1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẢNG bộ các TỈNH, THÀNH ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG vận DỤNG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH vào VIỆC PHÁT HUY dân CHỦ cơ sở TRONG sự NGHIỆP đổi mới

83 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 484,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hành dân chủ trong lĩnh vực chính trị bằng cách tổ chứccho nhân dân tham gia xây dựng nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, Hồ Chí Minh đã khơi dậy và nâng cao động lực tinh thần

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN TH ƠKHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: S ư ph ạ m Giáo d ụ c công dân

Mã ngành: 52140204

GIÁO VIÊN H ƯỚ NG D Ẫ N: SINH VIÊN TH Ự C HI Ệ N:

ThS.NGUYỄNTHỊKIMCHI NGUYỄNPHƯƠNGĐẰNG

MSSV:6 5 3 5

C Ầ N TH Ơ – Tháng 5/ 200

Trang 2

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài: 1

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: 3

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: 3

4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài: 3

5.Kết cấu của đề tài: 3

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ 1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai tr ò và bản chất dân chủ: 4

1.1.1 Khái niệm dân chủ: 4

1.1.2 Vai trò của dân chủ: 8

1.1.3 Bản chất của dân chủ: 11

1.2 Nội dung tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh về dân chủ: 15

1.2.1 Dân chủ trong lĩnh vực chính trị: 15

1.2.2 Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế: 18

1.2.3 Dân chủ trong lĩnh vực văn hóa – xã hội: 24

1.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống chế độ dân chủ ở nước ta: 32

CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ CÁC TỈNH TH ÀNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG PHÁT HUY DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI DƯỚI ÁNH SÁNG TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ HỒ CHÍ MINH. 2.1 Tình hình, đặc điểm kinh tế - xã hội Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) : 39

2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát huy DCCS và công tác lãnh đạo thực hiện DCCS của Đảng bộ các tỉnh th ành ĐBSCL trong thời kỳ đổi mới: 40

2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện dân chủ ở Đồng bằng sông Cửu Long (qua khảo sát thực tế một số tỉnh thành ĐBSCL): 43

2.3.1 Thành tựu: 43

2.3.2.Hạn chế: 50

2.4 Phương hướng, giải pháp thực hiện: 55

2.4.1 Phương hướng: 55

2.4.2 Giải pháp thực hiện: 60

Trang 3

PHẦN KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 4

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BCĐDCCS: Ban chỉ đạo dân chủ cơ sở.

CBCC: Cán bộ công chức.

CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.

CNVC: Công nhân viên chức.

DCCS: Dân chủ cơ sở.

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long.

ĐCSVN: Đảng Cộng sản Việt Nam.

MTTQVN: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

UBND: Ủy ban nhân dân.

XHCN: Xã hội chủ nghĩa.

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Dân chủ - Bình đẳng – Công bằng – Tự do, đó là một hệ giá trị xã hội của văn minh

và văn hóa mà con người và cộng đồng loài người phải không ngừng sáng tạo ra thông qualao động, đấu tranh và tự giải phóng mình Dân chủ trở thành khởi đầu của mọi giá trị xã hội

đã nêu trên Nó là kết quả và thành quả do đấu tranh mà có, do xây dựng mà thành của conngười trong xã hội Lịch sử cuộc hành trình để thực hiện mục tiêu giải phóng đó, trước hết là

lịch sử đấu tranh cho dân chủ, giành lấy dân chủ Đó cũng chính là những thước đo để đánhgiá tiến bộ xã hội mà một chế độ xã hội đạt được trong một thời đại lịch sử nào đó Do đó,dân chủ là mục tiêu đeo đuổi của các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, Người thường nói: “Nước ta là

nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do dân làm chủ”, “Chế độ ta là chế độ dân chủ Tức là nhân

dân làm chủ” Người còn nói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân làchủ” [13, tr.515] Có thể coi quan niệm trên đây là quan niệm chính thức của Hồ Chí Minh

về dân chủ và đó là quan niệm ngắn gọn nhất phản ánh đúng thực chất v à nội dung của quanniệm Hồ Chí Minh về dân chủ

Tại sao Bác lại đặt vấn đề dân chủ lên hàng đầu như vậy Bởi vì, Hồ Chí Minhkhẳng định công việc đổi mới, xây dựng, kháng chiến, kiến quốc, tổ chức x ã hội là tráchnhiệm, công việc của dân, do dân và quyền hành, lực lượng đều ở nơi dân

Như vậy, là mục tiêu nhưng dân chủ đồng thời là động lực của sự phát triển xã hội

Hồ Chí Minh đã tạo nên động lực mạnh mẽ của toàn dân tộc, đoàn kết toàn dân, làm hậuthuẫn vững chắc cho các hoạt động chính trị - ngoại giao của Nhà nước ta sau cách mạngTháng Tám thắng lợi

Xuất phát từ quan niệm đó, Hồ Chí Minh coi thực hành dân chủ là sự huy động và

sử dụng được tối đa quyền hạn, lực lượng của toàn dân để thực hiện những nhiệm vụ củacách mạng vì lợi ích của nhân dân ở tất cả các thời kỳ phát triển Và Bác cũng là một cá nhântiêu biểu cống hiến suốt cả cuộc đời mình cho mục tiêu “Dân quyền - Dân sinh - Dân chủ”

Ngày nay, đất nước ta đang trong quá trình kiến thiết sau những năm tháng chiến

tranh Quá trình xây dựng này càng thể hiện rõ tư tưởng đúng đắn của Bác về sức mạnh củanhân dân Chính vì thế, từ khi bước vào công cuộc đổi mới cho đến nay, Đảng và Nhà nước

Trang 6

ta đã thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” (Đại hội VI) Với

việc nhấn mạnh “Cần phải xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở” (Đại hội VIII),tiếp theo đó, Đảng ta bổ sung nội dung dân chủ v ào hệ mục tiêu của đổi mới trong Nghịquyết Đại hội IX đều nhằm mục đích nâng cao nhận thức dân chủ , thực hành dân chủ vàphát huy quyền làm chủ của nhân dân

Thời gian qua, việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở c ơ sở đã thực sự phát huy đượcquyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớncủa các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng v à thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xãhội, tạo ra sự ổn định chính trị và sự đồng thuận trong đời sống xã hội Tuy nhiên , quá trìnhthực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn còn bất cập và có xu hướng lan rộng Nếu chúng ta không giảiquyết đúng đắn và kịp thời vấn đề này, sự ổn định chính trị, xã hội sẽ không thực hiện được

mà còn ảnh hưởng đến quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng kinh tế chính của đất nước,đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc

Trong tiến trình đổi mới hiện nay, mục tiêu dân giàu, nước mạnh có trở thành hiện thực haykhông còn phụ thuộc rất lớn vào quá trình thực hành dân chủ xã hội Hơn nữa, với tiêu chí làmột nước xã hội chủ nghĩa, tôn chỉ “Dân làm chủ, dân là chủ” [13, trg 515] cần quán triệtmột cách triệt để theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh Có như vậy, chúng tamới đưa đầu tàu Chủ nghĩa Cộng sản đến bến bờ thành công Bởi, dân chủ là mục tiêu vàcũng là động lực của sự phát triển xã hội, sự tồn vong của một dân tộc

Chính vì vậy, là một công dân, cũng l à một giáo viên tương lai, tôi đã

quyết định chọn “Đảng bộ các tỉnh, thành Đồng bằng Sông Cửu Long vận

dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc phát huy dân chủ c ơ sở trong sự

nghiệp đổi mới” làm nội dung bài luận văn vì tính cấp thiết của đề t ài này.

Hơn nữa, tôi chọn đề tài này, thứ nhất,là bổ túc thêm vốn kiến thức bản thân,

nhằm phục vụ quá trình giảng dạy; thứ hai, là một công dân, hiểu thêm quá

trình này để góp phần tuyên truyền cho mọi người, giáo dục học sinh tin vàocác chính sách của nhà nước Từ đó, giáo dục các em có ý thức góp tay vào

công tác thực hành dân chủ cho đồng bào dân tộc, tạo nên khối đoàn kết toàndân và sự vững mạnh của đất nước

Trang 7

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

Trên cơ sở hệ thống hóa những quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ và phân

tích thực trạng thực hiện dân chủ cơ sở ở các tỉnh thành ĐBSCL, đề xuất một số giải phápvận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào phát huy DCCS ở các tỉnh thành ĐBSCL hiện nay

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sauđây:

- Hệ thống hóa những quan niệm chủ yếu của H ồ Chí Minh về vai trò, bảnchất, nội dung của dân chủ

- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện dân chủ tại Đồng bằng Sông Cửu

Long qua khảo sát một số tỉnh thành tiêu biểu và phát hiện những vấn đề cần giải quyết

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu vận dụng tư tưởng dân

chủ Hồ Chí Minh vào việc phát huy DCCS ở ĐBSCL trong thời kỳ đổi mới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là những quan niệm của Hồ Chí Minh

về dân chủ và công tác vận dụng tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh vào việc phát huy DCCS ở

ĐBSCL trong thời kỳ đổi mới

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:

Cơ sở lý luận của luận văn là các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ

nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của

Đảng ta về dân chủ và xây dựng thể chế dân chủ, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới

Tác giả ngoài việc sử dụng phương pháp lịch sử, logic, còn sử dụng các phương

pháp khác như tổng hợp và phân tích các nguồn tài liệu (sách giáo khoa, sách tham khảo, tài

liệu điện tử) Đề tài được trình bày theo cách quy nạp

5 Kết cấu của đề tài:

Ngoài Phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

2 chương 7 tiết

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ.

1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai tr ò và bản chất dân chủ:

1.1.1 Khái niệm dân chủ:

Từ “Dân chủ” xuất hiện khoảng 1400 lần trong H ồ Chí Minh Toàn tập, xuấtbản năm 1995 và xuất hiện lần đầu trong bài “Phong trào Cộng sản quốc tế” mà Hồ

Chí Minh đăng trên báo Le Paria năm 1921 Đi ều đáng lưu ý là ở thời điểm đó Hồ ChíMinh đã viết: “Có thể hy vọng một cách không quá đáng rằng ,trong m ột tương lai gầnđây, hai chị em nước Trung Hoa mới và nước Nga công nhân sẽ dắt tay nhau trong mối

tình hữu nghị để tiến lên vì lợi ích của nền dân chủ và nhân đạo” [10, tr.34]

Hồ Chí Minh là người luôn trình bày những khái niệm phức tạp nhất bằngnhững ngôn từ rất giản dị nhưng hàm chứa một nội dung hết sức súc tích và dễ hiểu.Cũng như vậy, Người đã nhiều lần đưa ra và trả lời một cách ngắn gọn nhất quan điểmcủa mình về khái niệm dân chủ

Hồ Chí Minh thường nêu câu hỏi: “Dân chủ là như thế nào?” và Người lại tựtrả lời dân chủ “là dân làm chủ” và “dân là chủ” [14, tr.515) Như vậy, “Dân chủ” cónghĩa là “toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân” Quyền lực n ày bao quát một phạm virất rộng Ta có thể thấy rõ hơnquan niệm này với sự lý giải cô đọng sau đây của Người:

“Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dânBao nhiêu quyền hạn đều của dânCông việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dânChính quyền từ xã đến chính phủ do dân cử ra

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [13, tr 515].Quan niệm của Hồ Chí Minh trên đây cho thấy nội dung của nó trước hết thểhiện nội dung căn bản nhất của lo ài người về khái niệm dân chủ (ra đời từ thế kỷ VII –

Trang 9

VI trước Công nguyên) - Demokratia – quyền (hành) lực (lượng) thuộc về nhân dân(đều ở nơi dân).

