1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG AN NINH MÔI TRƯỜNG

27 696 19

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 749,95 KB
File đính kèm BGAnninhmoiruong.rar (701 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ trước tới nay, nói tới an ninh quốc gia, người ta chủ yếu chỉ quan tâm tới anninh truyền thống, tức là tới chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ chống lại sự xâmlược về quân sự từ các quốc gia khác. Điều này là nguyên nhân xuất hiện các mối liênminh và đầu tư vào quân sự với mục đích ngăn chặn những kẻ thù nguy hiểm, và để cósẵn một lực lượng vũ trang hùng hậu ngay khi cần thiết. Trong những năm gần đây,người ta đã chú trọng nhiều hơn tới việc mở rộng khái niệm truyền thống về an ninh sangnhững lĩnh vực được gọi là các nguy cơ mới như cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên,vi phạm quyền con người, sự lan tràn của các căn bệnh truyền nhiễm, và nguy cơ xuốngcấp môi trường do nhiễm độc, phá huỷ tầng ôzôn, hiện tượng trái đất nóng lên, ô nhiễmnguồn nước, đất đai xuống cấp và mất đa dạng sinh học (Ullman, 1983; Renner, 1989;Westing, 1989). Chính các ý kiến này đã thúc đẩy việc nghiên cứu mối quan hệ cụ thểgiữa môi trường và an ninh

Trang 1

AN NINH MÔI TRƯỜNG

PGS.TS Nguyễn Đình Hòe, Khoa MT ĐHQG HN

1.An ninh truyền thống và sự mở rộng sang khái niệm an ninh môi trường

Từ trước tới nay, nói tới an ninh quốc gia, người ta chủ yếu chỉ quan tâm tới an ninh truyền thống, tức là tới chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ chống lại sự xâm lược về quân sự từ các quốc gia khác Điều này là nguyên nhân xuất hiện các mối liên minh và đầu tư vào quân sự với mục đích ngăn chặn những kẻ thù nguy hiểm, và để có sẵn một lực lượng vũ trang hùng hậu ngay khi cần thiết Trong những năm gần đây, người ta đã chú trọng nhiều hơn tới việc mở rộng khái niệm truyền thống về an ninh sang những lĩnh vực được gọi là các nguy cơ mới như cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên,

vi phạm quyền con người, sự lan tràn của các căn bệnh truyền nhiễm, và nguy cơ xuống cấp môi trường do nhiễm độc, phá huỷ tầng ôzôn, hiện tượng trái đất nóng lên, ô nhiễm nguồn nước, đất đai xuống cấp và mất đa dạng sinh học (Ullman, 1983; Renner, 1989; Westing, 1989) Chính các ý kiến này đã thúc đẩy việc nghiên cứu mối quan hệ cụ thể giữa môi trường và an ninh

1.1.Thời kỳ mở đầu: 1950 - 1990

Các nghiên cứu chính thức về môi trường và an ninh xuất hiện đầu tiên từ những năm 1950, mở đầu nhiều tranh luận về sự thay đổi của môi trường và an ninh mà trong đó khái niệm về an ninh môi trường được sử dụng không ít (Osborn, 1953; Brown, 1954; Spout and Sprout, 1971; Falk, 1971 vaf Ophuls, 1976) Tiếp theo các nghiên cứu này, vào năm 1977, Cục Tình báo Liên Bang của Mỹ (C.I.A) đã thiết lập một Trung tâm Môi trường để đánh giá mối liên hệ giữa môi trường và an ninh Việc sử dụng chất diệt cỏ của quân đội Mỹ tại Việt Nam đã tập trung sự chú ý của quốc tế vào những thiệt hại về môi trường do chiến tranh gây ra Văn bản bổ sung I cho Hiệp định Giơnevơ 1949 về Bảo vệ các Nạn nhân Chiến tranh Vũ trang Quốc tế (1977) là một trong hai hiệp ước đầu tiên có

ý nghĩa đáng kể về môi trường, được đề xuất nhờ mối quan tâm của quốc tế tới sự xuống cấp môi trường nghiêm trọng ở Việt Nam Thoả thuận mang tính chất nhân đạo này cho tới nay vẫn chưa được một số nước thông qua, trong đó có Mỹ, Pháp và Anh, mặc dù hầu hết các mục tiêu của nó không tập trung vào các vấn đề về môi trường có trong thoả thuận đó.(IUCN, 1999)

Trong Hiệp định 1977 về Ngăn chặn Việc Sử dụng các Kỹ thuật làm Thay đổi Môi trường vì mục tiêu quân sự hay vì bất cứ mục tiêu thù địch nào khác (Hiệp định ENMOD), hiệp ước hậu chiến Việt Nam thứ hai, đã tiếp tục có nhiều cố gắng để xác định được những khái niệm chặt chẽ hơn cho việc ngăn chặn nguy cơ "tàn phá lâu dài, rộng rãi

và nghiêm trọng môi trường tự nhiên"

Vào những năm đầu thập kỷ 1980, nhiều tổ chức và cá nhân khác nhau đã bắt đầu đề cập tới những vấn đề an ninh nằm ngoài lĩnh vực quân sự có ảnh hưởng tới một quốc gia

Uỷ ban An ninh và Giải trừ quân bị Liên Hiệp quốc, do Olaf Palme làm chủ tịch, đã phân

Trang 2

biệt hai khái niệm an ninh tập thể và an ninh chung Khái niệm đầu gần với khái niệm truyền thống hơn, ám chỉ những vấn đề quân sự nội bộ một nước, trong khi đó khái niệm sau lại phản ánh một loạt những nguy cơ phi quân sự như chuyển đổi kinh tế, cạn kiệt nguồn tài nguyên, gia tăng dân số và xuống cấp môi trường Tiếp theo đó là Xu hướng Chính trị Mới của Tổng thống Nga Mikhail Gorbachew ủng hộ khái niệm an ninh toàn diện, đặt nền móng cho chính trị toàn cầu An ninh toàn diện bao gồm cả các mối đe doạ khác như chiến tranh hạt nhân, nạn đói và các vấn đề môi trường toàn cầu (IUCN, 1999) Cùng lúc đó, cũng có nhiều tác giả khác nêu ra vấn đề mở rộng khái niệm an ninh sang các nguy cơ phi quân sự Richard Ullman là một ví dụ, ông đã đưa ra định nghĩa sau đây cho các mối đe doạ về an ninh:

Một mối đe doạ cho an ninh quốc gia là một hành động hay một chuỗi các sự kiện mà:

1) đe doạ gây tổn hại trầm trọng trong một khoảng thời gian tương đối ngắn đến chất lượng cuộc sống của người dân trong quốc gia đó

2) đe doạ làm thu hẹp đáng kể phạm vi chọn lựa các chính sách của chính phủ của một quốc gia hoặc của các đơn vị tư nhân hay phi chính phủ (một người, nhóm người hay một tổ chức) nằm trong quốc gia đó

(Ullman, 1983:133).

