1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30

88 840 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 5,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm này là nền tảng lý luận quan trọng cho việc phát triển những chiến lược bảo tồn nguồn gen cây rừng nhằm nâng cao tính khác biệt về gen của các cá thể trong cùng một quần thể và

Trang 1

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY

Đỗ Thị Mai 1

Nếu thất nghiệp được hiểu là những người ở độ tuổi lao động, có khả năng lao động, thuộc nhóm hoạtđộng kinh tế thường xuyên, hiện tại muốn đi làm việc nhưng chưa tìm được việc làm thì vùng đồngbằng sông Cửu Long có tỷ lê thất nghiệp cao Về cơ bản, nền kinh tế của vùng, vẫn là nông nghiệp sảnxuất nhỏ cho nên giải quyết việc làm cho số đông lao động dôi dư là vấn đề bức xúc đang được tậptrung giải quyết Ở đây, có thể nêu lên một số cách làm sau:

Thứ nhất: Xây dựng kế hoạch tổng thể về

giải quyết thất nghiệp gắn với chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, tập

trung mọi nguồn lực xã hội cho vấn đề giải

quyết thất nghiệp, có biện pháp hạn chế số thất

nghiệp tiềm ẩn, sử dụng tốt những lao động tiềm

năng của tỉnh trên cơ sở dự báo cung - cầu lao

động Kế hoạch tổng thể quy định rõ ràng, cụ

thể chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, từng

cấp trong công tác giải quyết thất nghiệp ở từng

địa bàn để tránh thực hiện chồng chéo, kém hiệu

quả

Thứ hai: Tăng cường đầu tư các chương

trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn

Huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân; phát

triển hệ thống cơ sở hạ tầng và các làng nghề

truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp;

phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực

kinh tế phi nhà nước; phát triển những sản phẩm

đòi hỏi nhiều lao động để thu hút rộng rãi lao

động ở mọi trình độ và lứa tuổi

Thứ ba: Mở rộng thị trường xuất khẩu lao

động Tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận và có

việc làm ở ngoài nước bằng cho vay ưu đãi, tư

vấn, định hướng và dạy nghề, ngoại ngữ, luật

pháp, phong tục tập quán của nước tiếp nhận; có

biện pháp hữu hiệu bảo vệ khi họ gặp khó khăn,

bất trắc

Thứ tư: Phát triển các mô hình kinh tế

giải quyết thất nghiệp Khuyến khích, tạo điều

kiện, môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư

trong và ngoài nước; Phát triển các ngành hàng

có lợi thế về nguồn nguyên liệu ở từng địaphương, ưu tiên các doanh nghiệp đầu tư vàonhững dự án sử dụng nhiều lao động nông thôn,

sử dụng nhiều dịch vụ tại chỗ, tạo ra sự pháttriển liên hoàn giữa đơn vị kinh tế và cộng đồng

Thứ năm: Đẩy mạnh hoạt động giới thiệu

việc làm Mở các trung tâm giới thiệu và các sàngiao dịch việc làm, các hội chợ lao động, Xâydựng hệ thống thông tin về các thị trường laođộng trong và ngoài nước một cách đầy đủ vàchuẩn xác để cả người lao động và người tuyểndụng tuyển được đáp ứng nhu cầu

Thứ sáu: Khuyến khích phát triển kinh tế

gia đình, giúp số lao động nhàn rỗi và nội trợđơn thuần có điều kiện lao động tại nhà Thànhlập các tổ sản xuất nhỏ liên thông hay hợp tác xãcác gia đình sản xuất hay gia công một hay mộtvài sản phẩm mà không đòi hỏi cao về tiêuchuẩn kỹ thuật

Thứ bảy: Nâng cao chất lượng lao động

nông thôn bằng nâng cao trình độ dân trí quaviệc thực hiện chương trình giáo dục phổ câpcủa Nhà nước, hạn chế tối thiểu trẻ em bỏ học

Xã hội hoá và đa dạng hóa hoạt động dạy nghề:dạy nghề trong các trường công lập và trường tưthục, các trung tâm day nghề của các đoàn thể

và các tổ chức xã hội nghề nghiệp…; dạy nghềtrước có việc làm và cập nhật kỹ năng quá trìnhlao động; dạy nghề cho nhiều trình độ khácnhau,… gắn với nhu cầu lao động và sử dụnglao động ờ từng địa phương, trong nước vàngoài nước

KHÁI NIỆM BẢO TỒN NGUỒN GEN ĐỘNG CHO HỆ SINH THÁI RỪNG

1 Tỉnh ủy Bến Tre

Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30 | 1

Trang 2

Đỗ Văn Ngọc 1

Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ước tính khoảng 12, 6triệu ha mỗi năm (0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới) (FAO, 2001) đã gây ra những tác hại to lớn vềkinh tế, xã hội và môi trường Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinhhọc (ĐDSH) của thế giới (Kanowski và Boshier, 1997) nên sự suy thoái về số lượng lẫn chất lượngcủa rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH Vì vậy, việc phát triển những chiến lượchiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhậnđược sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệtđới đang được tiến hành trên quy mô toàn cầu

1 Vườn Quốc gia Bidoup- Núi Bà

Tuy nhiên, hầu hết những chương trình về

bảo tồn ĐDSH nói chung và bảo tồn nguồn gen

nói riêng hiện nay đều dựa trên ý niệm thông lệ

rằng “sự phù hợp tối ưu đã đạt được trong tự

nhiên” Điều này đã dẫn đến việc xây dựng mục

tiêu bảo tồn cho một loài nào đó đều được dựa

trên cấu trúc di truyền hiện có của loài (Pliura,

2003) Trong thực tế cấu trúc về gen của một

loài luôn thay đổi dưới tác động liên tục của các

yếu tố tiến hóa và sự phù hợp tối ưu sẽ không

bao giờ có thể đạt được trong bất kỳ một quần

thể thực vật nào (Eriksson và cộng sự, 1993)

Thêm vào đó, dưới tác động của tự nhiên và con

người, môi trường sống của các loài cây đang

thay đổi một cách nhanh chóng, vì vậy điều

quan trọng trong việc phát triển các chiến lược

bảo tồn nguồn gen là không chỉ bảo tồn những

khác biệt di truyền hiện tại mà còn tạo ra những

điều kiện để nâng cao khả năng thích nghi và

quá trình tiến hóa của loài trong tương lai

Khái niệm “bảo tồn nguồn gen động”

được đề ra đầu tiên cho việc cải thiện giống cây

rừng bởi giáo sư Gene Namkoong vào năm

1976, sau đó được mở rộng để kết hợp việc cải

thiện giống với việc bảo tồn nguồn gen cây rừng

(Eriksson và cộng sự, 1993) Khái niệm này là

nền tảng lý luận quan trọng cho việc phát triển

những chiến lược bảo tồn nguồn gen cây rừng

nhằm nâng cao tính khác biệt về gen của các cá

thể trong cùng một quần thể và giữa các quần

thể khác nhau trong cùng một loài; qua đó tăng

cường khả năng thích nghi của loài dưới các

điều kiện môi trường khác nhau, và có thể sử

dụng tính đa dạng di truyền này cho các chươngtrình chọn giống, phục vụ cho những đòi hỏingày càng đa dạng những sản phẩm từ rừng củacon người trong tương lai

1 Cơ sở lý luận của khái niệm

Cơ sở cho việc phát triển khái niệm bảotồn nguồn gen động, như đã được phân tích bởiEriksson và cộng sự (1993), là “sự phù hợp tối

ưu cho tất cả những tính trạng sẽ không bao giờđạt được trong bất kì một quần thể thực vật nàotrong tự nhiên” Dưới những tác động liên tụccủa những điều kiện thay đổi của môi trườngsống, do các quá trình gen xuất hiện trong phạm

vi quần thể và giữa các quần thể với nhau, cấutrúc gen của một loài cây luôn luôn biến động và

sự khác biệt về gen trong một quần thể là luônluôn tồn tại (Eriksson và cộng sự, 1993) Vì vậy,nếu các quần thể của một loài nào đó được ápđặt dưới những áp lực chọn lọc (tự nhiên haynhân tạo) khác nhau thì những đặc tính thíchnghi khác nhau có thể được hình thành và tínhkhác biệt di truyền của loài có thể được nângcao (Hình 1) Việc hình thành những đặc điểmthích nghi dưới những áp lực môi trường khácnhau sẽ giúp cho loài nâng cao khả năng tồn tạicủa nó dưới sự thay đổi nhanh chóng của nhữngđiều kiện môi trường, đặc biệt với sự nóng lêncủa môi trường toàn cầu hiện nay Hơn nữa, sựkhác biệt về mặt di truyền của loài còn là nguồnnguyên liệu quan trọng cho quá trình chọn lọctrong các chương trình cải thiện nguồn gen củalâm nghiệp rừng trồng trong tương lai

2 | Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30

Trang 3

Hình 1: Những đặc tính thích nghi khác nhau và tính khác biệt di truyền của loài

2 Nội dung và những ưu điểm của bảo tồn

nguồn gen động

Nội dung cốt lõi của khái niệm bảo tồn

nguồn gen động là sự thành lập một Hệ Thống

Gây Giống Đa Quần Thể (Multiple Population

Breeding System), trong đó một quần thể bảo

tồn nguồn gen của một loài sẽ được phân chia ra

thành 10 đến 20 quần thể phụ; số lượng cá thể

hiệu quả trong một quần thể phụ khoảng 50 cá

thể tương đối khác biệt về mặt kiểu gen (những

cá thể xa nhau về mặt địa lý), tạo ra một quần

thể bảo tồn nguồn gen khoảng 500-1000 cá thể(Eriksson và cộng sự, 1993) Các quần thể phụnày có thể được thành lập trong những điều kiệnmôi trường khác nhau bên ngoài phạm vi phân

bố hiện tại của chúng Với số lượng cá thể hiệuquả là 50 cá thể trong một quần thể phụ, tỉ lệmất đi của những biến động của gen cộng tính là1% trên một thế hệ (Hình 2) - một tỉ lệ thấp thỏamãn được trong di truyền học cây rừng (Pliura,2003)

Hình 2: Tỉ lệ mất những biến động cộng tính theo kích thước quần thể và số thế hệ (Pliura, 2003:5)

Việc hình thành Hệ thống gây giống Đa

quần thể trong chiến lược bảo tồn (conservation)

vượt lên khái niệm bảo quản (preservation)

nguồn gen cây rừng Đây là một quá trình động,

trong đó quá trình tiến hóa của loài được khuyến

khích một cách chủ động nhằm phát sinh mộtcách tích cực các khác biệt về gen của quần thể.Điều này sẽ giúp nâng cao khả năng tồn tại củaloài dưới các môi trường sống khác nhau vànhững khác biệt di truyền giữa các quần thể phụ

Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30 | 3

Trang 4

này có thể được sử dụng như những nguồn vật

liệu quan trọng cho các chương trình cải thiện

nguồn gen trong các chương trình trồng rừng

nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng

cho nhu cầu ngày càng đa dạng của con người

Tuy nhiên, rõ ràng chi phí cho chiến lược

bảo tồn nguồn gen động sẽ là cao hơn nhiều so

với các phương pháp bảo tồn khác như in situ và

ex situ Phương pháp này cũng đòi hỏi nguồn

nhân lực với trình độ quản lý và những hiểu biết

về di truyền học cây rừng cao hơn so với cách

tiếp cận bảo tồn khác hiện nay Vì vậy nó nên

được cân nhắc áp dụng cho những loài cây có

giá trị cao về kinh tế và khoa học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Eriksson, G., Namkoong, G and Roberds,J.H., 1993 Bảo tồn nguồn gen động cho

tương lai không chắc chắn, Tạp chí Quản lý

và Sinh thái Rừng, Số 62: Trang 15-37.

2 Pliura, A., 2003 Chiến lược bảo tồn nguồn gen cho loài cây Ash (Fraxius spp.) Có từ (Truy cập vào ngày 8/10/2003)

3 Kanowski, P and Boshier, D., 1997 Bảo tồn

nguồn gen cây in situ, trong sách Bảo tồn gen thực vật: Tiếp cận In Situ, Biên tập bởi N.

Maxted, B.V Ford-Lloyd and J.G Hawkes,Nhà xuất bản Chapman & Hall, London,trang 207-219

4 FAO, 2001 Tình trạng rừng thế giới, Tổ

chức Nông Lương Liên hợp quốc, Rome

4 | Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30

Trang 5

PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NGÔ, ĐẬU TƯƠNG HÀNG HOÁ Ở NÔNG HỘ THUỘC 4 HUYỆN VÙNG CAO PHÍA BẮC TỈNH HÀ GIANG

Nguyễn Lê Huy 1 TÓM TẮT: Bốn huyện vùng cao phía Bắc tỉnh Hà Giang với đặc trưng là vùng cao núi đá, có điều kiện

tự nhiên khắc nghiệt: thiếu nước, lương thực và chất đốt trầm trọng; là nơi sinh sống chủ yếu của cộng đồng các dân tộc ít người với những nét văn hoá đặc thù Do đa số diện tích canh tác nông nghiệp nằm xen kẽ với núi đá nên việc sử dụng cây trồng cạn như Ngô và đậu Tương để sản xuất là những lựa chọn phù hợp của nông hộ Kết quả nghiên cứu đã cho biết thực trạng phát triển sản xuất nông sản hàng hoá (NSHH) ở nông hộ thuộc 4 huyện còn rất nhiều hạn chế, còn mang nặng tính tự cấp, không theo nhu cầu của thị trường Một số chính sách và hỗ trợ công đã được triển khai, tuy nhiên hiệu quả còn thấp Vì vậy cần phải có những bước thay đổi cơ bản để phát triển sản xuất NSHH ở nông hộ, đặc biệt là Ngô và đậu Tương Một số giải pháp được đề xuất trên cơ sở những nghiên cứu về sản xuất Ngô, đậu Tương hàng hoá nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất NSHH ở nông hộ thuộc 4 huyện vùng cao phía Bắc tỉnh Hà Giang.