Dân chủ - Bình đẳng – Công bằng – Tự do, đó là một hệ giá trị xã hội của văn

minh và văn hóa mà con người và cộng đồng loài người phải không ngừng sáng tạo ra

Một xã hội như thế chỉ bắt đầu khi mọi hình thức bóc lột về kinh tế, áp bức vềchính trị và nô dịch về tinh thần đẩy con người và các quan hệ xã hội của nó tới sự thahóa bị xóa bỏ Mác từng nói tới con đ ường xóa bỏ tha hóa đó tất yếu phải xóa b ỏ chế

độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xóa bỏ trật tự hiện tồn với

sự thống trị của chủ nghĩa tư bản, thực hiện nhân đạo hóa ho àn cảnh; làm cho hoàncảnh thực sự có tính người để con người tự biểu hiện và tự khẳng định những sức mạnhbản chất người của nó Ông hình dung thấy tương lai và triển vọng tích cực ấy của lịch

sử ở xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh, một x ã hội của “chủ nghĩa nhân đạo hoànbị”, ở đó, sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi cá nhân là điều kiện cho sự phát triển

tự do và toàn diện của tất cả mọi người Đây chính là mục đích tự thân của lịch sử

Ăngghen cũng đã từng nói tới sự nghiệp giải phóng con ng ười và loài người

theo mục tiêu ấy là cuộc hành trình lịch sử lâu dài để con người trở thành chủ thể chủ

động và tích cực của lịch sử, để loài người thực hiện bước chuyển vĩ đại “từ vương

quốc tất yếu sang vương quốc của tự do”

Lịch sử cuộc hành trình để thực hiện mục tiêu giải phóng đó, trước hết là lịch

sử đấu tranh cho dân chủ, giành lấy dân chủ Nó không phải là tặng vật của tự nhiên,càng không phải là ân huệ được ban phát từ các đấng bề trên tối cao có lòng nhân từ

nào đem lại, mà nó là thành quả của đấu tranh xã hội của quần chúng chống lại cường

quyền, áp bức để tự mình giải phóng mình, giành lấy cho mình quyền và lợi ích, để tồntại và phát triển như một con người làm chủ và tự quyết định lấy vận mệnh của m ình.Dân chủ, do đó là sản phẩm của lịch sử, của tiến bộ v à phát triển, nó vừa là nguyênnhân lại vừa là kết quả, vừa là động lực lại vừa là mục tiêu của tiến bộ và phát triển ấy.Cũng như vậy, dân chủ là điều kiện, là tiền đề thực hiện bình đẳng, công bằng và tự do

cho con người và xã hội Đến lượt nó, mỗi bước tiến và thành tựu đạt được trong xã hội

của bình đẳng, công bằng và tự do lại khẳng định giá trị xã hội của dân chủ và thúc đẩydân chủ phát triển, góp phần củng cố vững chắc tính pháp lí v à tính nhân văn của dân

Trang 10

chủ, vốn là hai mặt của cùng một vấn đề dân chủ, với tư cách là một giá trị xã hội mà cũng với tư cách là một thể chế xã hội, biểu hiện tập trung ở thể chế nhà nước, thông

qua thể chế nhà nước

Là một giá trị xã hội, dân chủ được xác định là tiêu chí và thước đo đánh

giá tiến bộ và phát triển

Là một thể chế xã hội, dân chủ được xây dựng thành một chế độ, hay một

nền dân chủ gắn liền với việc xây dựng chế độ chính trị - xã hội, chế độ nhà

nước

Với cách nhìn lịch sử như vậy, trong các bài nói, viết và các văn kiện, Hồ Chí

Minh đã nêu lên một khái niệm là lý tưởng dân chủ và cho rằng đó là một tiêu chí phấnđấu chung của mọi quốc gia, dân tộc, của toàn nhân loại Mặt khác, Người còn đưa

khái niệm về dân chủ cũ [15, tr.210] (dân chủ tư sản) và dân chủ mới [12, tr.15] đồngthời nhấn mạnh tới sự khác biệt v à hơn hẳn của nền dân chủ mới đối với nền dân chủ

cũ (dân chủ tư sản) và cho rằng thực hiện thành công dân chủ mới là điều kiện để tiếnlên chủ nghĩa xã hội

Hồ chí Minh đã viết: “Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độphong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) – nói chung thì loài

người phát triển theo quy luật nhất định như vậy Nhưng tùy hoàn cảnh mà các dân tộc

phát triển theo các con đường khác nhau

Có nước thì đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như Liên Xô Có nước thì

phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến l ên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như các

nước Đông Âu, Trung Quốc và Việt Nam ta…”[15, tr.248]

Tóm lại, quan niệm tổng quát nhất mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Dân chủ là dân

là chủ và dân làm chủ trong đó mọi quyền hành và lực lượng là ở nơi dân (thuộc về nhân dân).

Khi phân rõ quyền hành và lực lượng, quan niệm của Hồ Chí Minh không chỉdừng lại như những định nghĩa cổ điển coi dân chủ chỉ l à vấn đề quyền lực thuộc vềnhân dân mà còn vạch rõ nguồn gốc, lực lượng tạo ra quyền lực là xuất phát từ nhân

dân Đây là cống hiến mới nữa của Hồ Chí Minh vào nội hàm của khái niệm dân chủ

Quan niệm đó đã làm sáng tỏ quan điểm Hồ Chí Minh về cách mạng l à sự nghiệp của

Trang 11

quần chúng khi Người cho rằng công việc đổi mới, xây dựng, kháng chiến kiến quốc l àtrách nhiệm và công việc của dân Đồng thời quan niệm đó còn làm nổi bật và thể hiện

rõ tư tưởng của Người về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa – nền dân chủ lấy mục tiêu caonhất là vì con người và giải phóng triệt để con người

Một khái niệm mới đặt ra khi nghiên cứu khái niệm dân chủ theo tư tưởng HồChí Minh là phạm vi của khái niệm dân chủ Hồ Chí Minh không chỉ coi dân chủ có ýnghĩa là một giá trị chung, là sản phẩm của văn minh nhân loạ i, xem dân chủ như lý

tưởng phấn đấu của các dân tộc xét tr ên phương diện lịch sử và nó cũng không dừng lại

với tư cách như một thiết chế xã hội của một quốc gia mà mở rộng ra, thể hiện mốiquan hệ của đời sống quốc tế - một thiết chế quốc tế cần được xây dựng cho nhân loại

Hồ Chí Minh coi dân chủ, bình đẳng là cho tất cả các quốc gia – dân tộc trongmối quan hệ quốc tế và xem đó là lối ứng xử văn minh giữa các quốc gia – dân tộctrong thế giới hiện đại Tư tưởng đó là cơ sở cho sự hình thành nên một văn hóa – vănhóa hòa bình của nhân loại Hồ chí Minh đã nêu lên công thức đảm bảo cho việc thiếtlập một nền hòa bình thế giới dựa trên nền tảng dân chủ và bình đẳng của các dân tộc

khi Người nói: “Hòa bình – một nền hòa bình chân chính xây dựng trên công bình và lítưởng dân chủ phải thay cho chiến tranh, rằng tự do, b ình đẳng, bác ái phải thực hiện

trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc, màu da”[12, tr.66 – 67] Nói một cách

khác, theo Hồ Chí Minh, để đảm bảo hòa bình cho toàn nhân loại phải có một thiết chế

dân chủ và thiết chế này phải được thiết lập dựa trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng quyền dân tộc cơ bản của tất cả các quốc gia – dân tộc.

Trong trường hợp này, dân chủ biểu thị mối quan hệ quốc tế b ình đẳng hòa

bình giữa các dân tộc

Ngày nay, loài người bước sang thế kỉ XXI với niềm tin về một thế g iới hòa

bình trong một thiết chế dân chủ Tuy nhiên, đây lại là lúc chủ nghĩa cường quyền đanglộng hành, hòa bình bị đe dọa thường xuyên, thiết chế dân chủ mỏng manh mà nhânloại cố gắng đạt được có thể bị loại bỏ bất cứ lúc n ào Vì vậy, nhu cầu về một thiết chếdân chủ trong quan hệ quốc tế theo quan niệm của Hồ Chí Minh thực sự là vấn đề cực

kỳ bức thiết của toàn nhân loại tiến bộ Và chỉ có trải qua những năm đầu của thập kỉthứ nhất trong thiên niên kỉ mới đầy máu lửa với sự áp chế dân tộc của các thế lực hiếu

Trang 12

chiến, mới thấy hết ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một thiết chế dân chủ

đích thực trên toàn thế giới

Đây còn là một cống hiến mới của Hồ Chí Minh, đối với pháp lý quốc tế , đối

với văn hóa và hòa bình của nhân loại

1.1.2 Vai trò của dân chủ:

Hồ Chí Minh quan niệm dân chủ l à một thiết chế chính trị, là phương thức tồntại của nhân dân và là sản phẩm của tiến bộ xã hội Đồng thời, Người coi thực hành dânchủ là sự huy động và sử dụng được tối đa quyền hạn, lực lượng của toàn dân để thựchiện những nhiệm vụ của cách mạng v ì lợi ích của nhân dân ở tất cả các th ời kỳ pháttriển Với những ý nghĩa đó, dân chủ có vai tr ò rất to lớn: dân chủ vừa là mục đích, vừa

là động lực của sự phát triển xã hội

Dân chủ là mục tiêu của sự phát triển.

Từ chế độ dân chủ chủ nô tới chế độ dân chủ t ư sản là những bước tiến vĩ đạicủa các thiết chế xã hội, của những phương thức tồn tại của nhân dân và nó biểu thị sựtiến bộ của xã hội loài người Tuy nhiên, nhân loại vẫn phải tiếp tục tranh đấu cho mộtthiết chế xã hội mới, một phương thức tồn tại với một trình độ văn minh mới: dân chủ

xã hội chủ nghĩa Rõ ràng, trong lịch sử nhân loại, dân chủ là mục tiêu tranh đấu củanhân loại, là cuộc đấu tranh giải phóng chính bản thân con ng ười, cuộc đấu tranh để

vươn tới một xã hội triệu lần dân chủ hơn nền dân chủ tư sản với áp bức giai cấp, áp

bức dân tộc và chiến tranh

Hồ Chí Minh khẳng định nước ta là một nước dân chủ và là dân chủ mới đểtiến đến chủ nghĩa xã hội Tư tưởng đó của Người đã được ghi thành tiêu chí của đất

nước ở thời kỳ tồn tại và phát triển của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và hiện nay

cũng là tiêu chí của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Xây dựng nh à nướcdân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để tiến đến xây dựng

nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân thực chất là để đạt tới

mục tiêu xây dựng nước ta là nước dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh Từ mục tiêuphấn đấu xây dựng nước Viêt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường mà Hồ ChíMinh nêu lên từ Đại hội II của Đảng (năm 1951) đến mục ti êu Viêt Nam hoà bình, độclập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh được Người chỉ rõ sau năm 1954 và được ghi

Trang 13

nhận như điều mong muốn cuối cùng để lại cho Đảng và nhân dân ta trong Di chúc,

dân chủ luôn là mục tiêu phấn đấu không ngừng của cách mạng n ước ta (Cụm từ Dân

chủ và Giàu mạnh được Hồ Chí Minh dùng đầu tiên ở Lời kêu gọi trong buổi lễ mừng quốc khánh vào ngày 2 - 9 - 1955 và lần cuối xuất hiện trong Di chúc Cụm từ n ày xuất hiện 82 lần trong Hồ Chí Minh Toàn tập).