Trong khi khái niệm về an ninh bó hẹp trong biên giới một quốc gia vẫn đang tồn tại, Ullman đã tìm cách mở rộng khái niệm về các mối đe doạ về an ninh ra ngoài khuôn khổ những vấn đề về chính trị truyền thống

Ý định mở rộng định nghĩa về an ninh tới các nguy cơ về môi trường không chỉ

hạn chế trong nước Mỹ Mặc dù Báo cáo Tương lai chung của chúng ta của Uỷ ban Quốc

tế về Môi trường và Phát triển được biết đến nhiều nhất nhờ định nghĩa về phát triển bền vững, Uỷ ban cũng đã kêu gọi mọi người nhận thức rằng an ninh cũng một phần là chức năng của phát triển bền vững Uỷ ban đã nêu bật vai trò của các áp lực về môi trường

trong việc làm nảy sinh mâu thuẫn, đồng thời cũng tuyên bố rằng "một phương án an

ninh quốc gia và quốc tế toàn diện phải vượt xa việc tập trung vào lực lượng quân sự

và chạy đua vũ trang" (1987:290) Westing (1989) đã làm rõ thêm ý kiến này Ông cho

rằng an ninh toàn diện bao gồm hai bộ phận luôn khăng khít với nhau: an ninh chính trị, bao gồm các yếu tố quân sự, kinh tế và các yếu tố con người và an ninh môi trường, gồm

có bảo vệ và sử dụng môi trường

Vụ rò rỉ hạt nhân ở Tréc-nô-bưn và kèm theo nó là những thiệt hại về con người và

hệ sinh thái đã làm cho nhiều người đặt vấn đề sức khoẻ vào khuôn khổ của an ninh Năm sau đó, Tổng thống Gorbachew đã đề nghị đưa an toàn sinh thái lên ưu tiên hàng đầu và

đã góp phần xây dựng lòng tin của quốc tế vào khái niệm này

Bên cạnh việc kêu gọi mở rộng khái niệm cũ về những gì được coi là mối đe doạ

cho an ninh, người ta cũng nhận thức được rằng chỉ tập trung vào an ninh quốc gia là quá hẹp An ninh cần phải được hiểu ở những cấp độ chính trị rộng hơn (khu vực hay toàn cầu) hoặc hẹp hơn (cộng đồng hay vùng sinh thái) vì "đặc quyền qui ước của các quốc gia

ít khi phù hợp với nhu cầu hợp tác khu vực và thiết lập chính sách toàn cầu" (Matthews,

Trang 3

1989:162) Càng ngày càng có nhiều ý kiến công nhận là quốc gia không còn là đối

tượng duy nhất đang được bảo vệ an ninh (Buzan, 1991)

Giai đoạn đầu tiên trong các nghiên cứu về môi trường và an ninh đã khép lại gần như ngay sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc Các bài báo của Jessica Matthews (1989) và Norman Myers (1989) đã tóm tắt hầu hết các cuộc tranh luận về việc mở rộng khái niệm

an ninh Cũng giống như các đóng góp khác trước đó, họ đặt ra hai vấn đề cơ bản Thứ nhất, cần phải định nghĩa lại an ninh trong đó bao gồm cả một loạt các mối đe doạ mới như gia tăng dân số, cạn kiệt nguồn tài nguyên và môi trường xuống cấp Thứ hai, công nhận đối tượng của an ninh không còn đơn thuần là một quốc gia, mà phải bao trùm cả cấp độ rộng hơn và hẹp hơn quốc gia Ví dụ như Myers (1993) cho rằng an ninh đồng nghĩa với:

An toàn cho con người: không chỉ là tránh khỏi bị sát hại hoặc bị thương mà còn phải có nước uống, thức ăn, nơi ở, sức khoẻ, việc làm và các yêu cầu thiết yếu khác mà mọi con người trên Trái đất này đều phải được hưởng Tổng hợp nhu cầu của tất cả các công dân này - an toàn

và chất lượng cuộc sống - sẽ là yếu tố nổi bật trong quan niệm về an ninh của mỗi quốc gia Tương tự với các luận điểm của Uỷ ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển,

Myers ủng hộ việc chuyển từ khái niệm an ninh là "tránh khỏi các mối đe doạ khác" sang khái niệm an ninh là "tự do tiếp cận tới các dịch vụ về môi trường"

1.2.Thời kỳ thứ hai: sau 1990 đến nay

Những tranh luận về quan hệ giữa môi trường và an ninh đã vượt ra khỏi phạm trù

lý thuyết đơn thuần Warren Christopher, Cựu Ngoại trưởng Mỹ đã nêu lên mối liên hệ

giữa hai khái niệm một cách rõ ràng, "… các vấn đề về tài nguyên thiên nhiên thường

có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ ổn định kinh tế và chính trị của một quốc gia…"

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Na Uy Johan Holst còn dứt khoát hơn với quan điểm "môi

trường xuống cấp có thể coi là một phần của xung đột vũ trang vì nó làm các xung đột thêm nghiêm trọng hơn hoặc mở rộng quy mô của các cuộc xung đột đó"

Dù chỉ là các tranh luận về lý thuyết hay trên chính trường thì chắc chắn vẫn còn một số lượng đáng kể những tranh luận về mối quan hệ giữa an ninh và môi trường Như Dabelko và Simmons (1997) đã nhận xét, sự chưa thống nhất tồn tại không chỉ trong khuôn khổ các nguyên tắc mà còn ngay cả giữa các cơ quan của chính phủ Thực tế, rất nhiều nhà nghiên cứu đã phải tránh dùng khái niệm an ninh, và chủ yếu tập trung vào các biến đổi của môi trường và sự thích nghi của xã hội và/hoặc xung đột vũ trang

1.3.An ninh Môi trường là gì ?

