Hồ Chí Minh là một trong những người Việt Nam đầu tiên hiểu và đặc biệt quan tâm đến vai trò của người phụ nữ trong phong trào cách mạng thế giới cũng như của cách mạng Việt Nam.. Vì thế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ ANH THI
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ ANH THI
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 02 04
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Võ Văn Lộc
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là hoàn toàn trung thực Các số liệu và kết quả công bố trong luận văn này là công trình nghiêm túc của tôi Nếu có gì sai phạm tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả luận văn
Lê Anh Thi
Trang 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TRONG LUẬN VĂN
Trang 5MỤC LỤC
A - MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Kết cấu của đề tài 8
B - NỘI DUNG 9
Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ VÀ PHÁT HUY
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ 9
1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của phụ nữ và quyền
bình đẳng của phụ nữ 9
1.1.1 Trong lịch sử dựng nước và giữ nước 9
1.1.2 Trong lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc 11
1.1.3 Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội 17
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về việc phát huy vai trò của phụ nữ 18
1.2.1 Thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ là một mục tiêu của
cách mạng 18
1.2.1.1 Thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ phải gắn liền với cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người 18
1.2.1.2 Thực hiện việc phát húy vai trò của phụ nữ là một cuộc cách mạng
lâu dài và khó khăn 25
1.2.1.3 Phụ nữ phải được phát huy vai trò của họ trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội 26
1.2.2 Những biện pháp thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ 36
1.2.2.1 Thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ phải gắn liền với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước 36
1.2.2.2 Thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ là sự nghiệp của bản thân
người phụ nữ 39
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện việc phát huy
vai trò của phụ nữ 42
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ Ở
TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY 46
2.1 Khái quát về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội tỉnh
Đồng Tháp 46
2.2 Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc phát huy vai trò
của phụ nữ tỉnh Đồng Tháp thời gian qua 50
2.2.1 Trong lĩnh vực chính trị 50
2.2.2 Trong lĩnh vực kinh tế 54
2.2.3 Phát huy trong lĩnh vực văn hóa - xã hội và giáo dục 61
2.2.4 Trong gia đình 69
2.3 Phương hướng và giải pháp cơ bản trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc phát huy vai trò của phụ nữ ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay 74
2.3.1 Phương hướng cơ bản nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị 74
2.3.2 Phương hướng cơ bản nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực
kinh tế 75
2.3.3 Phương hướng cơ bản nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực
văn hóa, xã hội và giáo dục 76
2.3.4 Phương hướng cơ bản nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong
gia đình 76
2.4 Giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của phụ nữ theo tư tưởng
Hồ Chí Minh ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay 77
2.4.1 Giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực
chính trị 77
2.4.2 Giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực
kinh tế 80
2.4.3 Giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực
văn hóa - xã hội và giáo dục 82
2.4.4 Giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình 84
C - KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 71
A - PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình phát triển của nhân loại qua các giai đoạn lịch sử, phụ
nữ bao giờ cũng có một vai trò, vị trí quan trọng trong tất cả các phương diện, các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, nghệ thuật đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Về mặt số lượng, phụ nữ chiếm khoảng một phần hai tổng dân số, tài năng và trí tuệ của họ không kém nam giới Không chỉ anh hùng trong chiến đấu, phụ nữ vốn có tính cần cù và sáng tạo, họ đã trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần, đóng góp một phần không nhỏ trong việc phát triển chung của xã hội
Phụ nữ luôn luôn tự vươn lên, đấu tranh với nhiều hình thức và mức độ khác nhau để được bình đẳng với nam giới Vấn đề này đã trở thành một vấn
đề toàn cầu, có tính chất quốc tế rộng rãi và tính thời đại rõ rệt, không chỉ riêng một quốc gia, dân tộc nào Tuy nhiên, cuộc đấu tranh đó rất lâu dài, khó khăn, phức tạp, có lúc rất quyết liệt và đến nay vẫn chưa kết thúc
Hiện nay, ở Việt Nam, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo và vùng nông thôn nghèo vẫn còn tồn tại tư tưởng gia trưởng, “trọng nam, khinh nữ”, coi phụ nữ chỉ là cái bóng của nam giới Họ bị bó buộc vào cái gia đình
bé nhỏ, công việc của họ chỉ là sinh con, nuôi con và xoay quanh việc nội trợ trong gia đình Thực tế cho thấy, một số phụ nữ không được bình đẳng ngay chính trong gia đình của mình, họ bị chà đạp về thể xác và tinh thần; không được đi học, không được tham gia vào các công việc chính trị, xã hội, đoàn thể Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển toàn diện không phải chỉ riêng đối với người phụ nữ mà còn đối với sự phát triển chung của cả
xã hội
Vì vậy, thực hiện quyền bình đẳng đối với phụ nữ được xem là một cuộc cách mạng lớn, nhằm cởi bỏ những ràng buộc, những định kiến, những bất
Trang 8Hồ Chí Minh là một trong những người Việt Nam đầu tiên hiểu và đặc biệt quan tâm đến vai trò của người phụ nữ trong phong trào cách mạng thế giới cũng như của cách mạng Việt Nam Sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã nhận thức rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của phụ nữ Việt Nam ngay từ buổi đầu hoạt động cách mạng; xem vấn đề quyền của phụ nữ là một
bộ phận cấu thành quyền của con người trong tổng thể quyền cơ bản của dân tộc Đồng thời, cất tiếng nói thay cho người phụ nữ, tháo bỏ gông xiềng mà bấy lâu phụ nữ phải gánh chịu, mạnh mẽ đấu tranh vì “bình đẳng nam nữ”
Hồ Chí Minh khẳng định, chỉ giải phóng phụ nữ mới giải phóng xã hội, bổ sung vào nguồn lực phát triển đất nước Đặc biệt, sau thời kỳ hội nhập sẽ mở
ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế, tạo điều kiện hơn nữa cho phụ nữ trẻ, đảm đang, năng động khẳng định vai trò của mình Vì thế, trong cương lĩnh chính trị đầu tiên thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1930, Hồ Chí Minh đã
khẳng định “nam nữ bình quyền”; năm 1945 - Việt Nam giành được độc lập -
khi soạn thảo Hiến Pháp, với tư cách là trưởng ban soạn thảo, một lần nữa Người đã đề nghị đưa vấn đề bình đẳng của phụ nữ vào trong Hiến Pháp
Kế thừa, vận dụng và phát triển quan điểm của Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng nam và nữ, hơn 80 năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
và tạo mọi điều kiện phụ nữ ngày càng được bình đẳng với nam giới Điều này được khẳng định và thực hiện nhất quán trong các Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đặc biệt, sau thời
Trang 93
kỳ hội nhập quốc tế sẽ mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế, tạo điều kiện hơn nữa cho phụ nữ trẻ, đảm đang, năng động khẳng định vai trò của mình Vì thế, phụ nữ Việt Nam ngày nay đã và đang chứng minh sức mạnh cũng như vai trò quan trọng của mình, họ thực sự vươn lên làm chủ chính bản thân và làm chủ các công ty, doanh nghiệp, đảm nhận nhiều nhiệm vụ trọng yếu trong hệ thống chính trị của nước ta
Đồng Tháp là một trong mười ba tỉnh thành thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, việc phát huy vai trò và nguồn lực của phụ nữ đã được Đảng và chính quyền địa phương quan tâm đặc biệt và bước đầu đã thu được những thành tựu rất quan trọng Tuy nhiên, xét về tổng thể, việc quán triệt tư tưởng của Hồ Chí Minh và của Đảng ta vào việc phát huy vai trò của phụ nữ cả nước nói chung, phụ nữ tỉnh Đồng Tháp nói riêng vẫn là một đòi hỏi cấp thiết cả trên phương diện lý luận lẫn phương diện thực tiễn