Vai trò quan trọng đó được Hồ Chí Minh thực hiện rất th ành công trong thựctiễn cách mạng nước ta Thực hành dân chủ trong lĩnh vực chính trị bằng cách tổ chứccho nhân dân tham gia xây dựng nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, Hồ Chí

Minh đã khơi dậy và nâng cao động lực tinh thần làm chủ đất nước của mỗi người và

cả dân tộc, trong đó mỗi người dân sử dụng lá phiếu của mình như một bảo đảm caonhất để giữ nền độc lập dân tộc mới gi ành được Nền dân chủ mới ngay sau khi đ ượcthiết lập đã lập tức thể hiện bản chất, vai tr ò của mình: phát động toàn dân tham giathực hiện thành công các nhiệm vụ chống giặc đói, chống giặc dốt v à chống giặc ngoại

xâm, đưa đất nước và chế độ mới vượt qua bước hiểm nghèo của lịch sử Chính phong

trào do nhân dân thực hiện trên các lĩnh vực đã khẳng định vị trí là chủ và làm chủ củamỗi người dân trong một quốc gia độc lập và điều đó tạo ra sức mạnh tổng hợp vôcùng lớn lao đưa cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh hiểm nghèo để tiến lên

Đó cũng là sự thành công đầu tiên của tiến trình dân chủ hoá ở nước ta trên tất

cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Điều đó cho thấy, mỗi bước tiến củadân chủ đem lại cho con người, cho xã hội một sức sáng tạo mới, một khởi động lựcmới cho sự phát triển của con người và xã hội

Như vậy, thực hành dân chủ, một mặt khẳng định hơn nữa quyền làm chủ củanhân dân lao động, mặt khác tạo ra điều kiện khắc phục những hạn chế của sự vi phạm

dân chủ, phát huy sáng tạo cá nhân và tập trung được trí tuệ của toàn dân Đây chính làquá trình tạo ra những tiền đề chính trị đưa xã hội tiến lên trạng thái mới phát triển hơnnữa nền dân chủ xã hội

Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tới vấn đề phát triển v à thực hành dânchủ trong xây dựng chế độ dân chủ mới, xây dựng nh à nước, xây dựng Đảng, cũng nhưcác tổ chức quần chúng xã hội, xây dựng khối đoàn kết toàn dân Theo Người, "phảithực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái

Trang 14

tham gia thì mới chắc chắn thành công Quần chúng tham gia càng đông, thành công

càng đầy đủ, mau chóng” [14, tr 495]

Những vấn đề này cho thấy, Hồ Chí Minh đã hiểu rõ trình độ của một nền dânchủ chính là thể hiện ở mức độ tham gia của nhân dân v ào các hoạt động của xã hội,của đất nước Và như thế, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy các mục tiêu dân chủ được chínhnhân dân thực hiện bằng những phong trào dân chủ sẽ liên tục xây đắp được những nấcthang trình độ dân chủ mới với sự nỗ lực v à phát triển ngày càng cao của khối đoàn kết

toàn dân Do đó, với dân chủ, nhân dân có thể thực hiện đ ược bất cứ nhiệm vụ nào vì

sự nghiệp giải phóng của chính bản thân nhân dâ n

Dân chủ là động lực của sự phát triển xã hội.

Đất nước ta thoát ra từ chế độ thực dân, nửa phong kiến tồn tại nhiều th ành

phần kinh tế gắn với các giai cấp, tầng lớp x ã hội khác nhau tất yếu hình thành trong xãhội các động lực bộ phận Để phát huy đầ y đủ khả năng của các động lực bộ phận tạonên tổng hợp lực mạnh mẽ của đất n ước phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ về lợiích của tất cả các thành phần trong xã hội, làm cho động lực của các bộ phận cư dântrong xã hội sắp xếp theo một hướng nhất định Dân chủ là giải pháp hữu hiệu để tạonên sự nhất trí căn bản về lợi ích của các th ành phần kinh tế, các giai tầng và các cộng

đồng dân tộc trong xã hội nước ta Sự nhất trí đó tổng hợp thành sức mạnh của dân tộc,

tạo nên nội lực mạnh mẽ đưa đất nước vượt qua tất cả khó khăn, thử thách Hồ ChíMinh viết: "Có phát huy dân chủ đến cao độ th ì mới động viên được tất cả lực lượng

của nhân dân đưa cách mạng tiến lên” [17, tr 593] và “Chế độ của chúng ta thực hiện dân chủ đồng thời thực hiện sự đoàn kết toàn dân” [17, tr 591] Do đó, Người cho rằng

phải "vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người nào,góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc

Chính phủ và đoàn thể giao cho” [15, tr 698].

Dân chủ đã tạo ra địa bàn để phát huy mọi tiềm lực, tập hợp các xu h ướng lànhmạnh trong dân tộc làm gia tăng và phát huy thế và lực của đất nước và cũng vì thế vaitrò động lực của dân chủ có giá trị to lớn và lâu bền Vai trò ấy đã được Hồ Chí Minh

và Đảng Cộng sản Việt Nam phát huy và nó đã thể hiện bằng thắng lợi thực tế của cách

mạng Việt Nam trong thế kỷ XX

Trang 15

Thành công của công cuộc đổi mới ngày nay, xét tới cội nguồn, cũng đượckhởi đầu bằng quá trình dân chủ hoá trong các lĩnh vực đã tạo nên động lực mạnh mẽ

đưa đất nước ta vợt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội trong thập kỷ 80 Đây lại

là một hiện thực sinh động nữa minh chứng về tầm quan trọng và sự vững bền của

động lực dân chủ đối với sự phát triển x ã hội, đối với sự tiến hoá của dân tộc ta

Và tất cả các vấn đề trên làm sáng tỏ hơn nữa khái niệm dân chủ của Hồ Chí

Minh khi Người coi nguồn gốc của quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân Người đã

thực hành như thế và thực hành rất thành công

Ta thấy rằng ở Hồ Chí Minh là, tất cả các nhiệm vụ của dân tộc đều được xâydựng thành các phong trào quần chúng, phong trào của cả dân tộc thông qua việc phát

động toàn dân thi đua vì lợi ích của chính nhân dân Đó là những phong trào tăng gia

sản xuất, thực hành tiết kiệm; hũ gạo cứu đói; tuần lễ v àng; phong trào bổ túc văn hoáxoá nạn mù chữ; phong trào đời sống mới; phong trào thi đua ái quốc, phong trào thi

đua giết giặc, phong trào trồng cây, phong trào rèn luyện sức khoẻ, phong trào thi đualao động, sản xuất mỗi người làm việc bằng hai vì đồng bào miền Nam ruột thịt Đó

thực sự là các phong trào dân chủ được phát triển rộng rãi trên mọi lĩnh vực đã đoànkết và động viên được tất cả các lực lượng, trí tuệ, sáng kiến của nhân dân để thực hiệnthành công các nhiệm vụ của cách mạng nước ta

Lúc này, nhân dân trở thành chủ thể tự giác tham gia vào các hoạt động cáchmạng và xây dựng xã hội mới "Chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân v à xã hội chủnghĩa, dưới chế độ mà nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi

đua”[17, tr 198] Khi trở thành phong trào thi đua của nhân dân, xã hội tự nó đã tiến

lên một điểm xuất phát mới với trạng thái mới, do đó, quá tr ình dân chủ hoá mở ra sựphát triển mới cho xã hội

Vì vậy, Hồ Chí Minh tổng kết: "Thực h ành dân chủ là chìa khoá vạn năng để

giải quyết mọi khó khăn” [18, tr 24].

1.1.3 Bản chất của dân chủ:

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, tư tưởng về dân chủ - với ý nghĩa

là bản chất của quyền lực nhà nước và phương thức tổ chức, triển khai quyền lực nh à

nước là một nét đặc sắc Theo Người, dân chủ hiểu một cách chung nhất là quyền lực

Trang 16

chính trị thuộc về nhân dân Ở nước ta, chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ; và, "Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt

mình thi hành chính quyền ấy Thế là dân chủ” [15, tr 218 – 219].

Ngay từ những năm 20 (thế kỷ XX), Hồ Chí Minh đ ã phê phán một cách quyếtliệt bản chất của bộ máy nhà nước thực dân Người vạch trần bản chất xấu xa của chế

độ thực dân đế quốc bên trong cái vỏ hào nhoáng khai hóa văn minh trư ớc công luận;

và qua đó, Người chuẩn bị cho mình những cơ sở lý luận và thực tiễn để hình thànhnên tư tưởng về một nhà nước kiểu mới, thật sự dân chủ Điều n ày thể hiện rõ trong tác

phẩm Đường Kách mệnh - giáo khoa thư chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam.

Người viết: "Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm

sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít

người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới hạnh phúc” [10, tr 270].

Quan điểm quyền lực chính trị thuộc về nhân dân v à phục vụ cho lợi ích của nhân dân

là cốt lõi và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước Tất cả những nhậnthức đó tiếp tục được phát triển không ngừng trong t ư tưởng của Người gắn liền vớinhững chặng đường tiếp theo của cách mạng Việt Nam

Người thường dùng khái niệm "ủy thác" để nói đến việc nhân dân trao một

phần quyền lực của mình cho nhà nước Quyền lực của nhà nước từ Trung ương đến

địa phương, từ Chủ tịch nước đến cán bộ xã đều do nhân dân "ủy thác" cho Khi hết

một nhiệm kỳ, Chính phủ sẽ phải trao lại quyền cho nhân dân v à nhân dân sẽ traoquyền ấy cho một Chính phủ ở nhiệm kỳ mới do dân "tuyển cử" Các khái niệm "ủythác", "giao quyền" là những khái niệm chính trị học và ở Hồ Chí Minh, các khái niệm

ấy gắn chặt với nhân dân, là sự khẳng định quyền lực thuộc về nhân dân

Người còn thường xuyên gắn cụm từ nhân dân với các khái niệm Nh à nước,

Chính phủ, Quốc hội, v.v Ví dụ, trong giai đoạn 1945 - 1946, các cụm từ "Nhà nướcnhân dân", "Chính phủ nhân dân" có tần số xuất hiện rất cao trong các b ài viết, bài nóicủa Người Những cụm từ này được Người sử dụng với đối tượng là các cán bộ nhà

nước các cấp và đặc biệt là với nhân dân Sự khẳng định đó nhắc nhở các cán bộ nh ànước phải luôn ghi nhớ quyền hạn v à trách nhiệm của mình cũng như giáo dục cho

nhân dân về một địa vị hoàn toàn mới của họ

Trang 17

Vì sao dân có quyền hạn to lớn như vậy? Người giải thích: dân là gốc của

nước Dân là người đã không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ đất nước Nước

không có dân thì không thành nước Nước do dân xây dựng nên, do dân đem xươngmáu ra bảo vệ, do vậy dân là chủ của nước

Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất Lực lượng củaĐảng có lớn mạnh được hay không là do dân Nhân dân là người xây dựng, đồng thời

cũng là người bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng Dân nh ư nước, cán bộ như cá Cákhông thể sinh tồn và phát triển được nếu như không có nước Nhân dân là lực lượngbiến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực Do vậy, nếu không có dân, sự tồntại của Đảng cũng chẳng có ý nghĩa g ì Đối với Chính phủ và các tổ chức quần chúngcũng vậy