Một số tranh luận về mối quan hệ giữa an ninh và môi trường là kết quả của các cách hiểu khác nhau về khái niệm môi trường và an ninh Hiện nay đang tồn tại một số định nghĩa sau đây về an ninh môi trường:

- An ninh môi trường (hay an ninh của các dịch vụ có được do môi trường tự

nhiên) - khái niệm này cũng có thể được hiểu là nguồn vốn tự nhiên bền vững bao gồm

cả các lực lượng quân sự và tình báo quốc phòng với việc quản lý và thi hành các thoả ước môi trường quốc tế; cả việc thu thập thông tin, phân tích, xử lý và công bố các dữ liệu khoa học về môi trường tự nhiên; khắc phục và xử lý các khủng hoảng môi trường,

Trang 4

các thiên tai; thực hiện các chương trình phát triển bền vững môi trường; đảm bảo tiếp cận được các nguồn tài nguyên thiên nhiên; chuyển hướng công nghệ sạch; bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên

- An ninh môi trường là sự xuống cấp hay bị suy kiệt của môi trường do các hoạt

động quân sự hoặc các xung đột vũ trang (do cách thực hiện các xung đột vũ trang và do các chất thải quân sự gây ra)

- An ninh môi trường là môi trường xuống cấp và tài nguyên cạn kiệt dẫn đến

nhiều mâu thuẫn gay gắt trong phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ quốc tế

- An ninh môi trường là môi trường xuống cấp và tài nguyên cạn kiệt đe doạ

phúc lợi quốc gia (và vì thế, cho cả an ninh quốc gia); và cần có sự can thiệp của các tổ chức có chủ quyền nhằm làm dịu bớt những tổn thất cho môi trường;

- An ninh môi trường là khả năng môi trường có thể đáp ứng các chức năng cơ

bản của con người một cách bền vững: cung cấp nơi ở, cung cấp năng lượng và nguyên liệu, khả năng chấp nhận chất thải, cung cấp thông tin khoa học và cung cấp các tiện nghi môi trường

Rõ ràng là các nghiên cứu về môi trường và an ninh còn chưa thực sự thống nhất Giai đoạn đầu của bất kỳ một chương trình nghiên cứu khoa học hay một cuộc bàn

luận về chính sách nào thường xuôn sẻ, nhưng tới khi bắt đầu cố gắng xây dựng một tập hợp các đường lối chỉ đạo chặt chẽ, người ta lại thường gặp phải bất đồng Vì vậy, nhu cầu mở rộng mạng lưới nghiên cứu và đẩy mạnh thông tin liên lạc giữa các đơn vị nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ lại càng trở nên cần thiết Và điều này cũng sẽ giúp cho việc làm rõ các khái niệm còn chưa được thống nhất Tuy nhiên dù chưa thống nhất nhưng việc đưa các vấn đề môi trường vào nội dung an ninh là việc đang được quan tâm rộng rãi trên thế giới

Những tuyên bố của Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường Thế giới tại Johannesburg (Nam Phi) năm 2002 đã đưa khái niệm về an ninh môi trường lên một tầm quan trọng mới Tuyên bố Johannesburg về Phát triển bền vững đã khẳng định mối liên kết chặt chẽ giữa Bảo vệ môi trường với xoá đói nghèo, với sự phồn vinh, an ninh và ổn định toàn cầu

2.Quan hệ giữa An ninh Môi trường và các lĩnh vực gần gũi

2.1.An ninh Môi trường và xung đột vũ trang

Khái niệm kinh điển đã từng tồn tại hàng thế kỷ chỉ coi an ninh là sự an toàn, không có xung đột vũ trang Gần đây, sau hội nghị của Liên hiệp quốc về phát triển ở Stockholm năm 1972 và nhất là sau Rio 1992, nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh những biến đổi của môi trường và nguồn tài nguyên cạn kiệt đóng vai trò là những

nguyên nhân tiềm tàng gây xung đột mạnh mẽ (Homer - Dixon, 1991, 1994, Libiszewski,

1992; Bachler, 1994) Xung đột này, tiếp đó, lại là mối đe doạ nghiêm trọng cho an toàn của các cá nhân, các khu vực hay các quốc gia Các bàn luận chung về thực chất của an ninh và vai trò của hiện tượng môi trường xuống cấp góp phần vào tình trạng kém an ninh và xung đột, đã được Levy (1995) nêu lên và được coi là làn sóng nghiên cứu đầu tiên về môi trường và xung đột

Trang 5

Các nghiên cứu sau Levy (1995) đã tạo ra các tranh luận tiếp theo về việc thiết lập các chính sách để làm rõ mối liên hệ giữa môi trường và xung đột, tạo nền tảng cho việc theo đuổi những nghiên cứu xa hơn về những mối quan hệ phức tạp và còn mơ hồ này Các nghiên cứu này không chỉ làm tăng tính khoa học cho những tranh luận xung quanh mối liên hệ giữa các biến đổi của môi trường và xung đột vũ trang, mà chúng còn làm cho công chúng ý thức được hiện tượng môi trường xuống cấp có thể góp phần làm nảy

sinh xung đột vũ trang Homer-Dixon (1991) kết luận rất rõ ràng: " khan hiếm các tài

nguyên không phục hồi được là yếu tố góp phần đẩy đến xung đột vũ trang ở rất nhiều nơi thuộc thế giới thứ ba" Nghiên cứu tiếp theo của Bachler và cộng sự (1998) đã cho

thấy môi trường trở thành cốt lõi của các tình trạng căng thẳng, trở thành kênh dẫn tới tình trạng căng thẳng, thành chất xúc tác hay thậm chí là cái đích cho tình trạng căng thẳng

