Đề tài Mạng đô thị MAN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VIỆN ĐIỆN TỬ - VIỄN THÔNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thế Trường Số hiệu sinh viên: C0920321 Khoá: 54 Viện: Điện tử - Viễn thông Ngành: Điện tử - viễn thông 1 Đầu đề đồ án: Mạng đô thị MAN 2 Các số liệu và dữ liệu ban đầu: ……… ………
……
………Nội dung các phần thuyết minh và tính toán: ………
……… …
………
……… …
………
……… ….………
3 Các bản vẽ, đồ thị ( ghi rõ các loại và kích thước bản vẽ ): ………
……… ….………
Họ tên giảng viên hướng dẫn: Lê Quang Thắng 4 Ngày giao nhiệm vụ đồ án:……….
5 Ngày hoàn thành đồ án:……….
Chủ nhiệm Bộ môn Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên đã hoàn thành và nộp đồ án tốt nghiệp
Cán bộ phản biện
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-BẢN NHẬN XÉT ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Số hiệu sinh viên: C0920321 Ngành: Điện tử - viễn thông Khoá: 54 Giảng viên hướng dẫn: Lê Quang Thắng Cán bộ phản biện: ………
1 Nội dung thiết kế tốt nghiệp:
Nhận xét của cán bộ phản biện:
Trang 4
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, văn hoá,
xã hội trong môi trường các đô thị và thành phố lớn kéo theo nhu cầu trao đổi thông tin là rất lớn, đa dạng cả về loại hình dịch vụ cũng như chất lượng và tốc độ dịch vụ Với sự hình thành và phát triển bùng nổ các tổ hợp văn phòng, các khu công nghiệp, các khu công nghệ cao, các khu chung cư…thêm vào đó là các dự án phát triển thông tin của chính phủ, của các cơ quan, các công ty, các tập đoàn làm cho nhu cầu trao đổi thông tin như thoại, dữ liệu, hình ảnh, truy nhập từ xa, truy nhập băng rộng… tăng nhanh dẫn đến áp lực lớn về việc cung cấp các dịch vụ thông tin
có chất lượng và dich vụ cao
Các mạng nội bộ LAN (Local Area Network) chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu trao đổi thông tin trong phạm vi địa lý hẹp (khoảng vài trăm mét) Trong khi đó nhu cầu kết nối với mạng bên ngoài (truy nhập Internet, truy nhập cơ sở dữ liệu, kết nối mạng văn phòng, mạng riêng ảo…) là rất lớn Điều này dẫn đến việc cơ sở hạ tầng thông tin hiện tại với công nghệ TDM là chủ yếu (chuyển mạch kênh, truyền dẫn SDH ) sẽ rất khó đáp ứng được nhu cầu trao đổi thông tin rất lớn như vậy cả về loại hình dịch vụ và cường độ lưu lượng thông tin Do vậy việc nghiên cứu tìm hiểu công nghệ để xây dựng một cơ sở hạ tầng mạng đô thị MAN (Metropolitan Area Network) trên nền mạng thế hệ mới NGN ( Next Generation Network) đáp ứng được nhu cầu trao đổi thông tin nói trên là công việc cấp thiết đối với những nhà cung cấp dịch vụ viễn thông trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
Với các lý do trên, cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy Lê Quang Thắng, em
đã thực hiện và hoàn thiện đồ án tốt nghiệp: “ Mạng đô thị MAN”
Đồ án bao gồm các chương chính như sau:
Chương I: Tổng quan mạng NGN
Chương II: Mạng đô thị, các nguyên tắc xây dựng, triển khai mạng và dịch vụ
Chương III: Một số công nghệ ứng dụng cho mạng đô thị thế hệ kế tiếp
Chương IV: Một số giải pháp mạng đô thị MAN-NGN cho thành phố Hà Nội
Trang 5Em xin chân thành cám ơn thầy Lê Quang Thắng đã tận tình hướng dẫn em trong
quá trình thực hiện đồ án này Em cũng xin cám ơn một số thầy cô trong Viện Điện
tử viễn thông đã tạo điều kiện giúp đõ em trong thời gian qua
Do năng lực trình độ, cũng như thời gian còn hạn chế nên đồ án không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô và bạn bè để đò án được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cám ơn!
Trang 6MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
Chương 1 1
TỔNG QUAN VỀ MẠNG NGN 1
1.1 T ỔNG QUAN VỀ MẠNG THẾ HỆ TIẾP THEO NGN 1
1.1.1 Đánh giá sự hạn chế của mạng viễn thông hiện tại 1
1.1.2 Quá trình hình thành lên NGN 2
1.1.3 Khái niệm về NGN 2
1.2 C ẤU TRÚC MẠNG NGN 3
1.2.1 Các chỉ tiêu xây dựng mạng thế hệ mới 3
1.2.2 Cấu trúc luận lý của NGN 3
1.2.2.1 Mô hình cấu trúc mạng NGN 3
1.2.2.2 Đặc điểm của các lớp trong cấu trúc NGN 5
1.2.3 Cấu trúc vật lý mạng NGN 10
1.2.4 Cấu trúc và các thành phần chính trong mạng NGN 11
1.2.4.1 Media Gateway (MG) 12
1.2.4.2 Media Gateway Controller (MGC) 13
1.2.4.3 Signalling Gateway 14
1.2.4.4 Media Server 15
1.2.4.5 Application Server/Feature Server 16
Chương 2 18
MẠNG ĐÔ THỊ, CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG, 18
TRIỂN KHAI MẠNG VÀ DỊCH VỤ 18
2.1 M ẠNG ĐÔ THỊ .18
2.2 C ÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI MẠNG VÀ DỊCH VỤ 21
2.2.1 Dịch vụ trong mạng đô thị thế hệ kế tiếp 21
2.2.2 Đặc tính của các loại hình dịch vụ và cấp độ dịch vụ 24
2.2.3 Xu hướng công nghệ, giải pháp áp dụng cho mạng đô thị thế hệ kế tiếp .27
2.2.4 Hiện trạng và cấu trúc cơ sở hạ tầng viễn thông hiện có 29
Chương 3 30
MỘT SỐ CÔNG NGHỆ ỨNG DỤNG CHO MẠNG ĐÔ THỊ THẾ HỆ KẾ TIẾP 30
3.1 K IẾN TRÚC MẠNG , CÁC LỚP MẠNG VÀ CÁC CÔNG NGHỆ ỨNG DỤNG 30
3.2 C ÁC CÔNG NGHỆ ỨNG DỤNG PHÂN LỚP 3 31
3.2.1 Công nghệ IP 31
Trang 73.2.2 Công nghệ MPLS 32
3.2.3 Công nghệ G-MPLS 41
3.3 C ÁC CÔNG NGHỆ ỨNG DỤNG PHÂN LỚP 2 42
3.3.1 Công nghệ RPR 42
3.3.2 Công nghệ 10 Gigabit Ethernet 49
3.4 C ÁC CÔNG NGHỆ ỨNG DỤNG PHÂN LỚP 1 54
3.4.1 Công nghệ NG – SDH 54
Chương 4 60
MỘT SỐ GIẢI PHÁP MẠNG ĐÔ THỊ MAN-NGN CỦA 60
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 60
4.1 S Ơ LƯỢC VỀ MẠNG VIỄN THÔNG HIỆN TẠI CỦA T HÀNH PHỐ H À N ỘI 60
4.1.1 Mạng chuyển mạch –truyền dẫn truyền thống 60
4.1.2 Mạng truyền số liệu 61
4.1.3 Mạng Internet 62
4.2 N HU CẦU PHÁT TRIỂN LÊN MAN – NGN CỦA THÀNH PHỐ H À N ỘI 62
4.3 G IẢI PHÁP MẠNG MAN CỦA MỘT SỐ NHÀ SẢN XUẤT 64
4.3.1 Giải pháp của Cisco 64
4.3.2 Giải pháp của Nortel 66
4.3.3 Giải pháp của Siemens 66
4.3 C ẤU TRÚC VÀ CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG MẠNG MAN CHO VIỄN THÔNG H À N ỘI 70
4.3.1 Cấu trúc mạng 70
4.3.2 Yêu cầu kỹ thuật 72
4.3.3 Giải pháp quá độ xây dựng mạng MAN-NGN 72
4.4 X ÂY DỰNG MẠNG MAN CỤ THỂ CỦA VIỄN THÔNG H À N ỘI 73
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT.