Tóm lại, nhân dân là lực lượng dựng xây đất nước, là lực lượng hợp thành,

nuôi dưỡng, bảo vệ các tổ chức chính trị, do vậy nhân dân có quyền l àm chủ đất nước,

làm chủ chế độ, làm chủ tất cả các lĩnh vực của đời sống x ã hội

Làm thế nào để dân thực hiện được quyền làm chủ của mình? Đây là vấn đề

được Hồ Chí Minh hết sức quan tâm Theo Hồ Chí Minh, từ x ưa đến nay, nhân dân bao

giờ cũng là lực lượng chính trong tất cả các xã hội, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Nhưng trước Cách mạng Tháng Mười Nga, trước học thuyết Mác- Lênin,

chưa có cuộc cách mạng nào giải phóng triệt để cho nhân dân, chưa có học thuyết nàođánh giá đúng đắn về nhân dân

Theo Hồ Chí Minh, người dân chỉ thực sự trở thành người làm chủ khi họ đượcgiáo dục, khi họ nhận thức được rõ ràng đâu là quyền lợi họ được hưởng, đâu là nghĩa

vụ họ phải thực hiện Để thực hiện đ ược điều này, một mặt, bản thân người dân phải có

ý chí vươn lên, mặt khác, các tổ chức đoàn thể phải giúp đỡ họ, động viên khuyến

khích họ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu và nếu nhân dân không được giáo dục để

thoát khỏi nạn dốt thì mãi mãi họ không thể thực hiện được vai trò làm chủ

Người dân chỉ có thể thực hiện được quyền làm chủ khi có một cơ chế bảođảm quyền làm chủ của họ Đảng phải lãnh đạo xây dựng được một Nhà nước của dân,

do dân, vì dân; với hệ thống luật pháp, lấy việc bảo vệ quyền lợi của dân l àm mục tiêu

Trang 18

hàng đầu, xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, làngười đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Vấn đề đặt ra là: Nhân dân là ai? Nhân dân là những bộ phận nào trong xã hội?

Hồ Chí Minh giải thích: “ Nhân dân l à: bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản và

tư sản dân tộc Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, các giai cấp ấyđoàn kết lại, bầu ra chính phủ của mình Đối với nội bộ nhân dân thì thực hành dân

chủ Đối với đế quốc, phong kiến v à lũ phản động, thì thực hành chuyên chính, chống

lại chúng, đàn áp chúng” [15, tr 217].

Bản chất của nền dân chủ còn được thể hiện qua phương thức tổ chức hệ thốngchính trị của nền dân chủ mới trong đó thể hiện vai tr ò lãnh đạo của Đảng và việc tổchức các đoàn thể nhân dân nhằm thu hút ngày càng nhiều các quần chúng tham giaxây dựng và phát triển nền dân chủ Hồ Chí Minh viết: “Đảng Lao động ki ên quyếtlãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động (Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân

dân có đoàn thể cách mạng chắc chắn của nó nh ư công đoàn, nông hội, hội thanh niên,

hội phụ nữ…) thực hiện dân chủ mới và tiến dần đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản)” [15,

tr 219] Người đã chỉ ra một cách rất cụ thể: “Khắp n ơi có đoàn thể nhân dân, như Hội

đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, v.v…

Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, b ênh vực quyền của dân, liên

lạc mật thiết với nhân dân với chính phủ” [14, tr 66].

Hồ Chí Minh nhấn mạnh bản chất của dân chủ mới thông qua cách diễn giảicủa Người về mối quan hệ giữa dân chủ với chuy ên chính Mối quan hệ đó bổ sung cho

nhau, làm điều kiện và tiền đề để tồn tại cho nhau “Dân chủ cũng cần phải có chuy ên

chính để giữ gìn lấy dân chủ”[15, tr 280] Người giải thích: “ Chế độ ta là chế độ dân

chủ nhân dân; chúng ta cần mở rộng dân chủ với nhân dân, đồng thờ i cần phải tăng

cường chuyên chính với kẻ địch của nhân dân Có tăng c ường chuyên chính với kẻ

địch thì mới bảo vệ được tự do và dân chủ của nhân dân ta” [16, tr 313 – 314] Theo

Hồ Chí Minh, để thực hiện mở rộng dân chủ với nhân dân ng ày càng rộng rãi, khôngthể không đấu tranh ngăn chặn và đập tan những mưu đồ đi ngược lại những yêu cầudân chủ chân chính của nhân dân Trong ý nghĩa đó, dân chủ đi liền với kỉ c ương vàtuân thủ luật pháp

Trang 19

Tóm lại, bản chất của nền dân chủ theo quan điểm Hồ Chí Minh đó là nền dân chủ của nhân dân lao động và mang bản chất giai cấp công nhân do chính ĐCSVN lãnh đạo Tư tưởng dân chủ của Người là xây dựng một đất nước mà nền dân chủ

mang bản chất nhà nước chuyên chính XHCN Tư tưởng đó thể hiện tính nhân văn v àmục tiêu vươn tới của dân tộc Việt Nam nói riêng và nhân loại nói chung

1.2 Nội dung tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ:

Nội dung cơ bản của dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh được phản ánh ởcác lĩnh vực hoạt động chủ yếu của con ng ười và tổ chức đời sống xã hội Đó là dânchủ trong chính trị, dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong văn hóa Dân chủ trong kinhtế

đóng vai trò chủ chốt, chi phối các hoạt động khác của x ã hội

1.2.1 Dân chủ trong lĩnh vực chính trị:

Quan niệm Hồ Chí Minh về dân chủ trong lĩnh vực chính trị cho thấy rằng,quyền lực của nhân dân được khằng định bằng Hiến pháp v à pháp luật, được bảo đảmtrong việc tổ chức ra nhà nước dân chủ mới của dân, do dân, v ì dân, bảo vệ lợi ích của

nhân dân Quan điểm đó thể hiện ở những vấn đề c ơ bản như: Khẳng định quyền lực

của nhân dân, xây dựng nhà nước dân chủ, xây dựng Đảng và các tổ chức chính trị xãhội vững mạnh và phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Cái quan trọng nhất trong chính trị là vấn đề thiết chế chính quyền nh à nước.Quyền lực chính trị là vấn đề trung tâm của mọi cuộc cách mạng xã hội Ở Hồ Chí

Minh, nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân; quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân Như thế, với Hồ Chí Minh, Nhà nước không bao giờ đứng ngoài và đứng

trên nhân dân

Gắn chính trị với lòng dân cũng có nghĩa là Hồ Chí Minh đã gắn chính trị với

cơ sở xã hội sâu xa và bền vững của nó Một quan niệm "đem chính trị v ào giữa dângian" như tư tưởng của Người là một quan niệm chính trị dân chủ về bản chất Đ ã quan

niệm chính trị như thế thì nhà chính trị nói riêng, nhà nước nói chung trở nên đầy sứcmạnh bởi họ đang suy nghĩ bằng suy nghĩ của nhân dân, l àm bằng phương thức nhândân và nói tiếng nói của nhân dân Họ sẽ có đủ bản lĩnh đ ương đầu với mọi khó khăn

mà luôn chắc chắn một niềm tin vào chiến thắng

Trang 20

Nền dân chủ chúng ta đ ã và đang phấn đấu xây dựng là nền dân chủ triệt

để, trong đó nội dung c ơ bản nhất là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân Mặt khác

không thể tách rời là dân chủ phải đi liền với kỷ luật với kỷ c ương, với pháp chế.Trên nền dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ thực hiện trong thực tế sự kết hợp h ài hoàgiữa quyền và trách nhiệm, gắn lợi ích cá nhân với lợi ích của sự phát triển x ã hội

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân l à người giữ vai trò quyết định trên

tất cả các lĩnh vực: từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, từ những chuyện nhỏ có

liên quan đến lợi ích của mỗi cá nhân đến những chuyện lớn nh ư lựa chọn thể chế,

lựa chọn người đứng đầu Nhà nước Người dân có quyền làm chủ bản thân, nghĩa là

có quyền được bảo vệ về thân thể, đ ược tự do đi lại, tự do hành nghề, tự do ngônluận, tự do học tập… trong khuôn khổ luật pháp cho phép Ng ười dân có quyền làmchủ tập thể, làm chủ địa phương, làm chủ cơ quan nơi mình sống và làm việc

Người dân có quyền làm chủ các đoàn thể, các tổ chức chính trị x ã hội thông qua

bầu cử và bãi miễn Đúng như Hồ Chí Minh nói: "Mọi quyền hạn đều của dân" Cán

bộ từ Trung ương đến cán bộ ở các cấp các ng ành đều là "đầy tớ" của dân, do dân

cử ra và do dân bãi miễn Tóm lại, nhân dân là lực lượng dựng xây đất nước, là lực

lượng hợp thành, nuôi dưỡng, bảo vệ các tổ chức chính trị, do vậy nhân dân có

quyền làm chủ đất nước, làm chủ chế độ, làm chủ tất cả các lĩnh vực của đời sống

đáng với nước Việt Nam độc lập Người đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh

thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, Kiệm, Li êm, Chính Người cũng yêu cầunhân dân: Mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức để cóthể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà Hồ Chí Minh yêu cầu người dân trướchết phải biết đọc, biết viết để có thể tham gia v ào công việc nhà nước Điều này cónghĩa là, người dân muốn thực hiện vai trò làm chủ của mình, muốn thực hiện quyền

Trang 21

lực cao quý của mình cần phải có những năng lực nhất định v à Nhà nước phải làm sao

để nhân dân có được những năng lực ấy

Theo Người, dân chỉ có thể thực hiện đ ược quyền làm chủ khi có một cơ

chế bảo đảm quyền làm chủ của họ Đảng phải l ãnh đạo xây dựng được một Nhà

nước của dân, do dân, vì dân; với hệ thống luật pháp, lấy việc bảo vệ quyền lợi của

dân làm mục tiêu hàng đầu, xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng vi ên xứng đáng là

người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân

Có thể tóm tắt những nội dung chính của quan điểm Hồ Chí Minh về chínhtrị như sau :

-Nền dân chủ ta là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

-Nhất nguyên về chính trị Đảng cộng sản l ãnh đạo hệ thống chính trị Nh à

nước quản lý, tổ chức v à điều hành xã hội Đảng và Nhà nước phải đấu tranh vì

quyền lợi nhân dân

-Nhân dân sử dụng quyền lực Nh à nước thông qua Quốc hội v à Hội đồngnhân dân Hệ thống cơ quan Nhà nước của ta được tổ chức theo cơ chế tập quyền.Dân làm chủ Nhà nước thông qua cơ quan đại diện và được gọi là chế độ dân chủgián tiếp, ngày nay gọi là chế độ dân chủ đại diện

-Xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh

-Thực hiện đại đoàn kết dân tộc

Như vậy, trên cơ sở vận dụng học thuyết Mác - Lênin về nhà nước vào điều

kiện cụ thể của cách mạng và xã hội Việt Nam, đặc biệt là, trên cơ sở nghiên cứu vàtổng kết thực tiễn xây dựng chính quyền nhân dân, xây dựng chế độ x ã hội mới, Hồ

Chí Minh đã nêu ra một hệ thống các quan điểm về nh à nước kiểu mới ở Việt Nam.Đây thực sự là những chỉ dẫn quý báu cả về lý luận và thực tiễn đối với công cuộc xây

dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Tóm lại, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ trong lĩnh vực chính trị l à quá

trình thay đổi vị trí của nhân dân lao động từ vị tr í thụ động trong xã hội sang vị thế người chủ trong quản lý đất nước và xây dựng xã hội mới.