Nhiều mối đe doạ về môi trường có khả năng góp phần làm mất an ninh và gây xung đột Những hạn chế về tài nguyên là một yếu tố quan trọng thường được bàn đến trong các tài liệu Việc tăng dân số và công nghiệp hoá nhanh chóng ở nhiều nơi đã làm tăng nhu cầu về cả tài nguyên thiên nhiên có thể tái sinh và tài nguyên không tái sinh được Tranh chấp tài nguyên xưa nay vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây xung đột Ta có thể thấy tình trạng khan hiếm nước ở vùng Trung Đông; cạn kiệt nguồn cá ở bờ biển đông Canađa; chặt phá rừng ở Braxin, Thái Lan và nhiều nơi khác đã hoặc sẽ trở thành nguyên nhân chính gây ra xung đột Theo Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ (1991) và Myers (1993), những thay đổi của bầu khí quyển - trái đất nóng lên và tầng ozon bị huỷ hoại -

có thể gây ra những tổn thất to lớn cho con người Thêm vào đó, đất đai xuống cấp - hay tình trạng sử dụng đất hiện nay nói chung - cũng có thể trực tiếp ảnh hưởng khả năng tự cung cấp nguồn thực phẩm cho con người, nhất là trong điều kiện dân số gia tăng, hoặc

có thể gián tiếp ảnh hưởng đến những thay đổi khác như làm cho trái đất nóng lên Homer-Dixon (1994) đã đưa ra một vài bằng chứng về những mối liên quan này và kết luận sự khan hiếm tài nguyên môi trường (bao gồm cả biến đổi môi trường, gia tăng dân

số và phân chia không đều nguồn tài nguyên) tạo ra xung đột gay gắt Trong khi luận điểm này còn đang được bàn cãi, càng ngày người ta càng phải công nhận môi trường xuống cấp ít nhất cũng góp phần gây xung đột và mất an ninh

Phân biệt An ninh và Xung đột

Cần phải phân biệt được hai khái niệm hàm chứa trong các thuật ngữ xung đột và an ninh Xung đột là hiện tượng có thể quan sát được trên thực tế Không giống như vậy, an ninh lại là nhận thức chủ quan mang tính xã hội, biến đổi theo thời gian và tuỳ thuộc từng đối tượng được bảo vệ hay đi bảo vệ an ninh (cá nhân, tổ chức, quốc gia, xuyên quốc gia hay quốc tế) Xung đột thường được xem như một mối đe doạ cho an ninh Vì vậy, hai khái niệm này thường hay đi liền với nhau, không nên coi chúng là hai khái niệm đối lập

Một vài tác giả khác đã cố gắng làm rõ những mối quan hệ giữa môi trường với xung đột và cả an ninh

Ví dụ như Wallensteen (1992) đã đưa ra một cách phân loại mối liên kết giữa sự phá huỷ môi trường với xung đột và/hoặc an ninh, gồm có 7 điểm Mặc dù không đưa ra các ví dụ minh hoạ, hệ thống phân loại của ông có thể được hiểu như sau:

Trang 6

- Phá huỷ môi trường sẽ làm giảm các nguồn tài nguyên sẵn có cho xã hội, vì vậy sẽ dẫn tới cạnh tranh mở rộng hơn và gay gắt hơn;

- Phá huỷ môi trường dẫn tới chuyển đổi quyền lực hiện có;

- Phá huỷ môi trường dẫn tới tạo ra thêm nhiều nhóm quyền lực mới, như là một phản ứng đáp lại sự thay đổi này;

- Phá huỷ môi trường làm cho các vấn đề về môi trường trở nên quan trọng đối với các nhóm quyền lực hiện có;

- Phá huỷ môi trường làm cho các vấn đề về môi trường được tập trung chú ý nhiều hơn các vấn đề khác trong xã hội;

- Phá huỷ môi trường làm nảy sinh những xung đột về môi trường trong những nhóm nước quan tâm nhiều đến môi trường

Nghiên cứu nói trên và những nhận xét chung cho phép chúng ta rút ra một kết luận không thể phủ nhận được: biến đổi môi trường (và các mối đe doạ được coi là không truyền thống khác) có liên quan đến tình trạng mất an ninh do bất bình đẳng và đói nghèo Mối quan hệ giữa môi trường và an ninh là một ví dụ về cách thức các yếu tố

hoặc các nguy cơ khác nhau ảnh hưởng đến tình trạng bất bình đẳng và đói nghèo, đúng như tuyên bố Johannesburg sau này (2002) đã khẳng định

Người ta nhận thấy biến đổi môi trường có nhiều vai trò khác nhau trong các mối quan hệ với xung đột vũ trang Điều này được thể hiện rõ trong định nghĩa của Dokken

và Greger về xung đột vũ trang liên quan đến môi trường "là một loại xung đột có liên

quan đến sức ép môi trường hoặc sự xuống cấp môi trường, có thể đóng vai trò là nguyên nhân, là hậu quả hay yếu tố liên quan - cùng với nhiều yếu tố xã hội, chính trị hay sắc tộc khác" (1995: 38)

2.2.An ninh môi trường và phát triển cộng đồng

Cộng đồng là gì ?

Cộng đồng là một phạm trù cơ bản của xã hội học Đó là một tập hợp các cá nhân cùng chia sẻ một lợi ích chung, giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động – bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động (Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000, tr.17)

Các tính chất của một cộng đồng gồm:

- Quan hệ xã hội mang tính chất thân tình, thân mật, có tính cố kết tự nhiên

- Tính bền vững theo thời gian

- Vị thế xã hội của các thành viên được gán sẵn nhiều hơn là do phấn đấu mà có

Trang 7

- Dòng họ được lấy làm quan hệ cơ bản và mang cả hai đặc trưng: huyết thống và khuôn mẫu văn hoá của sinh hoạt cộng đồng

(Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000)

Khái niệm hiệp hội, tuy cũng dùng đề chỉ một tập hợp các cá thể, nhưng hoàn toàn khác với 4 tính chất trên đây của cộng đồng Hiệp hội được thành lập chủ yếu nhằm chia

sẻ lợi ích, hợp tác bảo vệ quyền lợi thông qua các hợp đồng hoặc khế ước, tính hợp lí hơn là tình cảm và vị thế trong hiệp hội là do phấn đấu mà có Ví dụ ta nói: "Hiệp hội các nhà sản xuất chè Việt Nam", khác với "Cộng đồng trồng chè ở xã Tân Cương, Thái