Từ khóa: Kinh tế hộ; sản xuất nông nghiệp hàng hóa; cơ cấu cây trồng; phương pháp canh tác truyền

thống; vùng chuyên canh

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo

Vạc là bốn huyện vùng cao phía Bắc tỉnh Hà

Giang có diện tích tự nhiên 234.854ha, chiếm

26,86% diện tích toàn tỉnh, trong đó diện tích

đất nông nghiệp là 55.530ha chiếm 23,64% của

toàn vùng; diện tích lúa nước 4.660ha chiếm

13,9% diện tích toàn tỉnh (lúa 2 vụ chỉ có

620ha); diện tích Ngô lớn, 25.350 ha, nhưng chủ

yếu trồng vụ Đông Xuân Đây là vùng cao núi

đá đặc trưng, địa bàn sinh sống chủ yếu của các

dân tộc ít người có nhiều nét văn hóa đặc thù và

tập quán sản xuất lạc hậu, tự cung tự cấp, tỷ suất

hàng hoá rất thấp Người dân địa phương chủ

yếu trồng Ngô và sử dụng Ngô làm lương thực

chính vì Ngô là cây trồng cạn phù hợp với điều

kiện tự nhiên của vùng Ngoài ra đậu Tương

cũng là một cây trồng truyền thống mang lại

hiệu quả kinh tế cho nông hộ, cần được phát

triển thành hàng hoá

Phát triển sản xuất NSHH ở nông hộ, đặc

biệt là 2 loại NSHH mục tiêu là Ngô và đậu

Tương có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo

an ninh lương thực, phát triển sản xuất hàng hoá,

phát triển kinh tế, ổn định dân cư vùng biên giới

và đảm bảo an ninh quốc phòng Nghiên cứu

thực trạng sản xuất Ngô, đậu Tương làm cơ sở

đề xuất một số giải pháp phát triển sản xuất

Ngô, đậu Tương hàng hoá ở nông hộ vùng cao

núi đá là một phần của công trình: “Phát triểnsản xuất NSHH ở nông hộ thuộc 4 huyện vùngcao phía Bắc tỉnh Hà Giang” được chúng tôi đềcập trong bài này

II ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Sản xuất Ngô, đậu Tương ở 240 hộ giađình thuộc 4 huyện vùng cao phía Bắc tỉnh HàGiang (Mỗi huyện điều tra 2 xã, mỗi xã điều tra

2 thôn, mỗi thôn điều tra ngẫu nhiên 15 hộ)

- Những tác động của chính sách và hỗ trợđầu tư công đối với sản xuất NSHH của vùng

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá được thực trạng sản xuất 2 loạiNSHH mục tiêu của vùng là Ngô, đậu Tươnglàm cơ sở đề xuất một số giải pháp phát triển sảnxuất NSHH ở nông hộ thuộc 4 huyện vùng caophía Bắc tỉnh Hà Giang theo hướng sản xuấthàng hoá

3 Nội dung nghiên cứu

- Thực trạng sản xuất Ngô đậu Tương ởnông hộ vùng cao núi đá

+ Đặc điểm và điều kiện sản xuất củanông hộ

+ Quyết định của nông hộ về sản xuấtNgô, đậu Tương

+ Tiếp cận đầu vào của nông hộ

1 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang

Trang 6

+ Tổ chức sản xuất Ngô, đậu Tương ở

nông hộ

+ Kết quả sản xuất và sử dụng Ngô, đậu

Tương

+ Thị trường tiêu thụ Ngô và đậu Tương

+ Hiệu quả sản xuất Ngô, đậu Tương

- Một số giải pháp phát triển sản xuất

NSHH tại khu vực nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh

nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá có

sự tham gia (PRA) của ILED (1994) để điều tra

thực trạng tình hình trồng trọt trực tiếp ở các

nông hộ trong phạm vi nghiên cứu

- Sử dụng các công cụ SWOT và 5W1H

trong điều tra đánh giá

- Số liệu điều tra được xử lý, đánh giá,

phân tích bằng phương pháp thống kê kinh tế,

ứng dụng phần mềm Excel 7.0

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Thực trạng phát triển sản xuất nông sản

hàng hoá ở nông hộ 4 huyện vùng cao phía

Bắc tỉnh Hà Giang

Đặc điểm và điều kiện sản xuất của nông hộ

Trong 240 hộ điều tra thuộc 16 thôn/8 xã

của 4 huyện có 7 dân tộc sinh sống Dân tộc

H’Mông có số lượng đông nhất, chiếm 47,08%

Dân tộc Hoa có số lượng ít nhất, có 1 hộ chiếm

0,42% Yên Minh là huyện có nhiều dân tộc

nhất (7 dân tộc) và Đồng Văn là huyện có thành

phần dân tộc ít nhất (2 dân tộc)

Đối tượng phỏng vấn: Hầu hết là các chủ

hộ, chiếm 92%, trong đó, có 233 nam chiếm97% và 7 nữ

Trình độ học vấn của chủ hộ: bình quânchưa hết lớp 4; Cụ thể: mù chữ 25 người(10,42%); trình độ THPT có 18 người (7,5%).Bình quân nhân khẩu/ hộ điều tra: 4,93người/hộ, trong đó có 679 lao động, bình quân2,83 lao động/hộ Lao động thuần nông nghiệp

là 635 người, có nghề phụ kết hợp là 34 người,còn lại là các nghề khác

Bình quân diện tích đất đai hộ gia đình rấtthấp: 11.726 m2/hộ, trong đó đất nông nghiệp6.156,75m2/hộ chiếm 52,51%; đất trồng cây lâunăm 531,25 m2/hộ chiếm 4,53%; đất lâm nghiệp4.731m2/hộ chiếm 40,35%; đất thổ cư – vườn hộ282,75m2/hộ chiếm 2,41%; đất nuôi trồng thủysản 17,25 m2/hộ chiếm 0,15%; đất khác 7m2/hộ,chiếm 0,06%

Nguồn vốn cho sản xuất và nhu cầu vốncủa nông hộ rất thấp, ở mức 8,9 triệu đồng/hộ,chủ yếu tự cung, tự cấp (chiếm 74%) Đầu tưcho vật tư kỹ thuật hoặc con giống trong trồngtrọt và chăn nuôi bằng chính những sản phẩmnông sản đem trao đổi trên thị trường Mặc dùNhà nước có nhiều chính sách khuyến khích hỗtrợ nhưng việc tiếp cận với nguồn vốn vay củanông hộ từ ngân hàng rất thấp Giá trị tư liệu sảnxuất của nông hộ bình quân chỉ đạt khoảng 2,76triệu đồng/hộ Đa số những hộ nghèo khôngđược tiếp cận với những tư liệu sản xuất mới,hiện đại để cho năng suất lao động cao

Phân chia nhóm hộ Sản xuất hàng hoá và Không (Ít) sản xuất hàng hoá

Bảng 1 Tỷ suất hàng hoá Ngô, đậu Tương của hộ điều tra (%)

Trang 7

TSHH của Ngô thấp, tăng chậm từ 23,93%

(2002) đến 30,23% (2008) Đa số các hộ gia đình

sử dụng 55 - 60% sản lượng Ngô làm lương thực,

10 – 15% sử dụng để làm giống, chăn nuôi gia

súc gia cầm Để chi tiêu trong gia đình nên mặc

dù có trên 30% hộ điều tra thiếu lương thực

nhưng TSHH Ngô bình quân của hộ điều tra vẫn

đạt 23,93 – 30,23% Tuy nhiên, đối với vùng

tổng sản phẩm Ngô sản xuất ra chỉ đủ tiêu dùng

đa số các nông hộ đều có bán Ngô ra thị trường,tuy nhiên do phải cân đối lương thực nên hầuhết những hộ dư thừa nhiều mới đem bán sốlượng lớn Vì vậy đề tài lấy ngưỡng TSHH bìnhquân của 240 hộ điều tra làm cơ sở để phân chiathành hai nhóm, nhóm hộ có sản xuất hàng hoá(có TSHH lớn hơn giá trị TSHH bình quân) vànhóm hộ không (ít) sản xuất hàng hoá (có TSHHthấp hơn giá trị TSHH bình quân)

Nguồn: Kết quả phân tích số liệu điều tra nông hộ năm 2008

Có 94/240 hộ sản xuất Ngô hàng hoá

(TSHH lớn hơn mức bình quân 30,23%), 63/240

hộ sản xuất đậu Tương hàng hoá (TSHH lớn hơn

mức bình quân 67,12%) Kết quả nghiên cứu

trên có thể khẳng định nhóm hộ không (ít) sản

xuất hàng hoá là hộ nghèo, thuần nông, thuộc

nhóm dân tộc H’Mông – Dao, chủ hộ có trình độ

thấp, nhóm hộ ít nhân khẩu, ít lao động phụ nên

đều chọn Ngô và đậu Tương để sản xuất

Quyết định lựa chọn của nông hộ về cơ cấu cây

trồng (loại nông sản sản xuất)

Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% sốnông hộ lựa chọn Ngô để sản xuất lương thực dotính thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên và vănhoá truyền thống của vùng, Đậu Tương là dođây là cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiêncủa vùng, dễ trồng, đầu tư thấp, tận dụng đượcđất đai nên mục tiêu để kiếm tiền mặt chi phícho tiêu dùng trong gia đình đã tác động đến88,75% quyết định sản xuất của nông hộ Tuynhiên, các hộ còn phải dựa vào nguồn lực củamình nên sản phẩm sản xuất ra chủ yếu để đápứng nhu cầu lương thực của hộ,chỉ một phầnnhỏ được dùng để trao đổi

Trang 8

Nhóm hộ nghèo thường lựa chọn Ngô,

nhóm hộ trung bình lựa chọn đậu Tương để sản

xuất Sản xuất của nông hộ chỉ phụ thuộc vào

nguồn lực của nông hộ và kinh nghiệm sản xuất

chứ không phụ thuộc vào thị trường, không lường

trước được rủi ro Trình độ sản xuất chủ yếu làquảng canh nên năng suất và hiệu quả thấp

Cách tiếp cận đầu vào của nông hộ vùng cao núi đá

Bảng 3 Biến động đầu vào sản xuất Ngô, đậu Tương ở nông hộ vùng cao núi đá

Nguồn: Kết quả phân tích số liệu điều tra hộ gia đình năm 2008

Cùng với nguồn lực đất đai, vật tư kỹ thuật

đi kèm như giống, phân bón, thuốc BVTV của

nhóm sản xuất Ngô hàng hoá cũng cao hơn từ

2,5 đến 4,5 lần so với nhóm hộ không sản xuất

Ngô hàng hoá Giống Ngô đang được sử dụng

trong vùng là Ngô địa phương Việc chọn và để

giống được thực hiện ngay tại cấp hộ (100% số

hộ được phỏng vấn) Trong quá trình chọn

giống, cả trẻ em và người già cũng được huy

động nên chất lượng hạt giống không đảm bảo,

ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển

và năng suất thu hoạch vụ sau

Số lao động bình quân của nhóm hộ sản

xuất Ngô hàng hoá lớn hơn (5,17 lao động) so

với nhóm không sản xuất Ngô hàng hoá (4,78);

nguồn vốn cho sản xuất của hộ sản xuất Ngô

hàng hoá lớn hơn so với hộ không sản xuất hànghoá nhưng chưa có sự khác biệt đáng kể, trongkhi cả hai nhóm chủ yếu là sử dụng vốn tự có(81%) Vốn vay cho sản xuất rất hạn chế

Ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệđược nhóm hộ sản xuất Ngô hàng hoá quan tâmhơn, thể hiện ở tỷ lệ diện tích trồng giống mớicủa nhóm hộ này dao động từ 16,1% (2002) đến38,06% (2008), trong khi nhóm hộ nghèo tỷ lệdiện tích áp dụng quy trình thâm canh rất thấp,chỉ từ 9,20% (2002) đến 16,63% (2008) Nhìnchung, tỷ lệ áp dụng công nghệ mới toàn vùngcòn rất thấp, khoảng 14,34% (2002) đến 33,46%tổng diện tích Ngô toàn vùng (2008)

Tổ chức SX nông sản hàng hóa ở nông hộ

Bảng 4 Tổ chức và ứng dụng KHCN sản xuất Ngô, đậu Tương ở nông hộ

Trang 9

Chỉ tiêu ĐVT Ngô Đậu Tương

Nguồn lực đất đai m2/hộ 12.014 4.072 7.942 8.920 5.174 3.746Q.mô d.tích trồng: m2/hộ 7.397 2.021 5.376 3.920 1.174 2.746

Nguồn: Kết quả điều tra và phân tích năm 2008

Hộ trung bình có quy mô nhân khẩu lớn

hơn hộ nghèo Lợi thế của nhóm hộ trung bình

là có nhiều lao động phụ tham gia phát triển

kinh tế, đặc biệt là trong nuôi bò Tỷ lệ hộ thuần

nông chiếm đa số trong tổng số hộ được điều tra

Nhóm hộ sản xuất Ngô và đậu Tương

hàng hoá có sự khác biệt về số nhân khẩu và số

lao động chính trong gia đình nhưng chưa thấy

khác biệt trong nhóm lao động phụ Ngược lại,

những hộ nuôi bò, nhóm lao động phụ lại có ý

nghĩa rất lớn trong khi nhóm lao động chính

H’Mông và Dao“trong nhà thiếu nước chứ không thiếu rượu Ngô” Ở địa phương, đậu

Tương được sử dụng một lượng nhỏ làm thức ăn(tương, đậu khô, đậu phụ, vv ) trong gia đình

và bán phần lớn ra thị trường

Bảng 5 Kết quả sản xuất Ngô, Đậu tương ở nông hộ vùng cao

Trang 10

Nguồn: Kết quả điều tra và phỏng vấn HGĐ, năm 2008

TSHH sản phẩm Ngô giai đoạn 2002

-2008 của 240 hộ điều tra biến động mạnh từ

23,93% (năm 2002) đến 30,23% (năm 2008) Có

sự khác biệt rất lớn giữa nhóm hộ sản xuất và

không sản xuất hàng hoá, trong khi TSHH đậu

Tương lại có xu thế giảm nhẹ từ năm 2002

(70,04%) đến 2006 (62,82%) và tăng nhẹ vào

năm 2008 (67,12%)

Nhóm SXHH, TSHH của Ngô dao động từ

29,53 (năm 2002) đến 41,74% (năm 2008), của

đậu Tương tăng đều và dao động từ 84,76%

(năm 2002) đến 86,72% (năm 2008) Nhóm

không sản xuất Ngô hàng hoá có TSHH chỉ dao

động từ 3,52 % (năm 2006) đến 5,71% (năm

2002), trong khi nhóm đậu Tương giảm từ

50,77% (năm 2002) xuống còn 40,91% (năm

2008) do nhu cầu tiêu dùng trong gia đình nhóm

này tăng mạnh Chỉ có 94/240 hộ năm 2008 đã

bán ra thị trường 94,95% tổng lượng Ngô, trongkhi có 63/240 hộ bán ra 67,95% lượng sản phẩmđậu Tương của 240 hộ

Tiêu thụ sản phẩm Ngô, đậu Tương ở nông hộ vùng cao núi đá

Kênh 1: Nông hộ → thu gom xã → thu gomhuyện → thu gom tỉnh → ngoài tỉnh

Kênh 2: Nông hộ → thu gom huyện → thugom tỉnh → tiêu dùng ngoài tỉnh

Kênh 3: Nông hộ → thu gom huyện → tiêudùng ngoài tỉnh

Kênh 4: Nông hộ → thu gom tỉnh → tiêudùng ngoài tỉnh

Kênh 5: Nông hộ → Người tiêu dùng trong

xã, thônKênh 6: Nông hộ → đại lý thu gom bán choTrung Quốc → Trung Quốc

Bảng 6 Tiếp cận thị trường và tiêu thụ Ngô, đậu Tương nông hộ điều tra

Trang 11

Địa điểm bán s.phẩm

Kênh t.tin thị trường

Nguồn: Kết quả điều tra nông hộ năm 2008

Ngô và đậu Tương được tiêu thụ qua kênh

4 là lớn nhất Tiêu thụ Ngô qua kênh 5 đứng thứ

2, trong khi đối với đậu Tương là kênh 3 Cả

Ngô và đậu Tương tiêu thụ qua kênh 1 ít nhất

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu về chuỗi

giá trị sản phẩm Ngô của Dự án giảm nghèo

nông thôn DDPR/IPAD tỉnh Hà Giang (Đào Thế

Anh và cộng sự , 2008)

Đối với nhóm hộ không (ít) sản xuất hàng

hoá, mặc dù là những nông hộ thường thiếu

lương thực nhưng họ cũng vẫn bán một lượng

nhỏ ra thị trường Nhóm này chủ yếu tiêu thụ

qua kênh 5 Tiêu thụ Ngô và đậu Tương của

nhóm ít nhất qua kênh 6, Ngô là 0,05 tấn, chỉ

chiếm 1,19% và đậu Tương là 0,05 tấn, chiếm

3,01% lượng bán ra của nhóm, tuy nhiên cũng

qua kênh 6 nhóm hộ sản xuất hàng hoá cũng đã

tiêu thụ được 9,89% điều này chứng tỏ mặc dù

kênh 6 tiêu thụ lượng Ngô, đậu Tương hàng hoá

ít nhưng nhóm hộ sản xuất hàng hoá đã tiêu thụ

theo kênh này nhiều nên đạt được giá bán bình

quân cao hơn

Đối với nhóm SXHH, địa điểm bán sản

phẩm là đại lý thu gom và chợ trung tâm xã

(37,09 tấn Ngô, chiếm 71,82%; 5,07 tấn đậu

Tương, chiếm 75,45% sản lượng bán ra), trong

khi nhóm hộ không SXHH lại bán sản phẩm chủ

yếu tại nhà (2,14 tấn Ngô, chiếm 50,95%; 0,86

tấn đậu Tương, chiếm 51,81% lượng bán ra).Việc trao đổi theo hình thức tiêu thụ truyềnthống Ngô, đậu Tương với hàng hoá khác còndiễn ra nhưng với lượng thấp ở cả hai nhóm hộ Kênh thông tin về thị trường của hộSXHH thì phụ thuộc chủ yếu vào đại lý thu mua

và khuyến nông (Ngô 71,9% và đậu Tương79,1%) trong khi nhóm hộ không SXHH lại phụthuộc chính vào thông tin truyền tai và nhữngchia sẻ từ cộng đồng (Ngô 78,6% và đậu Tương84,2%) Việc hợp tác trong tiêu thụ của cả hainhóm hộ đều rất hạn chế, hầu hết các nông hộ tựphát tiêu thụ theo hộ cá lẻ và dễ bị tư thương épgiá Giá bình quân người trồng Ngô bán được là3.394 đồng/kg, đậu Tương 7.485 đồng/kg, trongkhi nhóm hộ SXHH thường bán được sản phẩmqua đại lý lớn nên giá bán bình quân của nhómnày thường cao hơn khoảng 300 đồng/kg Ngôhạt, 700 đồng/kg đậu Tương (3.417 đồng/kgNgô hạt, 7.623 đồng/kg đậu Tương) Nhóm hộkhông SXHH bán cho cộng đồng tại chợ xãhoặc các đại lý thu gom xã chỉ khoảng 3.124đồng/kg Ngô hạt, 6.926 đồng/kg đậu Tương donông hộ thường bán cho thu gom tỉnh, huyệnngay sau khi thu hoạch nhưng khi bán cho cộngđồng hoặc thu gom tại chỗ (cấp xã) thì khốilượng bị hao hụt đi đáng kể nhưng giá vẫnkhông đổi