Trang 22

1.2.2 Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế:

Hồ Chí Minh là một trong những tác giả Việt Nam đầu ti ên quan tâm đến việcnghiên cứu tình hình kinh tế, mà trước hết là phân tích tình hình kinh tế - xã hội ở các

nước thuộc địa, lên án các thủ đoạn bóc lột kinh tế hết sức t àn bạo của chế độ thực dân

đối với các nước thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng Bản án chế độ thực dân

Pháp là một tác phẩm tiêu biểu Bằng những công trình nghiên cứu khoa học nghiêm

túc, Hồ Chí Minh đã vạch rõ bản chất của cái gọi là “Bình đẳng”, “công cuộc khai hóacao cả” của chế độ tư bản, nhân danh dân chủ, văn minh chỉ l à sự thù ghét chủng tộc”,

“khai hóa giết người”, “chế độ nô lệ hiện đại hóa”, “vực thẳm thuộc địa”… đối vớinhân dân lao động

Bản phân tích tổng hợp nhất của Hồ Chí Minh về sự bóc lột kinh tế của thực

dân Pháp đối với nhân dân ta được trình bày trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra

nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Người viết: “Về kinh tế, chúng bóc lột nhân dân tađến xương tủy, khiến cho nhân dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu Chúng giữ độc quyền in giấy bạc,

xuất cảng và nhập cảng Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất làdân cày và dân buôn trở nên bần cùng Chúng không cho các nhà tư s ản ta ngóc đầu

lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn” [12, tr 2].

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, mặc dù phải giải quyết nhiều vấn

đề cấp bách về chính trị, ngoại giao, an ninh quốc ph òng, xây dựng và bảo vệ nền dân

chủ, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực chính trị, Hồ Chí Minh cũngbắt đầu ngay vào việc thi hành dân chủ trong lĩnh vực kinh tế Tại cuộ c họp đầu tiêncủa Chính phủ mới, Hồ Chí Minh đ ã đề ra 3 nhiệm vụ cấp bách, trong đó nhiệm vụ

chống giặc đói là nhiệm vụ hàng đầu.

Tháng 1 – 1946, Người chỉ thị cho Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc:

“Chúng ta phải thực hiện ngay:

1 – Làm cho dân có ăn

2 – Làm cho dân có mặc

3 – Làm cho dân có chỗ ở

4 – Làm cho dân có học hành” [12, tr 152].

Trang 23

Ngày 4 – 5- 1946, Hồ Chí Minh đã chỉ ra “Chương trình của Chính phủ ta là

làm thế nào cho toàn quốc đồng bào ai cũng có ăn, có mặc, có học”[12, tr 220] Tinh

thần đó tiếp tục được thực hiện trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Cho đến

lúc đi xa, Hồ Chí Minh vẫn nhắc nhở “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh

tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân” [18, tr 498].

Mục tiêu về ăn, mặc, ở và học hành cho toàn thể nhân dân thể hiện tư tưởngdân chủ của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực kinh tế Theo quan niệm của Ng ười, giá trịcủa độc lập tự do chỉ có ý nghĩa khi nhân dân có đầy đủ điều kiện sinh hoạt v à đượchọc hành Cho đến nay, khi đất nước vẫn phải tiếp tục thực hiện các ch ương trình xóa

đói, giảm nghèo, thì các mục tiêu đó vẫn là một mục tiêu bao quát trong toàn bộ chiếnlược phát triển của nước ta

Lúc sinh thời, mặc dù đất nước phải dồn sức cho chiến tranh v à chưa có thời

gian để tổng kết những vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế, nh ưng Hồ Chí Minh cũng đã để

lại những di sản quý báu về vấn đề dân chủ trong lĩnh vực n ày

Nội dung tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh trong lĩnh vực kinh tế bao gồm tất cảcác vấn đề nêu trên, nhưng vấn đề quan trọng nhất mà Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý làquyền làm chủ về kinh tế của người lao động, vì nấc thang cuối cùng để giải phóng con

người là về kinh tế Chỉ khi nào người lao động nắm trong tay quyền lực kinh tế th ì khi

đó họ mới trở thành lực lượng quyết định toàn bộ quá trình phát triển của xã hội Do

vậy, nghiên cứu tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh trên lĩnh vực kinh tế là nghiên cứu

tư tưởng của Người về quyền làm chủ trực tiếp về kinh tế của nhân dân đối với quá

trình sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm xã hội Theo Hồ Chí Minh, dân chủkinh tế - quyền làm chủ về kinh tế của nhân dân thể hiện trong những lĩnh vực chủ yếu

sau đây:

Sở hữu tư liệu sản xuất: Theo luận điểm của Hồ Chí Minh, thực hiện dân chủ

mới là nội dung của thời kì quá độ ở nước ta trên con đường phát triển đi lên chủ nghĩa

xã hội sự tồn tại của thời kì quá độ xuất phát từ đặc điểm của một n ước chậm pháttriển, chưa trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội Đặc

điểm đó quyết định đặc điểm của chế độ chính trị và kinh tế ở nước ta Về chính trị, Hồ

Chí Minh chỉ ra rằng, đó là thời kì thực hiện chế độ “nhân dân dân chủ chuy ên chính,

Trang 24

nghĩa là dân chủ với nhân dân, chuyên chính (trừng trị) bọn phản động” [15, tr 247 –

248] và về kinh tế của thời kỳ dân chủ mới ở nước ta là sự tồn tại của nhiều thành phần

kinh tế

Hồ Chí Minh viết:

“Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau:

A – Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa x ã hội, vì nó là củachung nhân dân)

B – Các hợp tác xã (nó là nữa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến

đến chủ nghĩa xã hội)

C – Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thểtiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội)

D – Tư bản tư nhân

E – Tư bản nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư

nhân để kinh doanh) [15, tr 247 – 248]”.

Cùng với việc chỉ ra tính đa dạng của các th ành phần kinh tế, Hồ Chí Minh đãchỉ ra:

“Trong nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính như sau:

Sở hữu nhà nước tức là của toàn dân

Sở hữu của hợp tác xã tức là của tập thể nhân dân lao động

Sở hữu của những người lao động riêng lẻ

Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”

[15, tr 588 – 589]

Riêng với các thành phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân, Hồ Chí Minh chỉ rõrằng:

“Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác,

Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn vàgiúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn…

Đối với những nhà tư bản công thương, Nhà nước không xóa

bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn

Trang 25

họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế

của nhà nước” [15, tr 588 – 589].

Xác định quyền của người sở hữu là sự đảm bảo cho các tư liệu sản xuất đều

có người làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ và chịu trách nhiệm về kết quả sản

xuất của mình Trên cơ sở đó mà năng suất và hiệu quả sử dụng tư liệu sản xuất tănglên

Ngoài ra, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, trong năm thành phần kinh tế ở nước

ta, kinh tế quốc doanh “sẽ là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả ”[15, tr 248].

Theo Người: “kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền

kinh tế quốc dân và Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên… chúng ta phảiphát triển kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa x ã hội và thúc đẩy

việc cải tạo xã hội chủ nghĩa” [17, tr 588 – 589] Hồ Chí Minh khẳng định, với định

hướng phát triển nền kinh tế như vậy, “kinh tế ta sẽ phát triển theo h ướng xã hội chủ

nghĩa chứ không theo hướng tư bản chủ nghĩa” [15, tr 248] Quan điểm này của Hồ

Chí Minh được dùng nguyên văn trong Hiến pháp năm 1959, ở Điều 12: “Kinh tế quốcdoanh thuộc hình thức sở hữu toàn dân, giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân

và được nhà nước đảm bảo phát triển ưu tiên”

Tổ chức và quản lý sản xuất: Từ quyền làm chủ tư liệu sản xuất tạo cơ sở cho

nhân dân ta thực hiện quyền làm chủ trong lĩnh vực tổ chức và quản lý sản xuất Tư

tưởng dân chủ Hồ Chí Minh trong lịnh vực n ày thể hiện trước hết trong việc hình thành

một cơ cấu kinh tế nhằm tạo ra sự phát triển cân đối giữa c ác ngành kinh tế, côngnghiệp với nông nghiệp; giữa các vùng kinh tế, giữa thành thị với nông thôn, giữa miềnnúi và miền xuôi, giữa vùng tập trung dân và khu vực của các dân tộc ít người Một cơcấu kinh tế như vậy tạo cơ sở kinh tế để thực hiện công bằng, bình đẳng và ổn định xãhội Với kết quả này lại tạo ra địa bàn rộng lớn phát huy mọi tiềm lực, đ ưa toàn thểnhân dân vào công cuộc lao động sáng tạo mới, tác động tích cực đối với sản xuất, l àmcho nền kinh tế của đất nước phát triển bền vững

Luận điểm trên của Hồ Chí Minh chỉ rõ hai vấn đề cụ thể sau đây:

Quyền làm chủ của người lao động chỉ biểu hiện khi họ đ ược tham gia quản lýtrong mọi hoạt động của đơn vị sản xuất

Trang 26

Vai trò làm chủ của người lao động được thực hiện chỉ khi người lao động quản

lý tốt kinh tế và đơn vị sản xuất của mình Quản lý tốt thể hiện ở năng suất lao

động với số lượng nhiều, chất lượng tốt, giá thành hạ Do vậy, vai trò trong quản

lý của người lao động được thực hiện và biểu hiện thông qua hiệu quả của sảnxuất

Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Quản lý phải dân chủ” [18, tr 595] và nêu lên

những nội dung căn bản về quyền làm chủ của người lao động tham gia quản lý

Ngoài ra, theo Hồ Chí Minh, một nội dung của dân chủ trong lĩnh vực kinh tếbiểu hiện trong quản lý là phải công khai tài chính Suy cho cùng, mọi nguyên nhânlãng phí, tham ô là bắt nguồn từ việc không thực hành dân chủ trong quản lý, biểu hiện

ở việc không công khai, minh bạch về t ài chính Điều đó tạo nên tình trạng thiếu kiểmsoát đối với quá trình sản xuất và xây dựng xã hội, là một nguyên nhân gây ra tham ô,

lãng phí

Tình hình đó đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế có năng lực,phẩm chất và trình độ thực hành dân chủ trong quản lý kinh tế Hồ Chí Minh đ ã chỉ rarằng, muốn quản lý tốt, “thì cán bộ quản lý phải:

- Thật sự cần, kiệm, liêm, chính

- Phải thật sự chống bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí…

- Phải khéo đoàn kết và lãnh đạo công nhân; mọi việc đều phải dựa v àolòng nồng nàn yêu nước và năng lực sáng tạo dồi dào của công nhân; dùng

phương pháp dân chủ mà đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất và tiết kiệm…”

[16, tr 84 – 85].

Những vấn đề Hồ Chí Minh nêu trên, bên cạnh phẩm chất người lãnh đạo, nổibật lên các vấn đề: “khéo đoàn kết và lãnh đạo”, “dựa vào lòng yêu nước, năng lựcsáng tạo”, “dùng phương pháp dân chủ mà đẩy mạnh phong trào thi đua” Đây thực sự

là sáng tạo khoa học của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực quản lí sản xuất nói ri êng và lãnh

đạo xã hội nói chung Có thể xem như đây là phương châm Hồ Chí Minh trong quản lýđất nước và quản lý kinh tế

Trên những ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, chống tham ô, quanliêu, lãng phí là dân chủ và muốn chống tham ô, quan liêu, lãng phí thì phải dân chủ

Trang 27

Tóm lại, thực hiện quyền làm chủ của người lao động trong quản lý còn là sựtạo lập các điều kiện kinh tế - xã hội cho nhân dân thực hiện quyền v à nghĩa vụ của họtrong hoạt động kinh tế.