Từ viết
tắt
ADSL Asymmetric Digital Subscriber Line Đường dây thuê bao số bất đối
xứng
API Application Programing Interface Giao diện lập trình ứng dụngARIS Aggresgate Route-Base IP Switching Chuyển mạch IP theo phương pháp
tổng hợp tuyếnARP Address Resolution Protocol Giao thức phân tích địa chỉ
ATM Asynchronous Transfer Mode Chế độ truyền dẫn không đồng bộ
BICC Bearer Independent Call Control Điều khiển cuộc gọi độc lập kênh
mang
rộng
CDMA Code Division Multiple Access Đa truy cập phân chia theo mã
CR-LDP Constraint Based Routing LDP Định tuyến ràng buộc LDP
Multiplexing
Ghép kênh phân chia theo mật độ
bước sóngETSI European Telecommunications
Trang 9GE Gigabit Ethernet Mạng gigabit
communication
Dịch vụ di động toàn cầu
IEEE Institute of Electrical and Electronic
Engineers
Viện các kỹ sư điện và điện tử
ISDN Integrated Service Digital Network Mạng số tích hợp đa dịch vụ
ISP Internet Service Internet Provider Nhà cung cấp dịch vụ Internet
hợpITU International Telecommunication
Union
Hiệp hội viễn thông quốc tế
tuyến
nhãn
MGCP Media Gateway Control Protocol Giao thức điều khiển MGMPLS Multiprotocol Label Switching Chuyển mạch nhãn đa giao thứcMSSP Multiservice Switching Forum Nền tảng chuyển mạch đa dịch vụ
OAM Operation Adminitration and
Maintenace
Khai thác quản lý và bảo dưỡng
PLMN Public Land Mobile Network Mạng di động mặt đất công cộng
Trang 10POST Plain Old Telephone Service Mạng thoại truyền thống
PSTN Public Switch Telephone Network Mạng chuyển mạch thoại công
cộng
RAS Registration Admission Startus Đăng ký, chấp nhận tình trạng
RSVP Resource Reservation Protocol Giao thức dành sẵn tài nguyên
SDH Synchnorous Digital Hiearachy Hệ thống phân cấp số đồng bộ
giữa nhà cung cấp và khách hàng
TCP Transport Control Protocol Giao thức điều khiển truyền dẫn
gian
TMN Telecommunications Management
Network
Quản lí mạng viễn thông
sóng
DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang 11Hình 1.2 Mô hình cấu trúc luận lý của NGN 4
Hình 1.3: Các thành phần của Softswitch trong lớp điều khiển 7
Hình 1.4 Cấu trúc vật lý của mạng thế hệ mới 10
Hình 1.5 Các thành phần chính trong mạng NGN 11
Hình 1.6 Cấu trúc của Media Gateway 12
Hình 1.7 Vị trí của MGC trong chuyển mạch mềm 14
Hình 1.8 Cấu trúc của Server ứng dụng 16
Hình 2.1 Kiến trúc phân lớp mạng đô thị thế hệ kế tiếp 20
Hình 2.2 Các giao thức sử dụng trong MAN hiện tại 28
Hình 3.1 Cấu trúc phân lớp của mạng MAN thế hệ kế tiếp 30
Hình 3.2 Các công nghệ ứng dụng trong lớp truyền tải của mạng MAN 31
Hình 3.3 Sự hội tụ của MPLS 34
Hình 3.4 Cấu trúc khung của MPLS 34
Hình 3.5 Topo mạng 35
Hình 3.6 Nhiệm vụ của các node mạng MPLS 36
Hình 3.7 Cơ chế chuyển gói tin 37
Hình 3.8 Cơ chế cấp phát nhãn 37
Hình 3.9 Cơ chế cập nhật nhãn 38
Hình 3.10 Cơ chế tạo tuyến lưu lượng thông suốt 39
Hình 3.11 Cơ chế Spatial Reuse 43
Hình 3.12 Cơ chế cân bằng lưu lượng 44
Hình 3.13 Cơ chế Fairness trong RPR Ring 44
Hình 3.14 Cơ chế Wrap và Steer 45
Hình 3.15 Cấu trúc khung của RPR 46
Hình 3.16 Mạng hoàn toàn RPR 48
Hình 3.17 Mạng RPR, MPLS over SONET, DWDM 48
Hình 3.18 Cấu trúc LAN và WAN PHY 49
Hình 3.19 Chức năng XAUI như là giao diện mở giữa MAC và PCS 50
Hình 3.20 Khoảng cách truyền dẫn hỗ trợ bởi PMD 51
Hình 3.21 Biểu đồ của PMD và PHY 51
Hình 3.22 Ứng dụng 10 Gigabit Ethernet trong mạng MAN 53
Hình 3.23 Ứng dụng 10 Gigabit Ethernet trong mạng SAN 53
Hình 3.24 Kiến trúc ghép kênh SONET/SDH 54
Hình 3.25 Sự linh hoạt của mạng NG-SONET/SDH 55
Hình 3.26: Hoạt động của mạng NG-SONET/SDH 55
Hình 3.27: Thủ tục tạo khung chung GFP 56
Hình 3.28: Cấu trúc khung GFP 57
Hình 3.29: Ghép chuỗi ảo VCAT 58
Hình 4.1 Cấu trúc mạng chuyển mạch của mạng viễn thông Hà Nội 60
Hình 4.2 Cấu trúc mạng truyền dẫn của viễn thông Hà Nội 61
Hình 4.3 Mạng Internet của viễn thông Tp Hà Nội 62
Hình 4.4 Kiến trúc Ring lớp truy nhập 65
Hình 4.5 Kiến trúc Star lớp truy nhập 65
66
Hình 4.6 Cấu trúc logic mạng Metro của Cisco 66
Hình 4.7 Cấu trúc mạng Metro của Siemens 69
Bảng 4.1 Các hình thức kết nối 70
Hình 4.8 Mô hình mạng Metro của viễn thông Hà Nội 74
Hình 4.9 Thiết bị truy nhập IP cho mạng thế hệ sau 75
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ MẠNG NGN
1.1 Tổng quan về mạng thế hệ tiếp theo NGN
1.1.1 Đánh giá sự hạn chế của mạng viễn thông hiện tại
Hiện nay, trên mạng viễn thông hiện tại của nước ta đang tồn tại rất nhiều loại mạng khác nhau như mạng Telex, mạng điện thoại công cộng POTS, mạng truyền
số liệu, PSTN, ISDN, PSDN Các mạng viễn thông này cùng song song tồn tại, mỗi mạng lại yêu cầu một phương pháp thiết kế, sản xuất, vận hành và bảo dưỡng khác nhau Như vậy hệ thống viễn thông hiện tại có rất nhiều nhược điểm mà quan trọng nhất là:
- Chỉ truyền được các dịch vụ độc lập tương ứng với từng mạng
- Thiếu sự mềm dẻo: Sự ra đời của các công nghệ mới ảnh hưởng mạnh mẽ đến tốc độ truyền tín hiệu Sự xuất hiện nhiều dịch vụ truyền thông trong tương lai mà chưa dự đoán được, mỗi loại sẽ có tốc độ truyền khác nhau nên khó cho quản lý và đồng bộ
- Kém hiệu quả cho bảo dưỡng và vận hành cũng như sử dụng tài nguyên Tài nguyên sẵn có trong một mạng không thể chia sẻ cho các mạng khác cùng sử dụng
- Kiến trúc tổng đài độc quyền làm cho các nhà khai thác gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nhà cung cấp tổng đài Ảnh hưởng trực tiếp đến sự cạnh tranh của các nhà cung cấp, hơn nữa tốn nhiều thời gian và tiền bạc khi muốn nâng cấp và ứng dụng các phần mềm mới
- Các tổng đài chuyển mạch kênh đã khai thác hết năng lực và trở nên lạc hậu đối với nhu cầu khách hàng Các chuyển mạch lớp 5 đang tồn tại những hạn chế về khả năng sáng tạo và triển khai các dịch vụ mới Điều đó làm giảm lợi nhuận của các nhà khai thác
- Sự bùng nổ lưu lượng thông tin đã khám phá sự kém hiệu quả của chuyển mạch kênh TDM Chuyển mạch kênh truyền thống chỉ dùng để truyền các
Trang 13lưu lượng thoại có thể dự đoán trước và nó không hỗ trợ lưu lượng dữ liệu thoại tăng đột biến.