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề: “Vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh vào việc phát huy vai trò của phụ nữ tại tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề phụ nữ và vai trò, vị trí của phụ nữ đối với sự phát triển của xã hội là một vấn đề có tính chiến lược, do vậy, nó đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và học giả trên cả nước
Các thành tựu nghiên cứu về phụ nữ nói chung có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau:
- Tác giả Bùi Thị Kim Quỳ (1995), “Phụ nữ Việt Nam trong quá trình
đổi mới đất nước, vấn đề lao động, việc làm và hạnh phúc gia đình, gia đình
và địa vị người phụ nữ trong xã hội, cách nhìn từ Việt Nam và Hoa Kỳ”, Nxb
Khoa học Xã hội Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến vai trò của người phụ nữ ở một số khía cạnh lao động, việc làm và vị thế của họ trong gia
Trang 104
đình cũng như ngoài xã hội trong thời kỳ đổi mới đất nước theo hai cách nhìn khác nhau (Việt Nam và Hoa Kỳ)
- Tác giả Dương Thị Minh (2004),“Gia đình Việt Nam và vai trò người
phụ nữ trong gia đình hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả tập
trung phân tích các yếu tố cơ bản tác động đến gia đình và vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong gia đình, đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam và
xu hướng biến đổi của vai trò người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay Từ đó, nêu ra những vấn đề xây dựng gia đình mới và phát huy vai trò của người phụ
nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Tác giả Lê Ngọc Hùng (2002),“Học thuyết Mác - Lênin về phụ nữ và
liên hệ thực tiễn nước ta hiện nay” Trong công trình, tác giả dựa trên cơ sở lý
luận của học thuyết Mác-Lênin về phụ nữ, từ đó liên hệ thực tiễn nước ta Đồng thời, nêu ra một số giải pháp về việc phát huy vai trò của phụ nữ với thực tiễn Việt Nam
- Tác giả Lê Thi (1998), “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở
Việt Nam” Tác giả nêu quan điểm tiếp cận giới, từ đó áp dụng vào việc xem
xét các vấn đề có liên quan đến bình đẳng giới và nêu lên những vấn đề đáng quan tâm, đề xuất ý kiến về một số chính sách xã hội cần thiết nhằm xây dựng
sự bình đẳng giới trong tình hình mới
- Tác giả Đỗ Thị Thạch (2005), “Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt
Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, đề cập đến những tiềm
năng và vị trí quan trọng của người phụ nữ trong gia đình cũng như xã hội Từ
đó, tác giả nêu lên những yếu tố giúp phát huy tốt hơn nữa tiềm lực của phụ
nữ Việt Nam trong thời đại CNH, HĐH
- Tác giả Lê Ngọc Thắng (1998), “Phụ nữ dân tộc miền núi trong đời
sống kinh tế văn hóa các dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 5 Trên cơ sở phân
tích thực trạng đời sống của phụ nữ dân tộc ở miền núi trong đời sống kinh tế,
Trang 115
văn hóa của các dân tộc, tác giả đề xuất phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện bình đẳng cho phụ dân tộc miền núi
- Tác giả Nguyễn Thị Báo (2003), “Quyền bình đẳng của phụ nữ trong
sự nghiệp và cuộc sống gia đình”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10 Tác giả đề
cập đến quyền bình đẳng của phụ nữ trong sự nghiệp và trong cuộc sống
- Tác giả Nguyễn Đình Tấn và tác giả Lê Ngọc Hùng (2000), “Quyền
phụ nữ trong điều kiện kinh tế hiện nay ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lý
luận, số 9 Trên cơ sở phân tích quyền phụ nữ trong thời kỳ đổi mới, tác giả
đã đi sâu phân tích vai trò quan trọng của người phụ nữ trong điều kiện kinh
tế hiện nay ở nước ta
- Tác giả Nguyễn Lộc (2005), “Những nỗ lực chính trị - pháp lý quốc
tế trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ”, Tạp chí Cộng sản, số 5
Tác giả đề cập đến quyền bình đẳng của người phụ nữ, đồng thời đưa ra những giải pháp ở góc độ chính trị và pháp lý quốc tế để đảm bảo quyền bình đẳng của người phụ nữ
Các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau:
- Nghiên cứu vấn đề phụ nữ trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một số ấn
phẩm của Nhà xuất bản Phụ nữ như: “Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng
phụ nữ” (1970), “Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam” (1982); “Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ” (1990) Tất cả các công trình trên đều
phản ánh nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ
- Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sỹ khoa học Lịch sử Đảng, Triết học, Tư tưởng Hồ Chí Minh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ
nữ như: Đặng Thị Lương (1993), “Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ
trong cách mạng Việt Nam” Tác giả đã nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề giải phóng phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng nước ta; Trương Thị
Trang 126
Phúc: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ với việc thực
hiện trong thời kỳ đổi mới” (Luận văn thạc sỹ khoa học Chính trị, Mã số:
603127, Hà Nội, 2006) Dựa trên cơ sở lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ, tác giả đã vận dụng vào thời kỳ đổi mới đất
nước; Đặng Thị Linh,“Vấn đề phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện nay
Thực trạng và giải pháp”, (Luận án phó tiến sỹ triết học, Viện nghiên cứu chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997) Nghiên cứu thực trạng về vấn đề phụ nữ trong gia đình, tác giả đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ
Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu công bố trên các tạp chí như:
Hoàng Thị Nữ (1989), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác đào tạo, bồi
dưỡng và đề bạt cán bộ nữ”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6; Nguyễn Thị Mão
(1996), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và xây dựng đội ngũ
cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 10; TS Nguyễn Thị Kim Dung (2001),
“Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ”, Tạp
chí Lịch sử Đảng, số 11 Các tác giả trên đều xoay quanh nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh với công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và đề bạt cán bộ nữ Trên đây là những công trình quan trọng, nổi bật được tác giả kế thừa để triển khai trong chương trình nghiên cứu về việc phát huy vai trò của phụ nữ Tuy nhiên, qua khảo sát tình hình nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng, vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc phát huy vai trò của phụ nữ tại tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu Mặt khác, trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn mới cần phải tiếp tục nghiên cứu về việc phát huy vai trò của phụ nữ nhằm thúc đẩy và tạo cơ hội bộc lộ năng lực trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trang 137
Trên cơ sở trân trọng kế thừa, tiếp thu những thành tựu của các công
trình đi trước, luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề: “Vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh vào việc phát huy vai trò của phụ nữ tại tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ, thực trạng vấn đề thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ tỉnh Đồng Tháp thời gian qua, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc phát huy vai trò của phụ
nữ tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Khái quát những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ
- Khảo sát và đánh giá thực trạng việc thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ tỉnh Đồng Tháp trong thời gian qua
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của phụ nữ tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ và thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực hiện
bình đẳng của phụ nữ tỉnh Đồng Tháp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ gắn với đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh Đồng Tháp trong việc vận dụng vào thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ
Trang 14về vai trò của phụ nữ đối với sự phát triển của xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp lịch sử và lô-gíc, phân tích và tổng hợp, so sánh, phương pháp phân tích vùng văn hóa để làm sáng tỏ nội dung và mục đích của đề tài
6 Đóng góp của đề tài
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn vấn đề vai trò của phụ nữ trong tư
tưởng Hồ Chí Minh