Trang 12

Hiệu quả sản xuất NSHH mục tiêu ở nông hộ

Giá bán bình quân của nhóm hộ sản xuất Ngô

hàng hoá thường cao hơn từ 150 – 300 đồng/kg

Ngô hạt, đậu Tương 396 – 462 đồng Do vậy

tổng giá trị sản xuất (GO) Ngô của nhóm hộ

SXHH dao động từ 196,567 triệu (năm 2002)

đến 251,275 triệu đồng (năm 2008), của đậu

Tương dao động từ 63,051 – 71,124 triệu đồng

Mặc dù chỉ có 94/240 hộ nhưng GO năm 2008

nhóm hộ sản xuất Ngô hàng hoá cao gấp 2,44

lần nhóm hộ không SXHH (chỉ đạt 111.939.000đồng), GO của nhóm sản xuất đậu Tương hànghoá có 63/240 hộ cũng cao gấp 1,34 nhóm hộkhông SXHH So sánh chi phí trung gian (IC)thìcủa nhóm hộ sản xuất Ngô hàng hoá chỉ cao gấp

2 lần, nhóm hộ sản xuất đậu Tương hàng hoá vàkhông hàng hoá ngang bằng nhau; giá trị giatăng (VA) và thu nhập hỗn hợp (MI) của nhómsản xuất Ngô hàng hoá gấp 3,04 lần, đậu Tươnghàng hoá cao gấp 1,80 lần nhóm hộ không sảnxuất hàng hoá (VA=MI)

Bảng 7 So sánh hiệu quả sản xuất Ngô, đậu Tương

Nguồn: Kết quả điều tra và phỏng vấn HGĐ, năm 2008

Chi phí trung gian (IC) để sản xuất 1 tấn

sản phẩm Ngô dao động từ 1.082.300 đồng

(2008) đến 1.506.000 đồng (2002), cho đậu

Tương từ 695.600 đồng (2008) đến 752.040

đồng (2008), trong đó hộ sản xuất Ngô hàng hoá

thường có chi phí thấp hơn khoảng 127.000 –

430.000 đồng/tấn sản phẩm, đậu Tương 184.400

– 217.500 đồng/tấn sản phẩm, nhưng giá trị gia

tăng (VA) của nhóm sản xuất Ngô hàng hoá

luôn cao hơn từ 63.000 – 192.000 đồng/tấn sảnphẩm, đậu Tương hàng hoá cao hơn 184.400 –217.500 đồng/tấn sản phẩm;

Thu nhập/chi phí (GO/IC): Giá trị sản xuấtcho 1 công lao động của hộ sản xuất Ngô hànghoá dao động từ 40.490 – 52.780 đồng/1 công,đậu Tương 64.870 – 71.290 đồng/1 công, trongkhi nhóm hộ không sản xuất Ngô hàng hoá chỉđạt 28.150 – 31.890 đồng/công, đậu Tương chỉ

Trang 13

đạt 39.080 – 42.330 đồng/công từ đó thu

nhập/ngày công lao động của nhóm hộ không

sản xuất hàng hoá rất thấp, sản xuất Ngô chỉ

bằng khoảng 10-22% , đậu Tương thu nhập bằng

45-52% hộ sản xuất hàng hoá Trong đó do giá

Ngô và đậu Tương giống mới không có sự khác

biệt so với giống cũ nhưng giống mới có năng

suất cao hơn, do vậy trồng Ngô lai thu nhập từ là

7,29 triệu đồng/ha, cao gấp 1,48 lần so với Ngô

địa phương Sau khi trừ đi chi phí, nông hộ

trồng đậu Tương giống mới thu được 2,78 triệu

đồng/ha, cao hơn so với trồng đậu Tương giống

cũ (2,39 triệu đồng/ha)

2 Các giải pháp phát triển sản xuất Ngô, Đậu

tương hàng hoá ở nông hộ

Giải pháp chung

- Phát huy tiềm năng nguồn nhân lực phát

triển sản xuất NSHH của nông hộ

- Nâng cao năng lực và hiệu quả trong

quyết định của nông hộ về lựa chọn sản phẩm

hàng hoá cần sản xuất, sản xuất NSHH theo thị

trường

- Tăng cường tiếp cận đầu vào cho sản

xuất NSHH ở nông hộ

- Tổ chức sản xuất và ứng dụng KHCN

nâng cao năng suất và hiệu quả

- Giải pháp về tiêu thụ sản phẩm của nông

hộ vùng cao núi đá

- Nâng cao hiệu quả sản xuất NSHH ở

nông hộ vùng cao núi đá

Giải pháp về chính sách và hỗ trợ công của

chính quyền địa phương

a Thể chế, chính sách của Chính phủ

- Hoàn thiện các chính sách về đất đai và

quy hoạch vùng sản xuất NSHH

- Hoàn thiện chính sách hỗ trợ “đầu vào”

cho sản xuất Ngô, đậu Tương và bò

- Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản

xuất Ngô, đậu Tương và bò

b Hỗ trợ công của địa phương

- Quy hoạch, sử dụng có hiệu quả đất đai,giao đất cho nông hộ;

- Thực hiện công khai, minh bạch các hỗ

trợ công trong bộ máy công quyền

- Trợ cấp giống, hỗ trợ dịch vụ BVTV vàthú y, trợ cước vận chuyển

- Cung cấp thông tin thị trường trong cáchoạt động khuyến nông

- Kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động tín dụngvới cung cấp dịch vụ khác

- Xây dựng và đổi mới hệ thống khuyếnnông

- Đầu tư cơ sở hạ tầng cho sản xuất

- Xây dựng và củng cố mạng lưới thịtrường tiêu thụ hoàn chỉnh

Giải pháp cho sản phẩm Ngô, đậu Tương hàng hoá ở nông hộ

- Giao 13.500 ha/ 53.000 ha đất trống đồinúi trọc có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp chonông hộ để phát triển sản xuất NSHH

- Quy hoạch vùng sản xuất và lập kếhoạch sản xuất Ngô, đậu Tương hàng hoá cấp hộgia đình, đảm bảo an ninh lương thực và pháttriển sản xuất Ngô, đậu Tương hàng hoá

- Mở rộng diện tích trồng giống Ngô lai, đậuTương giống mới, nâng cao hiệu quả sản xuất

- Tập huấn về kỹ thuật sản xuất và kiếnthức thị trường cho các thành viên nông hộ

- Sản xuất giống Ngô lai, đậu Tương tạivùng để cung cấp cho khoảng 5.036 tấn Ngôgiống/năm, 2.500 tấn đậu Tương giống/năm vàcác vùng lân cận

- Đầu tư cho vay với lãi suất bằng 0% vớicác hộ nghèo vay bằng giống Ngô lai, phân bón

và mua máy tẽ hạt Ngô sản xuất trong nước

Trang 14

- Giới thiệu và cung ứng trợ giá cước vận

chuyển máy tẽ hạt thủ công

- Nghiên cứu công nghệ sao sấy, bảo quản

hạt Ngô lai, đậu Tương

- Đầu tư hỗ trợ kinh phí cải tạo nương xếp

đá, thâm canh, sử dụng tập đoàn cây họ đậu để

sản xuất Ngô, đậu Tương hàng hoá

- Chính quyền các cấp tạo điều kiện cho

các doanh nghiệp chế biến xây dựng kênh tiêu

thụ Ngô, đậu Tương hàng hoá cho nông hộ

IV KẾT LUẬN

1 Phát triển sản xuất Ngô, đậu Tương

hàng hoá ở nông hộ 4 huyện vùng cao phía Bắc

tỉnh Hà Giang là hết sức cấp thiết, không những

có ý nghĩa về mặt kinh tế, xã hội mà còn rất

quan trọng về văn hoá và đảm bảo an ninh quốc

phòng

2 Thực trạng sản xuất Ngô, đậu Tương

hàng hoá kém phát triển, phương thức canh tác

lạc hậu, năng suất và sản lượng thấp Quyết định

của nông hộ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm,

nguồn lực của hộ để sản xuất mà không căn cứ

vào thị trường đầu vào và đầu ra cho sản phẩm;

sản xuất ở nông hộ manh mún chủ yếu là tự

cung tự cấp, chỉ bán những gì họ có chứ không

quan tâm đến nhu cầu của thị trường Giá trị sản

xuất và TSHH nói chung thấp, khả năng cạnh

tranh yếu, nhiều chính sách còn bất cập, quy

hoạch sản xuất không sát với thực tế và tính khả

thi thấp

3 Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển

sản xuất Ngô, đậu Tương hàng hoá ở nông hộ là:

Áp dụng các chính sách kinh tế thị trường; Quy

hoạch vùng sản xuất NSHH; Xây dựng cơ sở hạ

tầng, nhất là giao thông thuỷ lợi; Ứng dụng

KHCN tiên tiến; Khuyến nông; Đào tạo nguồnnhân lực; Hỗ trợ đầu vào cho sản xuất, hỗ trợnông hộ tiếp cận với thị trường; Xây dựng cáchình thức tổ chức nông dân; Áp dụng chính sáchtín dụng đến các hoạt động xúc tiến thương mại

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH:

1 Đỗ Kim Chung (2005), Chính sách và phương thức chuyển giao kỹ thuật tiến bộ trong nông nghiệp ở miền núi và trung du phía Bắc Việt Nam Nhà xuất bản Nông

nghiệp Hà Nội

2 Dự án phân cấp giảm nghèo nông thôn

DPPR/IPAD (2008), Phân tích chuỗi giá trị Ngô địa phương Hà Giang tháng 2/2008.

3 Phạm Vân Đình, Trần Đình Thao,

Nguyễn Tuấn Sơn (2006), Nghiên cứu lợi thế so sánh của các nông sản đặc trưng ở các vùng sinh thái Việt Nam NXB Nông

nghiệp, Hà Nội

4 Nguyễn Lê Huy (2008), Thực trạng và một số giải pháp phát triển sản xuất NSHH tại

4 huyện vùng núi cao phía Bắc tỉnh Hà Giang.

Tạp chí Kinh tế & Phát triển, [tr.33-36] số 129.2008

5 Nguyễn Thị Minh Thọ (2000), Thực trạng

và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế

hộ nông dân vùng cao Bắc Thái Luận án tiến

sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội

6 Đào Thế Tuấn (1997), Kinh tế hộ nông dân NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

7 Hoàng Thanh Tùng (2008), Nghiên cứu

về thể chế và chính sách địa phương Báo

cáo tư vấn dự án phân cấp giảm nghèo nôngthôn DPPR/IPAD Hà Giang tháng 2/2008

8 Trần Văn Tuý (2004), Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất nông sản hàng hoá ở tỉnh Bắc Ninh Luận

án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Nôngnghiệp I Hà Nội

MAIZE AND SOYBEANS COMMODITY PRODUCTS DEVELOPMENT IN THE HOUSEHOLD OF FOUR NORTHERN MOUNTAINOUS DISTRICTS OF HAGIANG PROVINE

Nguyen Le Huy 1

SUMMARY: The four northern mountainous districts of Ha Giang are characterized by rocky

mountainous landscape, having a diversity of natural conditions, and lack of water for agricultural production and daily use These district are also home of numerous ethnic minorities with typical cultures Due to most of agriculturally cultivated areas are scattered over small valleys of rocky mountains, the use of dry crops such as maize and soybeans are the important choice of farming households Research results have shown that the development of commercial agricultural production

Trang 15

(CAP) in farm households of these 4 districts has many limitations; the CAP is mostly self-sufficient, farm households only sold what they have produced not what the market demand A number of policies have been formulated and public support has been implemented but their impact was still limted Therefore, it is necessary to have a crucial actions to promote the development of CAP of the farm households, especially with 2 important commercial agricultural products in the region: maize and soybeans Based on the research results, some solutions are proposed to promot ACP production of the farm households of 4 districts upland northern Ha Giang province.

Keyword: Household economy, commercial agricultural production, plant structure, traditional

cultivation methods, specializing cultivation area.

Department of Natural resources and Environment, Ha Giang province

KINH TẾ SINH THÁI SỐ 30/2009

ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ MẪU DẺ BẰNG KỸ THUẬT RAPD

Nguyễn Minh Quế 1 , Nguyễn Thị Tâm

1 Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Dẻ là một trong những cây trồng rừng đem

lại hiệu quả kinh tế cao được Nhà nước ta sử

dụng trong phong trào xoá đói giảm nghèo, phủ

xanh đất trống đồi núi trọc Các bộ phận của cây

đều có thể được sử dụng hiệu quả như: Hạt có

thể ăn được và dùng để chữa bệnh đường tiêu

hoá, lá dùng để nuôi tằm, gỗ Dẻ dùng trong xây

dựng và làm nông cụ, hoa dể sắc uống chữa

tràng nhạc, hoa đực khô dùng làm thuốc sát

trùng, rễ sắc uống chữa viêm tinh hoàn…[3]

Cây Dẻ được trồng phổ biến ở khu vực miền

núi, đặc biệt là ở vùng miền núi phía Bắc Việt

Nam Trên thị trường hiện nay, các giống Dẻ lấy

hạt phổ biến là Dẻ Trùng Khánh – Cao Bằng, Dẻ

Trung Quốc và Dẻ gai Bắc Giang

Đã có một số công trình nghiên cứu về cây

Dẻ trên các phương diện khác nhau Lê Xuân

Hoàng (2008) nghiên cứu thực trạng và giải

pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất hạt Dẻ ở

tỉnh Cao Bằng [7] Theo hướng phân loại,

Nguyễn Tiến Bân đã nghiên cứu cơ sở phân loại

họ Dẻ - Fagaceae Durmort ở Việt Nam [4]

Trên thế giới và ở Việt Nam trong những

năm gần đây, các nhà khoa học đã sử dụng các

kỹ thuật sinh học phân tử để đánh giá hệ gen của

sinh vật, trong đó có kỹ thuật phân tích sự đa

hình của các đoạn DNA được nhân bản ngẫu

nhiên (Random Amplified Polymorphic

DNA-RAPD) Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, RAPD là

kỹ thuật đem lại hiệu quả cao trong việc xácđịnh kiểu gen, phân tích quần thể và sự đa dạng

di truyền, nghiên cứu nguồn gốc loài và lập bản

đồ di truyền của thực vật [2], [5], [6], [8], [9],[10], [11], [12], [13] Ở Việt Nam, họ Dẻ

(Fagaceae) không lớn lắm, chỉ gồm khoảng 6/8

- 9 chi với khoảng 210/900 - 1000 loài nên việcnhận biết họ này không mấy khó khăn Tuynhiên, việc phân biệt các chi trong họ lại khó, vàviệc định loại các loài trong những chi lớn như

