Mác đã phân tích vai trò của Nhà nước trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của nó từ N hà nước cổ Hy Lạp Aten, Nhà nước La Mã và nhiều quốc gia khác.Những luận điểm về vai trò của Nhà
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC M ỏ HÀ NỘI■ ■ ■ ■
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Xin chào các anh/chị học viên!
Giáo dục m ờ và từ xa là nhiệm vụ trọng tâm của Viện Đại học Mở Hà Nội Do tính đặc thù cùa loại hình đào tạo, Nhà truờng đã biên soạn học liệu theo chuẩn của các nước trong khu vực ASEAN, tạo điều kiện thuận lợi cho người học lĩnh hội tri thức và phát triển kỹ năng Giáo trinh “N hà nước và Pháp luật” do tập thể tác giả biên soạn, đó là:
- GS.TS Nguyễn Văn Thảo
Giáo trình gồm 15 chương, được biên soạn công phu, trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về lý luận và thực tiễn về nhà nước và pháp luật Sau khi học xong m ôn học này anh/chị sẽ vững vàng và tự tin hơn trong công tác và cuộc sống, thực hiện tốt phương châm “Sống và làm việc theo pháp luật”
Chúc các anh/chị học tập tốt!
BAN BIÊN TẬP
Trang 6C H Ư Ơ N G l
HỌC THUYẾT MÁC - LÊNIN
VÊ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Xin chào anh/chị học viên
Rất hân hạnh được gặp anh/chị trong chương I môn Nhà nước và Pháp luật.Môn học này được giảng dạy tại các trường Đại học trong cà nước theo Quy chế chung cùa Bộ giáo dục và Đào tạo
Mở đầu là chương I, trinh bày học thuyết Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật
Học thuyết Mác - Lênin về Nhà nước được Mác (1818 - 1830) và Ăngghen (1820 - 1895) viết trong nhiều tác phẩm, chù yếu viết trong duy vật lịch sừ (Triết học) Cả ba bộ phận cùa Học thuyết Mác - Lênin (Triết học, Kinh
tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học) đều có đề cập ít nhiều đến vấn
đề nhà nước nhưng được trình bày nhiều hơn ờ phần Duy vật lịch sử (Triết học)
về nguồn gốc bàn chất, chức năng nhà nước
Khi còn sống Mác đang viết bàn thào về Nhà nước nhưng chưa viết xong thì ông qua đời Ăngghen đã tiếp thu và cuốn sách ra đời với tên gọi "Nguồn gốc sở hữu nguồn gốc gia đình, nguồn gốc nhà nước"
Cuốn sách đã được dịch sang tiếng Việt từ hơn ba thập ký được đánh giá
•cao về nền tảng tư tường, tư duy lý luận và phương pháp luận nghiên cứu lịch
sừ Nhà nước
Lênin (1870 - 1924) người tiếp tục sự nghiệp cùa Mác - Ãngghen dựa vào điều kiện lịch sử cụ thể của thời ki đó đã bổ sung, phát triển học thuyết của Mác - Ảngghen về triết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học.Với thực tiễn phong phú của Cách mạng Tháng mười và Nhà nước Xô Viết đầu tiên trong lịch sử, các tác phẩm cùa Lênin tập trung nhiều vào luận điểm về cách mạng xã hội chủ nghĩa, về nhà nước và chuyên chính vô sàn về nhiệm vụ chính trị trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội
Nói riêng về nhà nước, về lịch sừ tư tường chính trị pháp lý học thuyết Lênin về nhà nước đã đưa ra nhiều luận điểm có tính khoa học và thực tiễn cao những giải đáp đúng đắn cho nhiều câu hòi mà nhiều học giả trước đã trà lời vẫn chưa thấu đáo, còn nhiều tranh cãi
Trang 7Năm 1917, tác phẩm Nhà nước và Cách mạng cùa Lênin ra đời trình bày
có hệ thống, đầy đủ về vấn đề nhà nước, nguồn gốc nhà nước, những tiền đề hình thành nhà nước ban đầu trong lịch sứ loài người, sự phát triển các nhà nước với nhiều hình thức khác nhau, vai trò, vị trí cùa nhà nước trong xã hội được ấn định khác nhau trong mỗi quốc gia, vào những thời điểm lịch sử phát triên của mỗi giai đoạn
v ề sau này, học thuyết Mác - Ảngghen - Lênin về nhà nước và pháp luật được nghiên cứu rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới cả những nước có nền kinh
tế phát triển như Pháp Anh, Thụy Điển, Đức Hệ thống các nước xã hội chú nghĩa trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tác phẩm được xuất bản nhiều giáo trình cùa các trường Đại học, Học viện các nước đã được viết
đề giảng dạy cho sinh viên Đó là những luận điểm về:
• N hà nước và pháp luật là sản phẩm của xã hội loài người đã phân chia thành các giai cấp
• Nhà nước là một giai cấp được tổ chức thành giai cấp thống trị Nhà nước là công cụ thống trị cùa giai cấp này đối với giai cấp khác Trong tác phâm "Nguồn gốc cùa gia đình, của chế độ tư hữu và cùa Nhà nước", và trong tác phẩm "Chống Đuy-ring" đều cho rằng Nhà nước xuất hiện từ sự cần thiết đối với một xã hội đã phân chia giai cấp, phải xử lý các mối quan hệ giữa các lực lượng đối chọi nhau trong xã hội Nhà nước như vậy có vè như đứng trên xã hội, song thực ra, là công cụ cùa giai cấp thống trị về kinh tế, nhờ công cụ Nhà nước ấy, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị cá về chính trị
• Lẽnin và nhiều nhà lý luận của Liên Xô, các nước Đông Âu, Trung Quốc đã đưa ra luận điểm về xây dựng một nền dân chủ mới của số đông, một triệu lần dân chú hơn dân chù tư sản, tạo lập một Nhà nước đã không còn là Nhà nước nguyên nghĩa và hướng dần dần đến tự tiêu vong
C h ư ơ n e I gồm 4 nôi dune:
I- Nguồn gốc N hà nước
II- Bàn chất, vai trò, chức năng của Nhà nước
III- Kiểu N hà nước
IV- Hình thức Nhà nước
M ụ c đích c h u n g là khi học xong chương I, học viên nắm được lịch sử ra
đời N hà nước của xã hội loài người, tiến trình phát triển các kiểu Nhà nước
Trang 8khác nhau tù khi có Nhà nước đến nay, có khả năng bước đầu xem xét, đánh giá các Nhà nước cụ thể hiện đang tồn tại.
I Nguồn gốc Nhà nước
Thị tộc là tổ chức cơ sờ đầu tiên của xã hội loài người trong chế độ Cộng sản nguyên thùy, được tổ chức theo huyết thống Nhiều thị tộc hợp thành bộ tộc Nhiều bộ tộc hợp thành bộ lạc Quyền lục trong xã hội nguyên thùy là quyền lực xã hội với hệ thống quàn lý rất đơn giản (Hội đồng thị tộc, hội đồng
bộ tộc, hội đồng bộ lạc), không mang tính giai cấp, không tách rời xã hội, do xã hội tồ chức ra và phục vụ lợi ích của cà cộng đồng Sự tồn tại và cách tồ chức quyền lực đó là biểu hiện rõ rệt nhất của xã hội Cộng sản nguyên thủy
Xã hội cộng sản nguyên thủy đã có 3 lần phân công lớn về lao động xã hội:
1 Trồng trọt tách khỏi chăn nuôi
2 Thù công nghiệp tách khỏi nông nghiệp
3 Buôn bán phát triển, thương nghiệp xuất hiện
Do phân công lao động, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, chế độ tư hữu xuất hiện Số người giàu có, chiếm nhiều tư liệu sản xuất và sản phẩm, làm giàu bằng cách bóc lột trở thành giai cấp thống trị, còn những người nghèo khồ trong thị tộc, những tù binh trong chiến tranh trờ thành nô lệ, trở thành giai cấp bị bóc lột Để điều hành và quàn lý xã hội mới, đòi hỏi phải có tổ chức mới khác về chất so với xã hội thị tộc Tổ chức đó chính là Nhà nước Nhà nước xuất hiện một cách khách quan do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
Nhu cầu đó là tiền đề kinh tế và xã hội của việc xuất hiện Nhà nước
Tiền đề kinh tế về sự ra đời Nhà nước là sàn phẩm xã hội ngày càng
nhiều, chế độ tư hữu về tài sàn bắt đầu xuất hiện
Trang 9Tiền đề xã hội về sự ra đời N hà nước đó là sự phân chia xã hội thành các
giai cấp
Việc xuất hiện Nhà nước với các tiền đề kinh tế, xã hội còn có những dấu hiệu cơ bản trong quá trình hình thành Nhà nước Các dấu hiệu là:
1 Dấu hiện về biên giới lãnh thô
Nhà nuớc chi xuất hiện trên cơ sở một lãnh thổ đã vạch ra, có đường biên giới Điều này có nghĩa là phải có nước nhà rồi mới có Nhà nước Trước khi Nhà nước xuất hiện, các thị tộc, bộ tộc không vạch rõ biên giới lãnh thổ của mình
2 Dấu hiệu về cộng đồng dân cư sống trong lãnh thô
Tất cả những người sống trong lãnh thổ đều thuộc một cộng đồng thống nhất cùa quốc gia: đó là dân tộc Mặc dù có thể khác nhau về cách sống, phong tục, tập quán, tiếng nói, tôn giáo, giàu nghèo, v.v mọi người sống trong một lãnh thổ quốc gia đều cùng là một dân tộc, có quyền và nghĩa vụ như nhau.Nhà nước đặt ra pháp luật là để cho cà nước, tất cả cộng đồng dân tộc phải tuân theo, do đó pháp luật mang tính xã hội rộng rãi, quy tắc xử sự chung cho toàn xã hội
3 Dấu hiệu về bộ máy quyền lực được hình thành đê quàn lý quốc gia và quàn lý các công việc đời sổng cùa quốc gia đó.
Đã có một lãnh thổ nhất định, một cộng đồng dân cư thì phải có một bộ máy dể quản lý lãnh thổ và dân cư
4 Thuế là một dấu hiệu thể hiện Nhà nước yêu cầu cộng đồng dân cư đóng góp để nuôi bộ m áy quyền lực.
Câu h ỏ i về n ô i (lu n s I
C âu 1: Trinh bày tóm tát học thuyết Mác - Lênin về Nhà nuớc và pháp luật?
C ầu 2 : N hững tiền đề làm xuất hiện sự ra đời của N hà nuớc?
Trang 10c Dấu hiệu về việc vạch biên giới lãnh thổ thành một quốc gia, dâu hiệu cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ đó là một dân tộc, dấu hiệu về Nhà nước yêu cầu dân đóng thuế.