- Luận văn khảo sát và đánh giá thực trạng của việc vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh vào việc phát huy vai trò của phụ nữ tỉnh Đồng Tháp trong thời gian qua
- Luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của phụ nữ ở tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng
Hồ Chí Minh
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn gồm có 2 chương
Trang 159
B - NỘI DUNG Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ VÀ PHÁT HUY
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
Học thuyết chủ nghĩa Mác-Lênin, một học thuyết cách mạng, khoa học, rất quan tâm đến vấn đề vai trò phụ nữ và giải phóng phụ nữ Nó chỉ ra được nguồn gốc và nguyên nhân, các yếu tố tác động đến sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong lịch sử xã hội loài người Từ đó nhấn mạnh rằng, muốn tiến hành sự nghiệp giải phóng phụ nữ, điều đầu tiên phải quan tâm đó là xóa bỏ triệt để chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, thực hiện công hữu hóa, đồng thời thủ tiêu sự bất bình đẳng ngay trong tư tưởng và nhận thức của xã hội Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định rằng sự nghiệp giải phóng phụ nữ luôn gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội, giải phóng con người, nó có mối quan hệ hữu cơ và mang tính biện chứng sâu sắc Thêm vào
đó, sau khi đã xóa bỏ cơ sở kinh tế của sự bất bình đẳng giữa nam và nữ thì cần tạo cơ hội và điều kiện cho phụ nữ về mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội để phụ nữ có thể phát huy hết tiềm năng của mình
1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của phụ nữ
Sớm tiếp thu chủ chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vị trí, vai trò của phụ nữ thế giới nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng
1.1.1 Trong lịch sử dựng nước và giữ nước
Vị trí địa lý cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Việt Nam luôn ở thế bị “dòm ngó” và xâm lược Vì thế, giữ vững bờ cõi là điều cốt yếu
để dân tộc Việt Nam có thể tồn tại và phát triển Với tiến trình đó, vai trò của phụ nữ chiếm một phần quan trọng trong suốt sự nghiệp dựng nước và giữ nước Hồ Chí Minh đánh giá trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm
có sự góp sức của rất nhiều vị nữ anh hùng: “Hai Bà Trưng đã để lại cho phụ
nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang là dũng cảm kháng chiến Liên đoàn
Trang 1610
phụ nữ dân chủ quốc tế giúp phụ nữ Việt Nam bồi dưỡng truyền thống ấy, hăng hái đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược Phụ nữ Việt Nam đã xứng đáng là con cháu của Hai Bà Trưng và là lực lượng trong quốc tế phụ
nữ” [44, tr 339] Thêm nữa, Bà Triệu với câu nói đầy khí phách: “Tôi muốn
cưỡi cơn gió mạnh, đạp sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi
để cứu dân ra khỏi vòng chìm đắm, chứ đâu có chịu cúi đầu khom lưng làm tì thiếp cho người” [58, tr 245] Bằng bản lĩnh chỉ huy chiến trận, Bà đã lãnh đạo đội quân làm nên thắng lợi lẫy lừng, đuổi cổ giặc Ngô về nước Điều đó khẳng định rằng, dù trong trận mạc đầy rẫy hiểm nguy, đòi hỏi người chỉ huy phải có đầu óc linh hoạt, nhạy bén, dùng binh khéo thì nữ giới vẫn có thể làm được và làm rất tốt
Tiếp nối bản lĩnh của các nữ tướng, phụ nữ Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí cũng như khả năng của mình, chẳng hạn như: bà Bùi Thị Xuân thay cha lãnh đạo nghĩa quân khi cha vừa tử trận, với gồm một đạo quân gần 5000 người, cùng với sự chỉ huy bản lĩnh của Bà, nghĩa quân đã làm cho quân địch nhiều lần thất bại trong đó có trận Trấn Ninh đã đi vào sử sách
ở thế kỷ XVIII Đến thế kỷ XIX, có một phụ nữ tên thật Yến Phi hay còn gọi
là “bà Ba Cai Vàng” đã chỉ huy cuộc nổi dậy của nông dân chống lại triều đại phong kiến nhà Nguyễn, được nhân dân ta mãi truyền tụng cho đến ngày nay Bên cạnh đó, phụ nữ còn tham gia đảm nhiệm công việc tổ chức và quản lý xã
hội, ví như: Nguyên Phi Ỷ Lan từng thay vua Lê Thánh Tông trông coi việc
triều đình để Vua yên tâm khi đem quân đánh Chiêm Thành, đồng thời, gợi ý cho vua trong việc bảo vệ trâu bò nhằm đảm bảo việc cày bừa của dân gian; Thái hậu Dương Vân Nga, người đã thay chồng lãnh đạo việc nước, đưa đất
nước vượt qua những khó khăn, thử thách
Ngoài ra, phụ nữ cũng đạt được thành tựu to lớn trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, ví như: bà Đoàn Thị Điểm, bà Huyện Thanh Quan, bà Hồ Xuân
Trang 1711
Hương,… là những nữ sĩ nổi tiếng với những áng thơ đầy khí phách và hoài bão lớn, đấu tranh chống lại những áp bức, bất công Thể hiện sự phản kháng lại những định kiến áp đặt lên vai người phụ nữ trong chế độ phong kiến,
những lễ giáo Khổng, Mạnh
Do hoàn cảnh lịch sử, ở thế kỷ X và XV, nước ta đã phải huy động rất nhiều người tham gia vào quân đội Do đó, người phụ nữ phải thay chồng, thay con trực tiếp lao động sản xuất, nuôi dạy con nhỏ, chăm sóc cha mẹ già
và cung cấp lương thực, lương thảo cho quân đội Việc điều động một lực lượng lao động lớn là nam giới vào các công trình tập trung, đã làm cho phụ
nữ trở thành lực lượng lao động thiết yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Việt
Nam từ ngàn xưa
1.1.2 Trong cách mạng giải phóng dân tộc
Hồ Chí Minh khảo sát thực tiễn nhiều cuộc cách mạng lớn trên thế giới, tìm hiểu các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, Người đã khái quát lên vị trí, vai trò của người phụ nữ trong cách mạng như sau: “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng lần nào là không có đàn bà con gái tham gia… Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái
công nông các nước” [39, tr 313] Người ghi nhận như sau: “Phụ nữ Thổ Nhĩ
Kỳ tham gia bảo vệ đất nước chống sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc phương Tây Phụ nữ Ấn Độ vùng lên chống sự đô hộ của Anh Phụ nữ Trung Quốc tham gia cuộc cách mạng năm 1912 Phụ nữ Triều Tiên đã và đang đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc Phụ nữ Nhật Bản đã buộc Chính phủ phải hủy bỏ
đạo luật cấm phụ nữ tham gia đời sống chính trị và v.v ” [38, tr 288] Ngoài
ra, phụ nữ thế giới còn tham gia vào công việc xây dựng đời sống, phát triển kinh tế, Người nói: “Trong đời sống kinh tế những “bông hồng” của phương Đông bắt đầu tỏ cho chủ nghĩa tư bản thấy ở họ có những chiếc gai nhọn Những cuộc bãi công của nữ công nhân ở các nhà máy và xưởng dệt lụa không
Trang 1812
còn là hiện tượng hiếm nữa Trong các tổ chức công đoàn Nhật Bản, phụ nữ chiếm một tỷ lệ đáng kể Đoàn Thanh niên cộng sản Trung Quốc mới thành lập được ba năm đã có trong hàng ngũ của mình hơn 150 nữ công nhân và nữ sinh viên” [39, tr 228] Vị trí, vai trò của phụ nữ các nước rất đáng học hỏi, cộng thêm truyền thống anh hùng của phụ nữ dân tộc ta, Hồ Chí Minh mong muốn phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ mới cũng có sự tiếp thu, tiếp nối để khẳng định thêm vị thế của mình Người nói: “Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết K.m Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế” [39, tr 520, 521] và “Nhờ Phụ nữ Quốc tế mà các đảng cộng sản mới lập
ra như đảng ở Java, đảng viên đàn bà mỗi ngày một thêm nhiều An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công, mà nữ giới An Nam
muốn cách mệnh thì phải theo Phụ nữ Quốc tế chỉ bảo” [39, tr 315]
Từ chỗ đánh giá cao vai trò của phụ nữ, thấy được những phẩm chất tốt đẹp của họ là một phần không thể thiếu, làm nên sự trọn vẹn của cuộc cách mạng Người nói: “Các chị em phụ nữ, chẳng những khôn khéo, hăng hái mà lại gan góc vô cùng” [42, tr 412], “Chị em rất hăng hái, rất chịu khó và tổ chức rất khéo” [42, tr 412], cho nên, trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, với chủ trương kháng chiến toàn dân, thành phần phụ nữ là không
thể thiếu Hồ Chí Minh khẳng định: “Toàn dân kháng chiến nghĩa là toàn cả
dân, ai cũng đánh giặc Bất kỳ đàn ông đàn bà, người già con trẻ, ai cũng
tham gia kháng chiến” [42, tr 540] Cả trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người lại một lần nữa nhấn mạnh: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc” [41, tr 534]
Bởi vì, phụ nữ không chỉ giỏi trong lao động, sản xuất, trong công việc gia đình, nữ công gia chánh “các chị em phụ nữ, họ tranh nhau giúp nấu cơm, gánh nước, giặt áo, vá quần cho bộ đội, họ coi các chiến sĩ như anh em ruột” [43, tr 84]
Trang 1913