Castanopsis, Lithocarpus, Quercus lại càng khó

khăn hơn [4] Áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử

sẽ giúp cho việc định loại các loài trong họ dễdàng và chính xác hơn

Bài báo này trình bày kết quả xác địnhmối quan hệ di truyền của một số mẫu Dẻ phân

bố ở một số khu vực địa lý khác nhau bằng kỹthuật RAPD

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP N/CỨU

Sử dụng hạt của 3 mẫu Dẻ trồng tại cáckhu vực khác nhau ở Trùng Khánh – Cao Bằng(TK1, TK2, TK3), Yên Thế - Bắc Giang (BG)

và 1 mẫu Dẻ Vân Nam - Trung Quốc (TQ) làmvật liệu nghiên cứu

Tách chiết DNA tổng số theo phươngpháp của Gewel và cs (1991) [1] Kiểm tra DNAtổng số bằng phương pháp điện di trên gelagarose 0,8%

Trang 16

Phản ứng RAPD được tiến hành với các

mồi ngẫu nhiên theo phương pháp của William

và cs (1990) [1] Các mồi sử dụng trong phản

ứng RAPD gồm: 10 mồi ngẫu nhiên sử dụng

cho phân tích genome của 5 mẫu Dẻ TK1, TK2,TK3, TQ và BG Trình tự các mồi dài 10nucleotid, thông tin về trình tự các mồi đượctrình bày trong bảng 1

Bảng 1 Trình tự các nucleotide của 10 mồi RAPD sử dụng trong nghiên cứu

Trang 17

Mỗi phản ứng PCR có 25µl dung dịch

chứa 1X đệm PCR; 2,5mM MgCl2, 100µl

4dNTPs; 200 nM đoạn mồi; 0,125 đơn vị Taq

polymeraza và 10ng DNA khuôn và được tiến

hành trong máy PCR System 9700 Sản phẩm

RAPD được điện di trên gel agarose 1,8%,

nhuộm Ethidium bromide và chụp ảnh trên máy

soi gel

Các số liệu RAPD được xử lý trên máy

tính theo chương trình NTSYSpc-2.02i (Applied

Biostatistics Tnc., USA., 1998)

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Tách chiết và tinh sạch DNA từ mẫu lá Dẻ

DNA được tách chiết và tinh sạch, sau đókiểm tra độ tinh sạch và xác định hàm lượngthông qua máy đo quang phổ hấp thụ ở các bướcsóng 260nm và 280nm Đồng thời, các mẫuDNA cũng được điện di trên gel Agarose 0,8%

để đánh giá độ tinh sạch và chất lượng Kết quảđược thể hiện trên bảng 2 và hình 1

Bảng 2 Hàm lượng và độ tinh sạch DNA của 5 mẫu Dẻ nghiên cứu

Hình 1 Kết quả điện di DNA tổng số của các mẫu Dẻ trên gel agarose 0,8%

Kết quả ở bảng 1 và hình 1 cho thấy, DNA

được tách từ các mẫu lá Dẻ có hàm lượng dao

động từ 798,8 đến 1143,7 µg/ml, băng vạch sắc

nét, không bị đứt gãy Độ tinh sạch thể hiện ở tỉ

lệ OD 260/OD280 đạt từ 1,79 – 1,92 Như vậy, chất

lượng DNA đảm bảo tiêu chuẩn để tiến hành các

phản ứng PCR – RAPD

2 Kết quả phân tích điện di PCR-RAPD

Sau khi tách chiết, tinh sạch và pha về

nồng độ chuẩn cho các phản ứng PCR, DNA của

5 mẫu Dẻ đã được phân tích với 10 mồi ngẫu

nhiên Đánh giá tính đa hình thông qua giá trị

PIC, khoảng cách di truyền được xác định thông

qua hệ số tương đồng và biểu đồ hình cây

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng

10 mồi ngẫu nhiên có kí hiệu là: DTN1, DTN2,

OPM5, APR08, OCN6, TN03, TN07, DTN5,OPQ02, DHN04 để phân tích mối quan hệ ditruyền giữa các giống Dẻ Kết quả nhận thấy,tổng số phân đoạn DNA của 5 mẫu lá Dẻ khiphân tích 10 mồi ngẫu nhiên là 46 phân đoạn.Trong đó, chỉ có 14 phân đoạn cho tính đa hình(chiếm 30,4%) và không cho đa hình là 32 phânđoạn (chiếm 69,6%)

Trong số 10 mồi nghiên cứu, có tới 5 mồikhông cho tính đa hình các phân đoạn DNA.Mức độ đa hình của các mồi dao động từ 33,3 –75,0%, trong đó mồi OCN6 cho tính đa hình caonhất và thấp nhất là mồi DTN1 Năm mồi cònlại TN03, TN07, DTN5, OPQ02 và DHN04không cho tính đa hình (0%) (bảng 3)

Tên mẫu Hàm lượng DNA (μg/ml) Tỉ số OD 260/280

Trang 18

Bảng 3 Đa hình về phân đoạn DNA được nhân bản của 10 mồi ngẫu nhiên Tên mồi Số phân đoạn DNA Số phân đoạn

đa hình Số phân đoạn đơn hình % phân đoạn đa hình

Trang 19

Giá trị PIC được sử dụng khi phân tích

hàm lượng thông tin đa hình, kết quả được thể

hiện ở bảng 4 Số liệu bảng 4 phù hợp với tỷ lệ

đa hình của các phân đoạn DNA được nhân bản

(bảng 3) Cụ thể, giá trị PIC của các mồi TN03,

TN07, DTN5, OPQ02 và DHN04 là 0 (không đa

hình) và giá trị PIC của mồi OCN6 là 0,57 (đahình cao nhất) Tuy nhiên, giá trị PIC không chỉliên quan tới tỷ lệ phân đoạn DNA đa hình màcòn cho biết số lượng cá thể cùng xuất hiện phânđoạn đa hình lớn hay nhỏ (bảng 4)

Bảng 4 Hàm lượng thông tin tính đa hình (PIC) của 5 mẫu Dẻ

TT Tên mồi Giá trị PIC TT Tên mồi Giá trị PIC

Trang 20

Với 10 mồi ngẫu nhiên được sử dụng cho

5 mẫu Dẻ khác nhau cho thấy, có 5 mồi thể hiện

sự sai khác về các phân đoạn DNA được nhân

bản, 5 mồi còn lại không có sự sai khác về các

phân đoạn DNA được nhân bản giữa các đối

tượng nghiên cứu Giá trị PIC dao động từ 0,32

đến 0,57 Như vậy, với 10 mồi RAPD sử dụng

trong nghiên cứu đã đưa ra được sự khác nhau

về độ tương đồng các phân đoạn DNA của 5

mẫu Dẻ phân bố ở các khu vực địa lý khác nhau

là Trùng Khánh - Cao Bằng, Yên Thế - Bắc

Giang và Vân Nam - Trung Quốc

Kết quả điện di kiểm tra sản phẩm phảnứng PCR-RAPD trên gel agarose 1,8% của 4

mồi DTN1, DTN2, OPM5 và TN03 được thể

hiện dưới đây:

Mồi TN03: Trong phạm vi vùng phân tích,

kích thước nằm trong khoảng 200-2000bp, cả 5

mẫu Dẻ nghiên cứu đều thu được 6 phân đoạn

DNA Các phân đoạn DNA được nhân bản của

các mẫu Dẻ có kích thước hoàn toàn giống nhau.Như vậy, sử dụng mồi TN03 không phát hiệnđược sự sai khác về các phân đoạn DNA đượcnhân bản Trong phạm vi phân tích 5 mẫu Dẻnghiên cứu với mồi TN03 thu được tổng số 30phân đoạn DNA (hình 2A)

Mồi DTN2: Kết quả điện di kiểm tra sản

phẩm PCR với mồi DTN2 thu được tổng sốphân đoạn DNA của 5 mẫu Dẻ là 27 phân đoạn.Kích thước các phân đoạn DNA thu được daođộng trong khoảng 200bp - 1000bp Trong đó,xuất hiện 5 phân đoạn DNA khác nhau giữa cácmẫu nghiên cứu Cụ thể, ở kích thước khoảng600bp, mẫu Dẻ BG có phân đoạn DNA đượcnhân bản các mẫu còn lại không xuất hiện phânđoạn này Ngược lại, ở kích thước khoảng200bp và 750bp, bốn mẫu còn lại đều có phânđoạn DNA xuất hiện, trong khi đó mẫu Dẻ BGkhông xuất hiện các phân đoạn DNA có kíchthước trên (hình 2B)

Hình 2 Hình ảnh điện di sản phẩm PCR-RAPD của 5 mẫu Dẻ với mồi TN03 và DTN2 Mồi DTN1: Trên phạm vi vùng phân tích

thu được 22 phân đoạn DNA, thuộc 6 kích thước

khác nhau Kích thước các phân đoạn DNA thu

được dao động trong khoảng 250bp-1500bp

Trong số 6 phân đoạn xuất hiện trên bản điện di,

có tới 4 phân đoạn hoàn toàn giống nhau giữa 5

mẫu nghiên cứu, nằm trong khích thước khoảng

750 bp-1500bp Mẫu Dẻ Bắc Giang có hai phânđoạn DNA được nhân bản với kích thướckhoảng 250bp và 500bp nhưng các mẫu còn lạikhông xuất hiện phân đoạn này (hình 3A)

Trang 21

Hình 3 Hình ảnh điện di sản phẩm PCR-RAPD của 5 mẫu Dẻ với mồi DTN1 và OPM5

Mồi OPM5: Tổng số có 5 phân đoạn

DNA xuất hiện và có hai phân đoạn DNA thể

hiện sai khác giữa các mẫu nghiên cứu Kích

thước các phân đoạn được nhân bản dao động từ

200bp - 1000bp Ở kích thước 200bp và 1000bp,

mẫu Bắc Giang tiếp tục xuất hiện phân đoạn

DNA được nhân bản, tuy nhiên 4 mẫu còn lại

không thu được hai phân đoạn này Ở phạm vi

kích thước 500bp – 800bp, cả 5 mẫu đều nhân

được 3 phân đoạn DNA như nhau (hình 3B)

Như vậy, điện di sản phẩm PCR-RAPD

trên gel agarose 1,8% đã khẳng định sự khác

biệt về phân đoạn DNA được nhân bản của mẫu

Dẻ Bắc Giang so với 4 mẫu Dẻ ở Trùng Khánh

và Trung Quốc

3 Mối quan hệ di truyền của các mẫu Dẻ

Các số liệu số phân tích PCR-RAPD được

xử lý và phân tích trong chương trình NTSYSpcversion 2.0 nhằm tìm ra khoảng cách di truyềngiữa các mẫu Dẻ nghiên cứu thông qua hệ sốtương đồng di truyền và biểu đồ hình cây

Để kiểm tra phương pháp phân nhóm,chúng tôi đã tiến hành xác định giá trị tươngquan kiểu hình theo 3 phương pháp tính hệ số ditruyền giống nhau (phương pháp của Jaccard,của Nei & Li, của Sokal) với bốn kiểu phânnhóm (WPGMA, UPGMA, liên kết hoàn toàn

và liên kết đơn lẻ) (bảng 4) Biểu đồ hình câyđược thiết lập dựa trên giá trị tương quan caonhất với các giá trị khi r ≥ 0,9 (tương quan rấtchặt), r = 0,8 - 0,9 (tương quan chặt), r = 0,7 -0,8 (tương quan tương đối chặt), r ≤ 0,7 (tươngquan không chặt)

Bảng 5 Giá trị tương quan kiểu hình (r) theo 3 cách tính về hệ số tương đồng

UPGMA WPGMA Liên kết hoàn toàn Liên kết đơn lẻ

Bảng 5 cho thấy, với 3 cách tính hệ số di

truyền giống nhau và 4 kiểu phân nhóm phản

ánh mối tương quan kiểu hình của 5 mẫu Dẻ dao

động rất chặt 0.99879 – 0.99943 Trong đó giá

trị tương quan kiểu hình (r) lớn nhất 0.99943 khi

tính theo hệ số di truyển Jaccard và kiểu phânnhóm UPGMA Vì vậy, sơ đồ hình cây đượcthiết lập theo hệ số di truyền giống nhau Jaccard

và kiểu phân nhóm UPGMA

TK1 TK2 TK3 BG TQ M TK1 TK2 TK3 BG TQ M

OPM5 DTN1

Trang 22

Bảng 6 Hệ số tương đồng giữa các mẫu Dẻ nghiên cứu

Kết quả bảng 6 cho thấy, 3 mẫu Dẻ TK1,

TK2 và TK3 lấy ở các khu vực khác nhau ở

huyện Trùng Khánh – Cao Bằng có mức độ

tương đồng đạt 100% khi phân tích với 10 mồi

ngẫu nhiên Điều này cho thấy, độ thuần và độ

đồng nhất rất cao của các mẫu Dẻ Trùng Khánh

Kết quả ở bảng 5 cũng cho thấy, mức độ gần gũi

di truyền của các mẫu Dẻ Trùng Khánh và

Trung Quốc Bốn mẫu TK1, TK2, TK3 và TQ

không xuất hiện sự khác biệt Các phân đoạn

DNA được nhân lên của bốn mẫu trên với các

mồi nghiên cứu không có sự sai khác

Mẫu Dẻ Bắc Giang có mức độ tương đồng

DNA thấp so với các mẫu Dẻ từ Vân Nam

-Trung Quốc và Trùng Khánh – Cao Bằng Hệ số

tương đồng giữa mẫu Dẻ Bắc Giang với các

mẫu còn lại đạt 69,6% (sai khác tới 30,4%) Sự

sai khác DNA của mẫu Dẻ Bắc Giang so với cácmẫu còn lại nhận biết được do sự xuất hiện haykhông xuất hiện phân đoạn DNA được nhân bản

di truyền Như vậy, có thể nói 3 mẫu Dẻ thuthập từ các vùng khác nhau ở Trùng Khánh –Cao Bằng và mẫu Dẻ Vân Nam - Trung Quốcchỉ là một

- Nhánh II: Bao gồm duy nhất mẫu DẻBắc Giang, có sự sai khác so với 4 mẫu còn lạitới 30,4% (1- 0,696)

Hình 4 Biểu đồ hình cây các mẫu Dẻ nghiên cứu theo hệ số của Jaccard và kiểu phân nhóm WPGMA

Kết quả này hoàn toàn phù hợp với hệ

thống phân loại thực vật theo Nguyễn Tiến Bân

(2003)[3] Các mẫu Dẻ Trùng Khánh và Dẻ thu

từ Vân Nam - Trung Quốc thuộc cùng loài

Castanea molissima Blum (Dẻ Trùng Khánh, Dẻ

Cao Bằng, Dẻ Pố Tấu) thuộc chi CASTANEA

Mill.1754 (Dẻ Trùng Khánh), còn mẫu Dẻ thu từ

Bắc Giang thuộc loài Castanopsis boisii Hickel

& Camus, 1992 (Dẻ gai Yên Thế, Dẻ gai Bắc

Giang) trong chi CASTANOPSIS (D Don)

Nhánh I

Nhánh II

Trang 23

Spach, 1841, nom Cons (Dẻ gai, Cà ổi, Kha

thụ) [3]

IV KẾT LUẬN

1 Phân tích RAPD với DNA của 5 mẫu

Dẻ với 10 mồi ngẫu nhiên thì có 5/10 mồi cho

tính đa hình Trong đó, mồi OCN6 cho tính đa

hình cao nhất với giá trị PIC = 0,57; 4 mồi còn

lại cho tính đa hình thấp PIC<0,50

2 Các mẫu Dẻ lấy từ các khu vực khác

nhau của huyện Trùng Khánh – Cao Bằng và

mẫu Dẻ từ Vân Nam - Trung Quốc có hệ số

tương đồng di truyền đạt 100% Mẫu Dẻ Bắc

Giang có sự tương đồng di truyền với các mẫu

Dẻ nghiên cứu là 69,6%

3 Sơ đồ hình cây của 5 mẫu Dẻ nghiên cứu

được xếp thành 2 nhánh:

- Nhánh I: Bao gồm 4 mẫu Dẻ TK1, TK2,

TK3 và TQ, các mẫu này thuộc cùng một loài

Castanea molissima Blum (Dẻ Trùng Khánh, Dẻ

Cao Bằng, Dẻ Pố Tấu) thuộc chi CASTANEA

Mill.1754 (Dẻ Trùng Khánh)

- Nhánh II: Bao gồm duy nhất mẫu Dẻ

Bắc Giang, có sự sai khác so với 4 mẫu còn lại

tới 30,4% (1- 0,696) Mẫu này thuộc loài

Castanopsis boisii Hickel & Camus, 1992 (Dẻ

gai Yên Thế, Dẻ gai Bắc Giang) trong chi

CASTANOPSIS.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Gawel N.J Jart RL (1991), Genomic DNA

isolation.http:www.weihenstephan.de/

2 Ren F., Lu B.R.,Li S., Huang J., and Zhu Y

(2003), A comparative study of genetic

relationships among the AA – genome Oryza

species usinh RAPD and DNA SSR markers’,

Theor Appl Genet, 108 (1), tr 113 – 120

3 Nguyễn Tiến Bân (2003), Danh mục các loài

thực vật Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội,

Tập II, tr 227 – 229

4 Nguyễn Tiến Bân (2004), Cơ sở phân loại họ

Dẻ - Fagaceae Durmort ở Việt Nam, Tạp chí

sinh học, Tập 26 (4A), tr 1- 11.