D Dấu hiệu về việc vạch biên giới trờ thành một quốc gia, dân cư sông trong quốc gia đó đều là một dân tộc, hình thành bộ máy để quản lý quổc gia
II Bản chất, vai trò, chức năng của Nhà nước
1 Bản chất của Nhà nước
Mặc dù khẳng định rằng Nhà nước xét về bản chất trước hết đó là một bộ máy cùa giai cấp, bộ máy để duy trì sự thống trị giai cấp đó là những người giàu có, cầm quyền Bản chất cùa Nhà nước chỉ rõ Nhà nước đó là của ai, do giai cấp nào tồ chức và lãnh đạo, phục vụ quyền lợi cho giai cấp nào
Nhà nước là công cụ sắc bén nhất thề hiện và thực hiện ý chí của giai cấp cầm quyền Do vậy, Nhà nước bao giờ cũng mang bàn chất giai cấp Tuy nhiên một Nhà nước sẽ không thề tồn tại nếu chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị
mà không phục vụ chung lợi ích của xã hội, phục vụ lợi ích cùa dân cư trên lãnh thổ quốc gia, nên Nhà nước phải là một tổ chức đại diện cho cộng đồng dân cư, một dân tộc nhất định
Những điểm sau đây thể hiện bàn chất cùa Nhà nước:
• Nhà nước thiết lập một quyền lực công khai, đề thực hiện quyền lực đó, Nhà nước tồ chức ra các cơ quan Nhà nước
• Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ: không phụ thuộc vào huyết thống, giới tính, tôn giáo v.v Chính sự phân chia các đơn
vị hành chính lãnh thồ tạo nên sự hình thành các cơ quan quàn lý Nhà nước từ cấp Trung ương đến địa phương
• Nhà nước có chù quyền quốc gia Chú quyền quốc gia mang nội dung chính trị pháp lý, thể hiện Nhà nước có quyền tự quyết về chính sách đối nội và đối ngoại, không phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài
• Chì Nhà nước mới có quyền ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bẳt buộc đối với mọi công dân Nhà nước và pháp luật luôn luôn gan chặt với nhau Không có Nhà nước nào lại không ban hành pháp luật và bào đàm cho pháp luật thực hiện trong cuộc sống
Như vậy bản chất cùa Nhà nước là sự thể hiện tính giai cấp, tính dân tộc tính xã hội của Nhà nước
Trang 11Mác đã phân tích vai trò của Nhà nước trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của nó từ N hà nước cổ Hy Lạp (Aten), Nhà nước La Mã và nhiều quốc gia khác.Những luận điểm về vai trò của Nhà nước của các học giả nổi tiếng trước Mác như J.LocKe (người Anh 1632 - 1704) Montesquieu (người Pháp 1689 - 1755) Rousseau (1712 - 1778), Hégel (người Đức 1770 - 1831) và nhiều người khác đều được Mác nhắc đến như là để chứng minh cho quan điểm của Mác về vai trò Nhà nước trong lịch sử.
Trong hơn 20 thế ki tồn tại các Nhà nước ở nhiều quốc gia đã có một thời
kỳ dài, rất dài Nhà nước đã nhân danh quốc gia bao trùm lên toàn bộ xã hội, toàn bộ cuộc sống của dân cư, quản lý khắc nghiệt con người Nhà nước còn hợp tác với nhà thờ tôn giáo xiết thòng lọng vào cổ công dân thực hiện sự thống trị cùa mình đối với toàn xã hội
Quan sát hiện tượng đó, nhiều học giả cho ràng cần tách cộng đồng dân
cư khỏi Nhà nước vì xã hội dân cư là một xã hội buôn bán (société marchande) không để cho N hà nước bao trùm lên cái xã hội buôn bán đó
Cũng cần tách nhà thờ khỏi Nhà nước, tách tôn giáo khỏi chính trị Nhà nước chỉ làm những việc đích thực cùa Nhà nước, không dính đến nhà thờ cũng không dính đến xã hội của công dân Nhà nước và xã hội là hai cơ cấu khác nhau nhưng không loại trừ nhau, mà liên hệ và hỗ trợ chặt chẽ lẫn nhau
Mác quan niệm rằng chế độ dân chủ tư sàn đã giúp cho xã hội phân chia thành hai phạm vi sinh hoạt Phạm vi thứ nhất là chính trị, là việc cầm quyền,
sử dụng quyền qua bộ máy Nhà nước, phạm vi thứ hai là xã hội gồm những chuyện “đời thường” như buôn bán, chữa bệnh, thực hiện những nhu cầu sinh hoạt như ăn ở, đi lại, học hành, giải trí, xây dựng hạnh phúc gia đình v.v Phạm vi thứ hai được mọi người cho ràng nên để từng người tự lo, tự giải quyết, tự thỏa mãn, tự tổ chức vì nó ngoài phạm vi thẩm quyền của N hà nước.Hai phạm vi đó, theo Mác, chỉ là trò bịp của chế độ dân chủ mà giai cấp
tư sàn khoe khoang Phạm vi Nhà nước là một cánh tay, phạm vi xã hội là một cánh tay tạo cho giai cấp tư sản có hai cánh tay để dễ thống trị xã hội mà thôi.Trong thời kỳ cách mạng chuyển từ xã hội tư sản sang xã hội cộng sàn, Mác cho ràng không cần phân biệt phạm vi N hà nước là lĩnh vực công với phạm vi xã hội là lĩnh vực tư mà phải thu gộp lại tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục cùa xã hội trở thành một khối thống nhất, không phân biệt công tư, dưới sự lãnh đạo chung cùa chính trị N hà nước sẽ trở thành
Trang 12bộ máy phục vụ chung toàn xã hội, chăm lo cho mọi người trong xã hội, dẫn dăt
xã hội trong một thời kỳ được gọi là thời kỳ quá độ để chuẩn bị trong tương lai
sẽ có một xã hội mới xuất hiện, đó là xã hội cộng sàn
3 Chức năng nhà nước:
Chức nàng nhà nước thể hiện những hoạt động cơ bàn, lâu dài của Nhà nước
Đó là chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
Cltức năng đổi nội là những mặt hoạt động cơ bàn của Nhà nước trong
nội bộ đất nước như phát triển mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng duy tri trật tự, ổn định xã hội, bảo vệ mọi thành quả đạt được
Chửc năng đối ngoại là những mặt hoạt động cơ bàn cùa Nhà nước về
thiết lập mối quan hệ với các Nhà nước, các tổ chức quốc tế, các dân tộc trên thế giới để cùng nhau hợp tác trên mọi lĩnh vực, phát triển đất nước, phòng thù quốc gia, chống sự xâm lược và can thiệp từ bên ngoài
Câu hỏi về nôi dunp ỉ ỉ
Câu 1: Trình bày quan điểm cùa Mác - Lênin về vai trò của Nhà nước?
Câu 2 (trắc nghiêm):
Những đặc tính nào thể hiện đầy đù nhất bản chất Nhà nước? (chọn đáp
án đúng nhất)
A Tính gia cấp, tính xã hội
B Tính xã hội, tính giai cấp, tính dân tộc
c Tính giai cấp, tính xã hội, tính nhân dân
D Tính dân tộc, tính nhân dân
IIIắ Kiếu nhà nước
Kiểu Nhà nước là tổng thể các đặc điểm thề hiện bản chất giai cấp vai trò
xã hội và những điều kiện phát sinh, tồn tại, phát triển của Nhà nước trong một
hình thái kinh tế - xã hội nhất định Tương ứng với mỗi phương thức sản xuất là
một kiểu thiết chế chính trị - pháp lý nhất định
Trong lịch sử của xã hội có giai cấp đã tồn tại các hình thái kinh tể xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Tương ứng
với bốn hình thái kinh tế xã hội có bốn kiểu Nhà nước: Nhà nước chiếm hữu nô
lệ Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sàn, Nhà nước xã hội chù nghĩa.
Trang 13Điểm này anh chị nghiên cứu chù yếu về kiểu Nhà nước chiếm hữu nô lệ, kiêu Nhà nước phong kiến, kiều Nhà nước tư sản, còn kiểu Nhà nước xã hội chù nghĩa sẽ nghiên cứư ở phần bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1 Nhà nước chiếm hữu nô /ệ
Nhà nước chiếm hữu nô lệ là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người xuất hiện trên cơ sờ của sự tan rã chế độ thị tộc, bộ lạc với chế độ tư hữu, phân chia xã hội thành giai cấp: chù nô và nô lệ Nô lệ phụ thuộc vào chủ nô cả thể xác và tinh thần Ngoài ra còn có những người thợ thủ công, người làm nghề tự do ờ thành thị được gọi là thị dân
Nhà nước chiếm hữu nô lệ hình thành cùng với việc xóa bỏ chế độ thị tộc,
bộ lạc, con người sống quần tụ theo huyết thống, đến một thời điểm nhất định người ta đã phân vạch biên giới quốc gia theo lãnh thồ, mọi người sống trên lãnh thổ là một dân tộc cùa một quốc gia Bộ máy cai quản quốc gia đó là Nhà nước
Nhà nước thiết lập và cùng cố quyền lực bàng một hệ thống bộ máy để cai trị dân cư, giữ chủ quyền quốc gia, bảo vệ chặt chẽ quyền sờ hữu của chủ nô.Những nhà nước được nói đến nhiều cùa thời kì chiếm hữu nô lệ là nhà nước cồ Hi Lạp Aten (600 năm trước Công nguyên), Nhà nước La M ã cổ đại
Ở các quốc gia này nền sản xuất hàng hóa được hình thành từng bước, các chủ nô buôn bán, giao dịch chuyển nhượng tài sản với nhau kể cà mua bán nô lệ đều được nhà nuớc quy định trong chế độ hợp đồng, cầm cố, vay mượn như luật Đôracông của N hà nước Hi Lạp, luật La Mã của Nhà nước La Mã
Mác và Ãngghen đã nhận định luật La Mã là bộ luật hoàn thiện cùa thòi
kì lịch sử đó, quy định về quyền sở hữu tư, các định chế về m ua bán, hợp đồng, vay mượn, cầm cố trong một xã hội đã có sản xuất hàng hóa, các quốc gia đã
có hoạt động buôn bán, những quan hệ về lưu thông tiền tệ, hàng hóa ngày càng phát triển
Nhà nước chiếm hữu nô lệ là công cụ của giai cấp chù nô nên những người nô lệ và cả dân tự do (thợ thù công, thị dân ) đã cùng nhau nổi dậy, khởi nghĩa chống lại giai cấp chù nô Ket quà cùa những cuộc đấu tranh đó dẫn đến
sự tan rã tất yếu của N hà nước chiếm hữu nô lệ và sự ra đời một nhà nước kế tiếp, đó là kiểu N hà nước phong kiến
2 Nhà nước phong kiến
Nhà nước phong kiến là một kiểu Nhà nước bóc lột, tiến bộ hom so với Nhà nước chiếm hữu nô lệ
Trang 14Ở các nước châu Âu, Nhà nước phong kiến được hình thành trên sự sụp
đô cùa chế độ chiếm hữu nô lệ
Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là sờ hữu cùa giai cấp địa chủ phong kiến đối với ruộng đất và một số tư liệu sản xuất khác
Đặc trưng cùa xã hội phong kiến là cấu trúc thứ bậc của tình trạng chiêm hữu ruộng đất Đẳng cấp phong kiến ở một số nước được chia ra như sau: công, hầu, bá, từ và đều gắn liền với điền trang, thái ấp ở mức độ khác nhau Thứ bậc
ờ vị trí cao nhất của xã hội phong kiến là vua hoặc quốc vương Địa chủ và nông dân là hai giai cấp cơ bản của chế độ phong kiến, ngoài ra còn có các tâng lớp khác như: tăng lữ, thợ thủ công và thương nhân
Bộ máy Nhà nước phong kiến hoàn chình hơn so với bộ máy Nhà nước chiếm hữu nô lệ Trong giai đoạn cát cứ, bộ máy Nhà nước phong kiến đứng đầu là lãnh chúa, bên cạnh lãnh chúa gồm những người giúp việc và lực lượng
vũ trang Vua hoặc quốc vương là lãnh chúa lớn nhất Vua hoặc quốc vương có những quan chức, nhân viên giúp việc và lực lượng quân sự thường trực Bộ máy nhà nước ở giai đoạn nhà nước Trung ương tập quyền hoàn chỉnh hon ở giai đoạn cát cứ
Ờ cấp Trung ương có vua và các quan lại chức sắc Ờ cấp địa phương có các quan lại cai quàn từng vùng, từng cấp
Đặc điêm cùa kiêu Nhà nước phong kiến là:
• Mang nặng tính tôn giáo, thần quyền Trong lịch sử, nhiều nhà nước phong kiến coi tôn giáo như là quốc đạo, dựa vào tôn giáo để củng cố quyền lực, rất tôn sùng và kính trọng những người đứng đầu tôn giáo
Nhiều tín điều cùa tôn giáo được Nhà nước phong kiến thừa nhận, trờ thành pháp luật, bắt buộc nhân dân phái thực hiện, vi những tín điều đó có lợi cho quý tộc, địa chủ
ở nhiều nước phương Đông như Trung Quốc, Việt Nam, Nhà nước phong kiến đã ghi nhận và ban hành nhiều tín điều, đạo lý của các đạo, các tôn giáo như đạo Phật, đạo Khổng
ở các nước phương Tây, nhất là châu Âu, luật lệ của giáo hội, tòa án cùa giáo hội được Nhà nước phong kiến công nhận, luật lệ giáo hội có thể điều chỉnh các quan hệ xã hội, ngoài giáo hội, tòa án giáo hội có thẩm quyền rộng rãi, xử cả những người ngoài giáo hội
• Duy trì, củng cố, bảo vệ đặc quyền đặc lợi cùa quý tộc, địa chù lãnh chúa, mà cao nhất là vua
Trang 15Vua là người thay mặt thiên tử, không chịu trách nhiệm đạo lý, pháp lý về việc mình làm, vua muốn làm gì cũng được, ban hành pháp luật, thu thuế, bo nhiệm quan lại, phong cấp ruộng đất, tự mình xét xử theo ý mình là một người giữ độc quyền và đặc quyền.
