biến TGHĐ trên thị trường ngoại hối của Việt Nam

và đo lường ảnh hưởng của biến động TGHĐ đối với kim ngạch xuất nhập khẩu, khả năng cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh trong từng giai đoạn cụ thể; (4) Đo lường ảnh hưởng của TGHĐ thực hiệu quả và tỷ giá danh nghĩa đến GDP, CPI, đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài; (5) Xây dựng kịch bản và đo lường tác động của việc biến động tỷ giá đối với tài chính nhà nước, doanh nghiệp, ngân hàng, hộ gia đình; (6) Nghiên cứu và đánh giá cơ chế định giá tiền đồng với đồng USD hay EUR hay một rổ tiền tệ của các nước có tỷ trọng thương mại lớn với Việt Nam; (7) Đánh giá và đề xuất chính sách tỷ giá phù hợp với chính sách tiền tệ nới lỏng, chính

Trang 23

sách tài khóa mở rộng và mức độ mở cửa thị trường tài chính, nhằm hạn chế thấp nhất tác động bất lợi của “Bộ ba bất khả thi” trong kinh tế học quốc tế

Như vậy, các nghiên cứu trong nước về cơ chế tỷ giá hối đoái đã cung cấp các bài học, kinh nghiệm quốc tế điều hành TGHĐ cho Việt Nam, có những phân tích về cơ chế TGHĐ tại Việt Nam, đánh giá mối quan hệ giữa TGHĐ và các biến kinh tế vĩ mô khác, đồng thời đề xuất một số giải pháp phù hợp để hoàn thiện cơ chế TGHĐ Tuy nhiên, các nghiên cứu dừng lại ở việc phân tích các chuỗi thời gian trong quá khứ không còn phù hợp với chính sách tỷ giá hiện tại Ngoài ra, mô hình kinh tế lượng và số liệu sử dụng để kiểm định còn nhiều quan ngại, vì vậy chỉ có giá trị để tham khảo mà chưa có giá trị để áp dụng Cuối cùng, các nghiên cứu này cũng chưa đề cập đến mối quan hệ giữa cơ chế TGHĐ và khả năng thực thi chính sách LPMT ở Việt Nam

1.4 Mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

1.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

“Bộ ba bất khả thi” (Impossible Trinity) của Frankel (1999) là mô hình lý thuyết rất phổ biến Theo lý thuyết này, trong ba mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản mà hầu hết các nước đang theo đuổi là chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và tự

do hóa các luồng chu chuyển vốn, thì các nước chỉ có thể đạt được cùng một lúc tối

đa hai mục tiêu Hệ quả quan trọng nhất của mô hình là: Trong bối cảnh xu thế hội nhập và thống nhất thị trường tài chính, tự do hoá các dòng vốn quốc tế là một tất yếu (không tồn tại việc kiểm soát vốn hoàn toàn), thì việc một nước sẽ lựa chọn cơ chế tỷ giá nào (hoàn toàn linh hoạt hay hoàn toàn cố định) sẽ phụ thuộc vào một trong hai mục tiêu cơ bản mà nước đó muốn đạt được (chính sách tiền tệ độc lập hay ổn định tỷ giá) Như vậy, trong điều kiện thực hiện chính sách LPMT, đòi hỏi cần có một chính sách tiền tệ độc lập thì NHTW buộc phải linh hoạt hóa TGHĐ Và khi linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ, NHTW cần phải xem xét đến hiệu ứng dẫn truyền

từ tỷ giá sang lạm phát, bởi lẽ nếu hiệu ứng dẫn truyền này ở mức cao thì việc thực thi chính sách LPMT sẽ gặp nhiều khó khăn

Trang 24

Theo Võ Văn Minh (2009), có nhiều nghiên cứu về hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau Nhìn chung các nghiên cứu này đi theo hai hướng tiếp cận chính là tiếp cận vi mô như Dornbursh (1987), Feinberg (1986), và Krugman (1986) và tiếp cận vĩ mô như Taylor (2000), McCarthy (2000), Ito và Sato (2006) Nhiều nhà nghiên cứu như Olivei (2000), Campa và Goldberg (2005), Campa, Goldberg và González-Mínguez (2005), và Otani, Shiratsuka và Shirota (2005) đã sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS - Ordinary Least Square) để đo lường hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát, trong khi một số nghiên cứu khác đã sử dụng mô hình phân tích tự hồi quy theo vectơ (VAR - Vector Auto Regression) để đo hiệu ứng dẫn truyền là McCarthy (2000), Hahn (2003) và Fabuqee (2006), Ito và Sato (2006), Belaish (2003) và Leigh và Rossi (2002) Cụ thể:

Dornbusch (1987) đã nghiên cứu thị trường Mỹ trong những năm 1980 và chứng minh rằng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo, hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá là không toàn phần và nó tỷ lệ nghịch với tỷ lệ số lượng doanh nghiệp nội địa trên số lượng doanh nghiệp nước ngoài cùng cung cấp một loại hàng hóa Tức là áp lực cạnh tranh mà doanh nghiệp trong nước phải đối mặt càng lớn thì hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá lên giá cả trong nước càng thấp Trong khi đó Taylor (2000) cũng đã nghiên cứu thị trường Mỹ từ những năm 1960 đến những năm 1990 để đưa ra kết luận là hiệu ứng dẫn truyền từ

tỷ giá sang lạm phát tỷ lệ thuận với mức lạm phát Điều này có nghĩa là lạm phát càng kéo dài, các doanh nghiệp càng nhận thức được rằng biến động tỷ giá không thể là nhất thời và do đó họ sẽ điều chỉnh mức giá Các nghiên cứu này đã có những đóng góp cơ bản về mặt lý luận về hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá theo cách tiếp cận