1.1.2 Quá trình hình thành lên NGN
Động cơ hàng đầu là tốc độ phát triển theo hàm mũ của nhu cầu truyền dẫn dữ liệu và các dịch vụ liên kết là kết quả tăng trưởng Internet mạnh mẽ Các hệ thống hiện nay chủ yếu được xây dựng nhằm truyền dẫn lưu lượng thoại, truyền dữ liệu thông tin và video đã được vận chuyển trên các mạng chồng lấn, tách rời được triển khai để đáp ứng nhu cầu của chúng Do vậy sự chuyển đổi sang hệ thống mạng chuyển mạch gói tập trung là cần thiết khi mà dữ liệu thay thế vị trí của thoại và trở thành nguồn tạo ra lợi nhuận chính Khi mà chuyển mạch phân chia theo thời gian
đã trở nên bất cập, mạng thế hệ mới ra đời dựa trên nền tảng IP sẽ đưa việc truyền thoại chất lượng ngày càng cao
Những lý do chính dẫn tới sự xuất hiện của mạng thế hệ mới:
- Cải thiện chi phí đầu tư
- Các nguồn doanh thu mới
- Xu thế đổi mới viễn thông
- Nhu cầu ngày càng cao của thuê bao về chất lượng và giá thành
- Sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ chuyển mạch gói, công nghệ truyền dẫn băng rộng, công nghệ điện tử - tin học
1.1.3 Khái niệm về NGN
Mạng thế hệ tiếp theo là một định nghĩa mang tính chất bao hàm Định nghĩa NGN theo ITU định nghĩa như sau: Mạng NGN là kiến trúc mạng trong đó mọi hình thức thông tin được truyền đi dưới dạng gói NGN hội tụ cả 3 loại hình mạng bao gồm mạng thoại truyền thống PSTN, mạng di động và mạng số liệu Internet vào một kết cấu thống nhất để hình thành một mạng chung, thông minh và hiệu quả cho phép truy xuất toàn cầu cũng như tích hợp nhiều công nghệ và ứng dụng mới
1.1.4 Đặc điểm cơ bản của NGN
Mạng NGN là hệ thống mở, giao diện và giao thức giữa các phần tử mạng dựa theo tiêu chuẩn mở Hơn nữa, khác với các tổng đài truyền thống, các khối chức năng trong tổng đài thế hệ mới được tách thành các phần tử mạng độc lập rất tốt cho vấn đề nâng cấp và phát triển Trong NGN, dịch vụ thực hiện độc lập với mạng
Trang 14lưới Mạng NGN hội tụ tất cả các mạng hiện có làm một, phục vụ được tất cả các dịch vụ của các mạng riêng lẻ trước đây, đồng thời phát triển thêm các dịch vụ mới Mạng NGN là mạng chuyển mạch gói, dựa trên giao thức IP thống nhất Là mạng
có dung lượng ngày càng tăng, có tính thích ứng cao, có dung lượng thích ứng nhu cầu người sử dụng
1.2 Cấu trúc mạng NGN
1.2.1 Các chỉ tiêu xây dựng mạng thế hệ mới
NGN phải có khả năng hỗ trợ cả cho các dịch vụ của mạng Internet và của mạng hiện hành Một kiến trúc NGN khả thi phải hỗ trợ dịch vụ qua nhiều nhà cung cấp khác nhau Mỗi nhà cung cấp mạng hay dịch vụ là một thực thể riêng lẻ với mục tiêu kinh doanh và cung cấp dịch vụ khác nhau, và có thể sử dụng những kỹ thuật
và giao thức khác nhau Một vài dịch vụ có thể chỉ do một nhà cung cấp dịch vụ đưa ra, nhưng tất cả các dịch vụ đều phải được truyền qua mạng một cách thông suốt từ đầu cuối đến đầu cuối Mạng tương lai phải hỗ trợ tất cả các loại kết nối (hay còn gọi là cuộc gọi), thiết lập đường truyền trong suốt thời gian chuyển giao,
cả cho hữu tuyến cũng như vô tuyến
Vì vậy, mạng NGN sẽ tiến hóa lên từ mạng truyền dẫn hiện tại (phát triển thêm chuyển mạch gói) và từ mạng Internet công cộng ( hỗ trợ thêm chất lượng dịch vụ QoS), cung cấp các dịch vụ thoại và dữ liệu trong một mạng thống nhất với giao diện mở cho phép phát triển, nâng cấp hệ thống dễ dàng
1.2.2 Cấu trúc luận lý của NGN
1.2.2.1 Mô hình cấu trúc mạng NGN
Cấu trúc mạng NGN bao gồm 5 lớp chức năng: Lớp truy nhập dịch vụ (service access layer), lớp chuyển tải dịch vụ (service transport/core layer), lớp điều khiển (control layer), lớp ứng dụng/dịch vụ (application/service layer) và lớp quản lý (manager layer)
Xét mô hình cấu trúc chức năng của NGN:
Trang 15Hình 1.1 Mô hình cấu trúc chức năng của NGN
Kiến trúc mạng NGN sử dụng chuyển mạch gói cho cả thoại và dữ liệu:
Hình 1.2 Mô hình cấu trúc luận lý của NGN
Trang 161.2.2.2 Đặc điểm của các lớp trong cấu trúc NGN
- Lớp truyền dẫn và truy nhập:
• Phần truyền dẫn:
Trong lớp vật lý bao gồm các đường truyền dẫn quang với kỹ thuật ghép kênh bước sóng quang DWDM được sử dụng và các kỹ thuật gói cho tất cả các dịch vụ QoS truyền dẫn trên mạng lõi trong lớp 2 và lớp 3 Hơn nữa, các giao thức chuyển vận khung ATM hay IP/MPLS sử dụng làm nền cho truyền dẫn trên mạng lõi đảm bảo QoS trong các mạng diện rộng MAN hay mạng đường trục Các router sử dụng
ở biên mạng lõi khi lưu lượng lớn, ngược lại, khi lưu lượng thấp, switch– router có thể đảm nhận luôn chức năng của những router này
Thành phần :
Các nút chuyển mạch/ Router (IP/ATM hay IP/MPLS), các chuyển mạch kênh của mạng PSTN, các khối chuyển mạch PLMN nhưng ở mạng đường trục, kỹ thuật truyền tải chính là IP hay IP/ATM Hơn nữa, trong lớp truyền dẫn còn bao gồm các
hệ thống chuyển mạch và các hệ thống định tuyến cuộc gọi
Chức năng :
Lớp truyền tải trong cấu trúc mạng NGN bao gồm cả chức năng truyền dẫn và chức năng chuyển mạch Lớp truyền dẫn có khả năng hỗ trợ các mức QoS khác nhau cho cùng một dịch vụ và cho các dịch vụ khác nhau Nó có khả năng lưu trữ lại các sự kiện xảy ra trên mạng (kích thước gói, tốc độ gói, độ trì hoãn, tỷ lệ mất gói và Jitter cho phép… đối với mạng chuyển mạch gói, băng thông, độ trì hoãn đối với mạng chuyển mạch kênh TDM) Lớp ứng dụng sẽ đưa ra các yêu cầu về năng lực truyền tải và nó sẽ thực hiện các yêu cầu đó
• Phần truy nhập :
Trong lớp vật lý, trên các đường truyền hữu tuyến sử dụng các đường dây cáp đồng, các đường dây thuê bao số xDSL Trong tương lai truyền dẫn quang DWDM, PON (Passive Optical Network) sẽ dần chiếm ưu thế thay cho thị trường xDSL và modem cáp Trong truy nhập vô tuyến, sử dụng các công nghệ GSM hoặc CDMA , truy nhập vô tuyến cố định và vệ tinh Ở lớp 2 và lớp 3, công nghệ IP sẽ làm nền cho mạng truy nhập
Trang 17Thành phần :
Phần truy nhập gồm các thiết bị truy nhập đóng vai trò giao diện để kết nối các thiết bị đầu cuối vào mạng qua hệ thống mạng ngoại vi cáp đồng, cáp quang hoặc
vô tuyến Các thiết bị truy nhập tích hợp IAD cho phép thuê bao có thể sử dụng mọi
kỹ thuật truy nhập (tương tự, số, TDM, ATM, IP,…) để truy nhập vào mạng đa dịch
cố định, VoDSL, VoIP, …
- Phần truyền thông :
Lớp truyền thông có khả năng tương thích các kỹ thuật chuyển mạch khác với
kỹ thuật chuyển mạch gói IP hay ATM ở mạng đường trục Hay nói cách khác, lớp này chịu trách nhiệm chuyển đổi các loại môi trường (chẳng hạn như PSTN, FrameRelay, LAN, vô tuyến…) sang môi trường truyền dẫn gói được áp dụng trên mạng lõi và ngược lại
Thành phần:
Thiết bị lớp truyền thông là các cổng truyền thông (Media Gateway) bao gồm các cổng truy nhập (AG) và các cổng giao tiếp (TG) Các cổng truy nhập AG (Access Gateway) kết nối giữa mạng lõi với mạng truy nhập, RG (Residental Gateway) kết nối mạng lõi với mạng thuê bao tại nhà Các cổng giao tiếp TG (Trunking Gateway) kết nối giữa mạng lõi với mạng PSTN/ISDN, WG (Wireless Gateway) kết nối mạng lõi với mạng di động
Chức năng:
Lớp truyền thông có khả năng tương thích các kỹ thuật truy nhập khác với kỹ thuật chuyển mạch gói IP hay ATM ở mạng đường trục Hay nói cách khác, lớp này chịu trách nhiệm chuyển đổi các loại môi trường (chẳng hạn như PSTN,
Trang 18FramRelay, LAN, vô tuyến,…) sang môi trường truyền dẫn gói được áp dụng trên mạng lõi và ngược lại.
- Lớp điều khiển:
Thành phần :
Lớp điều khiển bao gồm các hệ thống điều khiển mà thành phần chính là Softswitch còn gọi là Media Gateway Controller hay Call Agent được kết nối với các thành phần khác để kết nối cuộc gọi hay quản lý địa chỉ IP các thành phần như: SGW (Signaling Gateway), MS (Media Server), FS (Feature Server), AS (Application Server)
Hình 1.3: Các thành phần của Softswitch trong lớp điều khiển.
Chức năng:
Lớp điều khiển có nhiệm vụ kết nối để cung cấp các dịch vụ thông suốt từ đầu cuối đến đầu cuối với bất kỳ loại giao thức và báo hiệu nào Cụ thể, lớp điều khiển thực hiện :
- Định tuyến lưu lượng giữa các khối chuyển mạch
Trang 19- Thiết lập yêu cầu, điều chỉnh và thay đổi các kết nối hoặc các luồng, điều khiển sắp xếp nhãn (label mapping) giữa các giao diện cổng.