Pháp luật cùa một số N hà nước cát cứ phong kiến ở châu Âu quy định lãnh chúa cỏ nhiều đặc quyền, đặc lợi như thu thuế, tịch thu tài sản của nông dàn, xét xử nông dân, đi đến đâu nông dân noi đó phải phục vụ
Pháp luật của Nhà nước phong kiến Trung Quốc quy định mười tội -
“Thập ác” - đều là những tội xâm phạm đến vua, quan lại, cận thần, cũng như quy định tám hạng người được giảm tội hoặc tha tội - “Bát nghị” - đều là những người thuộc đẳng cấp trên, gia tộc và cận thần của vua
• Quan hệ giữa nhà vua và các lãnh chúa, giữa các đăng cấp quý tộc, địa chủ vừa là mối quan hệ quyền lực (chi huy) vừa là mối quan hệ khế ước (dân sự) Các lãnh chúa cam kết trung thành với vua trong hai nhiệm vụ chính: chiến tranh và đóng thuế N hà vua cam kết sẽ bảo vệ lãnh chúa khi có đe dọa xâm lược và cho lãnh chúa mọi đặc quyền trong vùng đất của họ
Đây là mối quan hệ rất phức tạp bởi các cuộc chiến tranh giữa các lãnh chúa, chúa tể, nhà vua diễn ra triền miên, cũng bởi các đặc quyền đặc lợi phải hứa, phải giữ giữa các lãnh chúa, chúa tể và vua
• Hà khác, dã man, tàn bạo với nông dân Nhà nước phong kiến đều cấm nông dân không được bỏ ruộng đất của địa chủ mà mình đã nhận để đi nơi khác Nếu bò đi, bắt được sẽ giao cho chủ, bắt cả gia đình và mọi tài sản, bị xử rất tàn bạo
Những hình phạt như chôn sống, thiêu đốt, treo cổ, chặt đầu, dìm nước, vứt vạc dầu đang đun, voi giày ngựa xéo, phanh thây, lăng trì, tràm khiên, lục thi, v.v đều rất phổ biến trong pháp luật cùa Nhà nước phong kiến từ phương Đông đến phương Tây
Khi nhận xét về luật Karôlina của Nhà nước phong kiến Đức quy định về hình phạt cắt tai, xẻo mũi, chặt ngón tay ngón chân, chặt đầu, khoét mắt, kẹp bằng kim nung đỏ v.v Ăngghen đã lên án tính chất dã man, tàn bạo của bọn lãnh chúa, giáo sĩ quý tộc muốn xừ nông dân thế nào tùy ý thích của chúng Nhà nước phong kiến còn lưu lại hiện nay rất nhiều các bộ luật pháp điển như:Pháp điển đại toàn 1649 của Nga Hoàng
Bộ luật K arôlina Đức
Luật nhà Tống, nhà Đường, nhà Măn Thanh (Trung Quốc)
Trang 16Luật Hồng Đức, luật Gia Long (Việt Nam)
3 Nhà nước tư sản
Tiền đề ra đời cùa Nhà nước tư sàn là sự khùng hoàng toàn diện cùa chê
độ phong kiến Ngay trong lòng xã hội phong kiến đã hình thành quan hệ sản xuất tư bản chù nghĩa
Con đường thứ nhất để thay thế hình thái kinh tế - xã hội phong kiến bang
hình thái kinh tế - xã hội tư bàn là thông qua cuộc cách mạng tư sản được hình thành dưới hình thức khời nghĩa vũ trang Cuộc cách mạng tư sản ở Hà Lan (thê
ki 16), cách mạng tư sản Anh (thế kỉ 17), cách mạng tư sàn Pháp (1789)
Con đưcmg thứ hai ra đời nhà nước tư sản là thông qua các cuộc cải cách,
thề hiện ở sự thỏa hiệp của tu sản với tầng lớp quý tộc phong kiến, cuối cùng giai cấp tư sản thâu tóm quyền hành như ở Đức, Tây Ban Nha, Nhật Bản và nhiều quốc gia khác, còn tầng lớp quý tộc phong kiến giữ được hình thức chính thề quân chủ hạn chế
Con đường thứ ba là sự hình thành các Nhà nước tư sản bàng cách di dân
như Hoa kỳ, Canada, úc
Bộ máy nhà nước tư sản được tồ chức theo nguyên tắc ba quyền phân
lập và đối trọng Nguyên tắc này được coi là hòn đá tảng của nền dân chủ tư sàn Nội dung của nguyên tắc là:
❖ Quyền lực Nhà nước phải được phân chia thành ba bộ phận: lập pháp, hành pháp và tư pháp Mỗi bộ phận nhà nước giữ một quyền Các quyền đó độc lập với nhau, cân bàng và quyền này hạn chế quyền kia
❖ Nghị viện là cơ quan giữ quyền lập pháp Nghị viện là cơ quan nhà nước có vai trò rất lớn Thông qua nghị viện, các thể chế dân chủ được hình thành và phát triển
Trước đây, trong chế độ đại nghị, cơ quan lập pháp có ưu thế và nhiều quyền hạn hơn so với cơ quan giữ quyền hành pháp, quyền tư pháp Nghị viện thành lập chính phủ từ số các thành viên cùa đảng phái chính trị hoặc liên minh các đàng chiếm đa số trong nghị viện Chính phủ chịu trách nhiệm trước nghị viện Nhưng trong quá trình phát triển, vai trò của nghị viện dần dần bớt đi, cơ quan hành pháp ngày càng có nhiều quyền hành
Tùy theo truyền thống lịch sử cùa mỗi nước, nghị viện tư sàn cùa nhiều nước được tồ chức theo chế độ hai viện: thượng nghị viện và hạ nghị viện như
ờ Mỹ, Anh Thượng nghị viện là cơ quan đại biểu cho tầng lớp quý tộc tư sàn ờ các nước liên bang thượng nghị viện còn đại diện cho các nước bang thành
14
Trang 17viên Các thượng nghị sĩ đuợc bầu gián tiếp hoặc trực tiếp, căn cứ vào tài sản, học vấn v.v như ở Anh, Mỹ Thuợng nghị sĩ có thể do người đứng đầu nhà nước bổ nhiệm (Canada) Hạ nghị viện là một cơ quan có thành phần dân chủ hom gồm đại biểu các tầng lớp xã hội Thông thường các nghị sĩ hạ nghị viện được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu.
Hạ nghị viện và thượng nghị viện được thành lập theo cách thức khác nhau, có thẩm quyền khác nhau trong hoạt động lập pháp
Một số nước khác tổ chức chế độ một viện, là hình thức tồ chức cơ quan lập pháp thành một cơ quan duy nhất gồm tất cả các nghị sĩ
Chế độ nghị viện hiện nay là một vấn đề phức tạp, dù sao nó vẫn luôn là một trong những chế định dân chù nhất trong cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước
tư sản
❖ N suvên thù quốc sia là người đứng đầu Nhà nước có thể là tổng thống
trong các nước cộng hòa, là vua trong các nước quân chù lập hiến, người được coi là biểu tuợng cho truyền thống dân tộc
Các nước theo chế độ cộng hòa, nguyên thủ quốc gia do cử tri bầu hoặc
do nghị viện bầu ra Trong các nước theo chế độ quân chủ lập hiến, chức vụ nhà vua được lập theo thừa kế Ờ các nước cộng hòa tổng thống quyền hạn của nguyên thủ quốc gia rất lớn, thông thường tồng thống kiêm thủ tướng (như Mỹ, Nga, Philippin, Indonesia hiện nay), ờ các nước cộng hòa đại nghị (như CHLB Đức, Án Độ) hoặc quân chủ lập hiến thì vai trò của nguyên thù quốc gia phần lớn mang tính chất đại diện hình thức (như Nhật, Thái Lan, Malaysia)
❖ Chính phù là cơ quan nắm quyền hành pháp Hành pháp là một trong
ba quyền lực N hà nước, chính phù có quyền rất lớn trong việc điều hành toàn
bộ công việc cùa đất nước, cả công việc đối nội và đối ngoại
❖ Tòa án là cơ quan nắm quyền tư pháp, một trong ba quyền lực Nhà
nước, chức năng của tư pháp là bảo đảm giải quyết tranh chấp, xét xử vi phạm pháp luật Các thẩm phán cùa tòa án tư sàn ngày nay mang tính chuyên nghiệp cao, được bổ nhiệm trong thời gian dài, thậm chí suốt đời
Ở các nước tư bàn, bên cạnh các toà án cổ điển (tòa hình sự, tòa kinh tế, tòa dân sự, v.v ) còn có tòa án hành chính, tòa án hiến pháp Tòa án hiến pháp thực hiện chức năng chủ yếu là kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật và nghị định Mục đích cùa việc thành lập tòa hiến pháp nhằm đàm bào tuân thủ hiến pháp và kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật và các hành vi của chính phù
Trang 18So với kiêu Nhà nước phong kiến, kiểu Nhà nước tư sản tiến bộ hơn nhiều Những thành tựu mà Nhà nước tư sàn đã đạt được có thể coi là một trong những thành tựu chung cùa văn minh nhân loại.
Một ví dụ như sự xuất hiện về học thuyết Nhà nước pháp quyền Học thuyết này đòi hỏi Nhà nước, mặc đù là người làm ra, ban hành pháp luật nhưng lại phải đặt mình dưới pháp luật, phải tuân theo pháp luật cùa chính mình đặt ra
Vì sao lại như vậy Vì có một thứ pháp luật chung cho mọi Nhà nước, cao nhất, vĩnh hằng, bất biến mà mọi người phải tuân theo Đó là tự nhiên pháp Tự nhiên pháp lấy hoài bão cao cả của con người về quyền tự do làm tiêu đích Mỗi Nhà nước cụ thể có hệ thống pháp luật riêng của mình, nhưng đó chỉ là luật thực định Luật thực định phải tuân theo luật tự nhiên
• Sự thống nhất quốc gia Đặc điểm của Nhà nước phong kiến là duy trì
sự phân tán quyền lực giữa nhà vua với các lãnh chúa, do đó quốc gia chưa trở thành bộ máy thực sự có uy quyền, có hiệu lực trên toàn lãnh thồ Sự xuất hiện Nhà nước tư sàn gắn với ba đặc điểm là lãnh thổ quốc gia phân vạch rõ ràng Nhà nước trực tiêp quàn lý dân cư trong lãnh thô, bộ máy quyền lực thống nhất
từ Trung ương đến các vùng
• Nhà nước tư sản phân chia pháp luật thành luật công, luật tư Pháp luật cùa Nhà nước phong kiên chưa có sự phàn biệt này Trong lịch sừ pháp luât phong kiến, phần lớn các bộ luật đều quy định cà luật dân sự, luật hinh sự luât
tố tụng, có khi cà luật hành chính Pháp luật tư sản đặt ra sự phân biệt: luật công
và luật tư
Luật công, là bộ phận pháp luật đặt ra các quy định về tổ chức hoạt động
cùa các cơ quan Nhà nước vê duy trì trật tự chung, trật tự công cộng trong xã hội như Luật hiến pháp, Luật hành chính, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự Luật về thuế v.v
Trang 19L u ậ t tu-, là một bộ phận pháp luật đặt ra các quy định về quyền tư nhân,
quyền của mỗi một công dân trong các giao dịch dân sự, buôn bán, thương mại, sàn xuất, kinh doanh, lao động v.v
Ý nghĩa của việc phân chia luật công, luật tư là ở việc tạo lập nên một vị trí pháp lý, luật công do các cơ quan công quyền điều khiển, luật tư do mỗi nguời công dân tự thực hiện, tự điều khiển (tư quyền)
• N hà nước tư sản có hai hệ thống pháp luật khác nhau xuất hiện từ điều kiện kinh tế và lịch sử của mỗi nước
Hệ thống luật thành văn, gọi là hệ thống luật lục địa châu Ẩu (Công ti năng tan - Continental)
Hệ thống luật án lệ, không thành văn, gọi là hệ thống Ảngglô sắc xông (Anglo - Saxon)
Hệ thống luật thành văn bao gồm pháp luật của các nước châu Âu lục địa
và một số nước Nam Mỹ, đại diện là Pháp, Đức, Ý, Brazil, Venezuela Hệ thống này chịu ảnh hưởng sâu sắc của Bộ luật La Mã, phân chia rõ rệt luật công, luật tu và có đầy đủ một hệ thống văn bán pháp luật tư hiến pháp, các bộ luật đạo luật, các văn bản dưới luật như sắc lệnh, nghị định, quyết định, thông tư
Hệ thống luật án lệ bao gồm luật của các nước Anh, Mỹ và các nước trong khối Liên hiệp Anh hoặc chịu ảnh hưởng nhiều của nước Anh (như Canada)
Các quy định pháp luật của những nước này phần lớn không thành văn nên khi áp dụng pháp luật vào đời sống, các quan tòa và các nhà hành chính đều phải căn cứ vào án lệ để giải quyết công việc
Án lệ là những bản án điển hình được các quan tòa tư pháp hoặc nhà hành chính giải quyết tốt nhiều kinh nghiệm hay được ghi lại, công bố thành từng tập, như điều hướng dẫn cho các quan chức căn cứ vào đó mà giải quyết các vụ
án tương tự, nên được gọi là pháp luật tiền lệ (tiền lệ pháp)
Câu hỏi về nôi dunp I I I
Câu 1: So sánh những điểm tiến bộ (điểm chủ yếu) của N hà nước tư sàn
so với Nhà nước phong kiến?