Trang 25

2003, từ đó tìm ra bằng chứng (i) hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá trong ngắn hạn là nhỏ; (ii) những quốc gia mà tỷ giá không ổn định thường có hiệu ứng dẫn truyền lớn; và (iii) nhân tố quan trọng tác động tới hiệu ứng dẫn truyền lại không thuộc về các biến số kinh tế vĩ mô mà thuộc về sự thay đổi cơ cấu mặt hàng nhập khẩu Bên cạnh đó, Lian An và Jian Wang (2006) cũng nghiên cứu tác động của tỷ giá lên 3 chỉ số giá (giá sản xuất, giá nhập khẩu, và giá tiêu dùng) trong giai đoạn 1980-2007 của 9 nước thuộc OECD Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá nhỏ hơn 1 cả trong ngắn hạn và dài hạn Trong đó, hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá lên chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất và chỉ số giá tiêu dùng là nhỏ nhất Đồng thời các tác giả cũng kết luận rằng đối với những nước có quy mô nhỏ, kim ngạch nhập khẩu lớn, chế độ tỷ giá cứng nhắc, CSTT không nhất quán, lạm phát cao, hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá luôn lớn hơn Các nghiên cứu này đã cung cấp những lý luận khoa học theo cách tiếp cận vĩ mô về hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá

Như vậy, các nghiên cứu ngoài nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu đã cung cấp cơ sở lý luận bao gồm cả mặt định tính và định lượng, tạo nền tảng để có những nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ nêu trên Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ đưa ra những cơ sở lý luận chung, có tập trung vào một số nước điển hình, nhưng chưa có nghiên cứu nào về Việt Nam

1.4.2 Các nghiên cứu trong nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

Tại Việt Nam, Tô Kim Ngọc và Lê Thị Tuấn Nghĩa (2013) đã điểm qua các đặc điểm cơ bản của chính sách LPMT, mà dựa vào đó, yêu cầu một cơ chế tỷ giá tương thích Cụ thể, chính sách LPMT được vận hành chủ yếu thông qua công cụ lãi suất với việc NHTW xác định lãi suất mục tiêu và chuyển tải đến các mức lãi suất thị trường Sử dụng công cụ lãi suất nhằm điều tiết thị trường, tất nhiên quốc gia đó phải chấp nhận cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn trong điều kiện tài khoản vốn không bị kiểm soát hoàn toàn Nghiên cứu khẳng định cơ chế tỷ giá linh hoạt được coi như là điều kiện tiên quyết cho việc vận hành chính sách LPMT Tuy vậy, nếu xem xét đến các điều kiện cho môi trường vận hành cơ chế tỷ giá linh hoạt ở Việt Nam từ năm

Trang 26

1999 đến năm 2009 thì khả năng áp dụng là rất hạn chế Vì thế, song song với việc tạo lập nền tảng cho một chính sách tỷ giá linh hoạt, trước mắt Việt Nam nên duy trì cơ chế tỷ giá hiện hành nhưng với biên độ dao động nới rộng hơn, trước khi hình thành một cơ chế tỷ giá linh hoạt có điều tiết và không thông báo trước NHNN vẫn giữ quyền can thiệp thị trường khi tỷ giá biến động vượt khỏi biên độ cho phép Tuy nhiên, yêu cầu giải trình xu hướng và lý do can thiệp cho công chúng là đặc điểm của chính sách LPMT cần tuân thủ Có thể nói đây là công trình nghiên cứu khá khái quát về mối quan hệ giữa cơ chế TGHĐ và chính sách LPMT, tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc phân tích định tính mà chưa có các đánh giá mang tính định lượng

Mai Thu Hiền (2013) cũng đã đề cập đến mối quan hệ giữa TGHĐ và LPMT Tác giả nêu cơ sở lý thuyết cho việc lựa chọn chế độ tỷ giá và thực tiễn chuyển đổi cơ chế tỷ giá trên thế giới trước khi mô tả thực trạng điều hành chính sách TGHĐ và cơ chế tỷ giá của Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012 Trên cơ sở xác định mục tiêu của việc điều hành chính sách tiền tệ - tỷ giá tại Việt Nam là ổn định giá cả, từ đó góp phần

ổn định kinh tế vĩ mô, tác giả xây dựng các mô hình lý thuyết để lựa chọn chế độ tỷ giá phù hợp cho Việt Nam dựa trên các tiêu chí là chế độ tỷ giá đó phải đủ độ tin cậy, đảm bảo mục tiêu ổn định giá cả và hạn chế tác động bất lợi của các cú sốc đối với nền kinh

tế trong bối cảnh tự do hóa tài khoản vốn Kết luận của mô hình lý thuyết cũng như thực tiễn tại Việt Nam cho thấy Việt Nam nên áp dụng cơ chế tỷ giá linh hoạt và chính sách LPMT Tuy nhiên nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các điều kiện để Việt Nam thực hiện cơ chế tỷ giá linh hoạt và chính sách LPMT không được thỏa mãn trong bối cảnh kinh tế hiện nay Chính vì vậy, tác giả đã có đóng góp quan trọng khi đề xuất Việt Nam nên thực hiện một quá trình chuyển đổi chế độ tỷ giá từ cố định sang linh hoạt và chuyển đổi từ hai mục tiêu tỷ giá và tiền tệ sang mục tiêu lạm phát nhằm xây dựng các điều kiện cần thiết cho việc áp dụng thành công cơ chế tỷ giá linh hoạt ở Việt Nam Đồng thời tác giả khuyến nghị về chiến lược chuyển đổi và các giải pháp nhằm thực hiện thành công cơ chế tỷ giá linh hoạt ở Việt Nam nên được đặt trong mối liên hệ với chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, sự phát triển của hệ thống tài chính - ngân hàng

và thị trường ngoại hối, thiết lập hệ thống quản lý rủi ro trong bối cảnh tự do hóa các giao dịch vốn Nghiên cứu đã đưa ra các lập luận khoa học về cơ chế TGHĐ và chính

Trang 27

sách LPMT, tuy nhiên nghiên cứu cũng chưa kiểm định định lượng được các lý thuyết