Từ đó, Người yêu cầu: “Ngày xưa, Bà Trưng, Bà Triệu, đã phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân Trong lịch sử của dân tộc ta nhất là những thời kỳ cách mạng và kháng chiến, phụ nữ đã rất dũng cảm Hiện nay, phụ nữ đang góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và
đấu tranh chống Mỹ - Diệm ở miền Nam” [50, tr 523] Phụ nữ đã luôn có mặt
trong các cuộc khởi nghĩa và đấu tranh, giành độc lập và thống nhất tổ quốc
Họ tham gia với số lượng ngày càng đông, ý chí quyết tâm ngày càng lớn, tinh thần giác ngộ ngày càng sâu sắc, với những hình thức hoạt động rất đa dạng, gan dạ, khôn khéo và dũng cảm
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã có rất nhiều phụ nữ hòa cùng khí thế chống quân xâm lược của dân tộc, chung sức, chung lòng, đứng lên chống thực dân Pháp Ví như, trong phong trào Duy Tân, có bà Đinh Phu Nhân, 10 năm liên tục tham gia hoạt động dũng cảm, dù bị địch bắt và tù đày, tra khảo nhưng không khai nửa lời Sau khi có Đảng, có một giai đoạn lịch sử, Đảng ta phải hoạt động một cách bí mật, Người nhận thấy, “Thời kỳ bí mật, nhiều chị em đã giác ngộ, tham gia hoạt động cách mạng rất dũng cảm, mặc dầu muôn ngàn nguy hiểm, gian khổ Rất nhiều chị em khác cũng đã bảo vệ cách mạng rất gan góc Thời kỳ đó, căn cứ địa cách mạng của ta ở Việt Bắc,
do đó rất nhiều chị em phụ nữ các dân tộc thiểu số không những vượt gian nguy mà còn gạt cả mê tín để bảo vệ cách mạng và cán bộ hoạt động cách
mạng” [49, tr 509] Trong “Thư gửi đồng bào các tỉnh ở Việt Bắc”, Người đã
viết: “Tôi không bao giờ quên được, trong những ngày gian nan cực khổ đó, đồng bào trong tỉnh ta, các cụ già, các chị em phụ nữ, anh em nông dân, các
em thanh niên, các cháu nhi đồng ai cũng hăng hái giúp đỡ” [42, tr 238] Trong “Thư khen phụ nữ Cao Bằng” Người đã viết: “Tôi nhận được báo cáo
rằng, chị em phụ nữ Cao Bằng thi đua ủng hộ bộ đội và dân quân bằng lựu đạn, lương thực, khăn áo, bánh trái, vân vân, đáng giá 140.000 đồng Thế là rất tốt Tôi nhớ rằng, trong thời kỳ bí mật, lúc bắt đầu tổ chức đội du kích và
Trang 2014
quân giải phóng đánh Nhật, đánh Pháp, phụ nữ Cao Bằng luôn luôn hăng hái giúp đỡ, tiếp tế Nhiều bà cụ và chị em nhịn ăn để nuôi bộ đội Luôn mấy năm như thế Nhiều chị em lại mạnh bạo tham gia du kích giết giặc Tôi thay mặt Chính phủ khen ngợi chị em… Tôi lại mong phụ nữ các tỉnh thi đua với chị
em phụ nữ Cao Bằng, làm cho nổi bật vai trò vẻ vang của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc” [43, tr 76]
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, với rất nhiều khó khăn trước mắt, phụ nữ cũng đã những đóng góp rất lớn vào công cuộc khôi phục đất nước lúc bấy giờ: “Từ ngày dân Việt Nam tranh được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc Nào giúp đỡ chiến sĩ, tăng gia sản xuất Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ Vàng, Đời sống mới, v.v , việc gì phụ nữ cũng hăng hái Các bà đại biểu nghe vậy, rất là vui lòng Rồi ân cần gửi lời thân ái chúc phụ nữ Việt Nam gắng sức phấn đấu, và mong
rằng phụ nữ ta sẽ giúp sức vào cuộc vận động phụ nữ thế giới” [41, tr 394]
Không lâu sau đó, thực dân Pháp lại tái chiếm Phụ nữ Việt Nam, một lần nữa, đứng lên cùng toàn dân kiên cường kháng chiến chống Pháp Họ bất chấp gian lao nguy hiểm, bất kể không gian, thời gian, bảo vệ cán bộ cách mạng bằng một sự lạc quan, tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng Người
ca ngợi: “Trong các chiến dịch, phụ nữ đi dân công, tải lương thực, đạn dược, làm đường, v.v rất đông; 2/3 số dân công là phụ nữ Mặc dầu bị máy bay địch theo dõi thả bom dữ dội nhưng chị em vẫn vui vẻ ca hát, động viên nhau làm tròn nhiệm vụ” [49, tr 510] Trong các vùng địch tạm chiếm, thực dân Pháp âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, tình thế cách mạng rơi vào cảnh khốn khó Thế nhưng phụ nữ đấu tranh rất bền chí, chị em kiều bào ở nước ngoài cũng ủng hộ kháng chiến trong nước về mọi mặt; phụ nữ trong nước thì đào hầm bí mật để nuôi giấu CB, gan
dạ, luồn lách qua các đồn bốt, vượt qua mạng lưới do thám của kẻ thù để chuyển thư từ, công văn một cách an toàn Nhiều chị kiên trì, móc liên lạc
Trang 2115
trong các thôn xóm để xây dựng cơ sở, gây dựng phong trào, vận động những người lầm đường, lỡ bước theo giặc quay về với cách mạng Tích cực chăm sóc thương binh, bộ đội bằng tất cả tình yêu thương và tấm lòng của mình, Người viết: “Phải chăng vì danh, vì lợi, vì địa vị mà họ làm như vậy? Không phải Đó là vì lòng nồng nàn yêu nước Đó là vì lòng chí công vô tư mà chúng
ta đều phải học tập theo” [44, tr 134] Người nhiều lần gửi thư tỏ lòng biết ơn
đến các nữ anh hùng, đồng thời ghi nhận công lao của họ: “Tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc,… Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội, và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ
mà trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta đang gánh một phần quan
trọng” [44, tr 339]
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phụ nữ Việt Nam cũng đã phát huy hết khả năng, tinh thần và sức mạnh của mình Hồ Chí Minh rất tin tưởng nên có lời kêu gọi: “Bác mong phụ nữ ta ra sức phát huy hơn nữa truyền thống dũng cảm và đảm đang, cùng toàn quân, toàn dân ta bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn
toàn” [52, tr 174, 175] Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, giới tuyến tạm
thời được thiết lập Tuy nhiên, đế quốc Mỹ âm mưu thay Pháp xâm chiếm miền Nam, nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta Chúng cùng bè lũ tay sai đã cố tình phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, tiến hành bình định với hàng loạt việc làm tàn bạo như: bắt cóc thủ tiêu cán bộ ta, dùng nhiều thủ đoạn bắt người man rợ Trong khi đó, lực lượng cách mạng ở miền Nam còn rất mỏng và yếu, thế và lực không được như trước Tuy vậy, ở miền Nam, những người phụ nữ anh dũng đã gan góc xông pha, đứng lên đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-
vơ Với vũ khí thô sơ, phụ nữ miền Nam có tấm lòng yêu nước và ý chí đánh thắng địch, họ đã dùng lời lẽ đanh thép và nhiều hình thức phong phú, phương pháp đấu tranh trực diện, tấn công liên tục làm cho quân địch phải hoảng sợ chùn bước Về sau, chúng thi hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, tra khảo
Trang 2216
dân, trường kỳ truy bức, bắt ly khai Đảng, xé cờ Đảng Trước tình hình đó, nhiều nơi, các mẹ, các chị còn biến những buổi lên lớp “tố cộng” thành những buổi tố cáo, vạch trần âm mưu của Ngô Đình Diệm, chúng buộc phải giải tán các trường “tố cộng” Hồ Chí Minh đã rất tự hào về những thành tựu của phụ
nữ miền Nam Do đó, trong bài phát biểu tại “Lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày
thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam”, Người tuyên dương: “Miền Nam
anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ
nữ Họ rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ và gọi là “đội quân tóc dài” Phó tư lệnh quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy Thật là vẻ vang cho miền Nam,
cho cả dân tộc ta” [52, tr 173]
Ở miền Bắc, phụ nữ cũng tích cực tham gia đấu tranh nhằm hỗ trợ cho đồng bào và phụ nữ miền Nam chống lại những hành động dã man của Mỹ - Diệm Sau chiến lược “chiến tranh đặc biệt” mà Mỹ đã triển khai và cuối cùng thất bại, chúng liền tiến hành ném bom phá hoại những thành tựu đầu tiên trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của ta Trước tình thế đó, phụ
nữ miền Bắc hăng hái thi đua thực hiện phong trào “ba đảm đang”, chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện tối đa cho chiến trường miền Nam với tinh thần “thóc không thiếu một hạt, quân không thiếu một người” Hồ Chí Minh cũng đã nhiều lần gửi thư khen ngợi phụ nữ miền Bắc, Người nhấn mạnh: “Trong phong trào thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước, nhiều cháu thanh niên gái đã nêu gương dũng cảm trong sản xuất và chiến đấu như thanh niên gái Vĩnh Linh vừa sản xuất giỏi, vừa chiến đấu giỏi,
tổ cầu đường Trần Thị Lý ở Quảng Bình và tiểu đội 9, đại đội 814 đã bảo đảm tốt giao thông dưới làn bom đạn, đội dân quân gái ở Nam Ngạn đã góp phần
bắn được nhiều máy bay giặc Mỹ v.v…” [52, tr 174]
Hồ Chí Minh không chỉ đánh giá cao vai trò của phụ nữ trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến, Người còn đánh giá cao vai trò của các bà mẹ, đã
Trang 2317