Trang 20Nhà nước phong kiến: tập trung quyền lực vào vua, chúa.
B Nhà nước tư sản: phân chia quyền lực thành ba quyền
Nhà nước phong kiến: tập trung quyền lực vào vua, chúa
c Nhà nước tư sản: phân chia quyền lực thành ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
Nhà nước phong kiến: tập trung quyền lực vào vua, chúa
D Nhà nước tư sản: phân chia quyền lực thành quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, truy tố tội phạm
Nhà nước phong kiến: tập trung vào tay vua, chúa
IV Hình thức Nhà nước
Hình thức Nhà nước là cách tổ chức thực hiện quyền lực, các mô hình tổ chức, sự phân chia bộ máy, quyền hạn cùa mỗi cơ quan, cấp Trung ương và cấp địa phương chủ yếu nhất là sụ phân công quyền lực giữa cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, giữa các cơ quan Trung ương vói cơ quan địa phương.Tuy gọi là hình thức nhưng nó hết sức quan trọng, hiệu quả làm việc cùa một quốc gia phụ thuộc một phần không nhỏ vào vấn đề cách thức tổ chức thực hiện quyền lực
Có hai hình thức lớn là hình thức chính thể và hình thức cấu trúc cùa Nhànước:
1 Hình thức chính thể
Cách phân công quyền lực giữa các cơ quan cấp cao nhất cùa Nhà nước Nếu quyền lực tập trung vào trong tay một người (vua), người đó thực hiện quyền lực suốt đời theo chế độ cha truyền con nối, được gọi là chính thể quân chủ Nếu quyền lực được phân chia cho nhiều cơ quan mỗi cơ quan nắm giữ một quen lục theo chế độ bầu cừ, công dân bỏ phiếu bầu ra cơ quan cao nhất được gọi là chính thể cộng hòa
Chính thế quân chù lại được chia thành chính thể quân chù tuyệt đối và
chính thể quân chủ hạn chế Trong Nhà nước quân chủ tuyệt đối người đứng đầu Nhà nước (Vua, Hoàng đế) có quyền lực vô hạn, còn trong chính thề quân chủ hạn chế thì quyền lực do Vua nắm giữ, bên cạnh có Nghị viện, Chính phủ Tòa án nắm quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Chính thể quân chủ hạn chế còn gọi là quân chủ lập hiến, như Vương quốc Anh, Nhật Hoàng, Vua Thái Lan
và nhiều quốc gia hiện nay đang tổ chức theo chế độ Vương quốc
Trang 21Chính thể cộng hòa là hình thức chính thể trong đó các cơ quan cao nhất
của quyền lực do nhân dân bầu ra, khác vói chế độ truyền ngôi cùa Vua, Hoàng đế.Chính thể cộng hòa được chia thành cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống và nhiều chính thể cộng hòa khác nhu cộng hòa xã hội chủ nghĩa, cộng hòa dân chủ nhân dân Ở quốc gia theo chính thề cộng hòa tổng thống thì tổng thống do toàn dân, nghị viện (Quốc hội) cũng do toàn dân bầu, vai trò và quyền lực của Tổng thống ưu trội hơn vai trò Nghị viện như Mỹ, Nga, Pháp hiện nay
2 Hình thức cấu trúc
Cách tồ chức Nhà nước theo các đơn vị hành chính, lãnh thổ và xác lập mối quan hệ giữa các đơn vị ấy với nhau và mối quan hệ giữa các cơ quan Trung ương và cơ quan địa phương Có hai hình thức cấu trúc Nhà nước chủ
yếu là Nhà nước đơn nhất và Nhà nước liên bang.
Nhà nước đơn nhất là Nhà nước chì có một hệ thống cơ quan quyền lực
và cơ quan hành chính thống nhất từ Trung ương đến địa phương, ví dụ như: Lào, Việt Nam, Trung Quốc v.v
Nhà nước liên bang là Nhà nước có hai hay nhiều nước thành viên hợp lại Trong Nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan Nhà nước và hai hệ thống hệ thống pháp luật: của chung liên bang và cùa từng nước thành viên Nhà nước liên bang có chù quyền chung, đồng thời nước thành viên có chủ quyền riêng, ví dụ: Mỹ, CHLB Đức, Ấn Độ, N ga v.v Tuy nhiên Nhà nước thành viên trong N hà nước liên bang không hoàn toàn như một quốc gia độc lập, tuy có chủ quyền riêng nhưng bị hạn chế các quyền về ngoại giao, không tổ chức quân đội riêng và một số quyền khác tùy theo Hiến pháp mỗi nước.Ngoài ra còn có Nhà nước liên minh N hà nước liên minh là sự liên kết tạm thòi giữa các quốc gia để thực hiện những nhiệm vụ và mục đích nhất định Sau khi hoàn thành nhiệm vụ và đạt được mục đích thì N hà nước liên minh tự giải tán Có trường hợp phát triển thành Nhà nuớc liên bang, ví dụ: từ năm 1776 đến năm 1787 hợp chủng quốc Hoa Kỳ là Nhà nước liên minh sau đó trờ thành Nhà nước liên bang Hiện nay có nhiều Nhà nước liên minh với cách tổ chức khác nhau như liên minh EU, ASEAN, liên minh các nước Ả Rập N hà nước liên minh không thể coi nhu một Nhà nước đơn nhất N hà nước Liên bang
Câu h ỏ i n ô i d u n e I V
Cầu 1: Thế nào là hình thức chính thể? Ở Việt Nam nước ta hiện nay tổ
chức theo hình thức chính thể nào?
Trang 22Câu 2 (trắc nghiêm):
Hiện nay các nước trên thế giới tổ chức Nhà nuớc theo hình thức câu truc nào? (chọn đáp án đúng nhất)
A Nhà nước liên bang, Nhà nước đơn nhất - Nhà nước liên minh
B Nhà nước liên bang, Nhà nước liên minh,
c Nhà nước liên bang, Nhà nước đơn nhất
D Nhà nước liên minh - Nhà nước đơn nhất
Phần Kết:
Chúc mừng anh/chị đã nghiên cứu xong chương I Toàn bộ nội dung cùa chương I, tôi đã trình bày xong với những câu hỏi, câu trắc nghiệm, bài tập nhàm giúp anh, chị nắm vững thêm các khái niệm, định nghĩa, có điều kiện nghiên cứu thực tiễn các Nhà nước đã hình thành trên thế giới
Với những đáp án anh/chị có thể hiểu rõ hơn kiến thức về Nhà nước và Pháp luật cùa hoc thuyết Mác - Lênin
Tài liệu tham khảo:
1 Sách nguồn gốc gia đình, tư hữu và Nhà nước (Nhà xuất bản chính trị Quốc gia)
2 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1992 được bổ sung năm 2001)
3 Xây dụng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng (Nhà xuất bàn Tư pháp - 2006)
4 Luật tổ chức Quốc hội
5 Luật tổ chức Chính phù
6 Luật tổ chức Tòa án nhân dân
7 Luật tổ chức Viện Kiểm Sát nhân dân
8 Luật tổ chúc Hội đồng nhân dân và ủ y ban nhân dân các cấp
9 Luật bầu cừ Quốc hội
Trang 23CHƯƠNG II HỌC THUYẾT VÊ NHÀ NƯỚC CỦA MỘT SỐ HỌC GIÀ PHƯƠNG TÂY
Xin chào anh/chị học viên
Rất hân hanh gặp lại trong chương II môn N hà nước và pháp luật Chương II này trình bày học thuyết về Nhà nước cùa các học giả phương Tây
Sự xuất hiện Nhà nước lâu đời nhất ờ phương Tây là Nhà nước A-ten (AThenes) nay thuộc quốc gia Hy Lạp và Nhà nước La Mã
Đã xuất hiện nhiều học thuyết khác nhau về N hà nước, thời kỳ đầu có Solon (638 - 559 trước Công nguyên), Đê - mô - cơ - rít (460 - 370 trước Công nguyên), Sô - cơ - rát (469 - 399 trước Công nguyên), Pơ - la - tông (428 - 347 trước Công nguyên), A - rít - stốt (384 - 322 trước Công nguyên) Thời kỳ sau
đó, chế độ phong kiến hình thành, bên cạnh những tư tưởng về Nhà nước cùa các nhà thông thái đã có trước, đã xuất hiện nhiều học thuyết khác mà tiêu biểu
là Tô - mát - Đa - Canh (1225 - 1274), Bô - Đen (1530 - 1596), Tô - mát Mo -
rơ (1478 - 1535)
Tiếp nối cùa thời kỳ cách mạng tư sản, nhiều học thuyết N hà nước xuất hiện trong đó Giôn - Lốc - Cơ (1632 - 1704), Mông - tét - ski - ơ (1689 - 1755),
R ú t-X ô (1712 - 1778), Hê - ghen (1770 - 1831)
Ch ươn 2I I eồm 4 n ôi d u n s:
I- Sự xuất hiện Nhà nước
II- Vai trò N hà nước
III- Học thuyết N hà nước Pháp quyền
M ụ c đích ch u n g là khi học chương II này, anh/chị hiểu đuợc lý thuyết
của một số học già phương Tây đại diện cho các học thuyết về N hà nước từ thời
cổ đại (trước Công nguyên 700 năm đến thế kỳ thứ 19)
M ụ c đích cụ th ể
1 Hiểu rõ về học thuyết Nhà nước Dân chủ, dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp
2 Hiểu rõ về học thuyết Nhà nước Pháp quyền dựa vào đó đánh giá cách
tổ chức N hà nước hiện nay của các quốc gia
Trang 24Nhà nước xuất hiện không phải cùng một lúc với con người, mà đến một giai đoạn phát triển nào đó của xã hội loài người mói xuất hiện Nhà nước.