đã xây dựng về mối quan hệ này

Ở Việt Nam đã có một số mô hình thực nghiệm đo lường hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát, cụ thể:

Võ Trí Thành (1997) sử dụng mô hình trễ đa thức để nghiên cứu về lạm phát Việt Nam nửa đầu thập kỷ năm 1990 Tác giả kết luận ω, gM có ý nghĩa cao nên đây là yếu tố dùng để dự báo lạm phát, gY chỉ tác động trong ngắn hạn

Trong đó:

π là tỷ lệ lạm phát

gM là tỷ lệ tăng trưởng cung tiền danh nghĩa

gY là tỷ lệ tăng trưởng sản lượng

ω đo lường độ lệch giữa tỷ lệ mất giá tiền nội địa và lãi suất

πe là lạm phát kỳ vọng

Dương Thị Thanh Mai (2002) đã sử dụng mô hình hồi quy theo biến logarit

để đánh giá lạm phát của các nước đang phát triển phụ thuộc vào 3 yếu tố: tăng lượng cung tiền, tăng thu nhập, tỷ giá Với chuỗi nghiên cứu từ năm 1997-2000, kết quả là không có tín hiệu báo trước cho lạm phát

Trong đó:

lnMt là logarit cơ số tự nhiên của cung tiền danh nghĩa

lnYt là logarit cơ số tự nhiên của sản lượng trong nước

lnNERt là logarit cơ số tự nhiên của TGHĐ

γt là sai số

Trang 28

Võ Văn Minh (2009) đã dùng mô hình hồi quy vectơ VAR để thực nghiệm hiệu ứng dẫn truyền Cụ thể

- Output Gap (GAP) là sai lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế

- Customer Price Index (CPI) là chỉ số giá tiêu dùng

- Import Price Index (IMP) là chỉ số giá nhập khẩu

- Broad Money (M2) là cung tiền mở rộng M2

- Exchange rate (NEER: Normalized nominal effective exchange rate) là tỷ giá hiệu thực danh nghĩa

- Oil Price: lấy từ giá dầu mỏ UK Brent Oil

Bằng mô hình kiểm định VAR với 6 biến số kinh tế giá dầu, cầu hàng hóa, tỷ giá, chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng, và cung tiền mở rộng, Võ Văn Minh

đã đi đến 2 kết luận đáng chú ý: (i) hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá là toàn phần (>=1) sau khoảng 5-7 tháng kể từ khi có biến động tỷ giá, sau đó giảm dần; (ii) hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá tới giá tiêu dùng lớn hơn hiệu ứng tới giá nhập khẩu Từ

đó tác giả đề xuất: muốn kiềm chế lạm phát phải dừng ngay việc mở rộng cung tiền, dừng việc NHNN can thiệp vào tỷ giá trên thị trường, thay vào đó nên áp dụng một chế độ tỷ giá linh hoạt với biên độ dao động rộng hơn Với quan điểm cho rằng biến động của cầu nội địa không phải là nguyên nhân gây nên lạm phát, tác giả đề xuất không nên thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt khi cầu nội địa gia tăng, thay vào

đó nên nhân cơ hội này để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Trang 29

Nhóm tác giả Nguyễn Đình Mai Anh, Trần Mai Anh và Võ Trí Thành (2009)

đã áp dụng mô hình VAR với 7 biến nội sinh (OPGAP là sai lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế; CPI là chỉ số giá tiêu dùng; FCD là tiền gửi USD; M2 là tiền mở rộng; RVND là lãi suất tiền gửi VND 3 tháng; RUSD là lãi suất tiền gửi USD 3 tháng; ER là tỷ giá bình quân liên ngân hàng) để kiểm định và kết quả cho thấy lạm phát trong giai đoạn 2005-2009 thay đổi 7% sau một khoảng thời gian hai tháng kể từ khi có biến động 1% của tỷ giá, và mối tương quan này hoàn toàn biến mất ở tháng thứ 3 Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nguyên nhân chủ yếu gây nên lạm phát cao ở Việt Nam trong những năm gần đây là do việc mở rộng cung tiền Từ đó, nhóm nghiên cứu đề xuất cần phải kiểm soát chặt chẽ cung tiền, kết hợp với việc để thị trường quyết định tỷ giá và NHNN chỉ sử dụng duy nhất một công

cụ lãi suất VND để kiềm chế lạm phát

Như vậy, các nghiên cứu trong nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu đã cung cấp các luận cứ khoa học Tuy nhiên các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ nêu trên chỉ dừng lại ở mặt định tính mà chưa có các kiểm định mang tính định lượng Trong khi đó các nghiên cứu định lượng thì chỉ tập trung đánh giá hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát mà chưa đề cập đến mối quan hệ với chính sách LPMT Ngoài ra, các chuỗi số liệu để kiểm định định lượng cũng không còn phù hợp với những diễn biến mới của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay

1.5 Khoảng trống trong các nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và đóng góp của luận án

1.5.1 Khoảng trống trong các nghiên cứu

Như đã phân tích ở trên, trên thế giới đã có một số nghiên cứu về các vấn đề

có liên quan đến đề tài của luận án, trong đó có đưa ra các cơ sở lý luận về chính sách LPMT, TGHĐ và mối quan hệ tỷ giá - lạm phát và khả năng thực hiện chính sách LPMT Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức cơ sở lý luận mà chưa áp dụng riêng đối với trường hợp của Việt Nam

Trong nước cũng đã có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa TGHĐ và chính sách LPMT cũng như những nhận định đánh giá về chính sách tỷ giá ở Việt

Trang 30

Nam trong thời gian qua nhưng chủ yếu dừng lại ở việc phân tích định tính, đưa ra những đánh giá dựa trên các số liệu thống kê mà thiếu các mô hình thực nghiệm đo lường hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát Một số nghiên cứu định lượng

đo lường ảnh hưởng của tỷ giá vào lạm phát ở Việt Nam là Võ Văn Minh, Võ Trí Thành và Dương Thị Thanh Mai Tuy nhiên các nghiên cứu không đề cập đến vấn

đề chính sách LPMT và việc lựa chọn cơ chế điều hành TGHĐ trong mối quan hệ với việc thực hiện chính sách LPMT

Từ những khoảng trống trong các nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu sinh đã

lựa chọn đề tài “Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính

sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam” Từ đó, luận án sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi

sau:

- Liệu Việt Nam có khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu không?