che chở cho bộ đội, chịu đựng mất mát, đau thương để khuyến khích con em mình đi chiến đấu, Người nói: “Các bà mẹ chiến sĩ đã khuyến khích con cháu mình vào bộ đội đánh giặc cứu nước Ngoài ra còn ân cần nuôi nấng, giúp đỡ, bảo vệ cán bộ và chiến sĩ khác như con cháu của mình, như: bà mẹ Suốt ở Quảng Bình đã xông pha bom đạn, không sợ sóng to gió lớn, suốt ngày đêm chèo thuyền đưa bộ đội cán bộ qua sông để chiến đấu Bà mẹ Cán, người Thái
ở Sơn La có sáu con thì hai con đi bộ đội, bốn vào du kích, bản thân bà mẹ cũng hăng hái vào bạch đầu quân Bà mẹ Đích ở Thái Bình đã cho cả bốn con trai và một con rể vào bộ đội Bản thân mẹ vừa lo việc nhà cho các con, vừa hăng hái giúp đỡ gia đình chiến sĩ Bà Đích còn rất tự hào là cả nhà có bốn con trai, hai con gái, một con rể đều vẻ vang được tham gia Đảng Lao động
Việt Nam” [52, tr 172, 173]
Hồ Chí Minh đi đến kết luận: “Trong thời kỳ cách mạng hoạt động bí mật và trong những năm kháng chiến chống bọn thực dân Pháp và lũ can
thiệp Mỹ, phụ nữ ta đều có công lao to lớn” [52, tr 172] Bởi, “Phụ nữ Việt
Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù Trong kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc cứu nước Từ ngày hòa bình trở lại, nước ta bị chia cắt làm hai miền Chị em miền Nam đang bền bỉ đấu tranh chống ách thống trị dã man của Mỹ - Diệm Ở miền Bắc hoàn toàn giải phóng, chị em phụ nữ đều phấn khởi thi đua sản xuất
thực hành tiết kiệm, công tác và học tập đều tiến bộ khá” [49, tr 507]
1.1.3 Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ Việt Nam, trẻ cũng như già ra sức mà dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ”
[44, tr 340] Đây là một tổng kết mang tính lịch sử, đồng thời mang tính dự báo chính xác của Người về vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam trong chế độ mới - chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa
Trang 2418
Nhân dịp tới dự “Đại hội liên hoan phụ nữ “Năm tốt”” Người đã nói:
“Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến
sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ Phụ nữ ta tham gia ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Thế
là dưới chế độ tốt đẹp của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, phụ nữ ta
thực sự làm chủ Nhà nước” [51, tr 310] Như vậy, khi miền Bắc đã làm chủ
vận mệnh, phụ nữ đã có nhiều cơ hội tham gia học tập nhằm nâng cao trình
độ chính trị, văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia vào đời sống chính trị,
quản lý kinh tế, quản lý xã hội và đã lập được nhiều thành tựu đáng kể
Hồ Chí Minh đi đến kết luận: “Dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực” [51, tr 121] Đồng thời, Người cũng căn dặn thêm: “Từ đây, phụ nữ ta càng phải gắng sức làm thế nào để trong thì đoàn kết toàn thể chị em, đặng giúp việc xây dựng nước nhà; ngoài thì cộng tác với những đoàn thể dân chủ phụ nữ thế giới Như thế mới xứng đáng địa vị của phụ nữ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa” [41, tr 395]
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về việc phát huy vai trò của phụ nữ
1.2.1 Thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ là một mục tiêu của cách mạng
1.2.1.1 Thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ phải gắn liền với
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
Có thể nói, Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ Theo Hồ Chí Minh, sự bất công của phụ nữ Việt Nam một phần do chế độ phong kiến mang lại Đồng thời, dưới chế độ thực dân đầy rẫy những xấu xa, thối nát,
Trang 2519
người phụ nữ chính là nạn nhân Người lên án: “Ngoài xã hội thì phụ nữ bị
khinh như nô lệ Ở gia đình thì họ bị kìm hãm trong xiềng xích “tam tòng”
[50, tr 523] hà khắc từ nhiều ngàn năm Họ phải chịu cảnh lệ thuộc hoàn toàn vào nam giới, không có quyền quyết định cuộc sống, tương lai của chính mình Văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều bởi tư tưởng Nho giáo, Người cũng nhiều lần nhấn mạnh, bên cạnh những mặt tích cực mà Nho giáo đem lại thì mặt hạn chế của nó chính là quan điểm “trọng nam khinh nữ” Người nói:
“Đại Đức Khổng Tử nói: Chồng phải dạy vợ Đức Mạnh Tử lại lưu ý rằng: Đàn bà và trẻ con khó dạy bảo: nếu cho họ gần thì họ khinh nhờn; nếu bỏ mặc
họ thì họ thù oán” [39, tr 512]
Bên cạnh đó, những hiểu biết của Hồ Chí Minh về tình cảnh người phụ
nữ còn xuất phát từ việc chứng kiến trực tiếp cuộc sống trong gia đình và ngoài xã hội, khi thực dân Pháp xâm lược, đặt ách đô hộ và cai trị Tội ác của chế độ thực dân đã gây nên những chính sách tàn bạo, đẩy phụ nữ Việt Nam vào con đường cùng Người đã có rất nhiều bài viết đăng trên các báo như bài
“Những kẻ đi khai hóa (Le Paria, ngày 01/7/1922)”, “Phụ nữ Việt Nam và chế độ thực dân Pháp (Le Paria, ngày 01/8/1922)”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”,… nhằm tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với phụ nữ các nước
thuộc địa và nhất là với phụ nữ An Nam Người đặc biệt nhấn mạnh rằng, ở các nước thuộc địa, phụ nữ chính là những người bị bóc lột tàn bạo nhất, dã man nhất và chiếm số đông nhất, phụ nữ trở thành nạn nhân trực tiếp Bởi, họ
là những người yếu thế trong xã hội Bọn thực dân chẳng những chẳng chút nương tay mà còn đối xử một cách thậm tệ, thân phận họ chẳng thua con vật
Ví như, phụ nữ mang thai phải giấu, thắt chặt bụng lại, vì nếu để giới chủ biết được họ sẽ đuổi việc Khi nghỉ để sinh nở sẽ không được hưởng một đồng lương mà còn bị đe dọa mất chỗ làm Ngoài ra, họ cũng không được nghỉ cho con bú giữa giờ làm việc Thêm vào đó, chỗ làm việc của chị em thường hết
Trang 2620
sức nóng bức, chật chội, thiếu vệ sinh, tai nạn lao động thường xuyên xảy ra nhưng giới chủ không bao giờ quan tâm đến điều đó Công việc thì nặng nhọc, họ phải làm trong các nhà máy, đồn điền và hầm mỏ: “Những phụ nữ run run, đầu đội thúng than nặng mà vẫn phải bước đi vì đói,…” [39, tr 145],
thế nhưng phụ nữ bao giờ tiền lương cũng thấp hơn nam giới
Ngoài áp bức về kinh tế đối với nhân dân thuộc địa nói chung và phụ nữ
An Nam nói riêng, trong chế độ thực dân phong kiến người phụ nữ còn bị bóc lột vật chất, chúng bắt đóng hàng trăm thứ thuế vô lý, cưỡng bức uống rượu cồn, hút thuốc phiện và mua công trái, thi hành chính sách ngu dân để dễ bề cai trị Người tố cáo: “Để có thể đánh lừa dư luận bên Pháp và bóc lột dân bản
xứ một cách êm thấm, bọn cá mập của nền văn minh không những đầu độc nhân dân An Nam bằng rượu và thuốc phiện mà còn thi hành một chính sách
ngu dân triệt để” [39, tr 106] Thêm nữa, chúng còn tìm cách duy trì những
phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu, phát triển các hủ tục mê tín dị đoan để trói buộc thân phận người phụ nữ vốn bị ảnh hưởng từ thời phong kiến Đặc biệt, trong vấn đề hôn nhân gia đình họ phải chịu nỗi đau khổ, bất hạnh, bị ép
duyên, chịu cảnh lẻ mọn, bị ngược đãi, đánh đập Trong tác phẩm “Bản án
chế độ thực dân Pháp” có đoạn Hồ Chí Minh đã vạch tội chúng rất rõ ràng,
đó là: “Một viên chánh quản pháo binh, đã đốt nhà một phụ nữ An Nam, vì người ấy không chịu tiếp hắn vào lúc nửa đêm Một viên quan hai có nhiều vợ
đã quật ngã một thiếu phụ An Nam và dùng gậy song đánh chị đến chết chỉ vì
chị không chịu làm vợ lẽ hắn” [39, tr 121]
Về mặt nhân phẩm, dưới chế độ thực dân phong kiến, nhân phẩm của người phụ nữ là một điều hoàn toàn xa lạ Bởi vì, việc bị hành hạ, bị làm nhục
và bị giết hại là việc diễn ra hằng ngày, hằng giờ đối với phụ nữ Trong tác
phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người tiếp tục lên án: “phải mang
nặng gông xiềng đi quét đường chỉ vì một tội không nộp nổi thuế” [39, tr
Trang 2721
120]; “tháng 3 năm 1922, một nhân viên nhà đoan ở Bà Rịa (Nam Kỳ) đã đánh gần chết một phụ nữ An Nam làm phu đội muối, lấy cớ chị đã làm ồn ào dưới hiên nhà hắn làm hắn mất giấc ngủ trưa Tuyệt hơn nữa là người phụ nữ
ấy còn bị đe dọa đuổi khỏi công trường muối nếu chị kêu kiện” [39, tr 115];
“Tháng 4, một nhân viên nhà đoan khác đến thay, cũng tỏ ra xứng đáng với tên trước kia bởi những hành vi tàn ác của hắn Một bà cụ An Nam, cũng là một phu gánh muối, vì bị khấu lương nên cãi nhau với mụ cai Mụ thưa với viên nhà đoan Viên này không cần xét hỏi gì cả, tát luôn bà cụ hai cái tát nên thân, và khi bà cụ cúi xuống nhặt nón, thì nhà khai hóa đó lại đá luôn một cách rất ác vào bụng dưới làm cho máu chảy ra lênh láng Bà cụ ngã xuống bất tỉnh” [39, tr 115, 116] Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chưa bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc
ác, trắng trợn đến thế” [39, tr 121] Không chỉ dừng lại ở đó, Hồ Chí Minh vạch rõ thêm: “Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược Ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay ở thôn quê, đâu đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của bọn quan cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga Một người Âu mắng một phụ nữ An Nam là con
đĩ, con bú dù là một việc thông thường Ngay giữa chợ Bến Thành ở Sài Gòn
- mà người ta bảo là một thành phố Pháp - bọn gác chợ người Âu cũng không ngần ngại dùng roi gân bò, dùi cui đánh phụ nữ bản xứ để bắt họ tránh khỏi làm nghẽn lối” [39, tr 114] Chúng bắt dân ta phải kính cẩn nghiêng mình, cúi đầu chào mỗi khi chúng đi ngang và còn phải gọi là quan lớn, nếu không
sẽ bị “trừng trị” thích đáng “Một hôm, nhà khai hóa này đánh đập tàn nhẫn một chị người An Nam đang có mang, chỉ vì tuy chị có chào hắn, nhưng lại quên gọi hắn là quan lớn Hắn đá một cái rất mạnh vào bụng chị làm chị trụy thai, ít lâu sau thì người đàn bà khốn khổ ấy chết” [39, tr 68] Phụ nữ đã không đủ sức phản kháng lại những hành động dâm ô của chúng “Khi bọn
Trang 2822
lính kéo đến, tất cả dân chúng đều chạy trốn, chỉ còn lại hai cụ già, một thiếu
nữ, một thiếu phụ đang cho đứa con mới đẻ bú và tay dắt một em gái lên tám… những tên khác thay phiên nhau hiếp cô thiếu nữ, người mẹ và đứa con gái nhỏ của bà” [38, tr 66]; Hay, “Một tên lính làm vườn buộc một người phụ
nữ An Nam phải hiến thân cho con chó của hắn Chị không chịu Hắn liền đâm một nhát lưỡi lê vào bụng chị, chết tươi” [39, tr 119] Những cảnh tượng
“…một em bé bị lột trần truồng, một thiếu nữ ruột gan lòi ra, cánh tay trái cứng đờ giơ nắm tay chĩa vào ông trời vô tình, một xác cụ già ghê rợn khủng khiếp, thân thể trần truồng,…” [39, tr 119], khiến Hồ Chí Minh phải thốt lên,
“Thật là một sự mỉa mai đau đớn khi thấy rằng nền văn minh - dưới nhiều hình thức khác nhau như tự do, công lý v.v được tượng trưng bằng hình ảnh dịu hiền của một người phụ nữ và được một hạng người tự cho là phong nhữ - lại đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người phụ nữ bằng xương, bằng thịt và xúc phạm tới phong hóa, trinh tiết và đời sống của họ một cách cực kỳ vô liêm sỉ” [39, tr 118]
Qua phân tích, Hồ Chí Minh đã giúp cho nhân dân thế giới biết rõ rằng, mọi áp bức, nô dịch đối với phụ nữ ở các nước thuộc địa không phải chỉ bởi những quan niệm lỗi thời, lạc hậu của tư tưởng phong kiến, mà cốt yếu là do chủ nghĩa thực dân Pháp là nguyên nhân căn bản đẩy phụ nữ Việt Nam vào
con đường đói khổ, tủi nhục
Ra đi tìm đường cứu nước lúc 21 tuổi, 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã đến rất nhiều nước trên thế giới, nhằm khảo sát và chiêm nghiệm thực tiễn cuộc sống của người dân tại các nước đó Đồng thời, tìm hiểu xem, dưới chế độ của các nước lúc bấy giờ thì con người trong xã hội được đối xử
ra sao Hồ Chí Minh cũng quan tâm đến thân phận người phụ nữ trong chế độ chủ nghĩa tư bản, cũng như tại nước Nga Xô Viết Người đã mắt thấy, tai nghe và đưa ra kết luận: “Từ khi có chủ nghĩa tư bản, toàn bộ cơ thể xã hội
Trang 2923
đều bị ảnh hưởng tai hại của nó Các vật phẩm do tất cả mọi người sản xuất
ra, đáng lẽ phải thuộc về tất cả mọi người thì lại thuộc đặc quyền của một vài người! Ách áp bức kinh tế đã nô dịch con người, cũng ách áp bức ấy đã biến phụ nữ thành những đồ vật tùy thuộc quyền sử dụng của nam giới! Từ bao thế
kỷ nay, bao nhiêu triệu con người đã bị xiềng xích như thế? Bao nhiêu triệu đàn bà đã bị hy sinh?” [38, tr 288, 289] Còn “Ở nước Nga, không có sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà Phụ nữ có quyền bỏ phiếu và được bầu Hiện nay
có một bà là Bộ trưởng, một bà là Đại sứ; nhiều người khác là dân biểu” [39,
tr 506] Vì đâu phụ nữ Nga lại được hưởng sự khác biệt như thế? Câu hỏi được trả lời, bởi vì, phụ nữ Nga không chấp nhận cam chịu cảnh bất công, họ biết đứng lên đòi lại những quyền lợi vốn dĩ thuộc về mình, họ đã đấu tranh
để ““Đòi quyền tuyển cử cho nữ giới”… “đòi bánh cho con” và đòi “giả chồng chúng tôi lại cho chúng tôi” (vì chồng phải đi đánh)” [39, tr 314] và
“Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1.854 người Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào” [39, tr 313] Khí thế đấu tranh của nữ giới không chỉ có tại nước Nga, mà qua khảo sát, Hồ Chí Minh còn tìm thấy những nhân tố tích cực trong cuộc “Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sáclốt Coócđây rút dao đâm chết người
Tể tướng hung bạo, như bà Luy Misen ra giúp tổ chức Pari Công xã” [39, tr 313]
Đối với Hồ Chí Minh, những người phụ nữ muốn giải phóng mình khỏi những rào cản, những định kiến từ thời phong kiến xa xưa thì chỉ có con đường duy nhất đó là con đường làm cuộc cách mạng để giải phóng mình Tuy nhiên, cuộc cách mạng ấy phải nằm trong cuộc cuộc mạng giải phóng dân tộc, vì khi thực hiện thành công cuộc cách mạng giải phóng được dân tộc, nhân dân Việt Nam được giải phóng thì phụ nữ cũng sẽ được giải phóng Phụ
Trang 3024
nữ An Nam phải chung tay, góp sức tham gia vào cuộc cách mạng, “Điều đó chứng tỏ rằng vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng” [39, tr 506] Người chỉ ra cho phụ nữ ta thấy: “Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự
do Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi” [39, tr 506]
Người khẳng định: “Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ
nghĩa xã hội chỉ một nửa” [49, tr 300] Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, Hồ Chí
Minh đề ra chiến lược, sách lược cách mạng là giải phóng dân tộc và từ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc sẽ là điều kiện tiên quyết đi đến giải phóng phụ
nữ Do đó, Người kêu gọi: “toàn thể phụ nữ hăng hái góp phần vào cuộc đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân
chủ trong cả nước” [46, tr 365]
Hồ Chí Minh rất chú trọng tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp phụ
nữ bao gồm mọi thành phần, giai cấp như trong giới công nhân, nông dân, tiểu tư sản và những phụ nữ có tinh thần yêu nước, mong muốn tham gia cách mạng để giải phóng dân tộc và giải phóng chính mình thành một lực lượng thống nhất đấu tranh vì mục tiêu chung là độc lập, tự do của dân tộc và quyền bình đẳng của phụ nữ, sao cho vai trò của người phụ nữ được ghi nhận và
phát huy một cách tối đa Để đi tới thắng lợi ấy, năm 1955, trong tác phẩm “8
tháng 3”, Người kêu gọi “phụ nữ các tầng lớp phải đoàn kết chặt chẽ, cố gắng
học tập, nâng cao giác ngộ chính trị, yêu chuộng lao động” [46, tr 365]
Với quan điểm dứt khoát, Hồ Chí Minh luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi
và kêu gọi phụ nữ đứng lên cùng với toàn thể quốc dân Việt Nam đứng lên giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới, Người kêu gọi: “ Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta, thì chúng ta phải đi mau Vì vậy, sĩ,
Trang 3125
nông, công, thương, binh, gái trai già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở địa
vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất” [42, tr 513] Người cũng chứng minh rằng, trong tiến trình cách mạng không được bỏ qua đối tượng phụ nữ, Người nói: “Bây giờ toàn dân ta ai cũng muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải làm gì? Nhất định phải tăng gia sản xuất cho thật nhiều Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động Muốn có nhiều sức lao động thì
phải giải phóng sức lao động của phụ nữ” [49, tr 300]
1.2.1.2 Thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ là một cuộc cách
mạng lâu dài và khó khăn
Hồ Chí Minh cũng nhận thấy rằng, cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ là một cuộc cách mạng to lớn và khó khăn, đòi hỏi phải có một quá trình thực hiện xuyên suốt, lâu dài và bền bỉ Người nói: “Một cuộc cách mạng khá to và khó Vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội, vì thế không thể dùng vũ lực mà đấu tranh” [44, tr 342] Khó khăn lớn nhất là những định kiến phong kiến áp đặt cho phụ nữ đã rất lâu, như lời Hồ Chí Minh, đã mấy nghìn năm qua Những tư tưởng phong kiến tác động tiêu cực
vì hạ thấp địa vị, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, làm cho rất nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ bị đẩy xuống tận cùng của sự