An ninh môi trường và phát triển cộng đồng

Các khái niệm nêu trên còn thiếu những tiêu chí quan trọng về bảo vệ môi trường ngay trong các định nghĩa về cộng đồng và phát triển cộng đồng Đưa các tiêu chí môi trường vào lĩnh vực này là một tất yếu để đảm bảo tính bền vững của cộng đồng và phát triển cộng đồng, vì trên thực tế, dù các nhà khoa học có đề cập đến hay không, các tiêu chí môi trường luôn luôn được các cộng đồng quan tâm và thực hiện

Đặc trưng môi trường của một cộng đồng là sự tương đồng về nhận thức, thái độ, hành vi trong ứng xử với thiên nhiên, phương cách khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên Điều này thể hiện rất rõ trong các hương ước, luật tục, thói quen của nhiều cộng đồng, nhất là cộng đồng nông thôn vẫn sống dựa vào các nguồn lợi thiên nhiên

Đặc trưng môi trường của phát triển cộng đồng là không chỉ phát triển kinh tế, cải thiện các điều kiện xã hội, văn hoá, mà còn duy trì khả năng sản xuất của môi trường Phúc lợi môi trường là bình đẳng với phúc lợi về kinh tế và xã hội trong phát triển cộng đồng

Bảo đảm an ninh môi trường gần như là điều kiện cốt lõi của sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, vì một môi trường an ninh có khả năng cung ứng bền vững 5 chức năng cơ bản cho phát triển cộng đồng Khi môi trường mất an ninh (suy thoái, sự cố) cộng đồng sẽ:

- Không có nơi ở an toàn (do thiên tai, sự cố, thảm hoạ môi trường)

- Không cung cấp đủ tài nguyên (thiếu đất đai, thiếu nước, thiếu năng lượng, ngư trường xuống cấp, tài nguyên rừng kiện quệ

- Môi trường bị ô nhiễm và trở nên độc hại

Trang 8

- Các thông tin bị phá huỷ (ví dụ các loài sinh vật bị biến mất, các điểm khảo cổ bị huỷ hoại, thiếu thông tin khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất )

- Các tiện nghi bị phá huỷ (không còn cảnh quan đẹp, không có khí hậu trong lành

để di dưỡng tinh thần )

Phản ứng trước môi trường sống mất an ninh, cộng đồng có thể bị buộc phải lựa chọn các phương cách sống:

- Trở thành người tị nạn môi trường: cộng đồng bị phá vỡ, phân tán

- Trở thành nhóm người ngày càng nghèo đói, lạc hậu: cộng đồng suy thoái

- Bùng phát các xung đột trong tranh giành tài nguyên, không gian sống, phá vỡ các mối liên kết xã hội, vi phạm pháp luật

Rõ ràng quốc gia muốn ổn định và phát triển thì các cộng đồng cũng phải ổn định

và phát triển Đảm bảo cho sự ổn định và phát triển đó không thể thiếu việc duy trì các dịch vụ môi trường một cách bền vững

2.3.An ninh môi trường và quản lý Nhà nước về môi trường

Nguyên nhân của việc mất (suy giảm) an ninh môi trường

- Bản thân hệ môi trường có thể mất an ninh một cách tự nhiên Ví dụ một vùng

bị thiên tai như lụt, động đất, gió xoáy, phun trào núi lửa Một hệ môi trường có thể mất

an ninh do hoạt động của con người Tác động nhân sinh có thể dẫn đến những biến đổi

môi trường một cách trường diễn, ví dụ ô nhiễm công nghiệp, khai thác quá mức tài nguyên Những vấn đề về sa mạc hoá, đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu đã từng được thảo luận ở nhiều hội thảo quốc tế và là đối tượng nghiên cứu nhiều năm Chúng cũng được đề cập đến trong nội dung của 3 công ước quốc tế Tuy nhiên, lại nảy sinh nhu cầu phải phân tích những hiểm hoạ bắt nguồn từ những suy thoái môi trường xảy ra trường diễn trong mối quan hệ với các điều kiện chính trị và kinh tế - xã hội đang chiếm ưu thế trong một khu vực, nhằm xác định những phương tiện có thể ngăn ngừa tình trạng không

ổn định có thể dẫn đến xung đột và di cư

- Thêm vào đó, hoạt động phát triển kinh tế – xã hội cũng có thể dẫn đến những sự

cố môi trường có tính thảm hoạ, ví dụ việc xây dựng cơ sở hạ tầng qui mô lớn như xây

đập, hành lang giao thông, hoặc các sự cố công nghiệp Cả hai loại mất an ninh môi trường có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo có thể tác động tương hỗ và tăng cường lẫn nhau Ví dụ lũ lụt tự nhiên trong những vùng đất thấp có thể được khuếch đại nhờ phá rừng qui mô lớn đầu nguồn

- Mất an ninh môi trường không phải bao giờ cũng đe dọa nơi cư trú và dẫn đến tình trạng tị nạn Con người vẫn luôn có khả năng thích ứng với hoàn cảnh Nếu tài nguyên trở nên hiếm hoi, họ có thể sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn hoặc sử dụng loại khác để thay thế Suy thoái đất có thể được ngăn chặn hay giảm bớt nhờ sử dụng kỹ thuật canh tác thích hợp Tuy nhiên, vẫn có nhiều yếu tố khác làm cho con người dễ tổn thương

do mất an ninh môi trường Đó là các điều kiện yếu kém về kinh tế như quyền sở hữu,

thu nhập, cấu trúc xã hội, sức khoẻ, giáo dục và hoàn cảnh gia đình

Trang 9

- Bùng nổ dân số và tăng cường tiêu thụ tài nguyên là những yếu tố mấu chốt

gây tàn phá môi trường Sự cạnh tranh khốc liệt tài nguyên và sự phân phối không công

bằng nguồn tài nguyên khan hiếm có thể đưa con người tới xung đột gay gắt, kể cả trên bình diện quốc gia lẫn quốc tế Gia tăng thiếu hụt tài nguyên nước do khai thác quá mức

và do ô nhiễm, sự phân chia không công bằng tài nguyên nước là một ví dụ chứng minh rằng suy thoái môi trường là một mối quan tâm chủ yếu của chính sách quan hệ quốc tế, cứu vãn hoà bình và hợp tác phát triển