Tuy nhiên, khi có những cộng đồng người nguyên thủy, thì đã cần thiêt phải có một tổ chức, một trật tự, một kỷ luật để hướng cộng đồng người tôn tại
và phát triển, từ đó xuất hiện một quyền lực bảo đảm tô chức, trật tự và kỷ luật ây
Đó là quyền của tín ngưỡng và tục lệ chung, chưa phải của luật pháp, quyền lực ấy tập trung ờ người đứng đầu thị tộc, bộ lạc
Đen giai đoạn phát triển mà học thuyết Mác vạch ra các giai cấp ra đời, còn các nhà tư tường phương Tây gọi là sự xuất hiện những nhóm người với nhũng quyền lực đối địch, đồng thời ý thức và quyền lợi cá nhân cũng tách ra
rõ nét do sự tự khẳng định cá nhân, dẫn đến mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, thì xuất hiện nhà nuớc
Tới đây chia thành hai trường phái lớn Một trường phái cho ràng Nhà nước là sàn phẩm tất yếu cùa lịch sử, do sự vận động khách quan cùa cuộc sống Một trường phái cho ràng Nhà nước là công trình chủ động tự nguyện cùa con người, thông qua khế ước xã hội
Trường phái nào cũng thừa nhận là Nhà nước ra đời từ sớm (Cổ Hy Lạp
có hiến pháp từ 6 thế kỷ trước Công nguyên)
Nhiều học giả đã đưa ra định nghĩa Nhà nước là một bộ máy nắm quyền lực chính trị đặt ra mối quan hệ giữa những người cai trị và nhũng nguời bị cai trị, quyền lực ấy thực hiện trên một cộng đồng dân cư (sau này gọi là dân tộc) cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định (sau này gọi là quốc gia)
Quyền lực Nhà nước làm cho dân cư trở thành công dân và lãnh thổ trở thành quốc gia Như vậy trong ba nhân tố họp thành Nhà nước, thì nhân tố Nhà nước là nhân tố quyết định
Cũng có thể nói một cách khác rằng: Nhà nước là những hoạt động và những thể chế đặc trưng cùa con người, thiết lập ra xã hội người và bào đàm sư vận hành cùa xã hội ấy, bàng việc xây dựng các quan hệ giữa những người cai trị và những người bị cai trị, giữa những quan chức Nhà nước và công dân
Càu h ỗ in ô id u n e l:
Câu 1: Theo các học già phương Tây, khi chưa có Nhà nước, cộng đồng
người nguyên thủy được quàn lý và tổ chức như thế nào?
Trang 25Câu 2 (trắc nghiêm ):
Trong các nhân tố hợp thành Nhà nước, nhân tố nào là nhân tố quyết định? (chọn đáp án đúng nhất)
A Nhân tố dân cư và lãnh thồ quốc gia
B Nhân tố cộng đồng dân cư (dân tộc)
c Nhấn tố quyền lực Nhà nước
D Nhân tố quyền lực và lãnh thổ quốc gia
II Vai trò Nhà nước:
Ở nhiều nước, trong nhiều thời gian, Nhà nước đã chính là xã hội, Nhà nước bao trùm toàn xã hội, Nhà nước đứng trên xã hội.
Theo diễn biến của lịch sử loài người, sau một thời kỳ rất dài, N hà nước bao trùm lên toàn xã hội, thống trị xã hội thi đến thời kỳ sau đã có một quá trình tách Nhà nước khỏi xã hội, tách xã hội khòi N hà nước, không nhập lẫn lộn vào nhau Đó cũng là quá trình khuôn lại phạm vi Nhà nước, không coi N hà nước là toàn xã hội, mà đặt Nhà nước là xã hội chính trị, tức là xã hội ở đó con người là công dân Đồng thời Nhà nước xác định lại vai trò của m ình trong điều kiện cuộc sống xã hội hiện đại đã có nhiều nhân tố mới nảy sinh
Tóm lại, đã có một thời kỳ dài, Nhà nước bao trùm lên toàn xã hội, làm mọi việc của xã hội, rồi đến thòi kỳ Nhà nước không trùm lên nữa, thà nồi các hoạt động xã hội (laissez-faire), sau nữa, thế kỷ gần đây đây N hà nước đã xác định lại vai trò của mình, không trùm lên tất cả cũng không thả nổi xác định vai trò đích thực của mình trong nền kinh tế thị truờng và xã hội dân sự Mác đã phân tích xã hội dân sụ đuợc hình thành như thế nào, vai trò cùa N hà nước cùng với vai trò của xã hội dân sự do giai cấp tư sản dựng nên nhàm m ục đích gì, đã phê phán số học giả phương Tây làm lẫn vấn đề này (xem lại chương I).Trong quá trinh đó, xã hội tôn giáo đã tách khỏi xã hội chính trị (nhà thờ tách khỏi N hà nước); xã hội dân sự đã tách khỏi xã hội chính trị (chú ý rằng xã hội dân sự không phải là xã hội công dân như gần đây nhiều người nước ở nước
ta hay lầm lẫn); đòi sống riêng của con người, cùa từng nguời ngày càng được coi trọng, và phân biệt rõ, không nhập cuộc vào đời sống xã hội được, dù là xã hội chính trị (Nhà nuớc), xã hội tôn giáo hay xã hội dân sự
N hư vậy, cuộc sống xã hội hiện đại có 4 nhân tố chính: xã hội chính trị (Nhà nuớc), xã hội tôn giáo, xã hội dân sự và đời sống riêng của con người
N hà nuớc không đại diện vô tư, công minh lợi ích xã hội Bao giờ N hà nước
Trang 26cũng thiên về lực lượng xã hội này hay lực lượng xã hội khác và thuộc đàng này hay đảng khác chi phối.
Câu hỏi nôi dunp lỉ:
Câu l i Mác đã phân tích quan niệm của một số học giả phương Tây đánh
giá cao vai trò Nhà nước kết hợp với xã hội dân sự như thế nào?
Câu 2 (trắc nghiêm):
Cuộc sống xã hội hiện đại bao gồm mấy nhân tố chính? (tìm đáp án đúng nhất)
A Xã hội chính trị (Nhà nước), xã hội tôn giáo, xã hội dân sự
B Xã hội chính trị (Nhà nước), xã hội tôn giáo, xã hội công dân
c Xã hội chính trị (Nhà nước), xã hội tôn giáo (nhà thờ)
D Xã hội chính trị (Nhà nước), xã hội tôn giáo, xã hội dân sự, đời sống riêng với từng con người
III Học thuyết về Nhà nước Pháp quyền
Trước hết, cần khẳng định, Nhà nuớc Pháp quyền không phài là kiểu Nhà nước, mà là một học thuyết về phương pháp cai trị Nhà nước
v ề nguồn gốc lịch sử, các nhà tư tưởng cổ đại đã nêu khía cạnh này hay khía cạnh khác về Nhà nước Pháp quyền, đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ hữu
cơ giữa ĩjjhà nước và Pháp luật, sức mạnh của Nhà nước tùy thuộc vào hiệu lực cùa pháp luật Nhưng với tư cách là một học thuyết thì Nhà nước Pháp quyền chi ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định Do nhu cầu phất triển dân chủ đến thời kỳ chuẩn bị lý luận cho các cuộc cách mạng tư sản, các nhà tư tường thòi bây giờ đã kê thừa tư tưởng Nhà nước Pháp quyền trước đó và phát triển thành học thuyết Nhà nước Pháp quyền Ra đời trong hoàn cảnh lịch sừ đó nội dung cơ bàn của Nhà nước Pháp quyền đã có ý nghĩa tích cực Một mặt nó gắn với yêu câu tự do, dân chủ Và mặt khác, đê đàm bảo tự do, dân chù nó đã chống chế độ cai trị phong kiến chuyên quyền và đề cao chế độ cai trị bằng pháp luật Pháp luật được coi là giá trị chung, là đại lượng mang tính phổ biến bảo đảm mọi ngưòi được bình đăng và công băng xã hội Do đó, bàn thân Nhà nước cũng phải tuân theo pháp luật, đặt mình dưới pháp luật, không được tùy tiện can thiệp vào các hoạt động xã hội nếu không được pháp luật cho phép.Nhà nước Pháp quyền là một hiện tượng chính trị pháp lý phức tạp khó có thể có một định nghĩa bao quát hết mọi nội dung của nó Tuy vậy, cũng có thề nói một cách đơn giản hơn, Nhà nước Pháp quyền là “Nhà nước phục tùng pháp
24
Trang 27luật" Điều muốn nhấn mạnh là chủ thể tuân theo pháp luật ở đây trước hết là Nhà nước nhàm chống xu hướng tùy tiện, chuyên quyền, độc đoán trong hoạt động của bộ máy Nhà nước Cũng có thể nói, Nhà nước Pháp quyền là Nhà nước ban hành pháp luật* tuân thủ pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật.Nhà nước Pháp quyền là một giá trị xã hội được tích lũy và phát triển trotig lịch sử nhân loại Nhà nước pháp quyền chỉ tồn tại và phát triển với hai điều kiện cơ bân gán bó chặt chẽ với nhau:
Một là, phải đề cao dân chù, nhân dân phải thực sự là chủ thể cùa quyền lực Nhà nước Nhu cầu phát triển dân chủ đòi hỏi Nhà nước phải có phương pháp quàn lý có hiệu lực nhằm đàm bào tự do, dân chủ cùa nhân dân
Hai là, phương pháp quản lý đó chi có thể bàng hệ thống pháp luật, bời vì, pháp luật là đại lượng, có giá trị phổ biến có thể đo mức độ công bằng, là chuẩn mực để điều chinh hành vi của mọi người, đặc biệt là xác định rõ quyền và nghĩa vụ của công dân cũng như cùa Nhà nước
Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước Pháp quyền
Học thuyết Nhà nước Pháp quyền đã nêu ra những yêu cầu cơ bản trong việc tổ chức N hà nước hoặc có những dấu hiệu cơ bàn để nhận diện một Nhà nước Pháp quyền
Đó là sự thống trị của pháp luật trong mọi lĩnh vực cùa đời sống xã hội Đây là đặc trưng không thể thiếu của xã hội văn minh, là biểu hiện của quyền lực nhân dân thực sự trong chế độ dân chủ Điều đó có nghĩa là pháp luật đã do
cơ quan quyền lực N hà nước tối cao thông qua với sự tuân thù nghiêm ngặt mọi thủ tục làm luật thì đòi hỏi mọi công dân, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội có nghĩa vụ nghiêm chỉnh tuân theo Từ đó này sinh yêu càu khách quan nâng cao chất lượng các đạo luật Sự thống trị cùa pháp luật trong đời sống xã hội là dấu hiệu không thể thiếu của N hà nước Pháp quyền, nhưng lại không thể
từ đó làm nảy sinh lòng tin mù quáng vào uy quyền vô thượng cùa pháp luật, không thể coi là biện pháp duy nhất để giài quyết mọi vấn đề này sinh trong đòi sống xã hội
N hà nước có nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm quyền tự do cá nhân, quyền lợi, lợi ích, danh dự và nhân phâm cá nhân Sự bảo đàm tự do cá nhân thông qua pháp luật là chức năng quan trọng của Nhà nước Pháp quyền Theo đà phát triển kinh tế và xã hội, m ở rộng phạm vi quyền theo nguyên tắc công dân “được làm tất cả những gì pháp luật không cấm”
Trang 28Sự ràng buộc của Nhà nước và cơ quan Nhà nước bởi pháp luật Nha nước ban hành pháp luật, nhưng không được tùy tiện vi phạm nó, Nhà nước và
cơ quan Nhà nước “chi được làm những gì pháp luật cho phép” Nguyên tăc này thể hiện sự ràng buộc về pháp luật vói tất cả mọi người, không phân biệt bậc cấp, công lao, chức vụ, chống mọi hình thức tùy tiện, chuyên quyên, độc đoán trong hoạt động bộ máy Nhà nước
Nhà nước pháp quyền xác định rõ trách nhiệm của hai bên: Nhà nước và công dân trên cơ sờ luật Nó thể hiện nguyên tắc đạo đức trong quan hệ giữa Nhà nước với tư cách là người thực hiện Ở đây, có thể nói, công dân có trách nhiệm đối với Nhà nước như thế nào thì Nhà nước có trách nhiệm với công dân như vậy
Nhiều Nhà nước ở phương Tây có những thực hiện Nhà nước Pháp quyền bằng cơ chế kiểm tra việc tuân theo pháp luật Đây là nguyên tắc không thể thiếu của Nhà nước Pháp quyền nhằm đảm bảo mọi người bình đằng trước pháp luật, kiểm tra trong hoạt động hành pháp thường có Tòa án hành chính, trong hoạt động lập pháp thường có Tòa án hiến pháp hoặc ủ y ban kiểm tra hiến pháp hoặc Viện bào Hiến để xem xét những hành vi vi hiến
CMMiMiáMũsJU
Cảu 1: Trình bày quan niệm về Nhà nước Pháp quyền?