5 Trần Dụ Chi, Vũ Thành Lâm, Dương ĐứcTiến, Hoàng Thị Minh Hiền, Đặng Diễm Hồng

(2001), Bước đầu ứng dụng kỹ thuật

RAPD-PCR vào phân loại một số chủng tảo

Scenedesmus phân lập từ hồ Hoàn Kiếm, Tạp

chí Sinh học, Tập 23, Số 3, tr 170-177.

6 Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Văn Thiết, NguyễnHoàng Tỉnh (2005), Sử dụng kỹ thuật RAPD vàAFLP để nghiên cứu quan hệ di truyền của 2

giống vải thiều và vải chua , Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, Nxb Khoa

học và kỹ thuật, tr 1160 – 1162

7 Ngô Xuân Hoàng (2008), Thực trạng và giảipháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất hạt Dẻ ở

tỉnh Cao Bằng, Tạp chí Khoa học và Công nghệ

-Đại học Thái Nguyên; số 3 (47), Tập 1, tr.40 – 45

8 Nguyễn Ngọc Huệ, Trần Danh Sửu, Trịnh

Hồng Kiên (2005), Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, Nxb Khoa học và

kỹ thuật, tr 1250 – 1253

9 Chu Hoàng Mậu, Nguyễn Thị Hoa Lan(2005), Đa dạng di truyền một số giống lạc

trồng (Archis hypogaea L.), Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, Nxb

khoa học kỹ thuật, tr1304 – 1307

10 Dinh Thi Phong, Le Thi Muoi, Le Tran Binh

(2001), RAPD variability in rice (Oryza sativa

L.) Plants derived from desiccation – tolerant

calli Euphyca, 121, p 297 – 303

11 Nguyễn Đức Thành, Phạm Duy Toản,Nguyễn Hoàng Anh (2000), Ứng dụng chỉ thịphân tử RAPD và STS trong nghiên cứu đa dạng

di truyền và chọn giống ở lúa, Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong sinh học, Nxb Đại học

quốc gia Hà Nội, tr 149 – 152

12 Nguyễn Văn Thiết, Lê Thị Lan Oanh (2001),Nghiên cứu đa dạng sinh học của nhãn trồng ở Việt

Nam bằng kỹ thuật RAPD, Tạp chí Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, Số 7, tr 444 - 445

13 Nguyễn Xuân Thụ, Lê Thị Lan Oanh,Nguyễn Thị Dung (1998), Sử dụng dấu chuẩnRAPD để nhận dạng 1 số giống chuối trồng ở

Trang 24

Việt Nam, Tạp chí di truyền và ứng dụng, Số 3,

4 Chestnus samples: TK1, TK2, TK3 and TQ They belong to the same Castanea molissima Blum (Trung Khanh, Cao Bang and Po Tau chestnuts) within CASTANEA Mill 1754 (Trung Khanh chestnut); Branch 2: Consisting of only Bac Giang sample which shows a diffrerence of up to 30,4 %

(1 – 0.696) to the 4 remaining samples This belongs to Castanopsis boisii Hickel and Camus, 1992 (Yen The and Bac Giang thorn chestnut) within CASTANOPSIS.The results completely suit to the plant

classifying system according to Nguyen Tien Ban (2003).

Thai Nguyen College of Education

HIỆU LỰC CỦA PHÂN BÓN LÁ HỮU CƠ GIẦU AXÍT AMIN (A2, A4) ĐƯỢC ĐIỀU CHẾ TỪ PHẾ PHỤ PHẨM GIÀU ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG DƯA CHUỘT

Trần Quốc Vương TÓM TẮT: Thí nghiệm được tiến hành trong nhà lưới có mái che tại Trung tâm Nghiên cứu Phân bón

và Dinh dưỡng cây trồng - Viện Thổ nhưỡng Nông nhằm xác định hiệu lực của phân bón lá hữu cơ giàu axít amin A2, A4 điều chế từ phế phụ phẩm giàu đạm đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng Dưa chuột trên đất bạc màu Sóc Sơn – Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy phân bón lá A2, A4 đã làm tăng chiều dài cây, số nhánh, tỉ lệ hoa cái/đực, số quả; hàm lượng Ca, Vitamin A, Vitamin C; và giảm hàm lượng Fe, Nitrat của quả Dưa chuột; làm năng suất tăng từ 0,217 - 0,247 kg/cây (31,31 - 35,64%) so với đối chứng.

Từ khoá: phân bón lá hữu cơ; phế phụ phẩm; A2, A4.

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Quá trình sản xuất, chế biến của ngành

nông nghiệp, thuỷ sản cũng như các ngành khác

đã tạo ra nhiều loại phế phụ phẩm Việc xử lý

hay sử dụng các phế phụ phẩm không hợp lý (sẽ

góp phần gây ô nhiễm môi trường) cần hạn chế

và nên tích cực tái sử dụng hợp lý các loại phế

phụ phẩm, đặc biệt là phế phụ phẩm giàu đạm

Trong nông nghiệp, việc sử dụng các phế

phụ phẩm giàu đạm để điều chế ra các loại phân

bón lá hữu cơ giàu axít amin không những có ý

nghĩa về mặt môi trường mà còn tạo ra các loại

phân bón có hiệu quả cao đối với năng suất và

chất lượng nông sản, vì trong cây axít amin làm

nguyên liệu để tổng hợp protein là thành phầnchính của nguyên sinh chất tế bào, enzym, hoócmôn Hầu hết các axít amin đều có thể tạo phứcchelate nội với nguyên tố vi lượng [1,2] Axítamin tạo thành chelate với nguyên tố vi lượnglàm tăng khả năng di chuyển và hấp thu của câytrồng đối với các nguyên tố vi lượng [3] Do đó

sử dụng axít amin làm chất mang nguyên tố vilượng dưới dạng phức chelate trong chế phẩmphân vi lượng không những cây trồng dễ hấp thuhơn mà còn bổ sung nguồn dinh dưỡng đạm chocây trồng, tăng hiệu quả của chế phẩm Trên cơ

sở trên, việc tiến hành nghiên cứu điều chế phânbón lá hữu cơ giàu axít amin và vi lượng từ phếthải giàu đạm trong chế biến thuỷ hải sản (đầu,

Trang 25

ruột cá, cá nhỏ ươn), trong giết mổ động vật

(lông, tiết động vật), trong nông nghiệp (nhộng

chết, tằm hỏng, phế phẩm sau khi quay tơ…) để

tạo ra phân bón lá có khả năng hấp thu nhanh,

hiệu quả sử dụng phân bón cao, cung cấp dinh

dưỡng cho cây trồng là có ý nghĩa và cần thiết

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phế phụ phẩm giàu đạm sau khi được thuỷ

phân, điều chế tạo ra dung dịch có thành phần và

tính chất như sau: Màu nâu đen, dạng lỏng, tan

hoàn toàn trong nước; pH = 4,5; hàm lượng axít

amin tổng số 145,5 g/l (ký hiệu là dung dịch

Ao) Dung dịch Ao được phối trộn với các

nguyên tố vi lượng tạo ra 02 loại phân bón lá A2

- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm

Nghiên cứu Phân bón và Dinh dưỡng cây trồng

(Viện Thổ nhưỡng Nông hoá)

- Thời gian nghiêm cứu: 11/2000 –

11/2001

- Đối tượng thí nghiệm: Thí nghiệm chậu

vại trong nhà lưới với cây Dưa chuột trên đất

bạc màu Sóc Sơn, Hà Nội (thí nghiệm 1 vụ):

+ Thí nghiệm được bố trí theo thí nghiệm

chậu vại của giáo sư Đào Thế Tuấn [4]; chậu

hình trụ, đường kính 30 cm, chiều cao 30 cm,

mỗi chậu 19 kg đất khô;

15 ngày); phân KCl bón lần 1 sau khi trồng: 15ngày và lần 2 sau lần 1: 20 ngày;

Phân bón lá được bổ sung qua lá 3 lần, lần

1 sau khi trồng: 15 ngày, lần 2 sau lần 1: 15ngày và lần 3 sau lần 2: 10 ngày

+ Lượng phun: 1l/ha/lần

+ Tỷ lệ pha loãng: 1lít phân bón lá pha với

- Số liệu thí nghiệm được xử lý theophương pháp LSD và Duncan, sử dụng phầnmềm STATH

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Ảnh hưởng của phân bón lá Ao, A2 và A4 đến sinh trưởng phát triển của Dưa chuột Bảng 1: Ảnh hưởng của phân bón lá Ao, A2 và A4 đến sinh trưởng phát triển của Dưa chuột

TB (cm) Số nhánh TB/cây cái/đực/cây (%) Tỉ lệ hoa

Trang 26

LSD 05 3,84 0,99 3,76

Về chiều dài cây:

- Các công thức được phun Ao, A2, A4,

kể cả phun vi lương ở dạng vô cơ đều có chiều

dài cây tăng vượt so với đối chứng Riêng công

thức 2 phun B, Zn chiều dài cây tăng chưa rõ;

- Công thức phun A2 và A4 có chiều dài

cây tăng đáng kể so với phun Ao; chiều dài cây

tăng rõ nhất là công thức phun A2 tiếp đến phun

A4, Ao

Về số nhánh: Công thức phun A2 và A4

làm tăng số nhánh có ý nghĩa so với đối chứng

và Ao; các công thức còn lại số nhánh tăng

không đáng kể Phun A4 có chiều hướng hiệu

quả hơn A2

Về tỉ lệ hoa cái/đực: Công thức phun A4

có chiều hướng tốt hơn A2 Trong khi đó phun

vi lượng ở dạng vô cơ (công thức 2 phun B, Zn

và công thức 3 phun B, Zn, Mn, Mo) hoặc phun

Ao không có tác dụng làm tăng tỉ lệ hoa cái/đực

Kết quả trên cho thấy:

Zn, Mn, Mo Điều này cho thấy rõ hiệu quả của

vi lượng khi kết hợp với axít amin ở dạng phức

2 Ảnh hưởng của phân bón lá Ao, A2 và A4 đến năng suất của Dưa chuột

Bảng 2: Ảnh hưởng của phân bón lá Ao, A2 và A4 đến năng suất của Dưa chuột

- Phun A2 và A4 làm tăng rõ rệt số quả trên

cây so với đối chứng, ngược lại các công thức

phun Ao và vi lượng ở dạng vô cơ không làm

tăng số quả trên cây

- Năng suất của Dưa chuột không có sự sai

khác nhiều giữa phun Ao, A2 và A4 Tuy nhiên,

phun A2, A4 có chiều hướng tốt hơn phun Ao

Phun Ao, A2 và A4 làm tăng năng suất rõ so vớiđối chứng lần lượt là 0,204 kg (29,44%); 0,217

kg (31,31%) và 0,247 kg (35,64%)

- Vi lượng ở dạng muối vô cơ có ảnh hưởngtốt đến năng suất Dưa chuột, song so với đốichứng thì tăng chưa rõ

3 Ảnh hưởng của phân bón lá Ao, A2 và A4 đến chất lượng qủa Dưa chuột

Bảng 3: Ảnh hưởng của phân bón lá Ao, A2 và A4 đến chất lượng quả Dưa chuột

Trang 27

5 A2 1,20 25,43 6,80 7,75 130,45

- Hàm lượng Fe, Nitrat có chiều hướng giảm khi

phun Ao, A2, A4 và vi lượng ở dạng vô cơ so

với đối chứng Công thức có hàm lượng Fe,

Nitrat thấp nhất là phun A2, tiếp đến là A4 và

Ao; Phun B, Zn làm giảm hàm lượng Fe, Nitrat

hơn phun B, Zn, Mn, Mo

- Các công thức được xử lý vi lượng, Ao,

A2, A4 đều làm tăng hàm lượng Ca, Vitamin A,

Vitamin C so với đối chứng; Công thức có hiệu

quả nhất là phun A2 tiếp đó là A4, Ao Cũng

tương tự như hàm lượng Fe và Nitrat, hàm

lượng Ca, Vitamin A, Vitamin C có chiều hướng

giảm khi phun B, Zn, Mn, Mo (CT3) so với

phun B, Zn (CT2)

Kết quả trên cho thấy:

- Các nguyên tố vi lượng khi kết hợp với

axít amin có ảnh hưởng tốt đến chất lượng quả

Dưa chuột hơn khi sử dụng vi lượng đơn lẻ

- Trong thí nghiệm trên, công thức 3 làm

giảm chất lượng quả Dưa chuột hơn công thức

2 Điều này cho thấy khi phun đồng thời Mn,

Mo sẽ không có tác dụng tốt đến chất lượng quảDưa chuột

IV KẾT LUẬN

Sử dụng phế phụ phẩm giàu đạm để điềuchế phân bón lá hữu cơ giàu axít amin A2, A4phun cho Dưa chuột có hiệu quả làm tăng khảnăng sinh trưởng, phát triển, chất lượng quả Dưachuột và năng suất tăng từ 0,217 - 0,247 kg/cây(31,31 - 35,64%) so với đối chứng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Doãn Diên (1993), Hoá sinh thực vật,NXB Nông nghiệp, Hà Nội

2 Lê Ngọc Tú, Lê Doãn Diên, Phạm QuốcThắng, La Văn Chủ, Nguyễn Thị Thịnh, BùiĐức Hợi (1981), Hoá sinh học nông nghiệp.NXB Nông nghiệp Hà Nội

3 Priyachem, Effect Of Amino Acids OnPlants, in http://www.priyachem.com/effect

4 Đào Thế Tuấn (1962), Phương pháp thínghiệm trồng trọt, NXB nông thôn, Hà Nội

THE EFFECT OF AMINO ACIDS ORGANIC FOLIAR FERTILIZER (A2, A4) MADE UP FROM THE BY-PRODUCTS RICH IN PROTEIN ON GROWTH, YIELD AND QUALITY

protein has increased the tree length, branch number, the ratio of gynoecious/monoecious (the male/ female flowers), number of fruit per tree; Ca, Vitamin A and Vitamin C content but reduced the Fe and

Nitrat content of cucumbers; the weight of fruit increased from 0.217 – 0.247 kg/tree (31.31 - 35.64%) compared with the control.

Keywords: organic foliar fertilizer; by-products; A2, A4

KINH TẾ SINH THÁI SỐ 30/2009

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG NGUỒN ÁNH SÁNG TỰ NHIÊN TRONG VI NHÂN

GIỐNG CÂY HỒ TIÊU (Piper nigrum L.)

Đỗ Đăng Giáp 1 , Thái Xuân Du 1 , Dương Đức Hiếu 1 , Ngô Xuân Quảng 1

TÓM TẮT: Cây Hồ tiêu (Piper nigrum L.) in vitro được nuôi cấy ở hai điều kiện khác nhau là trong

phòng nuôi (sử dụng ánh sáng nhân tạo, nhiệt độ được kiểm soát) và ngoài vườn ươm (sử dụng ánh sáng

1 Viện Sinh học Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 28

tự nhiên, nhiệt độ không được kiểm soát) Các chỉ tiêu về tăng trưởng, hàm lượng Chlorophyll và khả năng thích nghi của cây Hồ tiêu ở hai điều kiện nuôi cấy đó đã được so sánh và ghi nhận Kết quả nghiên

cứu cho thấy, sau 8 tuần nuôi cấy, cây Hồ tiêu in vitro được nuôi ở điều kiện sử dụng ánh sáng tư nhiên

có khả năng thích nghi cao hơn so với cây nuôi trong điều kiện ánh sáng nhân tạo khi chuyển ra trồng ngoài vườn ươm.