- Trong trường hợp chưa đáp ứng được đầy đủ các điều kiện để thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu thì Việt Nam cần phải làm gì để cải thiện tình hình hiện tại nhằm thực thi được chính sách lạm phát mục tiêu trong tương lai? Lộ trình để Việt Nam chuyển sang chính sách lạm phát mục tiêu là như thế nào?

- Tỷ giá hối đoái có tác động lớn đến lạm phát và khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu không? Tác động đó được thể hiện theo phân tích định lượng và định tính như thế nào? Nguyên nhân dẫn đến tác động này là gì?

- Khi thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu thì cơ chế tỷ giá hối đoái hiện tại

có đáp ứng được các yêu cầu cần thiết để vận hành được chính sách lạm phát mục tiêu hiệu quả không?

- Trong trường hợp cơ chế tỷ giá hối đoái hiện tại không đáp ứng được yêu cầu cần thiết để vận hành chính sách lạm phát mục tiêu hiệu quả, thì cơ chế

tỷ giá hối đoái nào là phù hợp? Việt Nam đã đáp ứng được các điều kiện để vận hành cơ chế tỷ giá hối đoái được lựa chọn đó chưa?

Trang 31

- Nếu Việt Nam chưa đáp ứng được các điều kiện để vận hành cơ chế tỷ giá hối đoái được lựa chọn để thực thi chính sách lạm phát mục tiêu thì Việt Nam cần phải có giải pháp gì?

1.5.2 Phương pháp tiếp cận của luận án

Thứ nhất, luận án sử dụng các phương pháp truyền thống như thống kê, mô

tả và tổng hợp Cụ thể, đề tài sẽ tóm tắt một cách có hệ thống các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về các vấn đề liên quan đến chính sách LPMT, cơ chế TGHĐ và mối quan hệ giữa TGHĐ - lạm phát và chính sách LPMT

Thứ hai, luận án cũng kết hợp tổng thuật các tài liệu nghiên cứu đã có từ trước đến nay và phân tích định tính dựa trên số liệu tài chính - tiền tệ về hiệu quả của chính sách tiền tệ, tự do hóa các giao dịch vốn và cơ chế TGHĐ Theo phương pháp này, đề tài nhấn mạnh việc cần thiết chuyển đổi sang cơ chế điều hành chính sách tiền tệ theo LPMT và việc linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ để thực hiện chính sách LPMT theo lý thuyết “Bộ ba bất khả thi”

Thứ ba, luận án cũng vận dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia về các vấn đề liên quan đến khả năng thực thi chính sách LPMT và lựa chọn cơ chế TGHĐ nhằm thực hiện chính sách LPMT ở Việt Nam Rõ ràng khuôn khổ này chưa được

áp dụng ở Việt Nam, và các tác động có thể chỉ là phỏng đoán Đánh giá cả các chuyên gia am hiểu sâu về tài chính - tiền tệ sẽ là những đầu vào quan trọng của luận án

Cuối cùng, luận án sử dụng mô hình kinh tế lượng vĩ mô nhằm đánh giá định lượng tác động của TGHĐ vào lạm phát và khả năng thực thi chính sách LPMT Cụ thể luận án dựa trên các nghiên cứu đã công bố (bao gồm cả các nguyên cứu ngoài nước và trong nước về hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá như đã nêu ở phần trên) và có phần lập luận, chỉnh sửa các biến kinh tế, để tạo ra mô hình phù hợp với điều kiện kinh tế hiện tại ở Việt Nam Luận án tiến hành đo lường quy mô và xác định thời điểm của hiệu ứng dẫn truyền của TGHĐ bằng mô hình phân tích tự hồi quy theo vectơ VAR được sử dụng với sự hỗ trợ của phần mềm Eview 8.1 Số liệu sử dụng

từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2015 bao gồm các số liệu về giá dầu, TGHĐ trên thị trường liên ngân hàng, khoảng cách sản lượng, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền VNĐ,

Trang 32

lãi suất tiền gửi USD kỳ hạn 3 tháng, chỉ số Đôla hóa, và lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 3 tháng Nguồn để lấy các số liệu thống kê nêu trên là từ Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, Thống kê tài chính quốc tế của Quỹ tiền tệ quốc tế, và Hãng tin Reuters

1.5.3 Kết quả nghiên cứu dự kiến, đóng góp và điểm mới của luận án

Luận án sẽ tập trung nghiên cứu và dự kiến một số kết quả nghiên cứu như sau:

- Thứ nhất, bằng việc đánh giá các điều kiện để thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam, luận án dự kiến trong hoàn cảnh là một nước đang phát triển như hiện tại, Việt Nam khó có thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện để áp dụng chính sách LPMT Trên cơ sở đó, luận án dự kiến sẽ xây dựng lộ trình và các giải pháp để Việt Nam có thể chuyển sang khuôn khổ chính sách LPMT trong thời gian tới

- Thứ hai, bằng việc phân tích mối quan hệ giữa TGHĐ và khả năng thực thi chính sách LPMT theo lý thuyết “Bộ ba bất khả thi”, luận án dự kiến cơ chế CSTT

đa mục tiêu hiện nay đang gặp phải nhiều thách thức, lựa chọn một cơ chế CSTT mới là cần thiết và LPMT có thể là sự lựa chọn hợp lý Ngoài ra, khi đã xác định thực thi chính sách LPMT thì yêu cầu tất yếu là cần phải linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ trong điều kiện các giao dịch vốn được tự do hóa Vì vậy, luận án sẽ đề xuất

cơ chế TGHĐ linh hoạt phù hợp và đưa ra những biện pháp để linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ

- Thứ ba, bằng mô hình kinh tế lượng, kết quả dự kiến của luận án là TGHĐ

có tác động tương đối mạnh đến lạm phát, cũng như ảnh hưởng đến khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu Đây là cơ sở quan trọng trong quá trình lựa chọn

cơ chế TGHĐ nhằm thực thi chính sách LPMT và đề xuất một số giải pháp để thực hiện

Dựa trên các kết quả nghiên cứu dự kiến, luận án sẽ có những đóng góp và những điểm mới sau:

Trang 33

- Thứ nhất, luận án có đánh giá cụ thể 4 điều kiện để áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam như hạ tầng kỹ thuật, sự độc lập về thể chế, sự lành mạnh của hệ thống tài chính, và cơ cấu kinh tế

- Thứ hai, luận án đã làm rõ thực trạng về điều hành chính sách tiền tệ, giao dịch vốn, và cơ chế tỷ giá của Việt Nam qua các thời kỳ cụ thể, từ 2005 đến nay Trên cơ sở đó, luận án đã chỉ ra kết quả cũng như hạn chế của cơ chế cũ và phương hướng cho cơ chế mới theo chính sách LPMT

- Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý thuyết và thực tiễn, luận án

đã bước đầu lựa chọn, vận dụng và chỉnh sửa mô hình về mối quan hệ kinh tế vĩ mô giữa tỷ giá và lạm phát Dựa vào bộ số liệu thu thập được từ nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 2005-2015, sau khi đã xử lý đồng bộ, luận án đã đưa vào ước lượng mô hình trên

- Cuối cùng, luận án đã xây dựng lộ trình thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu và đề xuất một số giải pháp linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

Trong chương 2, luận án tổng hợp cơ sở lý luận về khuôn khổ chính sách LPMT, bao gồm những lợi ích/thách thức, các điều kiện cũng như các yếu tố kỹ thuật để thực hiện chính sách LPMT Bên cạnh đó, đề tài có đề cập đến cơ chế TGHĐ, bao gồm các loại cơ chế và các điều kiện để có thể linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ Ngoài ra, luận án có phân tích mô hình Mundell-Fleming và lý thuyết “Bộ

ba bất khả thi” để đánh giá mối quan hệ giữa việc lựa chọn cơ chế TGHĐ và khả năng thực thi chính sách LPMT

Trang 34

Trong chương 3, luận án đánh giá chính sách tiền tệ giai đoạn 2005-2015 và phân tích 4 điều kiện để thực hiện chính sách LPMT, cụ thể: về hạ tầng kỹ thuật, sự độc lập về thể chế, sự lành mạnh của hệ thống tài chính, và cơ cấu kinh tế Từ đó, luận án nêu rõ, hiện tại Việt Nam chưa đáp ứng được đầy đủ các điều kiện kể trên, tuy nhiên điều quan trọng trong quá trình thực thi chính sách LPMT không phải là phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện trước khi chuyển sang chính sách LPMT mà quan trọng là phải nhận thức được các yếu kém và cải thiện được các hạn chế, tồn tại hiện tại

Trong chương 4, luận án đánh giá cơ chế tỷ giá hối đoái giai đoạn 2005-2015

và phân tích lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” cũng như hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá sang lạm phát Qua đó, luận án làm rõ vấn đề để điều hành CSTT theo chính sách LPMT thì yêu cầu tiên quyết phải linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ

Trong chương 5, luận án trình bày cơ chế chính sách lạm phát mục tiêu và lộ trình thực hiện chính sách LPMT tại Việt Nam Sau đó, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ để thực hiện chính sách LPMT, như việc điều chỉnh tỷ giá trung tâm và biên độ tỷ giá, sử dụng hiệu quả dự trữ ngoại hối để can thiệp ổn định thị trường ngoại tệ, phát triển thị trường ngoại hối, và quản lý rủi

ro tỷ giá

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:

Chương 1 là chương đầu tiên của luận án, trong đó luận án đã đề cập đến các nghiên cứu ngoài nước và trong nước về chính sách LPMT, cơ chế TGHĐ và mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu Trong mỗi công trình nghiên cứu trước đây, luận án đã chỉ rõ khoảng thời gian nghiên cứu của các công trình và giá trị ứng dụng của các công trình đã công bố bên cạnh việc tóm lược kết quả nghiên cứu chính và chỉ ra hạn chế của các nghiên cứu

đó Từ đó, tác giả đã nêu bật các khoảng trống trong các nghiên cứu trước đây làm

cơ sở để lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận án Để thực hiện đề tài này, luận án đã xác lập các câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu phù hợp, bao gồm cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng Cuối cùng tại Chương 1, luận

án đã đề cập đến một số kết quả nghiên cứu dự kiến, những đóng góp và điểm mới của luận án

Như vậy, trong Chương 1, luận án đã tiến hành tổng thuật các nghiên cứu ngoài nước và trong nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu, từ đó tìm ra khoảng trống và đề xuất các phương pháp để thực hiện nghiên cứu

Trang 36

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU

VÀ CƠ CHẾ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2.1 Một số vấn đề lý luận về chính sách lạm phát mục tiêu

2.1.1 Lạm phát và chính sách lạm phát mục tiêu

2.1.1.1 Lạm phát và phương pháp đo lường lạm phát

Theo các nhà kinh tế thuộc trường phái trọng tiền, đứng đầu là Milton Friedman: Lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh và liên tục trong thời gian dài Định nghĩa này cũng được các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes ủng hộ

Theo Michael Parkin trong “Kinh tế học vĩ mô”: Lạm phát là một quá trình trong đó mức giá tăng, còn tiền thì liên tục mất giá

Theo P.A Samuelson và W.D Nordhaus trong “Kinh tế học”: Lạm phát xảy

ra khi mức chung của giá cả chi phí tăng lên

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Công trong giáo trình “Giáo trình Nguyên lý kinh tế vĩ mô”: Lạm phát là sự suy giảm sức mua trong nước của đồng nội tệ