Câu 2 (trắc nghiêm): Các nước phương Tây thực hiện Nhà nước Pháp
quyền bằng hình thức nào? (chọn đáp án đúng nhất)
A Tòa án hành chính, tòa án Hiến phap hoặc ù y ban Hiến pháp, hoặc Viện bảo Hiến
B Tòa án hành chính, ủ y ban Hiến pháp
c ủ y ban Hiến pháp, tòa án Hiến pháp
D Tòa án hành chính, hoạc tòa án Hiến pháp
Trang 29CHƯƠNG III
T ư TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG (CỔ TRUNG ĐẠI)
VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Xin chào anh/chị học viên
Rất hân hạnh gặp lại các anh/chị trong chucmg III Tư tuờng phương Đông (cổ trung đại) về nhà nước và pháp luật
Nhà nước Phương Đông ra đời sớm Nền văn minh phương đông cồ trung đại biểu hiện ứên lĩnh vực tư tường chính trị pháp lý ở hai quốc gia lớn nhất thế giới là Ẩn Độ và Trung Quốc Quốc gia Đại Việt nay là nước CHXHCN Việt Nam cũng xuất hiện rất sớm Nguyễn Trãi đã viết từ thế kỷ XV ràng: “Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu” N ền văn minh ấy thể hiện ở kỷ cương phép nước mà cha ông ta để lại cho chúng ta ngày nay những bài học quý giá Tư tưởng Nhà nước phương Đông cổ trung đại (Án Độ, Trung Quốc và Việt Nam) không những là thành quả huy hoàng của trí tuệ con người
ở thòi kỳ lịch sử đã qua m à nó còn để lại cho hậu thế những bài học rất bổ ích
Do thòi lượng dành cho môn học có hạn, chúng ta chi có thể tìm hiểu m ột cách khái lược trên những vấn đề cốt lõi nhất
Chương III gồm 3 nội dung chính cũng là mục đích của bài học m à sinh viên cần nắm
I Tư tưởng N hà nước và pháp luật Ấn Độ cổ đại
II Tư tưởng nhà nước và pháp luật Trung Quốc cổ đại
III Tư tưởng nhà nước và pháp luật thòi phong kiến V iệt Nam
I TƯ tưởng nhà nưổc và pháp luật Ấn độ cổ đại:
Từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ I (tr.CN) các quốc gia chiếm hữu nô lệ Ẩn
Độ đã thực sự phát triển và thường gây chiến tranh để xâm lược thôn tính lẫn nhau dẫn tới hình thành quốc gia lớn, các vuomg triều thống nhất ở Án Độ, đặc biệt là các triều đại, các vương quốc Magadha, Manrya
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ Ấn Độ, ngoài đặc trung cùa chế độ đẳng cấp, sự tồn tại của các công xã nông thôn với lao động của người dân công xã là chủ yếu thì chế độ nô lệ kiểu gia trưởng và nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, trong đó các đế vương nắm quyền lực vô hạn về sờ hữu ruộng
Trang 30đất và thần dân cũng đã ảnh hưởng mạnh rnẽ tới tính chất và sự phát triên khac nghiệt của tự nhiên và chế độ đẳng cấp, thể chế xã hội luôn đè nặng lên đời
sống của người dân Án Độ Do đó các tir tường triết học, dúfịh trị, pháp luật và
nhà nước đã xuất hiện ở thời kỳ này mong ổn định đời sống dân chúng trong một xã hội đầy lo âu, khổ não mà họ đang phải gánh ehịu Dưới đây chúng ta hãy tìm hiểu sơ lược tư tưởng về chính trị, pháp lý, về nhà nước trong thời kỳ
cố đại Ắn Độ hay còn gọi là thời kỳ Bàlamôn và Phật giáo
* Tư tưởng chính trị - pháp lý của Đạo Phật
Phật giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VI - V ờ miền Bắc Án Độ, phía nam dãy Himalaya
Tại vùng biên giới Ấn Độ và Nêpan bây giờ, Đạo Phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị cùa đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm còn đường giải thoát cho con người khỏi nỗi khổ triền miên đè nặng trong xã hội Án Độ
Người sáng lập ra đạo Phật là Thích ca Mâuní (563 - 483 Tr CN) có tên thật là Siddhattha (Tất Đạt Đa) họ là Cù Đàm (Gan ta ma), là con đầu cùa vua Tịnh Phạn, dòng họ Sakya, có kinh đô là Catilavệ (Kapilavatthu) Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bò cuộc đời vương giả để đi tu tìm con đường diệt trừ nỗi khổ của chúng sinh Sau 6 năm liền tu luyện ông đã “íỊgộ đạo” tìm ra chân lý “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, và ông trở thành Phật Thíc.h ca Mâu ni năm
35 tuổi
Tư tưởng Phật giáo lúc đầu chỉ truyền miệng sau đó được viết thành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn Tam tạng bao gồm 3 bộ phận: Tạng kinh ghi lời Phật dạy, Tạng luật gồm các giới luật của Đạo Phật và Tạng luận gồm các bài kinh, các tác phẩm luật giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng học giả về sau
Trái với quan điểm của kinh Vêđa, đạo Bàlamôn và các tư tưởng triết học đương thời, đạo Phật cho rằng vũ trụ là vô thùy, vô chung, vạn vật trong thế giới chi là dòng biến hóa vô thường, vô định không do một vị thân nào sáng tạo nên cả Thế giới luôn là dòng biển vô ảo, vô thường nên không có thực tế, tất cả theo luật nhân quà cứ biến đổi không ngừng không nghỉ theo quá tình sinh trụ
dị, diệt
Thừa sơ khai đạo Phật có tư tưởng cho rằng thuở ban đầu tất cả mọi người đều sống hanh phúc, bình đẳng và tự do Nhưng sau xuât hiện sự cướp bóc và lừa đảo nên sinh ra bất bình đẳng xã hội Lúc đó thông qua con đường
Trang 31bầu cử, mọi người đã thiết lập nên chính quyền nhà vua với tư cách là người phân xử và đã xóa bỏ được hiềm khích.
Việc Phật giáo phản đối chế độ bất bình đẳng, không công bằng trong thuyết Bàlamôn và sự thống trị hà khắc của nhà nước chủ nô - quý tộc dùng thuyết Bàlamôn để chế ngự tinh thần dân chúng, bào vệ quyền lợi của họ, đã được quần chúng ùng hộ
Phật giáo thời kỳ sơ khai đã phản ánh sự bất bình đẳng của những nông dân bị phá sản do sự nô dịch áp bức bóc lột của chính quyền nhà nước chiếm hữu nô lệ Truyền thuyết Phật giáo cho ràng Đức Phật đã nói: Nhà vua mặc dầu
đã chính phục mọi quốc gia trên thế giới, dù đã trở thành bá chù mọi vương quốc ở phía bên này bờ biển cho đến tận đại dương nhưng vẫn cảm thấy chưa
đủ, mà còn thèm khát có những lãnh thổ bên kia đại dương Các hoàng đế trị vì các vường quốc có biết bao nhiêu cùa cải, châu báu, vẫn tham lam nhòm ngó lẫn nhau, nung nấu trong lòng những thèm khát vô hạn Và nếu họ cứ hành đệng y ipng mệt ỊTiỏi như vậy, cứ chìm đắm trong dòng xoáy triền miên cùa sự tham lam, thì liệu ai có thể bình yên trên trái đất
Phật giáo sơ khai đã có những ý tưởng phàn đối lại sự bóc lột, nhưng không kêu gọi đấu tranh tích cực chống lại mà còn kêụ gọị sự khuất phục, chịu đựng, phục tùng tuyệt đối Tư tường chính trị của đạo Phật lại chính là ở việc
nó kêu gọi tách khòi đời sống chính trị - xã hội, tuyên truyền không dùng bạo lực chống lại cái ác, nó cổ vũ người ta tin theo những điều huyền bí và siêu thoát cuộc đời, do đó nó không phải là học thuyết có nguy hại đến lợi ích cùa giai cấp thống trị, Thuyết đạo Phật miêu tả cuộc đời như cái ác Bởi vậy con người muốn thoát khỏi những khổ đau trần tục, thoát khỏi phàm tục và mọi đau khổ thì không được bào vệ mình và người thân trước sự áp bức tàn bạo của kẻ khác Bởi vì, theo đạo Phật, mọi hành vi chống lại ai đó đều là hành vi cản trở
sự đạt được hành phúc siêu phàm nơi cõi niết bàn, nơi ấy không còn đau khổ nữa.Thuyết lý bất bạo động, không chống lại cái ác, thờ ơ với cuộc sống nghèo khổ, lầm than rất có lợi cho giai cấp thống trị, cho những kẻ muốn khuất phục các tầng lớp bị áp bức Những tư tưởng cùa Phật giáo sơ khai được giới quý tộc chiếm hữu nô lệ sừ dụng nhằm ru ngủ tinh thần những người bị áp bức, bóc lột
r â u hỏi n ô i d u n s I:
r â u 1 (cáu trắc nghiêm):
Ưu điểm của lý thuyết Phật giáo? (Chọn phương án đúng nhất)
Trang 32A Yêu thương tất cả mọi người.
B Khuyên người ta sống hòa bình, thân ái vói nhau
c Khuyên người ta tu nhân tích đức, ờ hiền gặp lành
D Không tán thành sự áp bức cùa chủ nồ, quý tộc
IIắ TƯ tưởng Nhà nước và pháp luật Trung Quốc cố đại:
Nhà nước chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc ra đời sớm (khoảng 2000 năm
Tr CN)
Lịch sử xã hội Trung Quốc cồ đại rất phức tạp, nó là cuộc đấu tranh tàn khốc và triền miên giữa tầng lớp thượng lưu quý tộc, chù nô với những người nông nô, những người nông dân bị tước đoạt hết ruộng đất, bị nô dịch phụ thuộc; giữa giới quý tộc gia trưởng bị phá sàn, bị bần cùng hóa với những thương nhân và trọc phú tiềm quyền Những mâu thuẫn và xung đột giai cấp trong đất nước Trung Quốc cổ đại rộng lớn vô cùng gay gắt, khốc liệt đã ườ thành điều kiện xuất hiện các cuộc đấu tranh giữa các trường phái tu tường khác nhau Khảng định địa vị thống trị độc tài của nhà vua và kết hợp thần quyền với thế quyền đã làm nên tinh thần thánh thiêng liêng của nhà vua Vua được coi là “Thiên tò” (con trời), vâng lệnh Trời xuống để trị vì đất nước, cai quàn quốc gia và chăn dắt “trăm họ” Tư tưởng tuân theo “lệnh trời” thống trị
và chi phối trong mọi quan hệ xã hội, trước hết là quan hệ giữa Nhà nước với dân, tức là quan hệ giữa nhà vua với “thần dân” Trung quân ái quốc là tư tưởng cốt lõi của mối quan hệ Nhà nước và pháp luật được che đậy bằng oai quyền cùa Trời, trao quyền trị vì cho vua, giai cấp thống trị đã bóc lột tàn bạo đối với nhân dân lao động Mâu thuẫn xã họi, mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn đẳng cấp đã nảy sinh những tư tường về Nhà nước và pháp luật
Trang 33ngày nay, và vẫn đang được nghiên cứu Có thể nói không có triết gia nào đuợc nhiều cảm tình như ông, không một tác gia nào được nhiều học trò ngưỡng mộ, thương tiếc như ông Ông là người có uy mà lại rất khả ái “Tử uy nghi bất mãnh”, ông được tôn kính, người đời tôn ông là Thánh nhân Truyền rằng ông
ít nói nhưng nói thì thâm thúy, mỗi lời là một châm ngôn Ví dụ có người hỏi ông thế nào là chính trị? ô n g đáp “chính trị là chính đính Lãnh đạo dân một cách chính đáng thì ai dám không chính đáng” Hoặc khi Tề Cành Công hỏi về chính trị, ông chỉ nói vắn mà thâu thái toàn bộ quan điểm tư tưởng chủ thuyết cùa ông Đó là “Quân - quân, thần - thần, phụ - phụ, tử - tử” (vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con) Ông khuyên học trò “ưu đạo bất ưu bần”, không ham phú quý mà làm điều bất nghĩa Ông nói “Làm điều bất nghĩa mà được giàu sang thì ta coi như mây nổi” Ông mong mỏi “ta muốn các người già được yên vui, các bạn bè tin lẫn nhau, các trẻ em được săn sóc, vỗ về” Đó là mục đích sống của người “quân tử” (ngày nay ta nên hiểu là người có văn hóa) cần
nỗ lực làm theo Tóm lại: Khổng Tử được coi là “ông thánh” vi ông đa tài đa nghĩa, các xã hội phong kiến về sau tôn thờ ông vì ông đã để lại cho họ một triết thuyết để làm người, để cai trị dân
Học thuyết cùa Khổng Tử gồm 2 phần: Hình nhi thượng học về thiên đạo (đạo trời) và Hình nhi hạ học (đạo làm người) rất cao sâu, nó là cơ sở lý luận của Nho giáo, Hình nhi hạ học là những tư tường về nhân sinh, về thực hành, về các mối quan hệ xã hội cơ bản và nội dung cùa các mối quan hệ ấy
Dưới đây ta chỉ tìm hiểu một số tư tưởng liên quan đến N hà nước và pháp luât trong Hình nhi hạ học của ông
M ầ u n g ư ờ i lý tư ở ng của x ã h ộ i trong tư tưởng N h à nư ớc và pháp luật của K hẳng Tử.