áp bức, bóc lột và đối xử bất bình đẳng Tuy vậy, họ có muốn đấu tranh để giải phóng mình hay cam chịu? Có, một bộ phận phụ nữ tiến bộ thấy được những phi lý, bất công vô lý đó nên muốn thoát khỏi sự trói buộc ấy Kết quả, lập tức họ bị giam hãm, đọa đày, trừng trị Do vậy, dần dần, mọi người xem như đó là việc bình thường, chứ không xem đó là bất công là cổ hữu cần phải gạt bỏ và thậm chí bản thân phụ nữ cũng có suy nghĩ như thế Vì vậy, muốn xóa bỏ bất công, những tư tưởng lạc hậu đó không phải đơn giản, nhanh
Trang 3226
chóng mà đòi hỏi cả một quá trình, cần sự quan tâm của tất cả mọi người, của toàn xã hội Bởi lẽ, đây không phải chỉ là việc giải quyết những mâu thuẫn tranh chấp giữa hai giới, nữ và nam, lại càng không phải là việc riêng của phụ
nữ mà là của tất cả mọi người, của toàn xã hội Bởi vì, đây là một vấn đề mang tính cộng đồng và có liên quan chặt chẽ đến các khía cạnh của các mặt rộng lớn, phức tạp của đất nước
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh đã khẳng định dứt khoát rằng, tuy khó khăn, gian khổ nhưng muốn thắng lợi thì công cuộc “giải phóng phụ nữ là một cuộc cách mạng phải tiến hành thường xuyên, kiên trì, triệt để, phải thu hút cả xã hội tham gia và làm cách mạng từng người, từng gia đình, đến toàn dân” [44,
tr 342] và “Dù to và khó nhưng nhất định thành công” [44, tr 342] Đó là lời khẳng định có căn cứ của Hồ Chí Minh, bởi vì giải phóng dân tộc, giải phóng giải phóng giai cấp tiến tới giải phóng con người đã trở thành xu thế chung của nhân loại Với sự tin tưởng và định hướng của Hồ Chí Minh, sự nỗ lực của bản thân phụ nữ và sự giúp đỡ của các cơ quan chính trị, cùng toàn xã
hội, con đường giải phóng cho phụ nữ Việt Nam chắc chắn sẽ thành công
1.2.1.3 Phụ nữ phải được phát huy vai trò của họ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở, phải tạo điều kiện cho phụ nữ được bình đẳng với nam giới trên nhiều mặt, nhiều phương diện, cả về chính trị,
kinh tế, văn hóa hay giáo dục Người dẫn lời trong “Cương lĩnh chính trị của
các sinh viên cách mạng”, trong có đoạn viết: “Bình đẳng về giáo dục chính
trị và kinh tế cho cả nam và nữ Thi hành hệ thống trường học thống nhất - tức là thành lập các trường học trong đó con trai và con gái cùng học” [38, tr
243] Tuy nhiên, do sự quy định của tính loài, người phụ nữ phải làm tròn
nghĩa vụ của một công dân, nếu đi làm thì phải hoàn thành nghĩa vụ, công việc của cơ quan, đơn vị vừa phải gánh thêm nghĩa vụ sinh con, cho con bú,
Trang 3327
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái để tái sản xuất ra sức lao động và duy trì nòi giống Do đó, nếu hiểu quyền bình đẳng của phụ nữ theo nghĩa tuyệt đối là rất phiến diện, bình đẳng tức là sự ngang quyền giữa nữ giới và nam
giới Trong tác phẩm “Nam nữ bình quyền”, Hồ Chí Minh cũng đã khẳng
định, nếu chỉ xem việc đòi hỏi phụ nữ phải được bình đẳng với nam giới theo kiểu: “hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng bình quyền” [44, tr 342] thì là rất sai lầm
Trong lĩnh vực chính trị
Với cương vị Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh quan tâm ngay từ đầu việc giúp đỡ phụ nữ được bình đẳng với nam giới về mặt chính trị
Trong công tác bầu cử, ứng cử, Người nói: “Có so sánh hoàn cảnh phụ
nữ ta bây giờ và hoàn cảnh phụ nữ ta trước khi giải phóng, chúng ta mới thấy
rõ, từ ngày nước ta được giải phóng đến nay, phụ nữ đều tiến bộ rõ về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội một trong những tiến bộ rõ rệt nhất là phụ nữ ta hiện nay tham gia chính quyền ngày càng nhiều” [49, tr 639] Như vậy, theo Hồ Chí Minh, để giải phóng phụ nữ nhằm thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trên lĩnh vực chính trị, trước tiên phải trang bị cho phụ nữ công cụ lý luận, tổ chức họ tự giác tham gia một cách tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng chính mình, từ đó, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị như bầu cử, ứng cử, lãnh đạo, quản lý một
cách bình đẳng với nam giới
Đưa quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị vào Hiến pháp Để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ nhằm thực hiện quyền bình đẳng giữa
nam và nữ trên lĩnh vực chính trị, Hồ Chí Minh đã đề nghị đưa vấn đề nam nữ bình đẳng vào Hiến pháp đầu tiên và các lần sửa đổi sau đó Người nói: “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân” [41, tr
Trang 3428
491] Đây chính là cơ sở pháp lý vững chắc để đảm bảo tự do cho dân tộc
Việt Nam nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng Do vậy, Hồ Chí Minh luôn chỉ đạo thực hiện những nguyên tắc mà Hiến pháp đã quy định về vấn đề nam, nữ bình quyền, nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trên lĩnh vực chính trị
Luôn quan tâm đến phụ nữ khi tham gia hoạt động chính trị Ví như,
đến tham dự các hội nghị hoặc các lớp học chính trị, Người luôn để ý xem số lượng phụ nữ tham gia là bao nhiêu phần trăm Những hội nghị, lớp học có quá ít phụ nữ, Người thẳng thắn phê bình, nhắc nhở các cấp lãnh đạo Trong
lần “Nói chuyện với đồng bào xã Đại Nghĩa ở Hà Đông”, Người đã phê bình
Ban lãnh đạo xã không quan tâm, giúp đỡ chị em phụ nữ đứng vào hàng ngũ của Đảng: “Đảng viên phụ nữ ở xã Đại Nghĩa thì lại càng ít, chỉ có hai đồng chí Như thế là các chú còn trọng nam khinh nữ Không có lẽ cả xã chỉ có hai chị em xứng đáng được vào Đảng Vai trò của phụ nữ trong sản xuất rất quan trọng, các chú không chú ý dìu dắt, giúp đỡ chị em, tổ chức chị em vào Đảng
là không đúng” [50, tr 209] Hay, năm 1968, trong buổi “nói chuyện với cán
bộ tỉnh Thanh Hóa”, Người có hỏi: “Trong Tỉnh ủy có bao nhiêu ủy viên gái?
Tại sao không có đồng chí gái nào đi đây cả? Gái làm nhiều nhưng đi gặp Trung ương lại không có ai là gái? Điều đó chứng tỏ các đồng chí còn trọng trai khinh gái Cần tích cực sửa chữa.” [52, tr 525] Do vậy, số phụ nữ tham gia hoạt động chính trị ngày càng tăng, hầu hết phụ nữ từ 18 tuổi trở lên họ đều có quyền bầu cử, ứng cử, nhiều phụ nữ đã được tham gia vào bộ máy nhà nước như nam giới “Đến nay, số phụ nữ hiện công tác ở các cơ quan Trung ương đã có trên 5.000 người, ở huyện, xã có hơn 16.000 người và các tỉnh có hơn 330 người, đặc biệt trong Quốc hội khóa II này có 53 đại biểu phụ nữ” [49, tr 639] Người luôn căn dặn: “Các cấp lãnh đạo phải quan tâm hơn nữa
về công tác phụ nữ và chú ý hơn nữa đào tạo cán bộ, phát triển đảng viên và đoàn viên phụ nữ” [51, tr 231]
Trang 35đi họp Đảng, không có thời gian nghỉ ngơi, học tập gì nữa Lại còn cái tệ họp không đúng giờ, nói bảy giờ mà mãi đến tám, chín giờ mới họp và họp kéo dài,…” [52, tr 294] Theo Người, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia và phát huy vai trò của mình khi thực hiện công tác trong lĩnh vực chính trị, nhưng không phải là trói buộc họ vào công tác, hội họp đến nỗi không có thời gian dành để nghỉ ngơi Như thế cũng không thể gọi là giải phóng họ
Trong lĩnh vực kinh tế
Muốn được ngang quyền về kinh tế, phụ nữ phải tự chủ về việc làm và
thu nhập của mình, đồng thời phải thực hành tiết kiệm một cách hợp lý Khi
miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào tăng gia sản xuất, xây dựng chế độ mới, đồng thời chi viện cho miền Nam đánh giặc Để làm được việc đó, Người chỉ ra rằng, phải có nhiều sức lao động, nhiều người tham gia xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất Trong đó, không thể bỏ qua vai trò của người phụ nữ Theo Hồ Chí Minh, không giải phóng sức lao động của phụ nữ, không đặt đúng vị trí, vai trò của họ trong quá trình sản xuất thì cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ sẽ không gặt hái được thành công
Giải phóng sức lao động của phụ nữ Vậy, làm thế nào để giải phóng
sức lao động của phụ nữ? Theo Hồ Chí Minh, phải đưa họ tham gia vào ngoài lao động trong ngành nông nghiệp truyền thống, nhiều ngành nghề mới phát triển ở nước ta như công thương nghiệp, văn hóa, giáo dục, y tế,… gạt bỏ các trở ngại đang làm giảm sức mạnh tiềm tàng về năng lực, trí tuệ, về phẩm chất
Trang 3630
đạo đức tốt đẹp của phụ nữ, nhằm phát huy tối đa nguồn nhân lực nữ vào sự
nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước Tại “Đại hội chiến sĩ thi đua ngành
thương nghiệp lần thứ nhất”, Hồ Chí Minh nhắc nhở: “đoàn thể phụ nữ, cơ
quan phụ trách cần chú ý dìu dắt, giúp đỡ hơn nữa để nhiều chị em có thể thay cho nam giới trong công việc buôn bán” [47, tr 333]
Tạo điều kiện cho phụ nữ được bồi dưỡng, nâng cao trình độ, đáp ứng tốt nhu cầu công việc Vấn đề khó khăn thực hiện quyền bình đẳng cho phụ