- Gia tăng thiên tai cũng là một trong những nguyên nhân phá hoại các phương

tiện sinh sống cơ bản của dân chúng Những hoàn cảnh khó khăn có thể thúc đẩy những người nghèo trôi dạt đến những vùng dễ bị thiên tai và có tài nguyên mỏng manh, không phù hợp với sản xuất và cư trú Kết quả là họ lại tiếp tục gây suy thoái những vùng đất mới và lại tiếp tục tự thu hẹp điều kiện sống của mình Tại rất nhiều khu vực đang phát triển, nhất là ở Châu Phi, Nam và Đông á, tần suất lớn của các thảm hoạ thiên nhiên và nhân tạo đã gắn chặt với những khó khăn về kinh tế, xã hội và chính trị Rất nhiều nước phải hứng chịu những thiên tai khốc liệt mà chính những thiên tai này lại là kết quả của hoạt động nhân sinh ở nhiều nước Đông Nam á, phá rừng đầu nguồn đã làm cho nhiều vùng đất thấp rộng lớn ven biển chịu ngập lụt Bùng nổ dân số và nghèo khổ khiến cho nông dân phải canh tác tại những vùng đất suy thoái, điều đó lại góp phần tăng thêm số lượng người dễ bị tổn thương do biến động môi trường Vòng xoáy của suy thoái môi trường và tị nạn môi trường có thể xảy ra nếu những vấn đề về an ninh môi trường không được quan tâm ngay từ đầu

- Nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của phần lớn những nước đang phát triển,

vì vậy điều kiện môi trường ổn định là vô cùng quan trọng Con người trong các hệ

thống kinh tế kém đa dạng là nhóm rất dễ bị tổn thương do mất an ninh môi trường, bởi

vì cơ hội cho họ tìm kiếm các nguồn lực thay thế là rất khó và hạn chế Mất an ninh môi trường có thể dẫn đến khủng hoảng toàn bộ nền kinh tế và dẫn đến bùng nổ thất nghiệp, nghèo đói và các luồng di cư vào đô thị

Rõ ràng việc đảm bảo ANMT không thể thiếu vai trò quản lý nhà nước về môi trường

Trách nhiệm quản lý nhà nước trong đảm bảo An ninh Môi trường

- ứng xử thiên tai

+ Khả năng ngăn chặn thiên tai là rất hạn chế, do đó chiến lược can thiệp là nhằm vào cảnh báo sớm và chuẩn bị, phòng tránh và di chuyển dân Điều này đòi hỏi phải sưu tập các dữ liệu, đánh giá các nguồn dữ liệu có sẵn trong khu vực, xác định các vùng dễ bị tổn thương, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, đào tạo cán bộ và tập huấn dân chúng sẵn sàng đối mặt với thiên tai

+ Phòng tránh thiên tai nhằm vào giảm thiểu tác động xấu của thiên tai và cần hành động sớm trước khi thảm hoạ xảy ra Phòng tránh thu hút cả sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quần chúng vốn có mục tiêu hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu của những nhóm dân cư dễ bị tổn thương, hoặc những tổ chức hoạt động nhằm

Trang 10

cảnh báo sớm hiểm họa Cần xác lập hệ thống cứu hộ, ứng xử khẩn cấp, hệ thống bảo hiểm, quy chế xây dựng, nâng cấp hệ thống hoạt động xã hội, thực thi các biện pháp nhằm đa dạng hoá nền kinh tế của vùng

+ Biện pháp tái định cư dân sau thảm hoạ phức tạp hơn sự cứu trợ nhân đạo kinh điển rất nhiều Điều ưu tiên hàng đầu là đáp ứng nhu cầu thiết yếu của những người gặp nạn Tuy nhiên các vấn đề tái lập an ninh môi trường cũng cần được tiến hành càng nhanh càng tốt Cần khuyến khích những người di tản trở lại xây dựng lại quê nhà sau thảm hoạ nhằm giảm thiểu các xung đột và di cư trong tương lai Cần chú ý đến truyền thông và điều phối giữa tất cả các thành viên tham gia vào quá trình tái định cư Nếu như tản cư sang nước láng giềng, cần thiết lập truyền thông liên chính phủ để giảm căng thẳng quốc tế Truyền thông giữa chính phủ và các tổ chức tham gia vào quá trình tái định cư sau thảm hoạ là rất quan trọng ở mọi cấp, từ cấp địa phương - cấp quốc gia đến cấp quốc

tế

- Kiểm soát các hoạt động kinh tế – xã hội gây các sự cố môi trường

+ Tương tự như thiên tai, các sự cố công nghiệp cũng có đặc tính là xảy ra đột ngột, khó xác định trước và có thể gây tác hại nghiêm trọng đến ANMT và con người Trong cả hai trường hợp, kỳ vọng nhằm dự báo cường độ, phạm vi và thời gian kéo dài thường rất hạn chế Sự khác nhau giữa thiên tai và sự cố công nghiệp chỉ là ở chỗ cơ hội cho con người có thể phòng ngừa hay giảm thiểu, và có thể tính toán xác suất của sự cố công nghiệp

+ Để giảm rủi ro công nghiệp, cần phải tăng cường năng lực xác định mức độ của các thiết bị nguy hiểm và đánh giá tác động có thể của chúng với môi trường Biện pháp thích hợp có thể là hỗ trợ hợp tác kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới và đào tạo con người Việc tăng cường năng lực của các cơ quan chính phủ nhằm cải thiện cơ sở luật pháp quốc gia về môi trường có thể góp phần xây dựng một nền kinh tế ít gây hại cho môi trường

+ Các dự án cơ sở hạ tầng qui mô lớn có thể tiềm ẩn những tác động môi trường giống như các sự cố công nghiệp Cần phải tiến hành đánh giá tác động môi trường, đặc biệt là các dự án lớn như hồ thuỷ điện hay xây dựng bãi chất thải độc hại Chúng thường kéo theo việc tái định cư bắt buộc rất đông dân cư

+ Đối với những dự án được tài trợ nước ngoài, các nhà tài trợ và tổ chức quốc

tế cần tiến hành các đánh giá độc lập về khả năng tác động của dự án ANMT và sự an toàn nơi cư trú của nhân dân cần được lồng ghép vào dự án như các tiêu chuẩn chiến lược quan trọng trong đánh giá tác động môi trường đối với các dự án tài trợ Các tổ chức quốc

tế cần gây sức ép đối với các nhà tài trợ cho những dự án gây nguy hiểm ANMT Đánh giá môi trường chiến lược, các cuộc thảo luận chính sách song phương hay đa phương trong cộng đồng các nhà tài trợ là những công cụ sắc bén cho chiến lược phòng ngừa