Theo các tác giả, có thể nói lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung hầu hết các hàng hóa và dịch vụ so với thời điểm một năm trước đó Tuy nhiên điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Một nền kinh tế vẫn có thể trải qua lạm phát khi giá của một số hàng hóa giảm, nếu như giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh Lạm phát cũng có thể được hiểu là sự suy giảm sức mua trong nước của đồng nội tệ Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn, hay để mua được một giỏ hàng hóa và dịch vụ cố định, người tiêu dùng sẽ phải chi ngày càng nhiều đồng nội

tệ hơn

Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát, nhưng nhìn chung có

thể hiểu lạm phát là hiện tượng mức giá chung của các hàng hóa và dịch vụ tăng

lên và sức mua thực tế của đồng tiền giảm xuống so với một thời điểm trước đó

Vì sự thay đổi giá cả các hàng hóa và dịch vụ không đều nhau, có một số mặt hàng giá tăng nhanh, một số khác giá tăng chậm, thậm chí có mặt hàng giảm giá,

Trang 37

nên để đo lường sự thay đổi mức giá, việc tính mức giá bình quân thông qua chỉ số giá được sử dụng Trên thực tế có hai chỉ số giá dùng để đo lường lạm phát là chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội Tuy nhiên, do liên quan đến các nội dung trong luận án, luận án chỉ đề cập đến phương pháp đo lường lạm phát thông qua chỉ số giá tiêu dùng Cụ thể: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ số

cơ bản đo lường giá cả hàng hóa và dịch vụ và cho biết liệu nền kinh tế có bị lạm phát hoặc giảm phát hay không CPI đo lường mức giá bình quân của một nhóm hàng hóa và dịch vụ cần cho tiêu dùng của các hộ gia đình được lựa chọn của một giai đoạn như tỷ lệ phần trăm của mức giá giai đoạn trước (được gọi là năm gốc) CPI là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian Đây chính là số bình quân gia quyền của giá các hàng hóa

và dịch vụ (thường là một rổ hàng hóa và dịch vụ nào đó được lựa chọn, tùy đặc điểm và cách tính của từng nước) trong một nền kinh tế Quyền số tính chỉ số giá tiêu dùng là cơ cấu chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ trong tổng chi tiêu dùng của hộ gia đình

2.1.1.2 Khuôn khổ chính sách lạm phát mục tiêu

Có nhiều định nghĩa về LPMT, tuy nhiên, định nghĩa của Bernanke và Mishkin (1997) được chấp thuận rộng rãi, theo đó, LPMT là một khuôn khổ chính sách tiền tệ được đặc trưng bằng việc tuyên bố chính thức mục tiêu mức lạm phát cần đạt trong một thời kỳ và xác định một cách công khai rằng lạm phát thấp, ổn định là mục tiêu cơ bản, dài hạn của chính sách tiền tệ

Mishkin (2001) làm rõ hơn các nội dung của chính sách LPMT, cụ thể: (i) NHTW công bố ra công chúng mức LPMT cụ thể trong trung hạn; (ii) NHTW/Chính phủ cam kết ổn định giá cả như mục tiêu cốt yếu của chính sách tiền tệ; (iii) Chiến lược thông tin bao gồm nhiều biến số (ngoài tổng cung ứng tiền tệ hay tỷ giá hối đoái); (iv) Tăng tính minh bạch của chính sách tiền tệ thông qua việc thông báo với công chúng về kế hoạch, mục tiêu và các quyết định của NHTW; (v) Trách nhiệm giải trình khi mục tiêu không đạt được và các vấn đề liên quan khác

Như vậy, có thể hiểu chính sách lạm phát mục tiêu là một khuôn khổ chính

sách tiền tệ trong đó công bố và coi lạm phát ổn định là mục tiêu chính cần đạt được trong một thời kỳ

Trang 38

2.1.2 Đặc trưng của chính sách lạm phát mục tiêu

Chính sách LPMT thực chất là một khuôn khổ chứ không phải là các quy tắc cứng nhắc phải nhất nhất tuân theo của chính sách tiền tệ (Bernanke và Mishkin, 1997) Có thể tổng kết những đặc trưng của chính sách LPMT bao gồm:

- Ổn định giá cả được xác định là mục tiêu chính yếu của chính sách tiền tệ

- Công bố công khai về một mục tiêu định lượng cho lạm phát

- Chính sách tiền tệ dựa trên cơ sở một tập hợp nhiều thông tin, trong đó dự báo lạm phát có vai trò quan trọng

- Tính công khai minh bạch trong điều hành chính sách tiền tệ

- Các cơ chế rõ ràng về trách nhiệm giải trình của ngân hàng trung ương NHTW các nước theo đuổi chính sách LPMT đều lấy nhiệm vụ trọng tâm của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả Điều này được hiểu là những mục tiêu kinh

tế vĩ mô khác như tăng trưởng kinh tế hay tạo việc làm sẽ là những nhiệm vụ thứ yếu so với kiềm chế lạm phát Mishkin (2000) diễn giải khái niệm ổn định giá cả đó

là một mức tăng giá cả mà không làm ảnh hưởng đến các quyết định chi tiêu của hộ gia đình và doanh nghiệp, nằm trong khoảng từ 0 đến 3% và không làm mất đi sự tín nhiệm đối với NHTW và chính sách LPMT Tuy nhiên, trên thực tế, để tránh những tranh cãi xung quanh định nghĩa chính xác về ổn định giá cả, các NHTW tập trung vào việc giảm lạm phát đến một mức mà cảm thấy không còn lo ngại về nó, thường có giá trị nằm trong khoảng từ 2% đến dưới 3-4%/năm (Hammond, 2012)