Phân phối sản phẩm lao động:

Trong sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm lao động do quan hệ sản xuấtquyết định, vì cơ sở của quan hệ phân phối là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất

Nhưng quan hệ phân phối cũng có tác động trở lại quan hệ sản xuất, có thể làm tăng

hoặc giảm quy mô sở hữu hoặc có thể l àm biến dạng tính chất quan hệ sở hữu Do vậy,phân phối có tác động rất lớn đối với sản xuất Phân phối trở th ành công cụ để pháttriển sản xuất và thực hiện bình đẳng và công bằng trong xã hội

Hai tiền đề làm cơ sở cho sự hình thành quan điểm dân chủ của Hồ Chí Minhtrong lĩnh vực phân phối sản phẩm lao động căn cứ v ào tình hình thực tiễn của trình độphát triển của nền kinh tế đất nước đó là:

- Một là: “Từ làm chủ tư liệu sản xuất, họ phải được làm chủ việc quản lí

kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động” [18, tr 568].

- Hai là: “Một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có

quyền lao động” [17, tr 23].

Theo quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh, phân phối theo lao động tr ước hết

căn cứ vào sự đóng góp sức lao động của người sản xuất để làm thước đo phân phối kết

quả sản xuất kinh doanh, hình thành thu nhập cá nhân cho người lao động Phân phối

theo lao động là căn cứ vào tính chất , đặc điểm, điều kiện và môi trường lao động, căn

cứ vào số lượng, chất lượng và kết quả đóng góp của mỗi người vào thành quả chung

của tập thể để phân phối theo nguy ên tắc làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít,

không làm không hưởng.

Nằm trong lĩnh vực phân phối, tiền l ương liên quan trực tiếp đến đời sống của

con người và sự phát triển của sản xuất Do đó Hồ Chí Minh đ ã chỉ dẫn rằng: “Chế độ

tiền lương rất quan hệ đến sản xuất và mức sống của người lao động Khi định tiền

lương phải xuất phát từ nguyên tắc định thế nào cho người lao động thiết thực quantâm đến kết quả việc làm của họ, làm cho họ cố gắng học tập để tiến bộ mãi về nghề

nghiệp và sản xuất” [16, tr 341].

Trang 28

Như vậy, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, từ l àm chủ tư liệu sản xuất, đến

làm chủ trong quản lý, người lao động nước ta lại làm chủ trong phân phối theo nguyêntắc phân phối theo lao động Nguy ên tắc này là thích hợp và đảm bảo sự “công bằng

dưới chế độ ta hiện nay” Do đó, phân phối theo lao động là thực hiện quyền làm chủ

của nhân dân trong lĩnh vực phân phối, đảm bảo lợi ích chính đáng của ng ười lao động, thực hiện dân chủ trong khâu cuối c ùng của quá trình sản xuất.

Tóm lại, theo Hồ Chí Minh, dân chủ trong lĩnh vực kinh tế l à thực hiện quyềnlàm chủ của nhân dân lao động đối với quá trình sản xuất Trong thời kì quá độ lên chủnghĩa xã hội ở nước ta, quyền làm chủ đó được thực hiện trên cả ba lĩnh vực của quan

hệ sản xuất: đó là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân đối với tư liệu sản xuất, trongquản lí kinh tế và trong lĩnh vực phân phối sản phẩm lao động nhằm phát huy mọi nănglực của nhân dân cho xây dựng và phát triển kinh tế Xét về thực chất, dân chủ trongkinh tế, là nhằm phát triển lực lượng sản xuất và do đó nó là động lực cho tăng trưởng

và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của toàn dân

1.2.3 Dân chủ trong lĩnh vực văn hóa – xã hội:

Năm 1943, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về văn hóa Người viết: “Ý

nghĩa của văn hóa: Vì lẽ sinh tồn, cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mớisáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,

văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ng ày về mặc, ăn, ở và cácphương thức sử dụng… Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng

với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu

đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [11, tr 431].

Quan niệm đó chỉ rõ, văn hóa là sự phát triển tự nhiên và tất yếu, mang tính xãhội cao, do nhu cầu tồn tại của con ng ười; văn hóa là phương thức hoạt động và khôngngừng nâng cao phương thức theo tiến triển xã hội cốt lõi của văn hóa là vai trò sángtạo và giá trị nhân văn

Từ việc nhìn rõ đặc điểm, bản chất của văn hóa, Hồ Chí Minh đ ã chỉ ra vai tròcực kỳ quan trọng của văn hóa:

Văn hóa soi đường cho quốc dân,

Văn hóa sửa xã hội cũ,

Trang 29

Văn hóa xây xã hội mới,

Do đó đem văn hóa lãnh đạo quốc dân

Đem văn hóa lãnh đạo quốc dân và lãnh đọa quốc dân bằng văn hóa là tưtưởng chính trị vĩ đại Hồ Chí Minh

Từ việc nhận rõ bản chất, đặc điểm vai trò của văn hóa, Hồ Chí Minh đã pháthọa con đường phát triển của văn hóa cách mạng n ước ta Xây dựng văn hóa là “xâydựng tâm lý”, “xây dựng luân lý”, “xây dựng x ã hội”, “xây dựng chính trị”, “xây dựng

kinh tế” [11, tr 431].

Những quan điểm đó cho thấy văn hóa l à nền tảng tinh thần của xã hội, vừa làmục tiêu, vừa là động lực thúc đầy sự phát triển kinh tế - xã hội Văn hóa có vị trí quantrọng trong việc hình thành và nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của con ng ười

Đó là tiền đề cho sự hình thành quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ trong

lĩnh vực văn hóa - xã hội Có thể bước đầu nghiên cứu trên những vấn đề căn bản sau

đây:

Văn hóa phục vụ nhân dân:

Xuyên suốt sự nghiệp văn hóa của mình, Hồ Chí Minh luôn tâm niệm lấy lợiích của nhân dân làm mục tiêu cho công tác văn hóa Người viết: “Chúng ta phải ghitạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt… Bất kì việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà

làm… Nói tóm lại, cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, tuy ên truyền, khẩu hiệu,

viết báo… của chúng ta, đều phải lấy câu n ày làm khuôn phép: từ trong quần chúng mà

ra Về sâu trong quần chúng” [13, tr 245 - 246].

Có thể nói, điểm mấu chốt của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong văn

hóa trước hết là sự đánh giá đúng lực lượng và tài nghệ của nhân dân, sáng tạo ra các

giá trị văn hóa, kiểm nghiệm sản phẩm văn hóa, đồng thời đ ược hưởng thụ các giá trị

văn hóa Người nói: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người

sáng tạo Nhưng, quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra của cải vật chất cho x ã hội

Quần chúng còn là người sáng tác nữa” [17, tr 250] Nhân dân nuôi dưỡng các nhà

hoạt động văn hóa và tạo mọi điều kiện cho tài năng nghệ sĩ phát triển Nhân dân là lực

lượng quyết định thắng lợi của cách mạng, trong đó có sự th ành bại của văn hóa nghệ

thuật chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng cho sáng tác của nhà văn bằng những nguồn

Trang 30

nhựa sống Còn nếu nhà văn quên điều đó – nhân dân sẽ quên anh ta Chính vì vậy,

Hồ Chí Minh luôn yêu cầu người làm văn hóa phải luôn đặt câu hỏi sáng tác cho ai và

về cái gì

Vì vậy, Hồ Chí Minh nói văn hóa phải phục vụ nhân dân, “không thể nói nghệthuật vị nghệ thuật mà cần phải nói rõ văn hóa phục vụ công - nông – binh” “Văn hóaphải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần v ào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành

mạnh của quần chúng” [18, tr 59] Để thực hiện được những nhiệm vụ đó, “Văn hóa

phải gắn liền với lao động sản xuất Văn hóa xa đời sống, xa lao động l à văn hóa

suông” [18,tr 646 – 647].

Tóm lại, dân chủ trong xây dựng và phát triển văn hóa, theo tư tưởng Hồ Chí

Minh là hướng vào quần chúng nhân dân lao động - những chủ thể của nền văn hóa và

là người hưởng thụ các giá trị văn hóa

Văn hóa dân tộc – khoa học – đại chúng:

Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ của nh à nước dân chủ trong xây dựng văn

hóa là “phải xây dựng một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng Phải nâng cao

trình độ văn hóa của nhân dân Phải đề x ướng đạo đức công dân tức là yêu Tổ quốc,

yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, bảo vệ của công… Phải chống văn hóa nô

lệ của đế quốc, phong kiến…” [15, tr 220].

Hồ Chí Minh rất quan tâm và trân trọng những gì liên quan đến truyền thốngtốt đẹp và vận mệnh của dân tộc Người coi đó là động lực tạo nên sức mạnh tinh thần

to lớn của dân tộc Văn hóa phải l àm cho mỗi người hiểu sâu sắc và đầy đủ những giátrị truyền thống, trên cơ sở đó khẳng định bản sắc dân tộc Trong công tác giáo dụctruyền thống, Hồ Chí Minh căn dặn: Dân ta phải biết sử ta Sử ta dạy cho ta nhữngchuyện vẻ vang của tổ tiên Mặt khác, Người cũng đòi hỏi văn hóa dân tộc phải luôn kếthừa, phát huy và nâng cao lên một trình độ và chất lượng mới nhằm đáp ứng trình độ

văn hóa và thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của quần chúng nhân dân

Tuy đề cao văn hóa dân tộc nhưng không có nghĩa là quá lưu tâm tới văn hóa

dân tộc, là đi hẳn vào quá khứ, là hoài cổ, đóng khung trong việc biệt lập văn hóa… HồChí Minh không bao giờ có tư tưởng tách rời truyền thống với hiện đại Ng ược lại,

Người cho rằng hiện đại bao giờ cũng bắt nguồn từ truyền thống C àng chú ý tiếp thu

Trang 31

những yếu tố văn hóa hiện đại th ì càng phải thấm nhuần những giá trị tốt đẹp củatruyền thống.

Kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc đi đôi với việc tiếp thu có chọn lọc tinh

hoa văn hóa nhân loại là quan điểm biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vănhóa “Tây phương hay Đông phương có cái g ì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa

Việt Nam Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa x ưa và văn hóa nay, trau dồi cho

văn hóa Việt Nam có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ” (Hồ

Chí Minh về văn hóa , Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản, tr 350).

Lấy văn hóa làm trung tâm của chiến lược phát triển có tính đến cội nguồn vănhóa xã hội, các giá trị nền móng và tính đến mục tiêu làm giàu, đi sâu và biến đổi nội

dung văn hóa đối với xã hội, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền văn hóa khoa học

dân tộc, đại chúng làm cơ sở tinh thần cho nền dân chủ Quan điểm đó l àm cho sự pháttriển dân chủ một cách bền vững

Xây dựng nền giáo dục và đời sống văn hóa mới:

Khẳng định “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” Ngay sau Cách mạngtháng Tám, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề chống nạn dốt l à vấn đề cấp bách số hai sau vấn đềchống nạn đói của Nhà nước lúc bấy giờ Bởi vì "nạn dốt là một trong những phương

pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta và một dân tộc dốt là một dân tộc

yếu” và tiêu diệt “giặc dốt” cũng cấp thiết và quan trọng như diệt “giặc đói”, “giặc

ngoại xâm” [12, tr.36 – 37].

Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức,

học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh đ ộng, thiếtthực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa "hồng" vừa "chuyên", có trithức, lý tưởng, đạo đức sức khoẻ, thẩm mỹ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa l à thành quả của sự chắt lọc tinh tếtinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại, vừa mang đậm hơi thở của cuộc sống Do vậy, ở

Hồ Chí Minh, lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục có sự thống nhất hữu c ơ, khôngtách rời nhau Đúng như Nghị quyết UNESCO đánh giá: "Sự đóng góp quan trọng vềnhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục v à nghệ

Trang 32

thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư

tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳngđịnh bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”

Có thể nói, tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc,sáng tạo và phê phán từ các tiền đề: Một là, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá,giáo dục và tinh thần nhân ái Việt Nam; hai là, triết lý giáo dục phương Đông, đặc biệt

là triết lý nhân sinh của Nho, Phật, Lão và ba là, những tư tưởng tiến bộ thời kỳ cận đại

Nhưng tiền đề quan trọng nhất, cái tạo nên sự phát triển về chất trong tư tưởng giáo dục

Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin Trên cơ sở đó và cùng với quá trình hoạt độngthực tiễn cách mạng sinh động, phong phú của m ình, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan

điểm hết sức sâu sắc và mới mẻ về vai trò, mục đích, nội đung và phương pháp giáo

dục

Về vai trò và mục đích của giáo dục Theo Hồ Chí Minh, giáo dục có vai tr òhết sức to lớn trong việc cải tạo con ng ười cũ, xây dựng con người mới Người nói:

"Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục m à nên"

Từ thực trạng nền giáo dục dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đ ãvạch trần và lên án chính sách giáo dục của thực dân Pháp là làm cho "ngu dân dễ trị".Bằng ngòi bút với lời lẽ sắc bén, Người đã chỉ rõ bộ mặt thực của cái gọi là "khai hoá

văn minh" của thực dân Pháp: những người đến trường được "đào tạo nên những kẻ

làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp", những người không đến

trường thì bị đầu độc bằng các thói hư, tật xấu như rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện Do

vậy, theo Người, để khẳng định chính mình, mỗi người phải thẳng thắn đấu tranh với

cái lỗi thời, lạc hậu và các tệ nạn xã hội Phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô

dịch của thực dân còn sót lại như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ V à cần xây dựng tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con ng ười toàn diện, vừa “hồng” vừa

"chuyên" trong thời đại mới Và như vậy, "con người xã hội chủ nghĩa", con ngườitoàn diện, "nhất định phải có học thức Cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật Cầnphải học lý luận Mác - Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày Hồ Chí

Trang 33

Minh đặc biệt quan tâm đến việc luyện "tài", rèn "đức" cho cán bộ Bởi, theo Người, có

tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người.

Ngoài ra, Người chỉ rõ: "Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp

chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ Nâng cao tr ình độvăn hoá của nhân dân cũng là một việc làm cần thiết để xây dựng nước ta thành mộtnước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, văn minh v à giàu mạnh" Đó cũng chính

là mục đích của đời sống mới Để thự c hiện đời sống mới, trước hết mỗi người phải tựlàm; cán bộ phải tuyên truyền, giải thích và nêu gương; không được ép buộc mà phảithấu suốt tư tưởng dân chủ trong quá trình thực hiện Hồ Chí Minh không chỉ l à người

phát động mà còn là một tấm gương vĩ đại trong việc thực hành đời sống mới

Xây dựng đời sống mới là một phong trào văn hóa có tính nhân dân rộng lớnnhất vì lợi ích của toàn dân Nó thực sự là một phong trào dân chủ cả về nội dung vàhình thức, nó thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa – xã hội

Tóm lại, thực hiện nền giáo dục dân chủ, tiến bộ v à phát động toàn dân dựngxây một lối sống văn hóa mới bằng mộ t phong trào dân chủ rộng lớn do nhân dân thựchiện vì lợi ích của mình là một sáng tạo to lớn của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực vănhóa

Phát triển văn hóa của các dân tộc:

Các dân tộc ít người ở Việt Nam được Hồ Chí Minh dành một sự quan tâm

đặc biệt và một sự cảm thông sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực nói chung v à văn hóanói riêng Người nói: “Trước kia, bọn thực dân phong kiến nắm quyền l àm chủ,

chúng bắt đồng bào ta làm nô lệ Ngày nay, chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là tất cả

đồng bào các dân tộc đều là người chủ nước nhà” [18, tr 326] Người chỉ rõ rằng:

“Dưới chế độ thực dân và phong kiến, đồng bào rẻo cao sống rất cực khổ Ngày nay,đồng bào rẻo cao được tự do bình đẳng, không bị áp bức bóc lột nh ư trước kia.Nhưng đời sống vật chất và văn hóa chưa được nâng cao mấy Đó là vì cán bộ lãnhđạo không chú ý đầy đủ đến đồng b ào rẻo cao Bác thay mặt Trung ương và Chính

Trang 34

phủ giao cho cán bộ từ tỉnh đến x ã phải ra sức giúp đỡ hơn nữa cho đồng bàp rẻo cao

về mọi mặt” [18, tr 323].

Hồ Chí Minh chủ trương phải làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho

đồng bào các dân tộc ít người được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về

chính trị, kinh tế, văn hóa Người chỉ rõ: “Chính sách dân tộc chúng ta là nhằm thựchiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”

[17, tr 587].

Trên lĩnh vực giáo dục, Hồ Chí Minh rất quan tâm chỉ đạo sự nghiệp phát triểngiáo dục miền núi, khôi phục và xây dựng hệ thống chữ viết cho các dân tộc ít ng ười

Người luôn nhắc nhở các cấp các ngành phải chú ý xây dựng thêm trường, lớp học, đào

tạo thầy cô giáo, nhất là các thầy cô giáo thuộc dân tộc ít người Vấn đề đoàn kết vàbình đẳng giữa các dân tộc là vấn đề Hồ Chí Minh rất quan tâm v à tất chăm lo cho xâydựng khối đoàn kết giữa các dân tộc và sự bình đẳng trên tất cả các lĩnh vực Người căndặn các cán bộ đi công tác miền núi phải tôn trọng tâm lý, phong tục tập quán, tiếng nóicủa đồng bào các dân tộc: “Nước ta có nhiều dân tộc, đấy là điểm tốt Mỗi dân tộc cómột tiếng nói riêng, có khi hai dân tộc một tiếng nói Cán bộ đi làm việc ở chỗ nào,

phải học tiếng ở đấy” [18, tr 137].

Phong trào xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa ở miền núi, giúp đỡ đồngbào miền núi của đồng bào miền xuôi cũng là một sáng tạo trong việc thực hành dânchủ trong xây dựng nền văn hóa ở nước ta

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, mỗi tộc người đều có bản sắc văn hóa

riêng “Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt

Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc l à cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy

tính đa dạng văn hóa của các dân tộc anh em” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội

nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, tr 57) Dân chủ trong xây

dựng và phát triển văn hóa là tạo ra quyền bình đẳng văn hóa giữa các dân tộc

Sử dụng trí thức và nhân tài:

Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tới vị trí v à vai trò của trí thức trong tiến trìnhcách mạng và xây dựng đất nước Ở thời kỳ chuẩn bị thành lập Đảng, Người tập trungvào việc triển khai các lớp huấn luyện tại Quảng Châu, Trung Quốc nhằm nâng cao

Trang 35

trình độ nhận thức cho cán bộ về con đ ường cách mạng Việt Nam và cách mạng thếgiới.Trong kháng chiến chống Pháp, v ì lo việc đánh giặc và sản xuất, nhiều người chưa

chú ý đúng mức đến văn hóa và giáo dục, Bác đã sửa khẩu hiệu thi đua thanh toán “nạn

mù chữ" thành "thi đua diệt giặc dốt" Bác kêu gọi mọi người thi đua học tập để đưadân tộc ta trở thành một dân tộc "Thông thái” Khi đã giành được chính quyền trong cả

nước, Người quan tâm nhiều đến công tác đ ào tạo cán bộ, đào tạo nhân tài cho đấtnước Trong bài viết:"Nhân tài và kiến quốc" (tháng 11/1945), Bác nhận định rằng, bây

giờ đất nước đang "kiến thiết ngoại giao, kiến thiết kinh tế, kiến thiết quân sự, kiến thiếtgiáo dục", những "kiến thiết” ấy đòi hỏi phải có nguồn nhân lực dồi dào và có những

nhân tài Người viết: “Kiến thiết cần có nhân t ài… Vậy chúng tôi mong rằng đồng bào

ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn l òng hăng hái giúp íchnước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế

hoạch ấy một cách kỹ lưỡng có thể thực hành thì sẽ thực hành ngay”[12, tr 99] Đó là

thời kỳ rất cần những con người làm chủ xã hội, làm chủ sản xuất, biết quản lý cơquan, xí nghiệp, trường học

Bằng thực hành dân chủ để phát huy tinh thần làm chủ của trí thức và nhân tài

là một thành công lớn của Hồ Chí Minh Chính vì vậy, ngay ở những thời điểm cam gonhất của cách mạng, trước thù trong giặc ngoài, trong xây dựng nền kinh tế mới từ mộtnền kinh tế - xã hội thấp kém, Hồ Chí Minh đã và luôn tập hợp được một đội ngũ tríthức tài năng, trung thành với cách mạng, ở cả trong và ngoài nước, có nhiều đóng góp

to lớn trên mọi lĩnh vực xây dựng và bảo vệ chế độ mới

Tư tưởng coi trọng nhân tài trí thức là một khâu quan trọng có tính quy luật

trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới Tất nhi ên, khi đưa ra chủ trương sử dụng

và đào tạo trí thức, Hồ Chí Minh đề ra phương châm thích hợp: Vừa sử dụng kết hợp

cải tạo trí thức cũ, vừa đào tạo và phát triển lực lượng trí thức mới – trong đó trí thứcxuất thân từ công nông là nòng cốt Tư tưởng trọng dụng trí thức của Hồ Chí Minhkhông chỉ được thể hiện bằng các chủ trương, lời kêu gọi mà còn thông qua những việclàm cụ thể của chính Người bởi lòng khoan dung, độ lượng không hề định kiến quákhứ, tìm đế`n từng người cụ thể, với ai cũng tìm các thuyết phục và dám dùng, kể cả

Trang 36

quan lại cũ, tất cả nhằm mục đích cuối c ùng là làm sao giúp họ cống hiến thật nhiềucho sự nghiệp cách mạng, cho tổ quốc v à nhân dân.

Hồ Chí Minh khẳng định rằng “Trí thức Việt Nam có đầu ó c dân tộc và đầu óccách mạng” và “cách mạng rất cần trí thức và chính ra chỉ có cách mạng mới biết tôntrọng tri thức” Tuy nhiên, Người cũng chỉ ra rất cụ thể: “Nhưng trọng trí thức là nhưthế nào? Không phải tất cả đều là trọng Trí thức đáng trọng là trí thức hết lòng phục vụ

cách mạng, phục vụ nhân dân”[15, tr 32 – 33].