- Kiểm soát các quá trình suy thoái môi trường trường diễn

+ Quá trình suy thoái có thể là trường diễn, ví dụ ô nhiễm nước, sự dâng cao mực nước biển, do ấm lên toàn cầu, khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, hoang mạc

Trang 11

hoá và suy thoái đất Những vấn đề môi trường nho nhỏ, phân tán có thể được tích luỹ dần dần mà chẳng gây ra sự chú ý nào cho đến khi chúng vượt qua ngưỡng an toàn của

hệ sinh thái và trở thành mối đe doạ nghiêm trọng đối với ANMT của một khu vực

+ Cần phải xác định rõ những hiểm hoạ này ở giai đoạn sớm Muốn vậy, cần tiến hành nghiên cứu thu thập các tài liệu cần thiết về các điều kiện môi trường theo thời gian, cũng như các thông tin về hiện trạng kinh tế xã hội và chính trị tại khu vực có những cộng đồng dễ bị tổn thương cư trú Nhằm tăng cường năng lực giám sát ở các nước đang phát triển, các tài liệu có sẵn cần được xử lý và cung cấp cho chính phủ và các

tổ chức khu vực, đặc biệt là qua mạng thông tin

+ Cổ vũ các sáng kiến địa phương thông qua phát triển năng lực có thể ngăn ngừa sự phát triển xấu của môi trường tại địa phương ở giai đoạn sớm và bảo vệ được quá trình phát triển bền vững hơn Các giải pháp tăng cường năng lực cho người địa phương nhằm tự giải quyết các vấn đề của mình trong tương lai bao gồm cả việc phát triển các kỹ thuật truyền thông

+ Những hoạt động thường ngày của con người cũng thường tạo ra những vấn

đề môi trường Do đó sự tham gia của cộng đồng về mặt môi trường là rất cần thiết Các giải pháp như giáo dục, đào tạo, giúp đỡ kỹ thuật cần phải đến được nhóm bị tác động Cần nhấn mạnh đến sự tham gia của cộng đồng địa phương, phát triển kỹ năng truyền thông và năng lực giải quyết các vấn đề môi trường trong chiến lược ổn định ANMT lâu dài

- Tăng cường hợp tác quốc tế

Những hiểm hoạ môi trường toàn cầu và xuyên biên giới một mặt tạo ra các xung đột bất tận trong tranh chấp tài nguyên, mặt khác cũng đòi hỏi sự hợp tác toàn cầu, liên quốc gia hoặc liên vùng trong việc xử lý ô nhiễm và suy thoái môi trường Hàng loạt các công ước quốc tế về môi trường đã được nhiều nước ký kết là bằng chứng cho thấy liên minh quốc tế là giải pháp duy nhất cho việc cứu lấy trái đất

Hợp tác môi trường trở thành ngôn ngữ chung và mối quan tâm chung trong đối thoại quốc tế cũng như trong xây dựng các chiến lược phát triển bền vững khu vực và vùng

Những thành công của Bắc Âu trong kiểm soát phát xả khí nhà kính, việc hợp tác cải thiện môi trường sông Rhin và Đanup ở Trung Âu, hợp tác cải thiện môi trường biển Baltic, những thành công trong quản trị lưu vực sông Mekong, các thoả thuận kiểm soát lan toả khí độc do cháy rừng ở ASEAN là những thành công bước đầu

Ngoại giao môi trường, hợp tác quốc tế về môi trường đang dần trở nên phổ biến

và có thể mạnh trong các mối quan hệ song phương và đa phương./

2.4.An ninh môi trường và quan hệ quốc tế

Xác lập vai trò hợp lí của Hội đồng bảo an LHQ về an ninh môi trường

Tuyên ngôn Rio được hội nghị về môi trường và phát triển của LHQ thông qua năm 1992 đã kêu gọi các quốc gia "giải quyết tất cả các bất đồng về mặt môi trường một cách hoà bình, bằng các giải pháp thích hợp và phù hợp với hiến chương LHQ"

Trang 12

Hội đồng Bảo an là một cơ quan của LHQ với chức năng ban đầu là duy trì an ninh và hoà bình thế giới ở chương 7 của bản hiến chương, Hội đồng có quyền thực hiện các hành động ép buộc một quốc gia phải tái lập hoà bình nếu như có lý do xác đáng rằng

"có sự đe doạ đến hoà bình, phá vỡ hoà bình hoặc có hành động xâm lược" Mãi cho đến gần đây, điều khoản này vẫn thuộc lĩnh vực hoạt động quân sự Tuy nhiên, khái niệm mới

về an ninh môi trường đã xuất hiện cùng khuyến cáo cho rằng Hội đồng Bảo an cần phải thực thi vai trò của mình trong lĩnh vực môi trường

Điều khuyến cáo đó đã được ghi nhận tại hội nghị thượng đỉnh tháng giêng năm

1992 của 15 nước thành viên của HĐBA: "sự vắng bóng của chiến tranh và xung đột quân sự giữa các quốc gia không có gì đảm bảo cho hoà bình và an ninh thế giới Các nguồn mất ổn định phi quân sự trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, nhân văn và sinh thái

đã trở thành yếu tố đe doạ hoà bình và ổn định Tất cả các thành viên LHQ cần dành ưu tiên cao nhất để giải quyết vấn đề này"

Các vấn đề môi trường có thể đe doạ hoà bình và ổn định bằng nhiều cách:

- Những bất đồng giữa các quốc gia về phân chia tài nguyên thiên nhiên hoặc về

sự ô nhiễm xuyên biên giới có thể leo thang thành xung đột quân sự, và bằng cách đó đe doạ hoà bình và an ninh thế giới theo nghĩa kinh điển của vấn đề

- Suy thoái môi trường, thiếu hụt tài nguyên thiên nhiên, sự đe doạ giảm tầng ôzôn

và biến đổi khí hậu, sự phát triển không bền vững có thể đe doạ các phúc lợi nhân văn,

rồi qua đó đe doạ đến hoà bình và an ninh thế giới

- Môi trường có thể được sử dụng như một thứ vũ khí trong chiến tranh (ví dụ như chiến tranh vùng Vịnh)