Ở thời Khổng Từ chưa có khái niệm xã hội công dân, tư cách công dân Ông nêu ra khái niệm “quân tử”, một mẫu hỉnh lý tưởng mà cả nhà cầm quyền, vua chúa lẫn thứ dân cần noi theo và thực hành Đối lập với “người quân tử” là
kẻ “tiểu nhân” Theo Khổng Tử, người quân tử là kè tròi sinh ra để lãnh đạo xã hội, là cơ sở tồn tại cùa Nhà nước quân chủ thịnh trị Có thể nói đạo Khổng Tử
là Đạo cùa “người quân tử” Quân tử là gì? Theo Khổng Tử, “quân tử” là người
có nhân phẩm tôn quý, có đúc hạnh, biết chuộng nghĩa, làm điều nhân, đạt lý cao minh Ông nói: “Quân tử có dũng mà không có nghĩa thì làm loạn, tiểu nhân có dũng mà không có nghĩa là đứa ăn trộm” “Quân tử đạt lý cao minh theo thiên lý; tiêụ nhân hạ đạt, theo nhân dục chí khí m ờ tối, bị vật dụng sai khiên, càn rỡ, u tôi Quân tử câu ờ mình, tiểu nhân cầu ở nghĩa” (tự trọng ><
Trang 34xiềm nịnh) “Quân từ thư thái không kiêu căng, tiểu nhân kiêu căng mà không thư thái” “Quân từ hòa nhi bất đồng (hùa theo), tiểu nhân đồng (vào hùa) nhi bất hòa” cũng có nghĩa tiểu nhân là kẻ vụ lợi “Quân từ chung mà không tây VỊ, tiểu nhân tây vị mà không chung” “Quân tử thản đăng đăng, tiểu nhân trường thích thích” (quân tử ngay thảng thanh thản, tiểu nhân lo ngay ngáy) “Quân từ
co giữ (tư cách) lúc khốn cùng, tiểu nhân phải lúc khốn cùng thì làm bậy
“Quân tử đồi với việc nhỏ mọn vị tất đã làm được nhung tài đức có thê làm được việc to lớn, tiểu nhân tuy khí tượng hẹp hòi nhưng với việc nhò có cái sỡ trường khả thi được” “Quân từ gây thành cái hay cho người ta, không gây thành cái ác cho người ta Tiều nhân không thế” (Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác Tiểu nhân phản thị) “Quân từ công và thứ” (vì việc công
mà làm thì có khi khó đẹp lòng cấp trên và kẻ xấu; khoan từ đãi đằng kè dưới nên được người ta tôn thờ) “Tiểu nhân tư và khắc” (chuộng những điều không chính, hà khắc đối với người) “Quân từ tòng thiên lý Tiểu nhân tòng tư dục” (người quân từ theo lễ Trời - tiểu nhân theo lợi riêng, ý muốn cái nghèo) “Quân
tử đa nghề” (phát triển toàn diện) Khổng Từ còn có nhiều định nghĩa nữa về quân tử Khi trà lời học trò, trong những hoàn cảnh cụ thể và tùy từng đối tượng Ví dụ có lần ông trả lời rằng “Quân tử nói chậm, nói ít nói nhiều”
"Quân tử tường như bất lượng” (quân từ giữ điều ngay chính, kiên trung mà không cố chấp) “Quân từ thượng giao bất xiến, hạ giao bất độc” (Quân tử giao dịch với người trên thì không xiểm nịnh, xiểm, hạ giao bất độc” (Quân từ giao dịch với người trên thì không xiểm nịnh, giao dịch với người dưới thì không độc ác) “Quân từ kiêm cơ nhi tác” (Quân từ tìm thời cơ mà hành động) Quân
từ giữ trong minh điều lễ nghĩa để ứng xừ cho khuôn phép, giữ lấy nghĩa làm cốt, lấy lễ mà làm, lấy khiêm tốn mà thi thố ra, lấy lòng tin mà thành tựu Người quân tử không tự trọng thì không có uy; không kiên trì học thì ngu dốt Người quân từ trung tín không kết bạn với kẻ bất nhân; phải làm việc, việc không thành thì phải tự xem xét
Khổng Từ khuyên phải thành thực, kiên nhẫn trong việc học tâp rèn luỵện để thành người quân từ để làm tròn chức phận của minh, để vua sáng tôi hiền, đất nước thanh bình, thịnh trị
Tóm lại, học tập để thành quân từ, để biết: Trí ngôn, hành xừ tức là hiểu biết đạo Trời, biêt điêu nhân nghĩa mà làm, biêt điêu lê (cư xử, nói năng) mà theoKhổng Từ đưa ra mẫu hình người quân tử như là “con người lý tưởng” cùa thời phong kiến, ô n g giáo huấn mọi người (từ vua quan cho đến thứ dan) đều phải học và rèn luyện thành người quân từ Quân tử là đăng câp cao quý cớ
sở xã hội cùa nhà nước phong kiến
Trang 35T ư tưở ng N h à nư ớc và pháp luật của K hổng T ử
G iữ p h ép tru n g dung:
Khổng Tử là người bảo thủ, không thích cách mạng (cách mạng hiểu theo nghĩa cổ là thay đổi mệnh tròi), tức là không thích hạ bệ một ông vua nào bàng
vũ lực Ông rất ghét dùng vũ lực và phàn loạn Trước sau, ông vẫn một lòng trung quân nhưng quân vương phải xứng là quân vương Vua có lỗi thì phải sửa, có đức thì trị được thiên hạ Nếu vua không đủ tư cách thì phải dựa vào người khác để thay đổi một cách ôn hòa
Khổng Tử bảo thù nhưng có cài thiện sửa đồi Nói Khổng Từ bảo thủ, không có nghĩa là nói ông bảo thù một cách tuyệt đối Nên nhớ ràng không một nhà tư tưởng nào chỉ bào thủ, hoàn toàn bảo thủ mà lưu danh lại được đời sau được, vì như vậy không cổng hiến được gì mới cho đời
Khổng Tử bảo thủ, hiếu cổ vì ông hiểu rằng dân tộc nào muốn mạnh, xã hội nào muốn vững vàng cũng cần phải giữ một số truyền thống không thể cắt đứt hẳn với quá khứ được
Nhưng muốn báo thủ như thế thì phải cải cách, cải thiện, sửa đổi ít nhiều cho hợp thời thì mới có thể tồn tại, nếu không sẽ bị đào thải
Khi được hỏi về phép trị nước, Khổng Tử đáp rằng: “Theo lịch nhà Hạ, ngồi xe nhà Ân, đội mũ miện nhà Chu, nhạc thì theo nhạc và vũ thiền” Theo lịch nhà Hạ vì nhà Hạ lấy tháng đầu làm tháng giêng (âm lịch ngày nay) tiện lợi cho việc nhà nông hom là lấy tháng 11 làm tháng giêng như nhà Chu hoặc lấy tháng chạp làm tháng giêng như nhà Ân, dùng xe nhà Â n kiên cố, bền chắc không hoa mỹ như xe nhà Chu, đội mũ miện nhà Chu vì kiểu m ũ đó đẹp hơn
cả N hư vậy ta thấy ông không bảo thủ, theo hẳn nhà Chu, không tòng nhà Chu hoàn toàn
Ông cũng khuyên không tế lễ xa xi như nhà Chu và cần sửa đổi pháp luật không dùng nhiều hình phạt, đừng ham giết người, dùng sức mạnh bạo lực để dân sợ mà theo
Theo ông trị nước cần phải giữ phép trung dung tức là phải đứng vững trong chính đạo nhưng phải biết quyền biến, tùy thòi hợp cảnh, phải tránh cực đoan, cũng đừng thái quá, đừng bất cập
Chính danh:
Quy tắc chính của Khổng Tử, phát kiến lớn về pháp trị nước cùa ông là thuyết chính danh Ong đã từng nghiêm khắc mà dạy rằng: “Nếu danh không chính (xác) thì lời nói không thuận lý (vi danh hiệu không hợp với thực tế); lời
Trang 36mà không thuận thì sụ việc không thành; sự việc không thành thì lễ nhạc, chê
độ không kiến lập được; chế độ không kiến lập được thì hình phạt không trúng; hình phạt không trúng thì dân không biết đặt chân tay vào đâu (không biêt lam thế nào cho phải) Cho nên người quân tử đã dùng cái danh thì tất phải nói ra được (nói phải thuận lý), đã nói điều gì thì tất phải làm được Đối với lời nói, người quân từ không thể cẩu thả được”, ông cũng phê phán tệ tranh giành ngôi vua (ờ thời nhà Vệ) vì ông cho rằng tranh giành như thể là thiếu tư cách, là không trọng danh dự, như vậy mà trị dân thì “danh bất chính, ngôn bất thuận, dân không phục, nước sẽ loạn” Muốn làm vua thì phải làm gương cho dân, nêu tranh giành nhau thì ai tin, ai theo, đặt lễ nhạc, hình pháp bắt dân theo sao được Theo Khồng Từ, trong trường hợp như thế thì phải lựa chọn một người khác đù
uy tín, chính danh, mà tôn làm vua
Đi bôn ba khắp nước chư hầu, hễ có vua nào hòi về phép trị nước, Khổng
Tử thường bảo họ phải sửa mình cho chính đính, hành động cho chính đính Châm ngôn bất hủ của ông là “chính giả, chính dã”
Ông thường dạy: Muốn danh chính thì thân phải chính, ngôn cũng phải chính, lời nói mình với việc mình làm phải hợp với nhau, không được nói nhiều
mà làm ít, hơn nữa phải siêng năng về việc làm, thận trọng về lòi nói
về phép trị nước, Khổng Tử khuyên: Mang danh là vua thi phài làm tròn trách nhiệm của vua, phải làm cho “quốc thái dân an”, nếu không sẽ mất cái danh và mất luôn cà ngôi Neu vua không làm trong bổn phận thi quyền lọt vào tay kẻ dưới, kẻ xiềm nịnh Vua không ra vua thì bày tôi không ra bày tôi Thiên
hạ mà loạn là lỗi trước tiên của vua chúa, ông cũng tỏ lòng trung quân ở việc kết tội bọn khi quân, lạm quyền, ôn g đòi hỏi vua ra vua, bày tôi ra bày tôi, người nào có chức phận người ấy và phải lo cho tròn bổn phận
Tóm lại: Trị nuớc là phải theo quy tắc chính danh, đòi hỏi bắt buộc ai ở
địa vị nào cũng phải làm tròn trách nhiệm và ai giữ phận nấy, không được việt
vị, nghĩa là không được lạm quyên và hưởng lợi cao hom địa vị cùa mình Nguyên nhân của sự hỗn loạn là không theo quy tắc chính danh, vì vậy xã hội (phong kiến) cần được tổ chức chặt chẽ ttên dưới phân minh, vua, quan, dân
ai có chức vị cùa người ấy, phải lo mà làm tròn
Học theo chính danh, nghĩ suy nói năng phài chính danh và phài làm theo chính danh
Khổng Tử dạy học mong đào tạo một số người (ai cũng có quyền đưoc học, được thi, đỗ đạt, đều được bổ dụng theo tài năng, không phân biệt đẳng
34
Trang 37cấp, giai cấp) có tài, có đức đề ra trị dân Ông rèn cho họ “đấu trí, đấu tài ra giúp nước Học thi, học lễ để thờ vua”.