Từ khóa: Ánh sáng tự nhiên; Hồ tiêu; Piper nigrum L.; Vi nhân giống

I MỞ ĐẦU

Cây Hồ tiêu được du nhập vào nước ta từ

cuối thế kỷ XIX và được trồng nhiều ở các vùng

đất bazan từ Quảng Trị trở vào đến các tỉnh Tây

Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ (Kiên

Giang) Hạt Hồ tiêu có giá trị cao trong xuất

khẩu Giâm cành là phương pháp nhân giống vô

tính truyền thống thông thường được sử dụng để

nhân các dòng Hồ tiêu có năng suất cao, nhưng

hệ số nhân giống và kiểm soát lây nhiễm bệnh

do virus của phương pháp này không đáp ứng

yêu cầu Do đó sử dụng phương pháp nhân

giống in vitro để nhân các giống Hồ tiêu đầu

dòng sạch bệnh là một giải pháp rất khả thi

(Đoàn Thị Ái Thuyền và cs, 2005)

Sự thành công của công nghệ vi nhân

giống thực vật về cơ bản phụ thuộc vào khả

năng sống và phát triển của cây khi chuyển ra

môi trường ex vitro Ở một vài loài thực vật cho

thấy có nhiều khó khăn khi chuyển từ môi

trường điều kiện in vitro ra ex vitro như: tỷ lệ

sống thấp, khả năng phát triển chậm và kém

thích nghi Điều này đã được ghi nhận tốc độ

quang hợp kém do cường độ ánh sáng thấp trong

phòng nuôi cấy in vitro (Lees, 1994)

Đã có nhiều nghiên cứu cải tiến điều kiện

nuôi cấy in vitro trên thế giới cũng đã ghi nhận

một số loài thực vật nuôi cấy in vitro dưới điều

kiện tăng cường cường độ ánh sáng đã cải thiện

khả năng sống và phát triển của cây con khi đưa

ra điều kiện ex vitro (Lees, 1994) Các nghiên

cứu này đều sử dụng ánh sáng nhân tạo Tuy

nhiên, cũng có những nghiên cứu đã ghi nhận

ảnh hưởng của việc nuôi cấy in vitro bằng việc

tăng cường cường độ ánh sáng bằng nguồn ánh

sáng tự nhiên ở những cây nhiệt đới (chịu được

nhiệt độ nóng như Chuối, Dừa và Mía) (Kodym

và Zapata-Arias, 1999; Carlos Talavera và cs.,

2005) Đáng chú ý là công trình nghiên cứu của

nhóm tác giả Carlos Talavera và cộng sự khi so

sánh nuôi cấy cây Dừa (Cocos nucifera L cv.

Yellow Malayan Dwarf) dưới những điều kiệnánh sáng khác nhau (ánh sáng tự nhiên và ánh

sáng nhân tạo) Công trình này cho thấy cây in vitro được nuôi dưới điều kiện ánh sáng tự

nhiên có khác biệt rất có ý nghĩa như trọnglượng khô và phần trăm chất khô cao hơn, số lá

trên cây con in vitro lớn hơn so với nuôi dưới

điều kiện ánh sáng nhân tạo Trong thực tế, ởnhững khu vực khí hậu nhiệt đới hoặc Địa TrungHải, ta có thể thay thế nguồn chiếu sáng đènđiện bằng ánh sáng tự nhiên trong vi nhân giốngthực vật nhiệt đới Ở Cuba, bằng việc sử dụngánh sáng tự nhiên trong vi nhân giống thực vật

họ đã sản xuất ra hàng triệu cây giống Mía,Thông Caribe và Chuối mỗi năm (Ahloowalia

và Savangikar, 2002)

Ở Việt Nam cũng đã ghi nhận kết quảnhiều công trình nghiên cứu sử dụng ánh sáng tựnhiên để vi nhân giống thực vật đã cải thiệnđược phần nào những mặt còn hạn chế của kỹthuật vi nhân giống trong điều kiện phòng nuôinhư: tăng tỷ lệ sống và khả năng thích nghi của

cây con khi đưa ra điều kiện ex vitro, đặc biệt

làm giảm đáng kể chi phí điện năng trong quátrình vi nhân giống Các công trình đáng chú ý

là Nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng tự nhiên

trong vi nhân giống cây Lan Dendrobium (Nguyễn Thị Quỳnh và cs., 2005), Catlaya Phalaenopsis (Vũ Ngọc Phượng và cs., 2005), cây Khoai lang Ipomoea batatas L (Nguyễn My

Uyên và cs., 2005)

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùngnhiệt đới gió mùa, khí hậu mang tính chất cậnxích đạo, có lượng bức xạ dồi dào, trung bìnhkhoảng 140 kcal/cm2/năm; số giờ nắng trungbình là 6,8 giờ/ngày; nhiệt độ trung bình nămkhoảng 27,50C; biên độ nhiệt trung bình giữacác tháng trong năm thấp là những điều kiệnthuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển quanh

Trang 29

năm của thực vật (Bộ Khoa học và Công nghệ,

2007) Nếu sử dụng được nguồn năng lượng ánh

sáng mặt trời sạch và tiết kiệm này vào vi nhân

giống thực vật một cách hiệu quả thì rất có ý

nghĩa về mặt kinh tế và môi trường cho nông

nghiệp nước ta

Trong bài này chúng tôi trình bày một số

kết quả nghiên cứu sử dụng ánh sáng tự nhiên

trong nhân giống in vitro cây Hồ tiêu về những

khác biệt về mặt sinh lý của cây nuôi cấy dưới

nguồn ánh sáng mặt trời so với nuôi cấy bằng

nguồn ánh sáng nhân tạo thông dụng của đèn

huỳnh quang để có những hiểu biết thêm về ảnh

hưởng của các điều kiện vật lý (ánh sáng, nhiệt

độ, độ ẩm) lên sự sinh trưởng và phát triển của

cây Hồ tiêu trong điều kiện in vitro.

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Cây Hồ tiêu Piper nigrum L giống Vĩnh

Linh (Việt Nam) in vitro do Phòng Công nghệ

Tế bào thực Vật - Viện Sinh học Nhiệt đới cung

cấp Vật liệu cấy thí nghiệm ban đầu là chồi tái

sinh dài 1-1,5 cm, có một lá

Môi trường nuôi cấy là môi trường MS

(Murashige và Skoog, 1962): Saccharose (Cty

Đường Biên Hoà, Đồng Nai) 20 g/l; Maltose

(Sigma Chemical Co., Missouri, USA) 10 g/l;

Agar (Cty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long, Quảng

Ninh) 9 g/l; pH của môi trường trước khi khử

trùng là 5,9; Môi trường được khử trùng ở

121oC, áp suất 1 atm trong 20 phút

Cây con in vitro được nuôi dưới 2 điều

kiện nuôi cấy khác nhau, gồm: 1-Nuôi trong

phòng nuôi 8 tuần (TP): Nuôi hoàn toàn ở điều

kiện phòng nuôi với nguồn sáng nhân tạo là đèn

huỳnh quang, nhiệt độ và độ ẩm được kiểm soát

(standard culture room); 2-Nuôi trong phòng

nuôi 2 tuần và nuôi ngoài điều kiện tự nhiên 6

tuần (NP)

- Trong điều kiện xử lý 1 – TP: cây in vitro

được nuôi hoàn toàn trong điều kiện ánh sáng

trắng nhân tạo bằng đèn huỳnh quang, cường độ

ánh sáng trung bình 5000-5500 lux, thời gian

chiếu sáng 12giờ/ngày; nhiệt độ trung bình 26 ±

20C; độ ẩm 80% trong giai đoạn tối, và 40-60%trong giai đoạn sáng

- Trong điều kiện xử lý 2 – NP: cây in vitrođược nuôi cấy trong điều kiện ánh sáng nhân tạotrong 2 tuần đầu sau đó chuyển sang nuôi bằngánh sáng tự nhiên với các điều kiện được ghinhận, cường độ ánh sáng trung bình dao động 0– 11000lux (ngày - đêm); nhiệt độ dao động từ

25 – 390C (ngày – đêm); độ ẩm 95% (ban đêm)

- Sự thay đổi hàm lượng Chlorophyll ở môlá: theo phương pháp Arnon (Arnon,1949)

- Cây con in vitro hoàn chỉnh cao 5-7 cm,

có 5 lá nuôi cấy trong hai điều kiện trên đượcchuyển ra ngoài vườn ươm để khảo sát sự thíchnghi Cây được trồng trên giá thể ngoài vườnươm sau 4 tuần Các chỉ tiêu khảo sát gồm: tỷ lệsống; gia tăng chiều dài thân; gia tăng trọnglượng tươi; gia tăng trọng lượng khô

Số liệu thí nghiệm được phân tích thô bằngMicrosoft Office Excel, thống kê theo ANOVA

1 và được trắc nghiệm phân hạng LSD (LeastSignificant Difference Test) bằng phần mềmMSTATC, Đại học Michigan, Mỹ Sử dụngphần mềm Microsoft Office Excel 2003 vẽ đồthị cột biểu diễn các kết quả thống kê của cácchỉ tiêu nghiên cứu

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả khảo sát sự thay đổi của các chỉtiêu tăng trưởng trên cây Hồ tiêu in vitro ở haiđiều kiện nuôi cấy TP và NP (bảng 1) cho thấy

sự khác biệt có ý nghĩa ở các chỉ số chiều caocây, trọng lượng tươi, trọng lượng khô và phầntrăm chất khô Đây là các chỉ tiêu về hàm lượngcủa cây trong quá trình phát triển Ngược lại cácchỉ tiêu về số lượng như: số lá, số rễ không có

sự khác biệt của cây Hồ tiêu in vitro ở cả haiđiều kiện nuôi cấy Nhìn các biến đổi hình tháibên ngoài chúng tôi nhận thấy: cây nuôi trong

Trang 30

điều kiện TP phát triển mạnh hơn, lá có màu

xanh đậm hơn so với cây trong điều kiện NP

(hình 1) Có thể ở điều kiện TP với sự ổn định

về nhiệt độ thấp, cường độ và thời gian chiếu

sáng ổn định đã kích thích sự tăng trưởng mạnh

của cây Hồ tiêu in vitro và giảm thiểu những tác

động ức chế sự phát triển của cây do biến động

điều kiện nhiệt độ môi trường Ngược lại, cây

Hồ tiêu in vitro nuôi cấy dưới điều kiện NP

giảm sự tăng trưởng là do điều kiện ánh sáng

mặt trời không ổn định, với nhiều giờ chiếu sáng

hơn, cường độ ánh sáng cao hơn (trên 350C) vàtrong ánh sáng mặt trời có nhiều tia cực tím hơn

so với điều kiện TP Sự lùn có lẽ do nguồn ánhsáng nhiều tia cực tím từ mặt trời và nhiệt độcao kích thích sự quang oxid hóa auxin (hormongiúp kéo dài tế bào), sự phá hủy Giberelin(hormon thiết yếu cho sự kéo dài lóng), sự tănghàm lượng acid abcisic kích thích đóng khíkhổng khi cây thiếu nước (Bùi Trang Việt,2000)

Bảng 1: So sánh các chỉ tiêu tăng trưởng ở điều kiện nuôi cấy khác nhau

Khi khảo sát hàm lượng Chlorophyll ở mô

lá cây Hồ tiêu in vitro nuôi cấy ở hai điều kiện

khác nhau TP và NP, nhận thấy sự thay đổi hàm

lượng Chlorophyll tổng số không có sự khác

biệt về mặt thống kê Trong khi đó có sự khác

biệt rất có ý nghĩa về tỷ lệ Chlorophyll a/b ở mô

lá cây Hồ tiêu phát triển dưới điều kiện NP cao

hơn so với điều kiện TP Theo nghiên cứu của

Edward và cộng sự (1976), Edwards và Huber

(1981) ghi nhận tỷ lệ Chlorophyll a/b cao có liên

hệ với làm giảm hoạt động của phản ứng Hill

(phản ứng oxid hóa khử trong pha sáng của

quang hợp thực vật, sự quang giải nước) Điều

này dẫn đến sự chuyển điện tử bằng con đường

vòng sẽ cao hơn đường không vòng trong phảnứng pha sáng quang hợp, dẫn đến kết quả là tỷ lệATP/NADPH cao (Talavera và cs, 2005) Tỷ lệChlorophyll a/b cao cũng được ghi nhận là khảnăng thu nhận năng lượng từ phức hợpChlorophyll b giảm (Haisel và cs, 1999) Nhưvậy, ở cây Hồ tiêu in vitro phát triển dưới điềukiện NP, có thể nguồn sáng mặt trời có tia đỏnhiều hơn nên tỷ lệ Chlorophyll a/b trong mô lácao hơn ở điều kiện TP (nguồn sáng đèn huỳnhquang có tia xanh nhiều hơn) Điều này cũngphù hợp với những khảo sát các chỉ tiêu ảnhhưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của cây

Hồ tiêu in vitro

Trang 31

Hình 1: Hình thái cây Hồ tiêu sau 8 tuần nuôi cấy ở hai điều kiện khác nhau Bảng 2: Kết quả các chỉ tiêu sinh hóa (chlorophyll trong mô lá Hồ tiêu ở hai điều kiện nuôi cấy)

Chỉ tiêu theo dõi (Chlorophyll -theo trọng lượng tươi)

Điều kiện nuôi cấy ANOVA

Cây Hồ tiêu in vitro phát triển hoàn chỉnh,

chiều dài thân từ 4 - 5 cm, có 4 - 5 lá sau 8 tuần

nuôi cấy ở điều kiện TP và NP của thí nghiệm

được đưa ra trồng ngoài vườn ươm Sau 3 tuầnđược ghi nhận có sự gia tăng chỉ tiêu tăngtrưởng của cây ở mỗi nghiệm thức

Bảng 3: Ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy lên cây Hồ tiêu in vi tro sau 3 tuần trồng ngoài vườn ươm

Nghiệm thức

Chỉ tiêu đánh giá

Sự gia tăng số lá

Sự gia tăng số rễ

Sự gia tăng chiều dài rễ (cm)

Sự gia tăng chiều dài cây (cm)

Sự gia tăng trọng lượng tươi (g)

Sự gia tăng trọng lượng khô (g)

Sự gia tăng % chất khô

Trang 32

Như vậy, sau 3 tuần cây Hồ tiêu in vitro ở

điều kiện TP và NP được trồng ngoài vườn ươm,

thì sự gia tăng về số lá, số rễ, chiều dài thân,

trọng lượng khô và phần trăm chất khô của cây

ở điều kiện NP cao hơn, có ý nghĩa về mặt thống

kê so với cây ở điều kiện TP, chứng tỏ cây Hồ

tiêu in vitro-NP đã thích nghi nhanh hơn so với

cây ở điều kiện TP (hình 2) Điều này rất có ý

nghĩa đối với sự nhân giống in vitro cây Hồ tiêu

từ chồi tái sinh, làm tăng khả năng thích nghicủa cây khi đưa ra ngoài vườn ươm và giảm chiphí điện năng trong quá trình nuôi cấy Theotính toán cho thấy việc sử dụng ánh sáng tựnhiên trong vi nhân giống cây Hồ tiêu trong giaiđoạn vườn ươm đã giảm được ¾ lượng điệnnăng so với phương pháp thông thường sử dụng100% ánh sáng nhân tạo

Hình 2: Hình thái cây Hồ tiêu nuôi cấy ở hai điều kiện sau 6 tuần đưa ra trồng tại vườn ươm

IV KẾT LUẬN

Các điều kiện nuôi cấy in vitro khác nhau

đã dẫn đến những khác biệt nhỏ trong sự tăng

trưởng giữa các nghiệm thức nuôi cấy Cây Hồ

tiêu in vitro trong phòng nuôi (TP) có đường

kính thân lớn, chiều cao thấp, lá to và xanh đậm,

còn cây chịu điều kiện nuôi cấy tự nhiên (NP) có

biểu hiện ngược lại: thân cao, đường kính nhỏ,

lá nhỏ và xanh nhạt Đây có thể là ảnh hưởng

của nhiệt độ cao hơn là biểu hiện của sự thiếu

sáng

Cây Hồ tiêu in vitro từ chồi tái sinh được

nuôi cấy trong điều kiện NP đã thích nghi với

điều kiện vườn ươm cao hơn so với cây nuôi

hoàn toàn trong phòng thí nghiệm Việc sử dụng

ánh sáng tự nhiên trong vi nhân giống cây Hồ

tiêu in vitro thích hợp ở giai đoạn nuôi cấy trước

khi đưa ra ngoài vườn ươm và giảm chi phí điện

năng trong quá trình nuôi cấy

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ahloowalia B.S., Savangikar V.A (2002)

Low cost options for energy and labour.