- Phân bổ lưu lượng và các chỉ tiêu chất lượng đối với mỗi kết nối (hay mỗi luồng) và thực hiện giám sát điều khiển để đảm bảo QoS
- Báo hiệu đầu cuối từ các trung kế, các cổng trong kết nối với lớp media Thống kê và ghi lại các thông số về chi tiết cuộc gọi, đồng thời thực hiện các cảnh báo
- Thu nhận thông tin báo hiệu từ các cổng và chuyển thông tin này đến các thành phần thích hợp trong lớp điều khiển
- Quản lý và bảo dưỡng hoạt động của các tuyến kết nối thuộc phạm vi điều khiển Thiết lập và quản lý hoạt động của các luồng yêu cầu đối với chức năng dịch vụ trong mạng Báo hiệu với các thành phần ngang cấp
Lớp ứng dụng:
Thành phần :
Lớp ứng dụng gồm các nút thực thi dịch vụ SEN (Service Excution Node), thực chất là các server dịch vụ cung cấp các ứng dụng cho khách hàng thông qua lớp truyền tải
Chức năng :
Lớp ứng dụng cung cấp các dịch vụ có băng thông khác nhau và ở nhiều mức
độ Một số loại dịch vụ sẽ thực hiện làm chủ việc thực hiện điều khiển logic của chúng và truy nhập trực tiếp tới lớp ứng dụng, còn một số dịch vụ khác sẽ được điều khiển từ lớp điều khiển như dịch vụ thoại truyền thống Lớp ứng dụng liên kết với lớp điều khiển thông qua các giao diện mở API Nhờ đó mà các nhà cung cấp dịch vụ có thể phát triển các ứng dụng và triển khai nhanh chóng trên các dịch vụ mạng
Lớp quản lý:
Lớp quản lý là một lớp đặc biệt xuyên suốt các lớp từ lớp kết nối cho đến lớp ứng dụng Tại lớp quản lý, người ta có thể triển khai kế hoạch xây dựng mạng giám sát viễn thông TMN, như một mạng riêng theo dõi và điều phối các thành phần mạng viễn thông đang hoạt động Tuy nhiên cần phân biệt các chức năng quản lý với các chức năng điều khiển Vì căn bản NGN sẽ dựa trên các giao diện mở và
Trang 20cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ trong một mạng đơn, cho nên mạng quản lý phải làm việc trong một môi trường đa nhà đầu tư, đa nhà khai thác, đa dịch vụ
Xây dựng sơ đồ thực thể chức năng cho NGN:
IP(Transport & Transmission)
Trong đó:
AS-F: Application Server FunctionMS-F: Media Server FunctionMGC-F: Media Gateway Control FunctionCA-F: Call Agent Function
IW-F: Interworking FunctionR-F: Routing FunctionA-F: Accounting FunctionSG-F: Signaling Gateway FunctionMG-F: Media Gateway Function
Nhiệm vụ của từng thực thể như sau:
AS-F: đây là thực thể thi hành các ứng dụng nên nhiệm vụ chính là cung cấp các
logic dịch vụ và thi hành một hay nhiều các ứng dụng/dịch vụ
MS-F: cung cấp các dịch vụ tăng cường cho xử lý cuộc gọi Nó hoạt động như
một server để xử lý các yêu cầu từ AS-F hoặc MGC-F
MGC-F: cung cấp logic cuộc gọi và tín hiệu báo hiệu xử lý cuộc gọi cho một
hay nhiều Media Gateway
Trang 21CA-F: là một phần chức năng của MGS-F Thực thể này được kích hoạt khi
MGC-F thực hiện việc điều khiển cuộc gọi
IW-F: cũng là một phần chức năng của MGC-F Nó được kích hoạt khi MGC-F
thực hiện các báo hiệu giữa các mạng báo hiệu khác nhau
R-F: cung cấp thông tin định tuyến cho MGC-F.
A-F: cung cấp thông tin dùng cho việc tính cước.
SG-F: dùng để chuyển các thông tin báo hiệu của mạng PSTN qua mạng IP MG-F: dùng để chuyển thông tin từ dạng truyền dẫn này sang dạng truyền dẫn
khác
1.2.3 Cấu trúc vật lý mạng NGN
Xét cấu trúc vật lý của NGN chúng ta thấy rằng trong NGN, chuyển mạch kênh được thay thế bằng chuyển mạch gói, sử dụng công nghệ chuyển mạch mềm, các mạng như số liệu, data, internet, cố định và di động được tích hợp trong một mạng duy nhất Điều đó tạo lên một kiến trúc tổng thể NGN theo một thể thống nhất với các tính năng đa dịch vụ, đa phương tiện
Sau đây là kiến trúc vật lý mạng NGN:
IP Network (WDM/SDH/ATM) MPLS, Mutticast
Resident gateway
GPRS
UMTS
Wireless
Access gateway
Wireless gateway
DNS
Network Management
AAA Charging
Telephone Users
Directory Server
MGC Softswich
Business/
Residental Users Business Users
Mobile Users
ISP
Appication / Feature Server
SS7
Signaling gateway
Hình 1.4 Cấu trúc vật lý của mạng thế hệ mới.
Trang 221.2.4 Cấu trúc và các thành phần chính trong mạng NGN
Trong mạng viễn thông thế hệ mới có rất nhiều thành phần cần quan tâm, nhưng
ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu những thành phần chính thể hiện rõ nét sự tiên tiến của NGN so với mạng viễn thông truyền thống Cụ thể là :
1 Media Gateway (MG)
2 Media Gateway Controller (MGC - Call Agent - Softswitch)
3 Signaling Gateway (SG)
4 Media Server (MS)
5 Application Server (Feature Server)
Mô hình cấu trúc mạng và các thành phần chính trong mạng NGN:
SCP
AXE DX EWSD
SG
DSLAM
AGW TGW
DSL PBX
SIP H323
3G UMTS
MGCP/
H248 SIP SIP
MGCP/
H248 RA LDAP
D IU S
RTP
RTP
RTP RTP
ISUP
IP/ATM
SIP Terminals
IP Core (MPLS)
MGCP/
H248
Hình 1.5 Các thành phần chính trong mạng NGN
Trang 231.2.4.1 Media Gateway (MG)
Hình 1.6 Cấu trúc của Media Gateway
Media Gateway cung cấp phương tiện để truyền tải thông tin thoại, dữ liệu, fax
và video giữa mạng gói IP và mạng PSTN Trong mạng PSTN, dữ liệu thoại được mang trên kênh DS0 Để truyền dữ liệu này vào mạng gói, mẫu thoại cần được nén lại và đóng gói Đặc biệt ở đây người ta sử dụng một bộ xử lý tín hiệu số DSP (Digital Signal Processors) thực hiện các chức năng: chuyển đổi AD (analog to digital), nén mã thoại/audio, triệt tiếng dội, bỏ khoảng lặng, mã hóa, tái tạo tín hiệu thoại, truyền các tín hiệu DTMF,…
Các chức năng của một Media Gateway :
Chức năng chính của Media Gateway là truyền dữ liệu thoại sử dụng giao thức RTP (Real Time Protocol) Cung cấp khe thời gian T1 hay tài nguyên xử lý tín hiệu
số (DSP – Digital Signal Processing) dưới sự điều khiển của MGC (Media Gateway
Controller) Đồng thời quản lý tài nguyên DSP cho dịch vụ này Hơn nữa Media Gateway còn hỗ trợ các giao thức đã có như loop-start, ground-start, E&M, CAS, QSIG và ISDN qua đường truyền T1và quản lý tài nguyên, kết nối T1, cung cấp khả năng thay nóng các card T1 hay DSP Trong hệ thống mạng đã sẵn có phần mềm dự phòng Media Gateway cho phép mở rộng các Media Gateway về cổng, cards, các nút mà không làm thay đổi các thành phần khác trong mạng
Trang 24 Đặc tính hệ thống :
Một Media Gateway là một thiết bị vào/ra đặc hiệu (I/O) Dung lượng bộ nhớ luôn đảm bảo lưu trữ các thông tin trạng thái, thông tin cấu hình, các bản tin MGCP, thư viện DSP…Dung lượng đĩa chủ yếu sử dụng cho quá trình đăng nhập (logging) Quá trình dự phòng đầy đủ giao diện Ethernet (với mạng IP), mở rộng một vài giao diện T1/E1 với mạng TDM với mật độ khoảng 120 port (DSO’s) và sử dụng bus H.110 để đảm bảo tính linh động cho hệ thống nội bộ
1.2.4.2 Media Gateway Controller (MGC)
MGC là đơn vị chức năng chính của Softswitch Nó đưa ra các quy luật xử lý cuộc gọi, còn MG và SG sẽ thực hiện các quy luật đó Nó điều khiển SG thiết lập và kết thúc cuộc gọi Ngoài ra nó còn giao tiếp với hệ thống OSS và BSS
MGC chính là chiếc cầu nối giữa các mạng có đặc tính khác nhau, như PSTN, SS7, mạng IP Nó chịu trách nhiệm quản lý lưu lượng thoại và dữ liệu qua các mạng khác nhau Nó còn được gọi là Call Agent do chức năng điều khiển các bản tin Một MGC kết hợp với MG, SG tạo thành cấu hình tối thiểu cho Softswitch
- Các chức năng của Media Gateway Controller:
Chức năng chủ yếu là quản lý cuộc gọi, sử dụng các giao thức thiết lập cuộc gọi thoại như H.323, SIP và các giao thức điều khiển truyền thông như MGCP, Megaco, H.248 Chức năng tiếp theo là chức năng quản lý lớp dịch vụ và chất lượng dịch vụ với giao thức quản lý SS7 SIGTRAN (SS7 over IP) và xử lý báo hiệu SS7 Ngoài ra, Media Gateway controller còn quản lý các bản tin liên quan QoS như RTCP, thực hiện định tuyến cuộc gọi, ghi lại các thông tin chi tiết của cuộc gọi để tính cước (CDR- Call Detail Record) và điều khiển quản lý băng thông
Trang 25Call Agent Agent Call Trunking
Gateway
Residental Gateway
Sianalling Gateway
Appl
Server
CO Swicth
SCP SCP
Hình 1.7 Vị trí của MGC trong chuyển mạch mềm
- Đối với Media Gateway, MGC có các chức năng:
Xác định và cấu hình thời gian thực cho các DSP
Phân bổ kênh DS0
Truyền dẫn thoại ( mã hóa, nén, đóng gói)
- Đối với Signaling Gateway, MGC cung cấp :
SG làm cho Softswitch giống như một nút SS7 trong mạng báo hiệu SS7 Nhiệm
vụ của SG là xử lý thông tin báo hiệu
- Các chức năng của Signaling Gateway :
Trang 26Trong quá trình báo hiệu SG cung cấp một kết nối vật lý đến mạng báo hiệu, truyền thông tin báo hiệu giữa Media Gateway Controller và Signaling Gateway thông qua mạng IP Trong thiết lập cuộc gọi, Signaling Gateway cung cấp đường dẫn truyền dẫn cho thoại, dữ liệu và các dạng dữ liệu khác (Thực hiện truyền dữ liệu là nhiệm vụ của Media Gateway) và cung cấp các hoạt động SS7 có sự sẵn sàng cao cho các dịch vụ viễn thông.
- Đặc tính hệ thống :
Signaling Gateway là một thiết bị vào ra I/O, dung lượng bộ nhớ luôn đảm bảo lưu trữ các thông tin trạng thái, thông tin cấu hình, các lộ trình,…Dung lượng đĩa chủ yếu sử dụng cho quá trình đăng nhập (logging), do đó không yêu cầu dung lượng lớn Hệ thống dự phòng đầy đủ giao diện Ethernet (với mạng IP), giao diện với mạng SS7 bằng cách sử dụng một luồng E1/T1, tối thiểu 2 kênh D, tối đa 16 kênh D Để tăng hiệu suất và tính linh động người ta sử dụng bus H.110 hay H.100 với yêu cầu độ sẵn sàng cao với nhiều SG, nhiều liên kết báo hiệu,…
1.2.4.4 Media Server
Media Server là thành phần lựa chọn của Softswitch, được sử dụng để xử lý các thông tin đặc biệt Một Media Server phải hỗ trợ phần cứng DSP với hiệu suất cao nhất
Các chức năng của một Media Server:
- Chức năng voicemail cơ bản
- Hộp thư fax tích hợp hay các thông báo có thể sử dụng e-mail hay các bản tin ghi âm trước (pre-recorded message)
- Khả năng nhận tiếng nói (nếu có)
- Khả năng hội nghị truyền hình (video conference)
- Khả năng chuyển thoại sang văn bản (speech-to-text)
Đặc tính hệ thống :
- Là một CPU, có khả năng quản lý lưu lượng bản tin MGCP
- Lưu trữ các phương pháp thực hiện liên kết với DSP nội bộ hay lân cận
- Cần dung lượng bộ nhớ lớn để lưu trữ các cơ sở dữ liệu, bộ nhớ đệm, thư viện,…
- Dung lượng đĩa tương đối nhỏ
Trang 27- Quản lý hầu hết lưu lượng IP nếu tất cả tài nguyên IP được sử dụng để xử lý thoại.
- Sử dụng bus H.110 để tương thích với card DSP và MG
- Độ sẵn sàng cao
1.2.4.5 Application Server/Feature Server
Server đặc tính là một server ở mức ứng dụng chứa một loạt các dịch vụ của doanh nghiệp Chính vì vậy nó còn được gọi là Server ứng dụng thương mại Vì hầu hết các Server này tự quản lý các dịch vụ và truyền thông qua mạng IP nên chúng không ràng buộc nhiều với Softswith về việc phân chia hay nhóm các thành phần ứng dụng
Các dịch vụ cộng thêm có thể trực thuộc Call Agent, hoặc cũng có thể thực hiện một cách độc lập Những ứng dụng này giao tiếp với Call Agent thông qua các giao thức như SIP, H.323,… Chúng thường độc lập với phần cứng nhưng lại yêu cầu truy nhập cơ sở dữ liệu đặc trưng
Hình 1.8 Cấu trúc của Server ứng dụng
Chức năng của Feature Server :
- Xác định tính hợp lệ và hỗ trợ các thông số dịch vụ thông thường cho hệ thống đa chuyển mạch
Trang 28Một vài ví dụ về các dịch vụ đặc tính :
- Hệ thống tính cước – Call Agents sử dụng các bản ghi chi tiết cuộc gọi CDR (Call Detail Record) Chương trình CDR có rất nhiều đặc tính, chẳng hạn khả năng ứng dụng tốc độ dựa trên loại đường truyền, thời điểm trong ngày, Dịch
vụ này cho phép khách hàng truy nhập vào bản tin tính cước của họ thông qua cuộc gọi thoại hay yêu cầu trang Web
- H.323 Gatekeeper- dịch vụ này hỗ trợ định tuyến thông qua các miền khác nhau (các mạng khác nhau) Mỗi miền có thể đăng ký số điện thoại và số truy nhập trung kế với Gatekeeper thông qua giao thức H.323 Gatekeeper sẽ cung cấp dịvh vụ định tuyến cuộc gọi ( và chuyển dịch sang dạng số) cho mỗi đầu cuối H.323 Gatekeeper còn có thể cung cấp điều khiển tính cước và quản lý băng thông cho Softswitch
- VPN- Dịch vụ này sẽ thiết lập mạng riêng ảo cho khách hàng với các đặc tính sau :
o Băng thông xác định ( thông qua mạng thuê riêng tốc độ cao)
o Đảm bảo QoS
o Nhiều tính năng riêng theo chuẩn
o Kế hoạch quay số riêng
o Bảo mật các mã thoại được truyền dẫn
- Đặt một vài cơ sở dữ liệu trong Server
- Dung lượng đĩa lớn, tùy thuộc vào đặc tính của ứng dụng Chẳng hạn như dung lượng 100GB- 2TB cho ngân hàng voice mail
- Giao diện Ethernet (với mạng IP) được thực hiện với đầy đủ khả năng dự phòng
Trang 29Chương 2 MẠNG ĐÔ THỊ, CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG,
TRIỂN KHAI MẠNG VÀ DỊCH VỤ
2.1 Mạng đô thị
Mạng đô thị băng rộng đa dịch vụ, gọi tắt là mạng MAN (Metropolitan Area Network) là mạng băng thông rộng trên cơ sở tích hợp cấu trúc mạng thế hệ mới – NGN (Next Generation Network), có khả năng cung cấp một siêu xa lộ thông tin
Mạng MAN là mạng máy tính có kích cỡ trung bình từ vài km đến vài chục
km, có khả năng tạo ra các kết nối tốc độ cao, lên đến hàng trăm Megabit/s (có thể
mở rộng lên đến Gigabit/s) Nó có thể được kết nối các nhóm văn phòng, các nhóm doanh nghiệp, trường, viện, đơn vị,… phuc vụ cho công tác chỉ đạo, quản lý hành chính nhà nước, trao đổi thông tin, cung cấp các dịch vụ hành chính công, chuẩn bị cho phát triển thương mại điện tử… Xu hướng tích hợp giữa công nghệ thông tin và viễn thông trên một cơ sở hạ tầng duy nhất đã thúc đẩy nhóm các nhà cung cấp thiết
bị, giải pháp xây dựng và khai thác mạng,… quan tâm nghiên cứu mạng đô thị thế
hệ kế tiếp (Next Generation Metropolitan Area Network) Mạng đô thị được hiểu nằm giữa mạng tryền tải đường trục và mạng truy nhập
Mạng đô thị băng rộng (MetroNet-MAN) cung cấp đường truyền tốc độ siêu cao, có khả năng cung cấp nhều loại dịch vụ giá trị gia tăng cùng lúc trên cùng một đường truyền, chủ yếu sử dụng đường truyền cáp quang MetroNet được thiết kế mạng lõi theo dạng mạch vòng và được cáp quang hóa nên có tốc độ cao có thể lên tới hàng Gbps, đáp ứng được mọi nhu cầu về tốc độ cũng như các ứng dụng cao cấp, chất lượng đường truyền rất cao, không bị xuyên nhiễu, đảm bảo tốc độ ổn định và tính bảo mật cao
Nhờ ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất kết hợp với hệ thống cáp quang đến tận nhà, MetroNet cung cấp cho khách hàng khả năng sử dụng đồng thời 3 loại dịch
vụ là thoại (voice), dữ liệu (data) và hình ảnh (video) gồm: truyền dữ liệu, hình ảnh,
IP TV, điện thoại có hình ảnh (video phone), hội nghị truyền hình, xem phim theo
Trang 30yêu cầu (video on demand), truyền hình cáp, giáo dục từ xa, giám sát từ xa, truy cập Internet,…
Một trong những ứng dụng nổi bật của MetroNet là tích hợp các ứng dụng trong thời gian thực nhờ băng thông cực rộng, tính linh hoạt cao Người sử dụng có thể dễ dàng thay đổi cấu hình băng thông tùy theo ý muốn tùy mục đích sử dụng và tiết kiệm
Với băng thông rộng lên tới 1 Gbps, người dùng dịch vụ này sẽ tiết kiệm được thời gian tải các chương trình, nhất là đối với các cơ sở dữ liệu, hệ thống hình ảnh, phim…có dung lượng lớn Tùy theo nhu cầu thực tế và điều kiện khách hàng, MetroNet có thể dễ dàng thay đổi cấu hình băng thông theo yêu cầu của khách hàng theo từng nấc 1 Mbps Một cách khác là người sử dụng có thể lựa chọn 4 mức cam kết chất lượng dịch vụ (gọi là SLA) gồm: SLA1 ứng dụng thoại, SLA2 ứng dụng thời gian thực như video, IPTV, video phone, video conferenceing…, SLA3 thực hiện truyền số liệu và SLA4 cho chất lượng dịch vụ tối thiểu tùy lựa chọn của khách hàng
MetroNet cho phép thuê bao thiết lập mạng theo những cách mà dịch vụ truyền thống khác không thể thực hiện được Khách hàng có thể sử dụng 2 kiểu kết nối là từ điểm đến điểm (Point – to – Point) và đa điểm đến đa điểm (Multipoint –
to – Multipoint) Chẳng hạn, một công ty sử dụng dịch vụ MetroNet có thể kết nối nhiều mạng của họ (LAN, WAN), hoặc mạng của đối tác ở nhiều vị trí khác nhau
để thành lập một mạng riêng ảo (VPN) hoặc kết nối Internet tốc độ cao đến nhà cung cấp dịch vụ Internet
Một điểm đặc biệt khi sử dụng mạng MetroNet là khách hàng có thể thêm vào hoặc thay đổi băng thông rất nhanh thay vì phải thực hiện trong vài ngày hoặc thậm chí vài tuần như khi sử dụng những dịch vụ mạng truy nhập khác (Frame relay, ATM…) Ngoài ra, những thay đổi này không đòi hỏi người sử dụng phải mua thiết bị mới
Thuận lợi khi sử dụng dịch vụ này là người dùng sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi, hội tụ đủ tăng cường hiệu năng của hệ thống CNTT và viễn thông, dễ dàng triển khai các ứng dụng chuyên nghiệp và hiện đại nhất trên mạng, tích hợp việc giám sát mạng nhanh chóng, dễ dàng triển khai thêm các dịch vụ tiện ích với giá trị gia tăng
Trang 31trên mạng, kết nối mạng liên tỉnh, quốc tế với băng thông rộng, kết nối với các nhà cung cấp nội dung thông tin để tăng tính đa dạng và hiệu quả khai thác mạng nội bộ.