• Tề Cảnh Công hỏi ông về cách trị nước, trị dân, ông đáp: “Quân quân thần thần” (vua phải làm hết đạo vua, bề tôi phải làm hết đạo bề tôi) Có như vậy đất nước mới thái bình thịnh trị
• Quý Khang Từ (một quyền thần của nước Lỗ) 3 lần hỏi ông về chính trị Lần đầu ông đáp: “chính giả, chính dã” nghĩa là chính trị là chính đính, lãnh đạo dân một cách chính đính thi ai dám không chính đính
Lần thứ hai, ông bảo: “N ếu không có lòng tham thì dù thưởng cho dân họ cũng không trộm cướp”
Lần thứ ba, ông nói: “trị dân cần gì phải dùng biện pháp giết người? Nhà cầm quyền muốn thiện thì dân sẽ hóa thiện Đức hạnh cùa người quân tử (người trị dân tốt) như gió mà đức hạnh của dân như cỏ Gió thổi, cỏ tất rạp xuống” Khổng Tử dạy rằng ‘Tòng sự chính trị - tức làm việc trị dân - không có gì
là khó, nếu biết giữ thân mình cho đoan chính, trái lại, nếu không giữ mình cho đoan chính thì không làm sao sửa người khác cho đoan chính được” Nhiều lần ông nhắc lại: “M ình mà chính đáng (ngay thẳng, đàng hoàng), dù không ra lệnh, dân cũng theo, mình không chính đáng, tuy ra lệnh, dân cũng chẳng theo” Khổng Tử kết luận: “Làm chính trị mà dùng đạo đức (để cảm hóa dân) thì như sao Bắc đẩu ở một nơi, các ngôi sao khác huớng về cả” (tức thiên hạ theo
Trang 38- Phu - thê (vợ - chồng);
- Huynh - đệ (anh - em);
- Bằng - hữu (bạn bè)
v ề sau người ta rút lại thành 3 mối quan hệ cơ bản nhất là Quân - thân,
Phụ - từ, Phu - thê gọi là tam cuơng tức là Đạo.
Và 5 điều (ngũ thường - nội dung cơ bản của các quan hệ ấy) gôm: Nhân,
Nghĩa, Lễ, Tri, Tín - tức là Đức.
Đạo đức = tam cương, ngũ thường.
Người ta (từ vua quan cho đến thứ dân) đều phải đặt minh trong những mối quan hệ ấy, tùy theo chính danh, và phải tu thân theo 5 nội dung ấy (đức)
Tu thân
Chính danh đức tri ắt phải tu thân Đó là các phạm trù có quan hệ mật thiết vói nhau Để xứng đáng là người mang danh thay trời trị dân, để thực hợp với danh, Khổng Tử khuyên các vua, chúa, quan lại phải sửa mình, phải tự chi trích và phải tự học
Có thể tóm gọn tư tường “tu thân” là phép tắc cơ bản ữong việc trị dân của Khổng Tử ờ 2 câu sau đây:
- “Thân tu nhi hậu gia tề, gia tề nhị hậu quốc trị, quốc trị hậu thiên hạ bình”, nói gọn là “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” (nghĩa là chi có tu thân mói có gia đình yên ấm, rồi mới có thể cai trị dân làm cho thiên hạ thái bình)
- “Trị thiên tử dĩ chi ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bán” đại ý rằng
từ vua cho đến người dân phải lấy việc tu thân làm cơ bản
v ề sau, các nhà tư tường Trung Hoa đã dựa vào Khổng Từ phát triển trong sách Đại học mà viết đoạn đầu như sau:
“Đòi xưa muốn làm sáng được đức trong thiên hạ thi trước hết phải bị nước mình; muốn trị nước mình thì trước hết phải tề nhà mình; muốn tề nhà mình thi trước hết phài sửa thân mình; muốn sửa thân mình thì trước hết phải chính cái tâm của mình; muôn chính cái tâm cùa mình thì trước hêt phài làm cho tinh thành cái ý; muốn làm cho tinh thành cái ý cùa mình thì truớc hết phài
có tri thức cho xác đáng Tri thức cho xác đáng ở chỗ xét kỹ mọi vật”
“Mọi vật đã xét kỹ thì sau tri thức mới xác đáng; tri thức đã xác đáng thì sau cái ý mới chân thành; cái ý đã chân thành thì sau cái tâm mới chính; cái tâm
đã chính thì sau cái thân mới được sửa; cái thân đã được sửa thì sau nhà mới
Trang 39tề-nhà đã tề thì sau nước mới trị; nước đã trị thì sau thiên hạ mới bình Từ thiên tử cho tói thứ dân đều phải lấy sự sửa mình làm gôc, gôc loạn mà ngọn trị là điêu chưa hề có; cái gốc mình đang hậu mà lại bạc, cái ngọn đang bạc mà lại hậu là điều chưa hề có”.
Học
Muốn xứng đáng là người trị dân thì phải tu thân, muốn tu thân thì phải học.Khổng Tử phê phán những ai lười học, học qua loa, giả dối để biện minh cho việc làm quan rồi sẽ biết, cứ làm rồi sẽ quen Ông bảo ràng cai trị một ấp còn phải học, huống hồ cai trị một nước Không thể nói cứ vừa làm, vừa học thêm được Học theo ông là học Đạo, học cách cư xử, cách làm người trước hết
đã rồi mới học văn: “Tiên học lễ, hậu học vàn” Có học mới biết phán đoán, khỏi bị sai lầm, khỏi bị “che lấp” , ô n g bảo học trò rằng “ham đức nhân mà không ham học thì bị sự che lấp là phóng đãng, ham đức tín mà không ham học thì bị sự che lấp là tổn hại; tham đức ngay thẳng mà không ham học thì bị sự chẽ lấp là gắt gao, mất lòng người, ham dũng mà không ham học thì bị sự che lấp là loạn động; ham cương cường mà không ham học thì bị sự che lấp là cường bạo”
Ông nói rằng vua cũng chỉ là một người như dân thường, nên phải có đủ những đức làm người như dân thường; ngoài ra lại còn cần có những đức cùa người trị dân để giáo hóa dân, cảm hóa dân Cho nên sự tu thân của vua quan phải nghiêm cẩn hơn sự tu thân của dân thường Những đức mà vua cần có là:
Chính (ngay thảng); Kính (cung kính), nghiêm trang mà ung dung, giản dị (giản dị trong đời sống và cà trong trị dân); Tín (giữ lời hứa với dân để dân tin mình, thiếu đức tín thì không chính quyền nào đứng vững được); Hành (việc
làm phải đi liền với lời nói, không hứa suông, làm ẩu) Ông luôn nhấn mạnh tín vói hành, muốn làm cho người ta tin mình thì phải thận trọng lời nói, lời nói phải hợp với hành động: “Người xưa thận trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói
mà không làm được”, “than ràng nói nhiều mà làm ít”, tốt nhất là “làm trước lời mình muốn nói rồi hãy nói sau” LỄ (quy củ, phép tắc cùa nhà nước là pháp
điển phong kiến) và Nhân (cái gốc của đạo đức và chính trị) N hân là ái nhân
(yêu người), nhân là “kỷ sờ bất dục vật thi ư nhân” (cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác), nhân là cái gì mình muốn thì cũng làm cho nguời, cái gì mình thành công thì cũng giúp nguời thành công Xem vậy đủ thấy nhân chủ yếu là giúp người, giúp người là đã bao hàm cả yêu người, nếu chỉ yêu suông không giúp thì cũng không phải là nhân
Trang 40Nhân cần cho moi người, nhưng người thường mà nhân chi giúp được ít người thôi, còn vua, chúa, người có quyền thế mà có nhân thì giúp được nhiêu người, giúp được cà nước Cho nên nhân phải là đức cơ bản của Vua •
Phép trị nước cùa Không Tử là đức trị, mà đức trị là nhân trị, trị dân băng đức nhân nên cũng gọi là nhân trị Khổng Từ trong tư cách, đức tài cùa người trị dân hơn là pháp điển, chế độ (lễ) Tuy nhiên ông không coi thường lễ (pháp điển, chế độ), ông lấy nhân làm hạt nhân, làm phạm trù trung tâm của phép trị nước, có nhân thi lễ mới phát huy được hiệu quà ông nói “người không có đức nhân thì lễ mà làm gì? ”ể Không có nhân thỉ lễ chi là hình thức Nhà cầm quyền không có đức nhân mà trọng lễ thì càng thủ cựu, càng dễ hóa ra độc tài; lễ mà bất nhân thì thì sớm muộn cũng mất lòng dân và như vậy là mất tất cả Chính vì thế mà người Trung Quốc có câu “nội thành, ngoại vương” nghĩa là trong bản thể có đức của ông thánh đem ra dùng, tức chăn dân, trị nước, giúp đời thì lập được sự nghiệp một đế vương, một ông vua tốt như vậy là thể dụng có đù Nói cách khác là “nội nhân ngoại lễ” nghĩa là trong phải có lòng nhân thì ngôn - hành ờ ngoài mới hợp lễ được
Tóm lại: Tư tưởng về phép “chăn dân” trị nước, về các nguyên tắc của nhà nước (phong kiến) mà Khổng Từ đề xuất là rất phong phú Đó chính là những tư tưởng mà ngày nay ta gọi là tư tường phục vu chế độ phong kiến, là trung quân, chính vì thế mà Hồ Chí Minh gọi đó là tư tường lộn ngược Nếu ta dựng lại và khai thác, kế thừa thì rất bổ ích, Người đã nói: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng những điều hay trong đó thỉ chúng ta nên học” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG H 1995, T6 Tr46)
2ệ Tư tưởng của Mạnh Tử
Mạnh Tử (372 - 289 tr.CN), sinh sau Khổng Từ 179 năm, ông là "Ọ.UỜÌ kế
thừa và phát triển tư tường của Không Từ Ong là một học giả xuất sắc đươc người đời coi là bậc á thánh (sau Khổng Từ)
Nhân chính Tứ đoanễ Dân vi quý
Mạnh Từ phát triển, bổ sung phạm trù “Nhân” cùa Khổng Tử, đề xuất phạm trù “Nhân nhiên”, ôn g cho ràng Nhân nhiên là cơ bản, là quan trọng hơn
“Lợi” Nhấn mạnh phạm trù “Lợi” sẽ dẫn con người ta đến tính tham lam mà
“tự tư, tự lợi” Nếu ai cũng nghĩ đến lợi mà quên nhân nghĩa thì sẽ mù quáng đi tới sự si mê, say đắm, ghen tỵ, chém giết lẫn nhau để tranh giành quyền lợi Ông còn nói: Chỉ vì đắm đuối vào vật dụng nên cái tâm của ta nỏ mờ tối đi