Low Cost Options For Tissue Culture

Technology In Developing Countries IAEA,Vienna, pp: 41-46

2 Arnon D I (1949) Copper enzymes in isolated chloroplasts: polyphenoloxidase in Beta vulgaris Plant Physiol (24): 1-15.

3 Bộ Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam

(2007) Điều kiện tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh Bản Tin Trung Tâm Tin Học- Bộ

Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam

4 Bùi Trang Việt (2000) Sinh lý thực vật đại cương Phần II: Phát triển Nxb Đại học

Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh

5 Đoàn Thị Ai Thuyền, Thái Xuân Du, Đỗ

Đăng Giáp, Nguyễn Tăng Tôn (2005) Bước đầu nghiên cứu nhân giống in vitro một số giống Hồ tiêu (Piper nigrum L.) sạch virút.

Tạp chí Sinh học, 27(3): 39-45

6 Edwards G.H., and Huber S.C (1981) The

C 4 pathway In “The Biochemistry of Plants,

Trang 33

in vitro grown tobaco plants as affected by

CO 2 sypply Biologia Plantarum, 42(3):

463-68

8 Kodym A., Hollenthoner S and

Zapata-Arias F.J (2001) Cost reduction in the

micropropagation of banana by using

tubular skylights as source for natural

lighting In vitro Cell Dev Biol.-Plant, 37:

237-242

9 Murashige T., Skoog F (1962) A revised

medium for rapid growth and bioassay with

tobacco tissue cultures Phsiol Plant, (15):

473-497

10 Warrington I.J., Mitchell K.J (1976) The

influence of blue and red-biased light

spectra on the growth anh development of

plant Plant physiology Division.

Plant cell, issue and Organ Culture (83):287-292

STUDYING MICROPROPAGATION OF PEPPER (Piper nigrum L) UNDER GLASSHOUSE CONDITIONS WITH NATURAL LIGHT

Do Dang Giap 1 , Thai Xuan Du 1 , Duong Duc Hieu 1 , Ngo Xuan Quang 1

ABSTRACT: Plantlets of pepper (Piper nigrum L.) were cultured in vitro under two different

conditions including a standard culture room and a standard glasshouse with natural light (natural fluctuations of temperature) Plantlets from two treatments were compared in terms of growth, plant survival at the end of the in vitro stage and at the ex vitro acclimatization After 8 weeks of ex vitro acclimatization, plants orginally grow in vitro under glasshouse conditions maintained better field survival and growth rates than plantlets orginally grown invitro in the standard culture room.

Keywords: Micropropagation; Natural light; Pepper; Piper nigrum L.

Institute of Tropical Biology, Ho Chi Minh city-Vietnam

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VACXIN PHÒNG BỆNH SƯNG PHÙ ĐẦU LỢN TẠI TỈNH HÀ TÂY CŨ

Lê Công Hùng 1

1 ThS-Trường Cao đẳng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bắc Bộ

TÓM TẮT: Vacxin cần được tiêm 2 lần, lần đầu trước khi cai sữa 1 tuần và lần tiếp theo khi cai sữa Do

vậy, hệ thống miến dịch của lợn có đủ thời gian để kích thích sinh kháng thể với mức độ đủ cao trong máu nhằm đảm bảo lợn có khả năng chống lại bệnh sưng phù đầu Hàm lượng kháng thể trong máu được duy trì ở ngưỡng có thể bảo vệ (> 1/20) và tồn tại trong vòng 6 tháng sau khi tiêm Bởi vậy, trong chu kỳ lợn nuôi lấy thịt chỉ cần 2 lần tiêm vacxin.

Keywords: Vacxin; Phòng chống bệnh phù đầu; Lợn,hệ miễn dịch; Kháng thể

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay đã có một số vacxin thương

phẩm trên thế giới có thể dùng để phòng bệnh

sưng phù đầu ở lợn con nhưng giá thành quá

cao, không phù hợp với hình thức chăn nuôi

nông hộ ở tỉnh Hà Tây cũ Các vacxin trong

nước đang còn ở giai đoạn nghiên cứu phát triển

và hiện vẫn chưa có 1 loại vacxin phòng bệnhphù đầu cho lợn trong toàn quốc

Gần đây, một loại vacxin phòng bệnh phùđầu chung cho lợn trong cả nước do Bộ môn Vitrùng, Viện Thú Y chế tạo đã được đưa vào thử

Trang 34

nghiệm tại một số trại chăn nuôi lợn thuộc tỉnh

Hà Tây, nhưng cho đến thời điểm này, vẫn chưa

có 1 nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ về hiệu lực

của vacxin đối với việc phòng bệnh phù đầu của

lợn tại địa phương này Xuất phát từ tình hình

đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đánh

giá hiệu quả sử dụng vacxin phòng bệnh sưng

phù đầu lợn con tại Hà Tây” Bài viết này giới

thiệu kết quả đạt được trong đánh giá hiệu giá

kháng thể trong máu của lợn khi sử dụng vacxin

của Viện Thú Y phòng bệnh sưng phù đầu

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP N/CỨU

Chúng tôi đã sử dụng phương pháp xác

định hàm lượng kháng thể trong máu của lợn

bằng phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu

theo quy trình của JICA chuyển giao cho Viện

Thú Y trong nghiên cứu này,

sử dụng để chế vacxin được nuôi cấy trên môi

trường thạch máu ở 37oC qua đêm và tiến hành

xử lý ở 100oC trong vòng 1 giờ Hỗn hợp các

chủng vi khuẩn được tiến hành trộn lẫn với nhau

theo các tỷ lệ tương đương và hòa trở lại vào

dung dịch PBS vô trùng theo tỷ lệ cứ 1 đĩa thạch

máu với 2-4 ml dung dịch PBS

- Hồng cầu cừu được lấy trong ngày trongdung dịch có chứa chất chống đông Alsever, lytâm ở 2500 rpm trong 10 phút và tiến hành rửa 3lần bằng dung dịch PBS (pH=7.2) Sau lần rửacuối cùng, hồng cầu cừu đã được pha loãng 25%

và được tiến hành trộn với 1 thể tích tươngđương dung dịch Glutaraldehyde 1% Lắc nhẹ ở

4oC trong vòng 30 phút

- Kháng nguyên và hồng cầu cừu 10% đãqua xử lý được trộn với nhau theo 1 thể tíchtương đương Ủ ở tủ ấm 37 oC trong 1,5-2 giờ

- Huyết thanh lợn: Pha loãng ở nồng độ1/10

2 Phương pháp tiến hành phản ứng

- Phản ứng được thực hiện trên đĩa nhựa

96 lỗ, đáy tròn

- Cách tiến hành như sau:

+ Cho vào tất cả các giếng 25 µl dung dịchPBS

+ Nhỏ 25 µl huyết thanh đã được phaloãng ở nồng độ 1/10 vào giếng thứ 1, trộn đều.Chuyển 25 µl từ giếng thứ 1 sang giếng 2 và cứlàm như vậy đến giếng thứ 7 thì bỏ đi 25 µl Độpha loãng huyết thanh của các giếng sẽ lần lượt

là 1/20, 1/40, 1/80, 1/1280 Riêng giếng cuốicùng chỉ có dung dịch PBS và không có huyếtthanh, dùng để làm đối chứng

+ Cuối cùng, nhỏ vào tất cả các giếng 25

µl hỗn hợp kháng nguyên-hồng cầu cừu Lắcnhẹ Để yên tĩnh ở nhiệt độ phòng Sau 30 phút,

đọc kết quả lần 1 và đọc lại lần 2 sau 4 giờ Bảng 1: Kết quả thí nghiệm các loại vacxin trên các đối tượng giống khác nhau

+ Phản ứng dương tính: hồng cầu dàn đều

ở dưới đáy giếng như hình chiếc ô lộn ngược,

chứng tỏ kháng nguyên và kháng thể là tươngứng với nhau nên đã làm ngưng kết hồng cầu

Trang 35

+ Phản ứng âm tính: Hồng cầu lắng xuống

đáy thành cục tròn đỏ, chứng tỏ kháng thể không

tương ứng với kháng nguyên

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Các lợn đồng đều về độ tuổi (14 ngày tuổi)được chia làm 2 lô: Lô tiêm vacxin (thí nghiệm)gồm 46 lợn, và lô không tiêm vacxin (đốichứng) gồm 20 lợn Mọi quy trình chăm sóc,nuôi dưỡng và phòng bệnh khác được tiến hànhđồng đều giữa các lô

Bảng 2: Lịch tiêm vacxin và lấy mẫu các lợn thuộc lô tiêm vacxin và đối chứng

Tuổi của lợn

Lô tiêm vacxin (n=46) Lô đối chứng (n=20)

Lấy mẫu máu Tiêm vacxin Thời điểm kể từ khi tiêm Lấy mẫu máu

Tất cả các mẫu máu sau khi lấy được tiến

hành ly tâm, chắt lấy huyết thanh và thực hiện

phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu (IHA) để

xác định hàm lượng kháng thể tồn tại trong máucủa các lợn

Bảng 3 Hiệu giá kháng thể trong huyết thanh lợn ở lô thí nghiệm và đối chứng

Lô sau khi tiêm Thời điểm

vacxin

Số mẫu HT

Qua kết quả kiểm tra các mẫu huyết thanh

của lợn ở lô thí nghiệm và đối chứng cho thấy:

* Lô thí nghiệm (tiêm vacxin):

Trang 36

+ Trước khi tiêm vacxin (ngày 0): tất cả

46 lợn đều có kết quả kháng thể âm tính với

kháng nguyên toàn khuẩn chết là các chủng vi

khuẩn đã dùng để chế vacxin

+ Đến ngày thứ 7 sau khi tiêm vacxin mũi

1 và trước khi tiêm mũi 2: hiệu giá kháng thể

trong máu của các lợn đã bắt đầu xuất hiện mặc

dù chưa cao Cụ thể: có 18 lợn (39,16%) đạt

hiệu giá kháng thể 1/10, 22 lợn (47,83%) đạt

hiệu giá 1/20 và chỉ có 6 lợn (13,04%) đạt hiệu

giá 1/40

+ 1 tháng sau khi tiêm vacxin mũi 2: Hiệu

giá kháng thể trong máu các mẫu đã tăng lên rõ

rệt Cụ thể: có tới 18 lợn (39,16%) đạt hiệu giá

1/160, 19 lợn (41,30%) đạt hiệu giá 1/320, và 5

lợn (10,87%) đạt tới hiệu giá 1/640

+ Tại các thời điểm kiểm tra 2 tháng và 3

tháng sau khi tiêm vacxin mũi 2: hàm lượng

kháng thể trong máu của lợn vẫn tiếp tục duy trì

được ở các nồng độ cao và tập trung chủ yếu

vào các hiệu giá 1/160 và 1/320

+ Tuy nhiên, đến thời điểm 4 tháng và 5tháng sau khi tiêm mũi 2, hiệu giá kháng thểtrong máu của lợn có sự giảm đi rõ rệt: Với đa

số các mẫu cho hiệu giá ở mức 1/80, cụ thể là22/46 lợn (chiếm tỷ lệ 47,8%) ở tháng thứ 4 và20/46 lợn (chiếm tỷ lệ 43,48%) ở tháng thứ 5 cóhiệu giá kháng thể ở mức 1/80

+ Đến tháng thứ 6 sau khi tiêm vacxin: cáchiệu giá kháng thể đều giảm xuống tới mức thấpnhất với 32/46 lợn (chiếm 69,57%) có hiệu giá1/20, tức là chỉ vừa đủ ở ngưỡng bảo hộ

* Trong khi đó, ở lô đối chứng: các mẫuhuyết thanh của các lợn được kiểm tra ở cácngày 0 và 1 tháng (tính theo ngày tiêm vacxincủa lô thí nghiệm) thì đều cho các kết quả khángthể âm tính

Sự phân bố hàm lượng kháng thể tại cácthời điểm khác nhau giữa lô thí nghiệm và lô đốichứng được minh họa thêm tại biểu đồ sau:

Hình 1: Đồ thị phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh lợn tại lô thí nghiệm và đối chứng

IV KẾT LUẬN

- Vacxin thử nghiệm có khả năng tạo miễn

dịch phòng hộ và bảo vệ cho lợn rất sớm Theo

một số nghiên cứu trước đây tại Bộ môn Vi

trùng - Viện Thú Y thì khi hiệu giá kháng thể

trong máu của lợn đạt 1/20 là lợn đã có khả năng

bảo hộ, kháng lại bệnh phù đầu do E coli gây

ra Trong nghiên cứu này, ngoại trừ 18 mẫu

(chiếm tỷ lệ 39%) được xác định hiệu giá kháng

thể đạt 1/10 ở thời điểm sau khi tiêm vacxin mũi

1 được 7 ngày và trước khi tiêm vacxin mũi 2,còn lại tất cả các mẫu được xác định ở các thờiđiểm sau đó, thậm chí cả sau khi tiêm 6 tháng,vẫn có giá trị bảo hộ đối với lợn được tiêmvacxin

- Vacxin nên được tiến hành tiêm 2 mũicho lợn: mũi 1 vào thời điểm trước khi cai sữa 1tuần và mũi 2 vào thời điểm cai sữa để hệ thống

Trang 37

miễn dịch của cơ thể lợn có thời gian kích thích

sinh ra đủ lượng kháng thể đảm bảo cho lợn có

khả năng phòng hộ, chống lại bệnh tật trong thời

gian sau đó

- Hàm lượng kháng thể trong máu luôn

được duy trì tới ngưỡng đủ khả năng bảo hộ

(>1/20) và kéo dài tới 6 tháng sau khi tiêm, vì

vậy trong 1 đời lợn chỉ cần tiêm vacxin 2 lần

vào các thời điểm nêu trên là phù hợp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Thanh Nghị, Nguyễn Văn Quang, Cù Hữu

Phú (2005) “Nghiên cứu một số đặc điểm

dịch tễ học của bệnh phù đầu ở lợn con từ 21

ngày tuổi đến 90 ngày tuổi tại huyện Sóc

Sơn-Hà Nội và biện pháp phòng trị” Luận

văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp, Thái

Nguyên, tr 63 - 64

2 Nguyễn Khả Ngự (2000) “Xác định các yếu

tố gây bệnh của E coli trong bệnh phù đầu

lợn con ở Đồng bằng sông Cửu Long, chế

vacxin phòng bệnh” Luận án Tiến sĩ Nông

Báo các khoa học chăn nuôi thú y, nhà xuất

bản Nông Nghiệp, Hà Nội 2004, tr 123 - 136

4 Alexa P., Salajka E., Salajkova Z., Machova

A (1995) “Combined parenteral and oralimmunization against enterotoxigenicEscherichia coli diarrhly in weaned piglets”.Vet Med (Praha) (40), pp 365- 370

5 Bertschinger H U., Nief V., Tschape H.(2000) “Active oral immunization ofsuckling piglets to prevent colonization afterweaning by enterotoxigenic Escherichia coliwith fimbriae F18” Vet Microbiol (71), pp.255- 267

6 Bosworth B T., Samuel J E., Moon H W.,Brien A D., Gordan V W., Whip S C.(1996) “Vaccination with geneticallymodified Shiga-like toxin IIe prevents edemadisease in swine” Infect Immun (64), pp.55- 60

7 Gordon V M., Whipp S C., Moon H W.,O'Brien A D., Samuel J E (1992) “Anenzymatic mutant of Shiga-like toxin IIvariant is a vaccine candidate for edemadisease of swine” Infect Immun (60), pp.485- 490

8 MacLeod, D L., and Gyles, C L (1991)

“Immunization of pigs with a purifiedShigalike toxin II variant toxoid”, VetMicrobiol 29, pp 309 –318

RESEARCH ASSESSMENT EFFECT USE VACCINE PREVENTIVE EDEMA DISEASE FOR BIGLET IN HA TAY

Le Cong Hung 1 SUMMARY: Vaccine should be injected 2 times The first time should be at before weaning for 1 week

and second time at the time of weaning So that, the immune system of pigs can have enough time to stimulate the production of antibody in blood high enough ensuring that pigs are capable to protect against the disease Antibody content in the blood are maintained to the threshold (>1/20) and last for 6 months after injection Therefore, during a life cycle of a pigs raising in a farm just need to be injected vaccine for2 times only.