Hình 2.1 Kiến trúc phân lớp mạng đô thị thế hệ kế tiếp
Lớp truy nhập thực hiện các chức năng tích hợp các loại hình dịch vụ bao gồm cả dịch vụ từ người sử dụng và dịch vụ mạng
Lớp mạng lõi thực hiện chức năng truyền tải lưu lượng tích hợp trong mạng
đô thị một cách hợp lý, lớp này thực hiện chức năng định tuyến truyền tải lưu lượng trong nội vùng đô thị hoặc chuyển giao lưu lượng với mạng trục
Không giống như mạng đường trục nơi có khuynh hướng hội tụ các loại hình lưu lượng truyền tải nhằm đạt hiệu suất sử dụng mạng cao nhất như SDH/DWDM, mạng đô thị thực hiện tiếp cận với rất nhiều loại hình ứng dụng và giao thức truyền tải cần phải truyền một cách “trong suốt” giữa người sử dụng hoặc các mạng văn phòng với nhau Do vậy vấn đề đặt ra là cần cân nhắc giữa mục tiêu là truyền lưu lượng trong suốt và đạt hiệu suất sử dụng mạng cao, đó là bài toán đặt ra đối với các nhà xây dựng mạng đô thị, nó sẽ quyết định đến chiến lược triển khai mạng và dịch
vụ cũng như việc lựa chọn nhà cung cấp thiết bị mạng
Trang 322.2 Các nguyên tắc xây dựng và triển khai mạng và dịch vụ
Thực tế cho thấy hiện tồn tại nhiều cơ sở hạ tầng mạng cũ dựa trên công nghệ ATM/SDH, do vậy các nhà cung cấp dịch vụ mạng rất quan tâm tới việc tích hợp các cơ sở hạ tầng cũ với việc xây dựng cơ sở hạ tầng Mạng đô thị thế hệ kế tiếp Do vậy các nhà cung cấp dich vụ mạng thế hệ kế tiếp cần phải có một chiến lược xây dựng và cung cấp dịch vụ rõ ràng và đi theo lộ trình đã được vạch ra Những căn cứ
để vạch ra chiến lược đó là:
- Nhu cầu đòi hỏi cung cấp dịch vụ mạng MAN (Loại hình dịch vụ, tỉ trọng các dịch vụ và đặc tính dịch vụ)
- Xu hướng áp dụng công nghệ và giải pháp áp dụng cho mạng MAN
- Cấu trúc cơ sở hạ tầng viễn thông hiện trạng
- Trình độ quản lí, khả năng tiếp cận các công nghệ mới của đội ngũ cán bộ kĩ thuật
2.2.1 Dịch vụ trong mạng đô thị thế hệ kế tiếp.
Trước tiên ta cần xác định mô hình cung cấp dịch vụ trong mạng MAN thế hệ mới Mô hình cung cấp dịch vụ này dựa trên cơ sở các yêu cầu xuất phát từ người
sử dụng, nó hoàn toàn độc lập với các giải pháp công nghệ triển khai sau này Hiện tại chúng ta có thể triển khai dịch vụ theo 3 mô hình sau đây:
- Dịch vụ truyền tải LAN trong suốt (Transparent LAN Service) cung cấp kết nối giữa các mạng cục bộ tách rời nhau về mặt địa lý cũng như về mặt kết nối vật lý
- Dịch vụ cung ứng đường truy nhập Internet (Dedicated Internet Access) cung cấp kết nối tốc độ cao tới các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP- Internet Service Providers)
- Cung cấp đường kết nối riêng (Private Line Service) cung cấp các đường kết nối riêng tới các thuê bao
Các mô hình cung cấp dịch vụ trên đây sẽ làm cơ sở cho việc phát triển các loại hình dịch vụ giá trị gia tăng khác Các loại hình dịch vụ giá trị gia tăng có nhu cầu lớn hiện nay và trong tương lai gần là:
- Dịch vụ thoại
- Dịch vụ Video
Trang 33- Dịch vụ kết nối truy cập Internet
- Dịch vụ kết nối thuê kênh riêng
- Dịch vụ kết nối mạng riêng ảo (VPN)
- Dịch vụ truy cập cơ sở dữ liệu
- Dịch vụ lưu trữ dữ liệu
- Dịch vụ cho thuê cơ sở hạ tầng
Sau đây ta sẽ xem xét lần lượt các loại hình dịch vụ trên
Dịch vụ thoại:
Sẽ xuất hiện hai hình thức cung cấp dịch vụ thoại: Các dịch vụ thoại trên nền tảng mạng MAN mới được xây dựng và các dịch vụ thoại PSTN truyền thống từ mạng PSTN hiện có Đối với cả hai hình thức trên đều yêu cầu mạng MAN mới xây dựng cung cấp các giao thức phù hợp để truyền tải các dịch vụ này Như vậy mạng cần phải có các nút mạng thực hiện chức năng là cổng giao tiếp kết nối với các loại hình giao thức khác nhau và phải có những cơ chế truyền tải lưu lượng phù hợp nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ cũng như các nút mạng thực hiện chức năng điều khiển, kiến tạo dịch vụ hoặc hệ thống liên kết báo hiệu
Dịch vụ Video:
Đây là vấn đề được quan tâm và cân nhắc nhiều nhất khi quyết định đầu tư xây dựng mạng bởi lẽ cần có một công nghệ và cơ sở hạ tầng mạng hiện đại cho dịch vụ này, tuy nhiên đây là một trong ba dịch vụ cơ bản (thoại, video, truyền số liêụ) mà nếu mạng MAN thế hệ mới cung cấp cả ba dịch vụ mày với chất lượng và tốc độ cao sẽ có lợi thế cạnh tranh một cách tuyệt đối
Dịch vụ kết nối truy cập Internet:
Đây là một trong những dịch vụ chủ yếu của mạng LAN thế hệ mới, nhu cầu kết nối Internet đang tăng với tốc độ chóng mặt nhờ những dịch vụ như: trao đổi thông tin, gửi nhận thư điện tử, truyền tệp, truy nhập điều khiển từ xa, giao dịch thương mại điện tử, giải trí trên mạng, game online… Hiện nay dịch vụ này cung cấp qua mạng PSTN hoặc ADSL tuy nhiên vẫn có sự hạn chế về băng thông (ngay cả mạng ADSL cũng dựa vào mạng truyền dẫn SDH hiện có để truyền tải lưu lượng) dẫn đến tốc độ và chất lượng truy cập không cao
Dịch vụ kết nối thuê kênh riêng:
Trang 34Dịch vụ thuê kênh riêng đang triển khai hiện nay được triển khai ở lớp vật lý trên cơ sở công nghệ truyền dẫn/chuyển mạch TDM (sử dụng cơ chế ghép tách kênh trong công nghệ SDH hoặc sử dụng các giao diện thuê bao số tốc độ thấp của các hệ thống chuyển mạch kênh TDM) Phương thức cung cấp kênh thuê riêng nói trên thực hiện cung cấp một tuyến kết nối vật lý riêng rẽ tới khách hàng từ đầu cuối tới đầu cuối với băng thông cố định, điều này khiến cho hiệu suất sử dụng băng thông giảm đồng thời giá thành thuê kênh cao trong khi không đáp ứng được nhu cầu đối với các thuê bao có nhu cầu tốc độ kết nối cao.