Giải phóng tinh thần, sử dụng tài năng và tôn trọng nhân cách trong hoạt độngsáng tạo văn hóa là một biểu hiện dân chủ trong văn hóa theo t ư tưởng Hồ Chí Minh

Người nói: “Tự do tư tưởng – Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do

Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, gópphần tìm ra chân lý Đó là một quyền lợi mà cũng là nghĩa vụ của mọi người

Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư

tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho

nhân dân Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức l à không phải chân lý

Ra sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân – tức là phục tùng chân lý”[16, tr 216].

Dân chủ trong xây dựng và phát triển văn hóa là hướng vào những người sángtạo văn hóa Tôn trọng ý kiến cá nhân, đề cao tính trung thực v à tính sáng tạo của

người làm văn hóa; khắc phục sức ì và tính thụ động trong tư duy, phát huy tinh thần

làm chủ, tinh thần trách nhiệm, khách quan, khoa học đối với những ng ười làm côngtác sáng tạo văn hóa là tư tưởng Hồ Chí Minh Người là một nhà văn hóa lớn mà nhânloại đã thừa nhận, trước hết, vì Hồ Chí Minh là người sáng tạo văn hóa đồng thời là nhàlãnh đạo thực hành dân chủ trong lĩnh vực văn hóa Sự vĩ đại đích thực của những nh à

văn hóa kiệt xuất không phải chỉ là những cống hiến bằng các tác phẩm văn hóa, m àcao hơn là những đóng góp có tác động thúc đẩy đối với sự phá t triển văn hóa của dân

tộc và nhân loại Hồ Chí Minh là nhà văn hóa như vậy

1.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống chế độ dân chủ ở

nước ta:

Theo Mác, chế độ dân chủ, đó là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản

và Lênnin nhấn mạnh rằng: Chuyên chính vô sản, đó là chế độ dân chủ cho nhân dân,

Trang 37

cho số đông, đi đôi với trấn áp tất yếu đối với thiểu số bóc lột, thống trị, phản động là

kẻ thù của nhân dân

Kế thừa những quan điểm trên, tư tưởng Hồ Chí Minh về chế độ dân chủ haychế độ dân chủ chính trị cho thấy rằng, quyền lực của nhân dân đ ược khằng định bằngHiến pháp và pháp luật, được bảo đảm trong việc tổ chức ra nh à nước dân chủ mới củadân, do dân, vì dân, bảo vệ lợi ích của nhân dân Quan điểm đó thể hiện ở những vấn

đề cơ bản như: Khẳng định quyền lực của nhân dân, xây dựng nh à nước dân chủ, xây

dựng Đảng và các tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và phát huy quyền làm chủ củanhân dân

Nhà nước của dân.

Tư tưởng về dân chủ của Hồ Chí Minh đ ược xây dựng trên cơ sở nhận thức về

sức mạnh vô địch của nhân dân Người viết: Trong bầu trời không g ì quý bằng nhândân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân Và, Người

đã đưa ra một quan điểm toàn diện về dân chủ: NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ:

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của

dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ trung

ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.

Địa vị làm chủ của người dân, tức là quan hệ của người dân với quyền lực nhànước, được Hồ Chí Minh làm rõ trong quan hệ với đội ngũ cán bộ nhà nước - nhữngngười trực tiếp thi hành quyền lực nhà nước Người viết: Nước ta là nước dân chủ, địa

vị cao nhất là dân, vì dân là chủ Trong bộ máy cách mạng, từ ng ười quét nhà, nấu ăn

cho đến Chủ tịch nước đều là phân công làm đày tớ cho dân Người căn dặn cán bộ nhànước: Phải nhớ rằng dân là chủ Dân như nước, mình như cá Lực lượng bao nhiêu là

nhờ ở dân hết Khi nói tới tư cách công bộc của cán bộ nhà nước đối với nhân dân, HồChí Minh khẳng định, mục đích hoạt động của họ l à vì lợi ích chung Người nói:Những người trúng cử (vào bộ máy nhà nước), sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của

Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu:

Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng Người khẳng định: Làm việc

nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung Những ai muốn

Trang 38

làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu Nếu dân là chủ thì nhà nước, cán bộ

nhà nước là công bộc của dân Đây là một sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh Chính t ưtưởng này đã chỉ rõ sự đối lập về chất của Nhà nước nhân dân với nhà nước phong

kiến, nhà nước thực dân Người căn dặn các cán bộ nhà nước phải luôn ghi nhớ rằng

các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là

để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đ è đầu dân như trong thời kỳ dưới

quyền thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật Ở đây, ta thấy Hồ Chí Minh đ ã chỉ ranội hàm của khái niệm "công bộc của dân", v à có thể hiểu đây là một định nghĩa của HồChí Minh về chức năng của Nhà nước mà ý nghĩa sâu sắc của nó vẫn còn giữ nguyêntính thời sự và cần được quán triệt trong công cuộc xây dựng Nh à nước ta hiện nay

Nhà nước do dân, vì dân.

Hồ Chí Minh cho rằng, quyền lực nh à nước thuộc về nhân dân gắn liền vớiviệc nhà nước phải làm tất cả để đem lại một cuộc sống hạnh phúc cho nhân dâ n

Hồ Chí Minh đòi hỏi rất cao đối với cán bộ nhà nước Họ cần phải có rất nhiềuphẩm chất, song tựu trung họ phải thực sự v ì dân mà làm việc Người nêu rõ bốn đức

tính là: cần, kiệm, liêm, chính; phải ghi sâu những chữ công bình chính trực vào lòng; phải có một tinh thần chí công vô tư; nếu muốn danh, lợi thì danh làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới, và lợi làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới - đó là

danh chính và lợi chính

Cán bộ nhà nước phải làm sao để nhân dân yêu quý, khi sắp tới dân mong, khi

đi dân nhớ Muốn thế trước hết cán bộ phải yêu quý nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân

lên trên hết, kính trọng nhân dân, tôn trọng nhân cách của họ Ng ười chỉ rõ: Muốn

được dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có

hại cho dân phải hết sức tránh Phải chú ý giải quyết các vấn đề, đặc biệt l à những vấn

đề quan hệ đến đời sống nhân dân, dầu khó khăn đến đâu cũng mặc l òng Nói tóm lại,

hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất v à tinh thần của dân phải được

đặc biệt chú ý

Nhà nước của dân, nhà nước do dân, nhà nước vì dân, đó là 3 đặc trưng cấu

thành của một Nhà nước kiểu mới mà Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo học thuyếtMác – Lênin về Nhà nước để xây dựng chính quyền cách mạng ở n ước ta Ba đặc

Trang 39

trưng này gắn bó hữu cơ với nhau và được thể hiện nhất quán trong mọi lĩnh vực hoạtđộng của đời sống xã hội.

Nhà nước kiểu mới theo Hồ Chí Minh là Nhà nước của dân, do dân, vì dân thì

tất yếu phải là một Nhà nước pháp quyền dân chủ mạnh mẽ, sáng suốt, t ổ chức và hoạt

động theo pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật

Nhà nước pháp quyền chuyên chính Vô sản.

Khái niệm dân chủ còn được Hồ Chí Minh làm rõ trong quan hệ của nó với

khái niệm chuyên chính Người viết: "Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân,

chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không có khóa,nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết Cho nên có cửa phải có khóa, có nhà phải có cửa

Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ” [16, tr 279 –

280] ; và, "Nhà nước ta cũng là nhà nước của đại đa số nhân dân, để thống trị thiểu số

phản động, để giữ gìn lợi ích của nhân dân, bằng cách dân chủ chuyên chính của nhân

dân” [15, tr 216 – 217].

Xuất phát từ tư tưởng nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, tư tưởngdân chủ của Hồ Chí Minh được phát triển thành nhân dân là chủ thể của nhà nước Vìthế, việc nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước phải được đặt trên cơ sở coi vấn

đề nhà nước là một khía cạnh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ Nhà nước, theoNgười, là của nhân dân "Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó l à do tính chấtNhà nước ta là Nhà nước của nhân dân Có phát huy dân chủ đến cao độ th ì mới độngviên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên Đồng thời phải tập

trung đến cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa x ã hội” [17, tr

592 - 593] Nhân dân sử dụng Nhà nước như một công cụ để thực hiện lợi ích của

mình: đối với nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới (Chính phủ, pháp luật,công an, quân đội, v.v ) là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân

Khi bàn về vai trò của Nhà nước, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về nhândân quản lý nhà nước Điều đáng lưu ý là, việc nhà nước tiến hành các hoạt động nhằmmục đích phục vụ lợi ích của nhân dân, thì đồng thời, đó cũng chính là nhằm tạo điềukiện để nhân dân có thể tham gia quản lý nh à nước Người viết: " chỉ có chế độ củachúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, tr ước hết là nhân dân lao động, bảo

Trang 40

đảm mọi quyền lợi của nhân dân, mở r ộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản

lý Nhà nước Vì vậy cho nên nhân dân ta đưa hết khả năng làm tròn nhiệm vụ người

chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta mạnh, dân ta giàu” [17, tr

592 - 593] Đó là tính dân chủ chuyên chính của Nhà nước.

Ngoài ra, Nhà nước còn là một Nhà nước pháp quyền dựa trên việc xây dựng

pháp luật Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân với tư cách là chủ thể quyền lực nhà

nước được hiểu là toàn thể nhân dân chỉ trừ bọn phản quốc hại dân Ng ười viết: Chính

phủ này là Chính phủ toàn quốc, có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia Xuất phát

từ yêu thương quý trọng nhân dân, Người thấy rõ nguồn sức mạnh vô tận của khối đại

đoàn kết dân tộc, mọi mưu đồ đề cao lợi ích vị kỷ của một bộ phận ng ười đi ra ngoài

con đường của cả dân tộc hoặc sẽ bị đào thải, hoặc sẽ làm tổn hại đến khối đại đoàn kết

mà kết quả đều làm cho đất nước lâm nguy Người chỉ rõ, phải thực hiện cho được khối

đại đoàn kết dân tộc Chỉ có thế, nhân dân mới có đủ sức mạnh để gi ành, giữ và thực

thi quyền lực của mình, trong đó có quyền lực nhà nước

Điều đặc sắc trong tư tưởng của Người là về pháp quyền dân chủ là sự kết hợp

nhuần nhuyễn giữa “pháp trị” và “đức trị” Ở Người, hai yếu tố đó không hề mâu thuẫn

mà còn thống nhất với nhau một cách biện chứng Người chủ trương “đức” là để cảm

hóa, ngăn cản những thói hư tật xấu, hạn chế cái “ác” nảy sinh, do đó hạn chế những

hành vi phạm pháp ở mỗi con người

Hồ Chí Minh nhấn mạnh 3 yếu tố: Hiến pháp, luật pháp v à bộ máy chính quyền

Về Hiến pháp, phải có “thích hợp với sự phát triển của chế độ V ề pháp luật,

Người viết: Pháp luật của chúng ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho h àng triệu người laođộng Pháp luật của ta lúc này, chưa tước bỏ quyền tư hữu, nhưng không ai được lợi

dụng quyền tư hữu để bóc lột thậm tệ nhân dân lao động Pháp luật của ta l à pháp luậtthật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng r ãi cho nhân dân lao động

Người khẳng định, "Phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành

động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân” [15, tr 453].

Vì vậy, để có một "chính quyền trong sạch", phải ki ên quyết trừng trị những kẻ lợidụng việc được nhân dân giao quyền, rồi cậy quyền cậy thế đi ng ược lại lợi ích củanhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cương quyết xử lý một số cán bộ cao cấp của Nh à

Ngày đăng: 26/03/2018, 00:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w