Keywords: Vaccine; Preventive Edema disease; Pigs; Immune system; Antibody

The Northern Vietnam college of Agriculture and Rural Development- Xuan Mai-Ha Noi, Vietnam

Trang 38

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TRỒNG XEN CÂY MẠCH MÔN (Ophiopogon

Japonicus Wall) ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY CHÈ THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN

TẠI TỈNH SƠN LA

Nguyễn Thế Hinh, Nguyễn Đình Vinh

TÓM TẮT: Nghiên cứu ảnh hưởng của trồng xen cây Mạch môn (Ophiopogon japonicus Wall) đến sinh

trưởng của cây Chè trong thời kỳ kiến thiết cơ bản tại xã Chiềng Ban huyện Mai Sơn - Sơn La Kết quả bước đầu cho thấy trồng xen cây Mạch môn với cây Chè non không làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Chè, mà ngược lại còn có tác dụng làm tăng độ ẩm đất, chống xói mòn cho đất và tăng sinh trưởng của cây Chè trong giai đoạn kiến thiết cơ bản.

Từ khóa: Chè; Trồng xen; Mạch môn; sinh trưởng; kiến thiết cơ bản

I TỔNG QUAN

Trồng xen được xem như là một trong

những biện pháp kỹ thuật để sử dụng đất đai một

cách có hiệu quả Kỹ thuật trồng xen phù hợp sẽ

cho phép nông dân thu được nhiều sản phẩm

nhất trên diện tích đất của mình, đồng thời vẫn

duy trì được độ phì nhiêu của đất, chống xói

mòn và rửa trôi đất trên những vùng đất dốc,

hạn chế sâu bệnh và cỏ dại Bên cạnh mục tiêu

tăng thu nhập, trồng xen còn có ý nghĩa về môi

trường như giúp tăng độ che phủ đất, bảo vệ môi

trường sinh thái của vùng, cải tạo đất và góp

phần sản xuất nông nghiệp bền vững Nghiên

cứu các biện pháp canh tác trồng xen phù hợp

giữa các cây trồng và các vùng sinh thái khác

nhau có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với

những nước có nhiều đồi núi như ở nước ta

Từ trước đến nay, đã có rất nhiều nghiên

cứu trong nước và ngoài nước về phương thức

trồng xen nhằm xây dựng những mô hình canh

tác phù hợp cho các tổ hợp hai hay nhiều loại

cây trồng khác nhau trên từng vùng sinh thái

nhất định Trên thế giới có nhiều tác giả đã

nghiên cứu về các hệ thống cây trồng xen khác

nhau Andereas Neef (2007), Willey (1979),

Huxley và Maigu (1978), Trenbath (1979),

Ghafarzadeh (1994), Heichen (1987), Paera

(1989), Tonhasca, Stiner (1991), Weil (1991),

Seok Dong Kim (1993),… Tại Việt Nam cũng

đã có nhiều công trình nghiên cứu về các hệ

thống trồng xen cho nhiều loại cây trồng khác

nhau, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu

các hệ thống cây trồng xen trên đất dốc và hệ

thống trồng xen với các loại cây công nghiệp,

cây ăn quả lâu năm như Dương Hồng Hiên

(1962), Bùi Quang Toản (1968), Nguyễn HữuQuán (1984), Lê Văn Trịnh, Hà Minh Trung(1993, Hoàng Thị Lương (1995), Nguyễn CôngVinh, Thái Phiên (1997), Phạm Văn Hiền(1998), Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh (2001),Trịnh Phương Loan, Hoàng Văn Tất, Đào HuyChiên và cộng sự (2001), Huỳnh Văn Khiết(2003)

Sơn La là tỉnh miền núi, nơi có diện tíchđất dốc chiếm phần lớn diện tích tự nhiên Nôngdân của tỉnh Sơn La đã sử dụng một diện tíchkhá lớn đất dốc để trồng Chè (ví dụ tại huyệnMộc Châu, Mai Sơn, Bắc Yên) Vì vậy, nghiêncứu nhằm lựa chọn hệ thống cây trồng xen chephủ đất phù hợp trên các diện tích canh tác củangười dân là rất cần thiết Xác định được hệthống cây trồng xen che phủ đất cho các loại câytrồng chính sẽ góp phần tăng thu nhập cho nôngdân, chống xói mòn và rửa trôi đất, tăng tínhhiệu quả sử dụng đất, góp phần tăng độ phì chođất và giảm phân bón

Cây Mạch môn (Ophiopogon japonicus) là

loại cây bản địa có ý nghĩa kinh tế do củ Mạchmôn được sử dụng làm thuốc Đông y chữa cácbệnh về đường hô hấp, tim mạch, giải độc, giảikhát và chữa bệnh tiểu đường v.v, lá cây Mạchmôn có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc.Cây Mạch môn có khả năng thích nghi cao vớiđiều kiện khô hạn, có bóng râm, dễ trồng, … Vìvậy, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu về trồngxen cây Mạch môn trong vườn Chè kiến thiết cơbản Các kết quả nghiên cứu thu được cũng cóthể làm cơ sở cho các huyện khác trong tỉnh Sơn

La hay các tỉnh có điều kiện tự nhiên, kinh tế xãhội tương tự tỉnh Sơn La lựa chọn để áp dụng

Trang 39

II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Là hai loại cây trồng xen với cây Chè: (i)

trồng xen giữa cây Mạch môn và cây Chè trong

thời kỳ kiến thiết cơ bản và (ii) trồng xen giữa

cây cỏ GhineGhine TD 58 và cây Chè trong thời

kỳ kiến thiết cơ bản

2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Xã Chiềng Ban huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn

La Đây là xã đại diện cho vùng về điều kiện tự

nhiên, kinh tế xã hội và mức độ đa dạng của các

loại cây trồng

Thời gian thực hiện nghiên cứu 3 năm, từ

năm 2006 đến 2008

3 Phương pháp nghiên cứu

Là các phương pháp nghiên cứu thông

thường Sự khác biệt là việc sử dụng các đối

tượng nghiên cứu là các loại cây thức ăn gia súc,

cây làm thuốc đa mục đích để trồng xen trong

vườn chè Các đối tượng nghiên cứu này trướcđây còn chưa được nghiên cứu hay công bố ởViệt Nam

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Để nghiên cứu ảnh hưởng của cây trồngxen đến sinh trưởng phát triển của cây Chè kiếnthiết cơ bản (giống chè Shan Tham Vè 1-3 tuổi),

có 3 công thức thí nghiệm trồng xen như sau:

o Công thức 1: Không trồng xen,

15 m2 với 3 công thức thí nghiệm là CT1, CT2

và CT3

Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinhtrưởng của cây Chè được trình bày tại bảng 1

Bảng 1 Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Chè

8 tháng 24 tháng 8 tháng 24 tháng 8 tháng 24 tháng

3 Số cành cấp 1 trên cây

(cành/cây)

Qua kết quả trình bày tại bảng 1 cho thấy:

Các công thức trồng xen cỏ Ghine có ảnh hưởng

xấu đến sinh trưởng của cây Chè non, thể hiện ở

các chỉ tiêu về chiều cao cây, số cành cấp 1 và

đường kính thân Trồng xen cỏ Mạch môn

không có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của

cây Chè Nguyên nhân chính là do cỏ Ghine có

chiều cao cây lớn, số nhánh đẻ nhiều nên đã chelấp ánh sáng của Chè làm cho Chè sinh trưởngchậm, khả năng phân cành kém

Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng của cây

cỏ Ghine và cây Mạch môn được trình bày tạibảng 2

Bảng 2 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cỏ Ghine và Mạch môn trồng xen chè sau trồng 12 tháng

TT Chỉ tiêu theo dõi Cỏ Ghine CT2 Cỏ Mạch môn CT3

Trang 40

Kết quả trình bày tại bảng 2 cho thấy, hai

loại cây trồng xen trong vườn Chè đều có khả

năng sinh trưởng phát triển tốt, che phủ đất tốt,

góp phần chống xói mòn, chống hạn và che bớt

một phần ánh sáng để cây Chè sinh trưởng thuận

lợi Trong đó cây cỏ Ghine có chiều cao cây lớn,

độ che phủ lớn và cho sinh khối để làm thức ăn

cho gia súc hay làm nguồn hữu cơ cải tạo đất

lớn Tuy nhiên với độ che phủ dày nên cỏ Ghine

có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây Chè

non Cây cỏ Mạch môn có chiều cao cây thấp,

độ che phủ rộng nên vừa có các tác dụng như cỏGhine mà không tranh chấp ánh sáng với câytrồng chính nên ít có ảnh hưởng đến sinh trưởngcủa Chè con

Để đánh giá ảnh hưởng của cây che phủđất đến độ ẩm đất trồng chè chúng tôi đã tiếnhành đo độ ẩm đất ở các tháng mùa khô năm

2007 và đầu năm 2008 Kết quả được trình bàytại bảng 3

Bảng 3 Độ ẩm đất của các công thức thí nghiệm % độ ẩm tối đa đồng ruộng

Qua kết quả bảng 3 cho thấy các công thức

có trồng xen cỏ Ghine và cỏ Mạch môn đều có

độ ẩm đất cao hơn công thức 1 (không trồng

xen), chênh lệch độ ẩm vào các tháng cuối mùa

khô giữa các công thức lớn hơn Công thức

trồng cỏ Mạch môn có độ ẩm đất cao nhất

IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1 Kết luận

Các công thức trồng xen cây cỏ Ghine và

cỏ Mạch môn trong vườn chè non có khả năng

tăng độ che phủ bề mặt đất làm tăng độ ẩm đất

giúp cho cây Chè sinh trưởng phát triển tốt

Ngoài ra phần thân lá của cây cỏ Ghine có thể

sử dụng làm thức ăn gia súc và tạo nguồn hữu

cơ để cải tạo đất Tuy nhiên do sinh trưởng của

cây cỏ Ghine nhanh hơn Chè nên tranh chấp ánh

sáng của Chè, làm ảnh hưởng xấu đến sinh

trưởng của cây trồng chính

2 Đề nghị

Tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của trồng

xen cây cỏ Mạch môn đến sinh trưởng, phát tiển

của cây Chè, nghiên cứu hệ sinh vật gây hại

chính (sâu bệnh và cỏ dại) cũng như các loài

thiên địch trên cây Chè để có thể xây dựng một

mô hình hoàn chỉnh về biện pháp canh tác trồng

xen cây Mạch môn trong vườn chè để áp dụngvào sản xuất quy mô lớn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Andreas Neef, (2007); Participatoryapproaches for Suistainable land use inSoutheast Asia, White Lotus Press, Bangkok

2 Chương trình hợp tác Kỹ Thuật Việt Đức.Phương án kỹ thuật cho phát triển nương rẫytrong vùng đầu nguồn sông Đà và các tiêu chuẩncho tính bền vững”, Tài liệu làm việc số 2 củachương trình hợp tác kỹ thuật Việt Nam - Đức

3 Lê Trọng Cúc, Chu Hữu Quý (2002) Pháttriển nông nghiệp bền vững miền núi Việt Nam

10 năm nhìn lại và những vấn đề đặt ra, NhàXuất bản Nông nghiệp

4 Lê Đình Định Cây phân xanh ở đất Phủ Quỳ

- Nghệ An, Trung tâm nghiên cứu cây ăn quảPhủ Quỳ

5 Nguyễn Hữu Hồng (1994) Các quá trình cơbản làm giảm suy thoái đất dốc ở Bắc Thái, biệnpháp canh tác, bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu.Hội thảo quốc gia sử dụng đất lần 2, 9/1994

6 Huỳnh Văn Khiết (2003) Nghiên cứu một sốcây trồng xen và che phủ đất cho vườn cao sukiến thiết cơ bản tại Daklak, luận án tiến sĩ nôngnghiệp ĐHNNHN

Ngày đăng: 11/09/2015, 11:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Tỉ lệ mất những biến động cộng tính theo kích thước quần thể và số thế hệ (Pliura, 2003:5) - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Hình 2 Tỉ lệ mất những biến động cộng tính theo kích thước quần thể và số thế hệ (Pliura, 2003:5) (Trang 3)
Hình 1: Những đặc tính thích nghi khác nhau và tính khác biệt di truyền của loài - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Hình 1 Những đặc tính thích nghi khác nhau và tính khác biệt di truyền của loài (Trang 3)
Bảng 7. So sánh hiệu quả sản xuất Ngô, đậu Tương - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Bảng 7. So sánh hiệu quả sản xuất Ngô, đậu Tương (Trang 12)
Bảng 3. Đa hình về phân đoạn DNA được nhân bản của 10 mồi ngẫu nhiên - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Bảng 3. Đa hình về phân đoạn DNA được nhân bản của 10 mồi ngẫu nhiên (Trang 18)
Hình 3. Hình ảnh điện di sản phẩm PCR-RAPD của 5 mẫu Dẻ với mồi DTN1 và OPM5 - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Hình 3. Hình ảnh điện di sản phẩm PCR-RAPD của 5 mẫu Dẻ với mồi DTN1 và OPM5 (Trang 21)
Bảng 1: So sánh các chỉ tiêu tăng trưởng ở điều kiện nuôi cấy khác nhau - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Bảng 1 So sánh các chỉ tiêu tăng trưởng ở điều kiện nuôi cấy khác nhau (Trang 30)
Hình 1: Đồ thị phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh lợn tại lô thí nghiệm và đối chứng - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Hình 1 Đồ thị phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh lợn tại lô thí nghiệm và đối chứng (Trang 36)
Hình 3: Tỷ lệ phần trăm các họ của quần xã Tuyến Trùng tại khu vực biển Tây Nam - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Hình 3 Tỷ lệ phần trăm các họ của quần xã Tuyến Trùng tại khu vực biển Tây Nam (Trang 49)
Hình 4: Mật độ Tuyến Trùng tại khu vực biển Tây Nam 4.2 Cấu trúc giới tính - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Hình 4 Mật độ Tuyến Trùng tại khu vực biển Tây Nam 4.2 Cấu trúc giới tính (Trang 50)
Bảng 2: Chỉ số đa dạng Margalef (d) và Shanon-weiner(H’) - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Bảng 2 Chỉ số đa dạng Margalef (d) và Shanon-weiner(H’) (Trang 50)
Bảng 5. Khả năng kết hợp riêng của dòng và cây thử - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Bảng 5. Khả năng kết hợp riêng của dòng và cây thử (Trang 64)
Bảng 1. Phân bố các Taxon trong các ngành thực vật ở khu vực núi Bồ Um - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Bảng 1. Phân bố các Taxon trong các ngành thực vật ở khu vực núi Bồ Um (Trang 70)
Bảng 2. Số lượng loài ở khu vực núi Bồ Um trong các yếu tố địa lý - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Bảng 2. Số lượng loài ở khu vực núi Bồ Um trong các yếu tố địa lý (Trang 71)
Bảng 1: Sinh trưởng thông Caribê trên một số dạng lập địa  ở Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Bảng 1 Sinh trưởng thông Caribê trên một số dạng lập địa ở Việt Nam (Trang 78)
Bảng 2: Tổng hợp kết quả sinh trưởng rừng trồng thông Caribê trên 5 tỉnh - Tạp chí Kinh tế Sinh thái số 30
Bảng 2 Tổng hợp kết quả sinh trưởng rừng trồng thông Caribê trên 5 tỉnh (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w