Mục tiêu lạm phát trong khuôn khổ chính sách LPMT là những con số lạm phát cụ thể cần đạt được trong một khoảng thời gian nhất định Những con số này

sẽ được NHTW công bố công khai cùng với trách nhiệm thực hiện mục tiêu đó Mục tiêu lạm phát này được gọi là điểm mục tiêu Tuy nhiên, thông thường các quốc gia công bố điểm mục tiêu lạm phát kèm theo một biên độ dung sai cho phép

là ±1% (hay ±2% nếu lạm phát hiện tại đang ở mức cao) Hoặc mục tiêu lạm phát cũng có thể được công bố là một khoảng mục tiêu, ví dụ từ 2 đến 4% Những mục tiêu lạm phát này sẽ phải đạt được trong một phạm vi thời gian trung hạn, thường là

2 hay 3 năm

Trang 39

Chính sách LPMT hoạt động tốt nhất phải dựa trên cơ sở thông tin đầy đủ về các diễn biến vĩ mô của nền kinh tế thực, bao gồm cả dự báo lạm phát Trong khuôn khổ này, NHTW sử dụng tất cả các thông tin liên quan mà có ảnh hưởng lên dự báo lạm phát và nền kinh tế thực, bao gồm cả các điều kiện tài chính như tăng trưởng tín dụng, giá cả tài sản, các vấn đề bất ổn, nguy cơ bong bóng giá cả tài sản… Như vậy,

dự báo lạm phát đóng vai trò rất quan trọng trong áp dụng chính sách LPMT

Chìa khóa cho việc thực thi thành công chính sách LPMT là sự minh bạch và truyền thông đến công chúng Chiến lược truyền thông của NHTW nhằm giúp người dân và doanh nghiệp hiểu rõ những hành động của chính sách tiền tệ khi theo đuổi những mục tiêu đã đề ra Chiến lược truyền thông phải giải thích rõ cho công chúng về: (i) các mục tiêu và giới hạn của chính sách tiền tệ, bao gồm cả các lý do

cơ bản cho các mục tiêu lạm phát; (ii) giá trị lượng hóa của các mục tiêu lạm phát

và cách thức chúng được xây dựng; (iii) phương thức để đạt được các mục tiêu lạm phát, căn cứ vào các điều kiện kinh tế hiện hành; (iv) nguyên nhân của các sai lệch

so với mục tiêu Sự công khai minh bạch sẽ giúp ổn định các kỳ vọng về lạm phát, từ

đó xây dựng được niềm tin và sự ủng hộ của người dân đối với các biện pháp chính sách của NHTW, là những yếu tố quyết định sự thành công của một CSTT

Tính công khai minh bạch này cũng giúp tăng cường sự tự chủ của NHTW trong hành động, ví dụ như cho phép các NHTW theo đuổi chính sách tiền tệ mở rộng khi phải đối phó với các cú sốc cầu trong nền kinh tế mà không tác động tiêu cực lên các kỳ vọng lạm phát Hơn nữa, một khuôn khổ chính sách rõ ràng, công khai minh bạch còn làm tăng trách nhiệm giải trình của NHTW Trách nhiệm giải trình của NHTW đối với mục tiêu lạm phát dài hạn không chỉ thể hiện ở sự cam kết thực hiện mà còn đặt ra những kỷ luật thực hiện nếu không đạt mục tiêu đề ra

2.1.3 Lợi ích của chính sách lạm phát mục tiêu

2.1.3.1 Ngân hàng trung ương có được sự tự chủ và linh hoạt trong thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô

Bernanke và Mishkin (1997) nhấn mạnh rằng chính sách LPMT là một khuôn khổ chứ không phải là một nguyên tắc cứng nhắc trong điều hành chính sách tiền tệ mà NHTW nhất nhất phải tuân theo Khuôn khổ này cho phép NHTW được

Trang 40

quyền tự chủ và linh hoạt trong hành động nhưng không vượt ra ngoài một phạm vi

đã định hay còn gọi là sự “tự chủ hạn chế” Theo đó, một khuôn khổ chính sách LPMT kết hợp hai yếu tố: thứ nhất là một mục tiêu cụ thể, chính xác cho lạm phát trong phạm vi thời gian trung hạn; và thứ hai là quyền chủ động phản ứng trước các

cú sốc của nền kinh tế trong ngắn hạn Trong khuôn khổ này, NHTW được tùy ý phản ứng trước các cú sốc ngắn hạn

Theo lý thuyết Bộ ba bất khả thi, sự tự chủ của NHTW khi thực hiện CSTT còn phụ thuộc chủ yếu vào cơ chế TGHĐ và khả năng dịch chuyển của các luồng vốn Mặc dù hiện nay, cơ chế tỷ giá cố định đã ngày càng ít, nhưng cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn trên thực tế cũng không được áp dụng phổ biến Thông thường các quốc gia lựa chọn thực hiện cơ chế tỷ giá có quản lý và các nước đang phát triển cũng không ngoại lệ Nhưng cơ chế tỷ giá có quản lý mà nhiều nước đang áp dụng lại không làm cơ quan quản lý tiền tệ đánh giá thấp hơn tầm quan trọng đối với mục tiêu tỷ giá hoặc chấm dứt việc sử dụng tỷ giá như một công cụ cơ bản của chính sách tiền tệ Và như vậy, NHTW rơi vào tình thế từ bỏ cơ chế tỷ giá cố định và bảo

vệ tính ổn định của cơ chế TGHĐ Điều này dẫn đến gánh nặng cho CSTT bởi một điều kiện cần thiết của chính sách LPMT là ưu tiên mục tiêu lạm phát hơn các mục tiêu chính sách khác, hay nói cách khác, chỉ số LPMT chiếm ưu thế hơn tất cả các mục tiêu còn lại của CSTT Theo như trên, duy trì ổn định TGHĐ sẽ xung đột với nguyên tắc LPMT Đến lúc đó mục tiêu lạm phát sẽ tồn tại cùng những mục tiêu khác của CSTT, thị trường sẽ không có bằng chứng đảm bảo là mục tiêu lạm phát

sẽ được ưu tiên hơn mục tiêu tỷ giá và ngược lại Khi đó, cả chính sách tỷ giá và chính sách LPMT đều không có được niềm tin từ các thành viên thị trường, và hiển nhiên, hiệu quả của chính sách LPMT sẽ ở mức rất thấp Vì thế, để đảm bảo tính tự chủ, độc lập khi NHTW thực hiện chính sách LPMT là phải có cơ chế tỷ giá linh hoạt khi đã tự do hóa các luồng chu chuyển vốn