Trong khi Đại hội đồng LHQ đã có một lịch sử lâu dài tham gia vào các vấn đề môi trường, thì Hội đồng Bảo an chỉ bắt đầu can thiệp vào vấn đề môi trường kể từ chiến tranh vùng Vịnh và hiện nay, nhu cầu phải xây dựng vai trò của Hội đồng Bảo an trong lĩnh vực môi trường đang đòi hỏi ngày càng bức xúc Tuy nhiên, việc này gặp nhiều trở ngại về mặt luật pháp lẫn chính trị Mở rộng quyền của Hội đồng Bảo an ra khỏi phạm vi những vấn đề quân sự cũng có nghĩa là mở rộng danh sách các nước thành viên, cũng như thể chế ra quyết định của Hội đồng, có nghĩa là cần phải chỉnh sửa lại những mất cân bằng hiện có vốn đang thoả mãn các nước chiến thắng trong Đại chiến II

Có những nghi ngại cho rằng sự tham gia của Hội đồng Bảo An vào ANMT sẽ tạo

ra những phản ứng không thích hợp trong việc giải quyết các bất hoà môi trường Sức mạnh của Hội đồng Bảo an là nhằm duy trì hoà bình chống lại những cuộc xâm lược quân sự xuyên biên giới Việc sử dụng các hành động gây sức ép ở chương VII (Hiến chương LHQ) sẽ gây phản ứng bất lợi trong việc giải quyết phần lớn các bất hoà về môi trường Ví dụ Hội đồng Bảo an có thể can thiệp thành công trong việc phân chia quyền sử dụng một dòng sông xuyên biên giới, nhưng Hội đồng có thể làm gì trong trường hợp một quốc gia đang mất dần lãnh thổ do sự dâng cao mực nước biển được gây ra do hiệu ứng nhà kính? Hội đồng có thể can thiệp để giảm nhẹ các khủng hoảng tức thời, ví dụ trợ giúp nhân đạo để giảm tị nạn môi trường, nhưng sẽ làm gì để giải quyết tận gốc nguyên nhân gây ra hiện tượng đó

Trang 13

Gần 6 năm đã trôi qua kể từ khi cuộc họp thượng đỉnh của Hội đồng Bảo an đã ghi nhận sự mất ổn định trong lĩnh vực sinh thái chính là mối đe doạ đến hoà bình và an ninh, nhưng cho đến nay Hội đồng vẫn chưa can thiệp vào bất cứ một sự kiện an ninh môi trường nào

Việc tiếp tục vận hành lò phản ứng hạt nhân Chernobyl mà các quốc gia châu Âu coi là mối đe doạ lớn nhất đến an ninh môi trường đã không được ghi vào chương trình nghị sự của Hội đồng Và việc vận hành lò phản ứng ở Chernobyl được coi là trách nhiệm của riêng Ukraine, trong khi về mặt lý thuyết, việc vận hành đó là đe doạ an ninh chung và cần phải buộc Ukraine đóng cửa nhà máy này

Như vậy, còn nhiều trở ngại về luật pháp và chính trị ngăn cản sự can thiệp của Hội đồng Bảo an vào vấn đề an ninh môi trường, trừ trường hợp mất an ninh môi trường

có thể leo thang thành xung đột quân sự

Thiết lập an ninh môi trường toàn cầu

Khái niệm an ninh đã được mở rộng

Cuộc khủng hoảng dầu lửa xảy ra trong thập kỷ 1970 đã khiến cho các vấn đề kinh

tế và khan hiếm tài nguyên được thừa nhận là các vấn đề cần được quan tâm trong nền an ninh quốc gia Hai thập kỷ sau khi Liên Xô tan rã, các khái niệm an ninh truyền thống đòi hỏỉ phải được cân nhắc lại Không còn mối đe doạ từ Liên Xô, các thế lực phương Tây tập trung vào cạnh tranh thương mại và kinh tế Trong khi đó, các mối đe doạ môi trường toàn cầu ngày càng được nhận thức một cách nghiêm túc Các khái niệm an ninh được đưa ra trên cơ sở các mối đe doạ - sức ép môi trường - bổ sung vào các vấn đề xung đột quốc gia, cũng như các thay đổi môi trường đã trở thành trọng tâm trong các mô hình hợp tác an ninh toàn cầu Hơn nữa, có nhiều bằng chứng cho thấy, các vấn đề liên quan tới thay đổi môi trường như tăng dân số ở các nước đang phát triển, cạnh tranh quyền kiểm soát tài nguyên và di cư xuyên biên giới có khả năng gây ra các xung đột nghiêm trọng Hiện nay, nhiều nhà tư tưởng quân sự cũng thừa nhận cần phải dự báo và quy hoạch đối phó với sức ép môi trường - mối đe doạ đến tính ổn định của đất nước

Ví dụ về sự mở rộng khái niệm về "An ninh"

Từ năm 1991, từng hành động trong chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ đều quan tâm đến vấn đề môi trường Năm 1993, Bộ Quốc phòng Mỹ bổ nhiệm thêm chức thứ trưởng phụ trách an ninh môi trường Quốc hội Mỹ phần bổ hơn 420 triệu USD cho chương trình nghiên cứu và phát triển chiến lược môi trường Các nhà phân tích tình báo quốc phòng đang được đào tạo để hiểu sức

ép môi trường là mối đe doạ tiềm tàng đến ổn định của chế độ Cuối cùng, các lực lượng vũ trang và các cơ quan tình báo đã tham gia vào sứ mạng ứng cứu để giảm nhẹ những tổn thất của con người

do các thảm hoạ môi trường gây ra

Nguồn: Báo cáo Dự án An ninh và Biến động Môi trường, USA, 1996

Như vậy, theo những nhận định trên, các vấn đề môi trường liên quan chặt chẽ với

an ninh Hơn nữa, nếu xét trên quan điểm hệ thống thì môi trường, kinh tế, chính trị và an ninh là các mặt không thể tách rời nhau, phụ thuộc lẫn nhau; môi trường mỗi quốc gia có ảnh hưởng đến môi trường toàn cầu và ngược lại, và an ninh môi trường quốc gia có ảnh hưởng đến an ninh môi trường quốc tế

Ngày đăng: 16/09/2015, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w