Mạng MAN thế hệ mới sẽ cung cấp dịch vụ thuê kênh riêng với nhiều giao diện, nhiều tốc độ, thời gian đáp ứng nhanh, giá thành hạ bằng cách sử dụng băng thông một cách linh hoạt, nâng cao hiệu suất sử dụng Dịch vụ thuê kênh riêng trong mạng MAN thế hệ mới khắc phục hầu hết nhược điểm của phương thức cung cấp cũ
Dịch vụ kết nối mạng riêng ảo:
Hiện nay để kết nối, trao đổi thông tin giữa các trung tâm đầu não và các chi nhánh của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, ngân hàng, kho bạc, cơ sở đào tạo… thường phải thuê kênh riêng của các nhà cung cấp dịch vụ mạng với chi phí tương đối cao Để giải quyết vấn đề rất được quan tâm này mạng LAN thế hệ mới cung cấp dịch vụ mạng riêng ảo VPN (Virtual Private Network), VPN cho phép các cơ quan, tổ chức liên kết (ảo) các thực thể mạng LAN lại với nhau thành một mạng thống nhất, quản lý một cách thống nhất về cấu trúc phân cấp mạng, cơ chế định tuyến, cơ chế phân quyền truy nhập, chia sẻ tài nguyên mạng nội bộ, khả năng bảo mật thông tin Trong thực tế dịch vụ này đã được triển khai và phát triển rất nhanh chóng
Dịch vụ truy nhập cơ sở dữ liệu:
Sự phát triển rất nhanh của Internet, các cơ sở hạ tầng mạng truyền dữ liệu, mạng của các cơ quan chính phủ, cơ sở đào tạo nghiên cứu, doanh nghiệp, ngân hàng, kho bạc…cho phép các cơ quan chính phủ, các viện nghiên cứu cung cấp các thông tin về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, thương mại thông qua các kho cơ
sở dữ liệu chia sẻ Thông qua các công cụ tìm kiếm nội dung thông tin, các trình duyệt Web hoặc các hạ tầng phát triển ứng dụng trao đổi thông tin khác như các hệ
Trang 35quản trị cơ sở dữ liệu người sử dụng có thể tìm kiếm, truy nhập các cơ sở dữ liệu dùng chung trên mạng phục vụ cho công việc hoặc nhu cầu cá nhân.
Dịch vụ lưu trữ dữ liệu:
Số liệu dạng điện tử của các cá nhân và các tổ chức không ngừng tăng lên một cách nhanh chóng Trong lĩnh vực tài chính, các tổ chức tín dụng, ngân hàng, các công ty môi giới chứng khoán, ngành y tế, bảo hiểm, các cơ sở nghiên cứu khoa học
có một hệ thống dữ liệu khổng lồ, phân tán trong phạm vi địa lý rộng đòi hỏi phải lưu trữ, cập nhật thường xuyên Đặc biệt đối với công tác hành chính, quản lý nhà nước có các số liệu rất đa dạng, phân tán và thường xuyên phải được cập nhật Như vậy việc lưu trữ, bảo vệ và khôi phục các dữ liệu trên đòi hỏi các trung tâm lưu trữ
dữ liệu điện tử
Dịch vụ cho thuê cơ sở hạ tầng:
Các loại hình dịch vụ cho thuê cơ sở hạ tầng mạng bao gồm dịch vụ kết nối với các nhà cung cấp dịch vụ mạng khác, các công ty phát triển dịch vụ giá trị gia tăng… cung cấp các kết nối vật lý hay đảm bảo vận chuyển lưu lượng của các nhà cung cấp dịch vụ mạng khác
2.2.2 Đặc tính của các loại hình dịch vụ và cấp độ dịch vụ.
Nhà cung cấp dịch vụ cần phải quan tâm về các thuộc tính dịch vụ của lớp dịch
vụ được cung cấp bởi vì nó ảnh hưởng rất lớn đến hướng triển khai dịch vụ trên mạng Ví dụ, nếu mạng cần phải cung cấp các lớp dịch vụ có độ duy trì cao thì điều này có nghĩa là mạng xây dựng cần phải tăng cường khả năng dự phòng các thiết bị mạng, hướng kết nối, tài nguyên phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ có nghĩa là tăng chi phí đầu tư xây dựng mạng Với các lớp dịch vụ cần quan tâm đến các chỉ tiêu về trễ, tốc độ trao đổi thông tin đòi hỏi mạng cần có khả năng điều khiển lưu lượng một cách linh hoạt, nghĩa là các cơ cấu, giao thức điều khiển lưu lượng nhằm đảm bảo các chỉ tiêu QoS cho các dịch vụ cần phải được cung cấp trong các nút thiết bị
và hệ thống quản lý trên toàn mạng
Xét về mặt tổng quan, nhà khai thác và cung cấp dịch vụ phải quan tâm đến một số thuộc tính chủ yếu sau nhằm mục đích đánh giá một cách tốt nhất băng thông cần thiết cho khách hàng, từ đó xác định được khả năng thực hiện của mạng nhằm đảm bảo sự khả thi cao của mạng được xây dựng
Trang 36 Các hình thái băng thông của dịch vụ:
Khi đã xác định được các loại hình dịch vụ cần cung cấp trong mạng, nhà cung cấp cần phải lựa chọn các loại hình dịch vụ trên cơ sở xem xét đến các đặc tính dịch
vụ cần cung cấp thông qua các điều khoản, thoả thuận về cấp độ dịch vụ SLA Các điều khoản thoả thuận về cấp độ dịch vụ cho phép nhà cung cấp dịch vụ sắp xếp phân loại tập các loại hình dịch vụ phù hợp với các ứng dụng cần cung cấp theo yêu cầu của khách hàng, mỗi một giải pháp mạng dựa trên nền tảng các công nghệ được lựa chọn nào đó sẽ cho phép xây dựng mạng cung cấp tập các dịch vụ tương ứng với giải pháp công nghệ được lựa chọn, trong khi đó yêu cầu về loại hình dịch vụ của khách hàng mang tính đặc thù không phụ thuộc vào công nghệ Do đó, vấn đề lựa chọn yêu cầu dịch vụ của khách hàng phù hợp với loại hình dịch vụ cụ thể với những chỉ tiêu về SLA là rất quan trọng đối với nhà cung cấp dịch vụ Nếu làm tốt điều này thì sẽ đảm bảo khả năng tăng lợi nhuận trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, đồng thời đặt được mục tiêu đảm bảo chất lượng dịch vụ theo khuôn khổ các điều khoản SLA đối với khách hàng
Hình thái băng thông chỉ ra một số đặc tính cơ bản nhất và thuộc về các đặc tính của SLA Thông thường, hình thái băng thông của dịch vụ được xác định bởi thông tin về tốc độ trao đổi thông tin được thoả hiệp (CIR), thông tin về tốc độ đỉnh được thoả hiệp (PIR) Ngoài ra hình thái băng thông của dịch vụ còn được thể hiện bởi thuộc tính về giá trị bus cực đại (MBS) thể hiện tổng số lưu lượng cực đại mà người sử dụng đươc phép truyền liên tục với tốc độ vượt qua tốc độ quy định bởi CIR
Hình thái băng thông theo cách thể hiện thông thường mà nhà khai thác mạng cung cấp cho khách hàng là một tốc độ không đổi khi trao đổi dữ liệu, tuy vậy thực
tế cung cấp dịch vụ của nhà khai thác sẽ có hai hình thức cung cấp băng thông: hình thức cung cấp băng thông cố định tại phân lớp 1 và hình thức cung cấp băng thông thống kê tại phân lớp 2 và 3 Trên cơ sở sử dụng ghép kênh thống kê dịch vụ loại hình cung cấp băng thông cố định là loại hình truyền thống, điển hình của loại này
là việc cung cấp các kết nối tới khách hàng trên cơ sở công nghệ chuyển mạch kênh TDM hoặc công nghệ truyền dẫn SONET/SDH Cung cấp băng thông cho khách hàng theo loại hình này không cho phép nhà cung cấp phân lớp dịch vụ một cách
Trang 37hoàn chỉnh và chi tiết bởi vì lưu lượng của tất cả các loại hình dịch vụ đều được đối
xử như nhau, không có sự ưu tiên phân biệt Hình thái băng thông ở loại hình này người ta chủ yếu quan tâm tới thuộc tính thông tin về tốc độ đỉnh PIR chứ không quan tâm tới thuộc tính thông tin về tốc độ được thoả hiệp CIR Hình thái băng thông loại thứ hai là cung cấp băng thông thống kê, hình thái này cho phép nhà khai thác sử dụng băng thông tổng, tài nguyên mạng hiệu quả hơn rất nhiều Tuy vậy sử dụng loại hình thái băng thông này cung cấp cho ngưòi sử dụng đòi hỏi nhà khai thác và quản lý mạng phải triển khai những công nghệ thích hợp, cho phép thực hiện chức năng quản lý lưu lượng tinh tế với những khả năng phân loại lưu lượng, khả năng đóng khuôn lưu lượng, kĩ thuật định cơ bộ đệm… có đội ngũ cán bộ kỹ thuật trình độ cao, am hiểu công nghệ mới
Phân lớp dịch vụ:
Khái niệm về phân lớp dịch vụ được hiểu là nhóm các ứng dụng đòi hỏi có chung một cách thức trao đổi thông tin giống nhau Các lớp dịch vụ khác nhau yêu cầu cách thức truyền tải thông tin khác nhau Việc phân lớp dịch vụ cho phép nhà cung cấp dịch vụ tạo các ứng dụng có thể (các dịch vụ cụ thể tới người sử dụng một cách linh hoạt hơn thay vì việc cung cấp kết nối vật lý cố định tới người sử dụng) Người
sử dụng sẽ nhận được một hợp đồng về vận chuyển lưu lượng và chỉ quan tâm tới danh sách liệt kê các dịch vụ với những thuộc tính SLA tương ứng thay vì đơn thuần chỉ quan tâm đến băng thông mà nhà khai thác mạng đưa lại Giữa nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng ràng buộc với nhau về thuộc tính của SLA, của các lớp dịch vụ được thoả thuận trong hợp đồng vận chuyển lưu lượng
Nhà cung cấp dịch vụ khi thực hiện cung cấp dịch vụ cho người sử dụng sẽ phải triển khai các phương án cấp dịch vụ theo các lớp dịch vụ khác nhau đã được xác định theo mã số dịch vụ (như mã số dịch vụ DSCP trong công nghệ IP) và ghép nối với các cấp dịch vụ tương ứng với công nghệ được triển khai Ví dụ, nhà cung cấp dịch vụ triển khai bốn lớp dịch vụ, mỗi một dịch vụ được đặc trưng bởi cặp giá trị CIR/PIR về thuộc tính dịch vụ
Phương thức phân cấp độ dịch vụ đem lại nhiều điểm thuận lợi cho khách hàng cũng như nhà khai thác mạng Nó cho phép khách hàng xem được chi tiết hơn về
Trang 38phương thức truyền tải lưu lượng mà mình sử dụng, nhà khai thác sẽ có lợi nhiều hơn về việc tăng tính hiệu quả, tối ưu sử dụng tài nguyên mạng.
2.2.3 Xu hướng công nghệ, giải pháp áp dụng cho mạng đô thị thế hệ kế tiếp
Các mạng viễn thông, máy tính truyền thống hiện nay có đặc điểm chung là tồn tại một cách riêng lẻ Tương ứng với mỗi loại hình dịch vụ thông tin thì có ít nhất một loại mạng viễn thông, máy tính riêng để phục vụ dịch vụ đó Hay nói cách khác, các dịch vụ viễn thông, máy tính khác nhau cần đến các hệ thống mạng khác nhau Chẳng hạn như với thoại là mạng PSTN truyền thống, dựa trên nền chuyển mạch kênh, với dữ liệu là mạng truyền số liệu theo X25, X21, mạng truy nhập trên nền chuyển mạch gói IP… Các mạng này hoạt động hoàn toàn tách biệt nhau, và do đó hình thức quản lý cũng hoàn toàn riêng biệt nhau Chính vì vậy mà các nhà cung cấp dịch vụ phải đồng thời vận hành quản lý cùng lúc rất nhiều mạng viễn thông khác nhau Hình thức quản lý phân tán này trở nên khá phức tạp một cách không cần thiết Bên cạnh đó, việc tồn tại cùng lúc song song nhiều mạng sẽ tạo nên sự trùng lặp đan xen nhau giữa các mạng
Với các hệ thống truyền thống, việc thực hiện đa dịch vụ là rất khó khăn và phải đồng thời triển khai các hệ thống khác nhau cùng lúc tại cùng một thời điểm Và để tiến sâu hơn trong việc cung cấp đa dịch vụ theo nhu cầu của hiện tại và tương lai là điều không thể thực hiện được Các hệ thống viễn thông truyền thống chưa có được tính năng mở cho môi trường multi-vendor, chẳng hạn như chưa có được các giao diện lập trình mở (API) hay chưa thể làm việc trong môi trường đa giao thức Đây
là một nhược điểm rất lớn gây không ít khó khăn cho nhà vận hành mạng
Trong mạng chuyển mạch kênh, những kênh lưu lượng được thiết lập giữa những người sử dụng sau khi một số được quay và kênh này được duy trì cho cuộc gọi đó đến khi một người dùng nào đó giải phóng cuộc gọi Đây là dịch vụ thiết lập kết nối trước khi truyền dữ liệu (connection oriented) cung cấp cho những người sử dụng với đảm bảo là lưu lượng thoại sẽ không bị đứt quãng, tuy nhiên, do kênh bị chiếm dụng ngay cả khi không có dữ liệu hữu ích vô hình chung gây ra sự lãng phí rất lớn Mặc dù vậy, đây là mạng được thiết kế tối ưu cho dịch vụ thoại cơ bản
Vấn đề đặt ra khi nổi bật lên nhu cầu truyền dữ liệu trên mạng chuyển mạch kênh Khi hầu hết lưu lượng dữ liệu được truyền trong những khoảng ngắn (so với thoại),
Trang 39quá trình truyền vẫn gắn với việc thiết lập kênh và giữ cho chúng luôn mở trong suốt quá trình truyền chứng tỏ không hiệu quả và tốn chi phí Đây là một điều bất lợi khi mà hầu hết những người dùng chỉ muốn trả chi phí cho dữ liệu truyền chứ không phải khoảng thời gian mà kênh truyền mở Khi lưu lượng truyền dữ liệu bắt đầu bằng và vượt quá lưu lượng thoại trên mạng viễn thông, sẽ kinh tế hơn nếu chúng ta cũng truyền thoại trên mạng chuyển mạch gói Sự hội tụ này sẽ giúp giảm chi phí hoạt động và bảo dưỡng những mạng riêng rẽ Tuy nhiên cũng có nhiều vấn
đề gắn với việc duy trì chuyển mạch kênh là những mức độ dịch vụ có thể cung cấp thời gian thực trên mạng chuyển mạch gói, vì trên mạng chuyển mạch gói không phải lúc nào cũng đủ dung lượng để duy trì khả năng truyền dữ liệu đáp ứng thời gian thực Trong mạng chuyển mạch gói có thể xảy ra một số trường hợp như: gói
dữ liệu bị mất, trễ, nghẽn mạch, những trường hợp này không được mong muốn trong qua trình truyền thoại
Hình 2.2 Các giao thức sử dụng trong MAN hiện tại
Như vậy các nhược điểm chính của các giao thức mạng hiện nay đang sử dụng trong mạng MAN là:
Mỗi giao thức cần một cơ sở hạ tầng mạng riêng biệt
Không linh hoạt trong sử dụng và quản lý băng thông, chất lượng dịch vụ do vậy không thể cung cấp được các dịch vụ dưới dạng SLA
Hạn chế trong khả năng cung cấp băng thông rộng cho một thuê bao dẫn đến chi phí cao
Trang 40Xu hướng phát triển của mạng thế hệ kế tiếp là từng bước thay thế hoặc chuyển lưu lượng mạng sử dụng công nghệ TDM sang mạng sử dụng công nghệ chuyển mạch gói, xây dựng cơ sở hạ tầng mạng với mục tiêu hội tụ các loại hình dịch vụ dữ liệu, tiếng nói, truyền hình trên cùng một cơ sở hạ tầng mạng, cung cấp các dịch vụ băng thông rộng dưới dạng thoả thuận về cấp độ dịch vụ.
Các công nghệ sử dụng trong mạng MAN thế hệ kế tiếp phải khắc phục được các nhược điểm của công nghệ mạng hiện nay và đáp ứng được các mục tiêu đề ra ở trên Hiện nay các công nghệ đang rất được quan tâm ở lớp 3 là công nghệ sử dụng giao thức định tuyến Internet (IP- Internet Protocol) và công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao thức (MPLS- Multiprotocol Label Switching) Các công nghệ ở lớp 1 và 2 là công nghệ GbE (Gigabit Ethernet), công nghệ Ring gói phục hồi RPR (Resilient Packet Ring), công nghệ SDH thế hệ kế tiếp NG-SDH (Next Generation SDH)
Việc nghiên cứu chi tiết về các công nghệ trên sẽ được trình bày ở chương tiếp theo
2.2.4 Hiện trạng và cấu trúc cơ sở hạ tầng viễn thông hiện có
Hiện tại hầu hết mạng viễn thông sử dụng công nghệ chuyển mạch kênh TDM VNPT mới chỉ sử dụng công nghệ chuyển mạch gói ở lớp mạng lõi đường trục (các tổng đài đường trục sử dụng công nghệ IP, MPLS, Softswitch của Juniper) còn lại
để cung cấp các dịch vụ mạng như Internet, frame relay, ADSL… đều phải đầu tư
cơ sở hạ tầng các mạng riêng lẻ tương ứng Yêu cầu bắt buộc khi xây dựng mạng MAN thế hệ kế tiếp là phải tận dụng được cơ sở hạ tầng mạng sẵn có trong thời gian quá độ Công nghệ được lựa chọn phải có tính mở, vừa tương thích với cơ sở
hạ tầng mạng sẵn có vừa có khả năng mở rộng trong tương lai nhằm tiết kiệm chi phí và đem lại hiệu quả cao