2.1.3.2 Kiểm soát kỳ vọng lạm phát và ổn định lạm phát

Kỳ vọng lạm phát ngày càng có vai trò quan trọng trong chính sách tiền tệ Khi kỳ vọng về lạm phát của người dân và doanh nghiệp tăng cao sẽ đẩy lương danh nghĩa tăng theo Điều này sẽ khiến các doanh nghiệp thuê ít lao động hơn và

Ngày đăng: 14/04/2017, 19:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lý Hoàng Ánh, Kinh nghiệm kiểm soát LPMT của Brazil, 2007 (Ánh 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm kiểm soát LPMT của Brazil
2. Nguyễn Văn Công, Giáo trình Nguyên lý kinh tế vĩ mô, Nhà xuất bản Lao động, 2008 (Công 2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nguyên lý kinh tế vĩ mô
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
3. Nguyễn Văn Hà, Nghiên cứu việc điều hành chính sách tiền tệ bằng phương pháp lấy lạm phát làm mục tiêu và cơ chế chuyển tải chính sách tiền tệ đến nền kinh tế Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp ngành, NHNN, 2010 (Hà 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu việc điều hành chính sách tiền tệ bằng phương pháp lấy lạm phát làm mục tiêu và cơ chế chuyển tải chính sách tiền tệ đến nền kinh tế Việt Nam
4. Bùi Văn Hải, Chính sách tiền tệ theo cơ chế LPMT, 2007 (Hải 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tiền tệ theo cơ chế LPMT
5. Nguyễn Thị Thanh Hằng, Lựa chọn chính sách tỷ giá, Báo cáo kinh tế thường niên VEPR 2011 (Hằng 2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn chính sách tỷ giá
6. Nguyễn Thị Thu Hằng; Đinh Tuấn Minh; Tô Trung Thành; Lê Hồng Giang; Phạm Văn Hà, Lựa chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế, 2010 (Hằng, Minh, Thành, Giang và Hà 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế
7. Phí Trọng Hiển, LPMT: kinh nghiệm thế giới và giải pháp cho Việt Nam, 2005 (Hiển 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: LPMT: kinh nghiệm thế giới và giải pháp cho Việt Nam
8. Nguyễn Thị Hiền, và Nguyễn Hoàng Ánh, Chính sách tiền tệ LPMT theo “phong cách Úc” và gợi ý chính sách cho Việt Nam, 2013 (Hiền và Ánh 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tiền tệ LPMT theo "“phong cách Úc” và gợi ý chính sách cho Việt Nam
9. Mai Thu Hiền, Chính sách TGHĐ cho nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam, 2013 (Hiền 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách TGHĐ cho nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam
10. Nguyễn Quang Huy, Cơ chế điều hành TGHĐ phù hợp trong điều kiện hiện nay, Đề tài khoa học cấp ngành, NHNN, 2009 (Huy 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế điều hành TGHĐ phù hợp trong điều kiện hiện nay
11. Bùi Duy Hưng, LPMT: kinh nghiệm một số nước và thực tế Việt Nam, 2006 (Hưng 2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: LPMT: kinh nghiệm một số nước và thực tế Việt Nam
12. Hoàng Thị Lan Hương, Hoàn thiện chính sách tỷ giá ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020, Luận án tiến sỹ, 2009 (Hương 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách tỷ giá ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020
13. Nguyễn Đại Lai, Giải pháp giám sát đồng bộ các thị trường bộ phận của thị trường tài chính Việt Nam, Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp ngành, 2007 (Lai 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp giám sát đồng bộ các thị trường bộ phận của thị trường tài chính Việt Nam
14. Dương Thị Thanh Mai, Vận dụng mô hình phân tích chính sách tỷ giá ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ, 2002 (Mai 2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng mô hình phân tích chính sách tỷ giá ở Việt Nam
15. Võ Văn Minh, Exchange rate pass through and its implications for inflation in Vietnam, VDF 2009 (Minh 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exchange rate pass through and its implications for inflation in Vietnam
16. Đỗ Thị Đức Minh, Chính sách mục tiêu kiểm soát lạm phát - một cách tiếp cận trong việc điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam, 2005 (Minh 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách mục tiêu kiểm soát lạm phát - một cách tiếp cận trong việc điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam
17. Nguyễn Hữu Nghĩa, Lấy lạm phát làm mục tiêu là khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ - Sự lựa chọn chiến lược của chính sách tiền tệ Việt Nam đến năm 2015?, NXB Thống kê 2005 (Nghĩa 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lấy lạm phát làm mục tiêu là khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ - Sự lựa chọn chiến lược của chính sách tiền tệ Việt Nam đến năm 2015
Nhà XB: NXB Thống kê 2005 (Nghĩa 2005)
18. Lê Thị Tuấn Nghĩa, Hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ, 2004 (Nghĩa 2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ ở Việt Nam
19. Tô Kim Ngọc và Lê Thị Tuấn Nghĩa, Cơ chế tỷ giá và chính sách mục tiêu lạm phát, 2013 (Ngọc và Nghĩa 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế tỷ giá và chính sách mục tiêu lạm phát
20. Tô Kim Ngọc, Chính sách mục tiêu lạm phát trong điều kiên khủng hoảng tài chính, Tạp chí Ngân hàng 2012 (Ngọc 2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách mục tiêu lạm phát trong điều kiên khủng hoảng tài chính

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w