nữ trong lĩnh vực kinh tế cũng xuất phát từ những định kiến trong xã hội, luôn
đề cao và xem trọng nam giới, xem thường và hạ thấp khả năng làm việc của
nữ giới, luôn cho rằng phụ nữ phải ở nhà, chăm sóc chồng con, lo toan việc nhà, còn đàn ông mới được tiếp xúc với xã hội, chăm lo kinh tế Vì vậy, Hồ Chí Minh nhắc nhở các cấp lãnh đạo cần quan tâm, tạo điều kiện cho phụ nữ nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu công việc Người nói: “Muốn cho người mẹ sản xuất tốt thì cần tổ chức tốt những nơi gửi trẻ và những lớp học mẫu giáo” [50, tr 59]; “Nhà ăn công cộng càng thêm nhiều, thì phụ nữ sẽ rảnh rang để tham gia lao động Như vậy phụ nữ mới thật sự được giải phóng, nam nữ mới thật là bình quyền” [50, tr 152] Với những quan điểm tiến bộ ấy, đã tạo nên một bước chuyển biến mới trong đời sống của phụ
nữ, giúp họ có cơ hội phát huy tối đa vai trò của mình trong lĩnh vực kinh tế,
vì thế “Phụ nữ ở xí nghiệp, ở nông thôn, ở cơ quan đều hăng hái tham gia thi đua ái quốc, thành tích không kém đàn ông” [44, tr 340]
Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quan tâm đúng lúc của Hồ Chí Minh, quyền bình đẳng của phụ nữ về kinh tế bước đầu được xác lập Tỷ
lệ lao động nữ ngày càng tăng lên về số lượng và chất lượng, hoạt động ngày càng đa dạng trong các ngành nghề, tạo nên một bước ngoặc đáng ghi nhận về việc phát huy vai trò của phụ nữ ngoài xã hội
Trang 3731
Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội
Chú trọng công tác giáo dục, đào tạo Hồ Chí Minh cho rằng, để thực
hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, cần phải tạo
điều kiện cho họ tham gia vào các hoạt động xã hội Tuy nhiên, phụ nữ chỉ có
thể đạt được tới mọi quyền bình đẳng trong lĩnh vực này khi họ có kiến thức,
có sự hiểu biết về mọi mặt, tức họ phải học tập và không ngừng nâng cao trình độ Một trong những khó khăn của Việt Nam sau khi giành được độc lập năm 1945 là “giặc dốt” và phụ nữ là một trong những nạn nhân của chính sách “ngu dân” mà thực dân Pháp áp dụng cho dân tộc Việt Nam ta Do vậy, theo Hồ Chí Minh, chỉ bằng cách nâng cao trình độ văn hóa cho phụ nữ mới giúp họ giải thoát họ khỏi những trói buộc của chế độ cũ, mới thực sự giải
phóng được cho họ Trong “Lời kêu gọi chống nạn thất học tháng 10/1945”,
Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” [41, tr 40] Đặc biệt, phụ nữ lại càng cần phải học, bởi lâu nay họ đã bị kìm hãm Vì thế, đây là lúc các họ phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là thành viên của dân tộc Việt Nam anh hùng Người phấn khởi khi biết phụ nữ từng bước có mặt trong các lĩnh vực của đời sống văn hóa - xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục, ở cả vị trí người dạy cũng như người học Tại
buổi “Nói chuyện tại Đại hội Giáo dục phổ thông toàn quốc”, Hồ Chí Minh
vui mừng có lời khen những gương điển hình học giỏi của phụ nữ, Người vừa động viên, vừa khích lệ để họ cố gắng thi đua
Chú trọng công tác giáo dục đào tạo một cách sâu và rộng cho phụ nữ Người nhắc nhở rằng, tuy phụ nữ có tham gia vào lĩnh vực giáo dục “Nhưng giáo viên phụ nữ còn quá ít Chúng ta phải cố gắng hơn nữa Sau này công tác giáo dục phần nhiều phải do phụ nữ đảm nhận, ” [47, tr 289] Tuy nhiên,
Trang 3832
Người cũng nhắc nhở đội ngũ giáo viên cũng phải làm tốt công tác bình đẳng
giới trong nhà trường, trong lần “nói chuyện tại trường Đại học sư phạm Hà
Nội”, Hồ Chí Minh lưu ý: “Một điểm nữa là các cháu gái chưa được giúp đỡ
tốt Các cháu trai, cháu gái chưa thật sự coi nhau như anh em, chị em ruột thịt trong một nhà Trái lại, còn có ý ganh tị, bắt bẻ, sợ bạn học sinh gái hơn mình thì mất thể diện “anh hùng nam tử” Cháu nào còn rơi rớt tư tưởng, tác phong
ấy, thì cần phải sửa chữa” [51, tr 403]
Tạo điều kiện tối đa cho phụ nữ được tham gia vào hoạt động văn hóa -
xã hội Người đã khẳng định: “Về các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa,
đàn bà đều được bình đẳng với đàn ông” [40, tr 631] Trong tác phẩm “Chúc
mừng ngày quốc tế phụ nữ “08 - 3””, Hồ Chí Minh cũng căn dặn thêm: “Chị
em công nhân và công chức THI ĐUA làm trọn nhiệm vụ của mình Chị em trí thức THI ĐUA góp phần vào việc phát triển văn hóa” [47, tr 282]
Đưa quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực văn hóa - xã hội vào Hiến pháp Hồ Chí Minh cũng đã đề nghị đưa vào Hiến pháp vấn đề bình
đẳng nam, nữ trong lĩnh vực văn hóa nhằm tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong lĩnh vực này Cụ thể hóa Hiến pháp năm 1946, Điều 24 Hiến pháp năm 1959 một lần nữa khẳng định quyền bình đẳng về văn hóa của phụ nữ: “Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” [49,
tr 705]
Ngoài ra, Hồ Chí Minh cũng nói thêm: “Đồng thời, phụ nữ ta cần đoàn
kết với chị em các nước bạn và phụ nữ dân chủ các nước khác để giữ gìn hòa bình thế giới và xây dựng hạnh phúc cho cả loài người Đó là trách nhiệm rất
vẻ vang của phụ nữ Việt Nam ta!” [47, tr 282] Tất cả những điều trên đã khẳng định, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự bình đẳng và vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực văn hóa - xã hội nói riêng, sự tiến bộ của phụ nữ nói chung
Trang 39tế, chính trị, văn hóa - xã hội mà giải phóng phụ nữ còn phải thực hiện từ trong gia đình
Phải thấy được vai trò của phụ nữ trong gia đình Trong gia đình, phụ
nữ là người đóng vai trò quan trọng nhất, trách nhiệm của họ thật lớn lao, góp phần không nhỏ vào sự phát triển bền vững của gia đình, cũng như sự phát triển chung của xã hội Bởi vì, ngoài việc sinh và nuôi dưỡng con cái, giáo dục con cái trở thành những người có ích cho đất nước Phụ nữ trong gia đình còn là người đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, truyền thụ những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, những giá trị truyền thống như lòng yêu nước, đoàn kết, căm thù giặc và cách sống với nhau có tình có nghĩa
Phải tạo được sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong một gia đình thông
qua việc ban hành Luật Theo Người, “Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính
vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải chú ý đến hạt nhân cho tốt Tục ngữ
ta có câu “thuận vợ, thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn”” [48, tr 300] Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ ở khía cạnh gia đình, phải tạo được sự bình đẳng giữa giữa vợ và chồng, bởi nếu thực hiện tốt quyền bình đẳng giữa vợ và chồng sẽ dẫn đến một gia đình hòa
thuận, hạnh phúc Năm 1954, tại “Hội nghị cán bộ dự thảo Luật Hôn nhân và
Gia đình”, Hồ Chí Minh khẳng định Luật Hôn nhân và Gia đình là bộ luật
tiến bộ và cách mạng bởi nó có vai trò to lớn đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, triệt tiêu tư tưởng phong kiến, tư sản ở tồn tại trong suy nghĩ nam
Trang 40Phải đảm bảo thực thi Luật một cách triệt để, nghiêm minh, chú trọng
công tác phổ biến Luật vào đời sống Sau khi được ban hành, Hồ Chí Minh
luôn theo dõi và nhắc nhở việc thực thi pháp luật nhằm đẩy mạnh thực hiện mang lại hiệu quả và đi vào đời sống Do đó, Người yêu cầu các đoàn thể phải thực hiện việc tuyên truyền cho từng gia đình và cộng đồng, đồng thời kêu gọi phụ nữ phải tìm hiểu và nắm chắc Luật để làm cơ sở đấu tranh bảo vệ quyền bình đẳng trong gia đình của mình Người viết: “Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên phải phụ trách tuyên truyền và giáo dục một cách rộng khắp và bền bỉ cho mỗi gia đình hiểu rõ pháp luật Nhà nước và thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa vấn đề ấy Bà con trong làng xóm và trong hàng phố cần phải có trách nhiệm ngăn ngừa, không để những việc phạm pháp như vậy xảy ra Bản thân chị em phụ nữ phải có chí tự cường, tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình” [48, tr 706]
Lên án những hành động bất bình đẳng mà trong gia đình gây ra cho phụ nữ Năm 1967, trong buổi “nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây”, có đoạn
Người nói: “Lúc nãy Bác hỏi các cô, các chú có còn tệ đánh vợ không? Đánh
vợ là rất xấu! Sau khi thì anh anh em em, mà khi thì lại thụi người ta? Nếu có đánh vợ thì phải sửa vì như vậy là dã man, là phạm pháp luật Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp” [52, tr 295] Năm
1968, trong buổi “nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa”, Người có hỏi: