Yếu tố tương đồng của điệp ngữ “ ngàn thước” cộng chất tương phản của các động từ “ lên”, “xuống” trong hai vế câu đã tạo ra một nét gập đột ngột, dữ dội đặc tả độcao của dốc, độ sâu của
Trang 12 Tác phẩm:
2.1 Vị trí:
Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ của Quang Dũng, trong đó thể hiệntập trung những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật của nhà thơ TâyTiến cũng là một trong những bài thơ hay nhất trong số những bài viết về đề tàingười lính thời kỳ kháng chiến chống Pháp
2.2 Cảm hứng sáng tác:
Với sự kết hợp bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn, bài thơ đã trở thànhkhúc ca bi tráng phản ánh chân thực cuộc sống, chiến đấu gian khổ, sự hy sinhanh dũng và vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người chiến sỹ Tây Tiến
- Cảm hứng lãng mạn: thường tô đậm cái “tôi” tràn đầy cảm xúc, tô đậm sựphi thường, dữ dội, những vẻ đẹp thơ mộng, tuyệt mỹ, thường lý tưởng hóa, thi vịhóa hiện thực
- Cảm hứng lãng mạn luôn sử dụng bút pháp đối lập để tạo ra những hìnhtượng tương phản, đem đến những ấn tượng sâu đậm cho người đọc
- Cảm hứng bi tráng: sự kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và bút pháp hiệnthực đã tạo ra chất bi tráng rất đặc biệt cho bài thơ, đem đến những màu sắc và
âm hưởng mạnh mẽ, hào hùng cho sự hy sinh, mất mát của người chiến sỹ TâyTiến
a) Hoàn cảnh sáng tác:
- Đoàn quân Tây Tiến:
Trang 2+ Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947 có nhiệm vụphối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt - Lào, đánh tiêu hao lực lượng củaquân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc bộ của Việt Nam.
+ Địa bàn đóng quân và hoạt động của Trung đoàn là một miền rừng núirộng lớn và hiểm trở của biên giới Việt - Lào gồm các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, HòaBình, miền tây Thanh Hóa và Sầm Nứa
+ Sau một thời gian hoạt động, đoàn quân Tây Tiến trở về Hòa Bình, thànhlập trung đoàn 52
- Chiến sỹ Tây Tiến:
+ Chiến sỹ Tây Tiến phần đông là học sinh thanh niên Hà Nội nên tâm hồnmang đậm nét hào hoa lãng mạn
+ Bài thơ được viết trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, đời sống bộđội gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt đơn vị Tây Tiến chiến đấu trong hoàn cảnhhết sức gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội.Tuy nhiên họ vẫn sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm với tinh thần
“quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
- Quang Dũng (vị trí tác giả trong hoàn cảnh):
+ Năm 1947, Quang Dũng là đại đội trưởng trong trung đoàn Tây Tiến Tớicuối 1948, ông được lệnh chuyển sang đơn vị khác Một thời gian sau, khi đang ởPhù Lưu Chanh, một làng thuộc tỉnh Hà Đông, nhớ đơn vị cũ, Quang Dũng đãviết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”
+ Năm 1957, khi in lại trong tập “Mây đầu ô”, tác giả đổi nhan đề bài thơthành “Tây Tiến”
=> Hoàn cảnh sáng tác cho thấy rõ hơn nỗi nhớ da diết của nhà thơ với đơn
vị cũ và mảnh đất miền Tây đầy kỷ niệm, nỗi nhớ đã trở thành cảm xúc trữ tìnhxuyên suốt bài thơ
Hoàn cảnh sáng tác cũng đồng thời giúp người đọc hiểu rõ hơn vẻ đẹp hòa hoa,hào hùng của chiến sỹ Tây Tiến, hiểu được ng/x bút pháp hiện thực và cảm hứnglãng mạn - những yếu tố làm nên chất bi tráng rất đặc biệt cho bài thơ
B TÌM HIỂU TÁC PHẨM:
Nỗi nhớ về chặng đường hành quân gian lao vất vả của chiến sỹ Tây Tiến
qua vùng núi rừng miền Tây
Trang 31 Hai câu đầu: thể hiện cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ và của bài thơ
- Câu thơ đầu chia thành 2 vế trong nhịp ngắt 4/3:
“Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi!”
+ Sông Mã là dòng sông chảy dọc theo địa bàn biên giới Việt - Lào thuộctỉnh Mộc Châu, Sầm Nưa, Mai Châu, Quan Hóa… Đây là dòng sông nhiều ghềnhthác, đổ dốc dữ dội, một mình băng băng giữa núi rừng hùng vĩ, hai bên bờ sôngcòn rải rác mồ chiến sỹ Tây Tiến Vì thế, Sông Mã vừa là 1 cảnh sắc thiên nhiênhùng vĩ, vừa là hình ảnh của vùng đất miền Tây Sông Mã còn là 1 dòng sông gắnliền với chặng đường hành quân của trung đoàn, từng chứng kiến và chia sẻnhững buồn vui, những mất mát hy sinh, từng “gầm lên khúc độc hành” tiễn đưa
tử sỹ Sông Mã là 1 hình ảnh thiên nhiên miền Tây đựng đầy kỷ niệm về trungđoàn Tây Tiến Hành hương về quá khứ, Quang Dũng đã nhắc đến Sông Mã như
1 biểu tượng đầu tiên của nỗi nhớ nhung
+ Bài thơ được viết khi Quang Dũng đang ở Phù Lưu Chanh, xa trung đoàn,
xa đồng đội, xa núi rừng miền Tây và dòng sông Mã thân yêu Nhịp 4/3 với dấungắt giữa dòng tạo cảm giác như có 1 phút ngừng lặng để cảm nhận sự trống trảimênh mông trong thực tại bởi “Sông Mã xa rồi”, để rồi sau đó hiện tại mờ đi, nỗinhớ ùa vào trong tiếng gọi tha thiết hướng về quá khứ: “Tây Tiến ơi!” Tiếng gọi
ấy không dừng lại trong câu 1 mà như được ngân nga, nối tiếp trong những vần
“ơi” của từ láy “chơi vơi” ở câu 2 - phép điệp vần tinh tế khiến tiếng gọi như âmvang, đập vào vách đá, dội lại lòng người, da diết, bâng khuâng…
- Câu sau: Sau tiếng gọi ấy, nỗi nhớ ào ạt, trào dâng trong câu thơ tiếp theo:
“Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”
+ Từ “nhớ” điệp lại ở đầu 2 vế câu diễn tả nỗi nhớ da diết, ám ảnh, khôngthể nguôi ngoai
+ Vế đầu của câu thơ xác định đối tượng của nỗi nhớ “nhớ về rừng núi” - đó
là không gian mênh mông của miền Tây với những địa danh như Sài Khao,Mường Lát, Pha Luông…, những địa danh vừa gợi lên kỷ niệm về con đườnghành quân gian truân, vất vả, vừa gây ấn tượng mạnh mẽ về miền đất heo hút,hoang sơ; và vì thế nỗi nhớ không chỉ dừng lại ở rừng núi, nỗi nhớ còn hướng tớinhững năm tháng quá khứ đầy kỷ niệm và những người đồng đội thân yêu, nay
kẻ còn, người mất…
+ Vế sau câu thơ dành miêu tả trạng thái của nỗi nhớ “Chơi vơi” là 1 từ láyvần, gợi độ cao phiêu du, bay bổng, là 1 từ láy rất phù hợp để miêu tả nỗi nhớnhung về miền núi cao Hơn nữa, từ láy “chơi vơi” gợi cảm giác về một nỗi nhớ
Trang 4vô hình, vô lượng, không thể đo đếm, một nỗi nhớ da diết, mơ hồ, đầy ám ảnh,một nỗi nhớ lơ lửng, ăm ắp, không nguôi…
=> Hai câu thơ đầu đã thể hiện cảm hứng chủ đạo của cả bài thơ, đó là nỗinhớ tha thiết hướng về những kỷ niệm không thể nào quên trong quá khứ vớimiền Tây và trung đoàn Tây Tiến
2 Mười hai câu sau: trong 12 câu sau, nỗi nhớ ấy chủ yếu hướng về vùng đấtmiền Tây qua chặng đường hành quân gian nan vất vả của trung đoàn Tây Tiến.Thông qua những kỷ niệm về thiên nhiên và con người, Quang Dũng khắc họa vẻđẹp hào hoa, hào hùng của người chiến sỹ Tây Tiến
a) Nỗi nhớ về thiên nhiên miền Tây:
Thông qua những nét phác tài hoa, vừa hiện thực, vừa thấm đẫm chát lãng mạn,Quang Dũng đã làm hiện lên bức tranh thiên nhiên miền tây heo hút, hiểm trởnhưng cũng hùng vĩ, thơ mộng, biết bao kỳ thú
- Sương: Nét đặc sắc đầu tiên về thiên nhiên miền Tây qua ký ức củaQuang Dũng chính là màu sương rừng mờ ảo Sương phủ dày ở Sài Khao,sương bồng bềnh ở Mường Lát, nhưng đó không chỉ là màn sương của thiênnhiên mà còn là màn sương mờ của kỷ niệm, của nỗi nhớ thương:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏiMường Lát hoa về trong đêm hơi”
+ Bút pháp hiện thực trong câu trên đã mô tả một đoàn quân dãi dầu,mệt mỏi, thấp thoáng ẩn hiện trong sương Nhịp ngắt 4/3 khiến trọng tâm câu thơrơi vào từ “lấp” ở cuối vế đầu Với việc này, nhà thơ đã cho thấy màn sương rừngmiền Tây mênh mông, dày đặc, che kín cả một đoàn quân, trùm phủ, khuất mờrừng núi, khiến con đường hành quân của các chiến sỹ thêm vất vả, gian nan
+ Với câu sau, hiện thực khắc nghiệt đã được thi vị hóa bởi cảm hứnglãng mạn: Đêm sương thành “đêm hơi” bồng bềnh, những ngọn đuốc soi đường
di chuyển dọc theo hàng quân được nhìn như những đóa hoa chập chờn, lunglinh, huyền hoặc… Những thanh bằng nhẹ bẫng trong câu thơ càng làm đậmthêm sắc hư ảo của màu sương rừng Sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã đượccảm nhận một cách thi vị bởi những tâm hồn lãng mạn, hào hoa…
- Dốc núi: Nhắc đến miền Tây không thể nào quên sự hiểm trở và hùng vĩ
vô cùng của dốc núi Đoạn thơ mô tả dốc núi miền Tây đã làm hiện ra sắc nétkhung cảnh thiên nhiên hùng vĩ và hiểm trở ấy, qua đó cũng đồng thời làm hiện racuộc hành quân gian lao và vất vả, ý chí bất khuất kiên cường, tinh thần lạc quan,yêu đời của người lính Tây Tiến
Trang 5Đọc đoạn thơ mô tả dốc núi của Quang Dũng, người đọc có thể nhớ tới conđường khó khăn lên xứ Thục của Lý Bạch xưa:
“Thục đạo nan! Thục đạo nanNan ư hướng thiên thanh”
Nghĩa là:
Đường lên xứ Thục khó thayKhó như đi lên trời xanh+ Câu thơ đầu trực tiếp miêu tả dốc núi miền Tây:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”
Câu thơ ngắt nhịp 4/3, từ “dốc” điệp lại ở đầu 2 vế câu thể hiện sựtrùng điệp, chồng chất, nối tiếp như tới vô tận của những con dốc, cũng phần nàogợi ra những nỗi nhọc nhằn của người lính trên đường hành quân: con dốc nàychưa qua, con dốc khác lại đợi sẵn, núi rừng miền Tây như muốn thử thách nghịlực của các anh
Sự hiểm trở của dốc núi miền Tây đã hiện ra trong ý nghĩa tạohình của biểu cảm của các từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” Từ láy “khúc khuỷu”miêu tả sự gồ ghề, gập ghềnh ngay dưới chân chiến sỹ, còn từ láy “thăm thẳm”lại gợi độ cao, độ xa vời vợi khi đưa mắt nhìn tiếp con đường hành quân vẫncheo leo ngút ngàn như không cùng, con đường lên miền Tây quả là “nan ưhướng thiên thanh” (Lý Bạch)
Sự hiểm trở ấy còn được hiện ra trong nhạc điệu bởi sự phối hợpdày đặc 5 thanh trắc ghập ghềnh trong một câu 7 chữ
+ Câu thơ thứ hai: Dốc núi miền tây còn được gợi tả gián tiếp trongcâu thơ sau với việc tô đậm ấn tượng về độ cao chót vót:
“Heo hút cồn mây súng ngửi trời”
Từ láy “heo hút” được đảo lên đầu cao nhấn mạnh sự hoang sơ
xa vắng, thăm thẳm như vô tận
“Cồn mây” là một ẩn dụ đặc sắc cho thấy mây núi miền Tây bộn
bề, chồng chất, dựng lên thành cồn, thành dốc Từ đó câu thơ dán tiếp cho thấydốc núi cao đến mức con đường như lẫn vào mây, bao phủ đường núi, mây mờmịt trập trùng, mây khiến con đường hành quân của chiến sỹ càng cheo leo, hiểmtrở, hoang vu…
Vế sau của câu thơ cũng tiếp tục gợi tả độ cao của dốc núi khingười lính đi trong mây, mũi súng như chạm tới đỉnh trời Đây là một cảm nhậnchính xác của nhà thơ về địa hình heo hút, hiểm trở trên đường hành quân của
Trang 6chiến sỹ Sự hiểm trở ấy đã làm tăng thêm những gian truân vất vả cho ngườilính Nhưng bằng cách nói tếu táo, hóm hỉnh, đầy chất lính trong hình ảnh “súngngửi trời” Quang Dũng đã cho thấy tâm hồn trẻ trung của những người lính phongtrần, coi thường mọi gian lao vất vả Vũ Quần Phương còn cho rằng hình ảnh
“súng ngửi trời” là: “Trung tâm hùng tráng của bức tranh hiểm trở, bởi ở chỗ cao
ấy có con người” Và do vậy, câu thơ không chỉ gợi sự hiểm trở của dốc núi, sựtươi trẻ lạc quan của chiến sỹ Tây Tiến, nó còn khiến các anh hiện ra trong dáng
vẻ ngang tàng kiêu dũng của những chàng trai chinh phục độ cao
+ Câu thơ thứ ba: Dốc núi tiếp tục được miêu tả trong một nét vẻ sắcsảo, gân guốc:
“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”
Điệp ngữ “ngàn thước” là một ước lệ nghệ thuật có tính địnhlượng đã khắc họa vẻ đẹp kỳ vĩ, chênh vênh, kỹ thú của núi rừng miền Tây Yếu
tố tương đồng của điệp ngữ “ ngàn thước” cộng chất tương phản của các động từ
“ lên”, “xuống” trong hai vế câu đã tạo ra một nét gập đột ngột, dữ dội đặc tả độcao của dốc, độ sâu của vực, bên này đường lên núi dựng đứng vút cao, bên kiavực đổ xuống hun hút hiểm trở
=> Trong 3 câu thơ đặc biệt giàu chất tạo hình, dốc núi miền Tây đã đượcmiêu tả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng đều khắc họa được đồng thời cả
sự hiểm trở lẫn vẻ đẹp ký thú, thông qua bức tranh thiên nhiên có thể thấy những
vẻ đẹp trong tâm hồn người lính Tây Tiến: Họ lạc quan, mạnh mẽ, coi thường mọigian truân, những khó khăn thử thách của thiên nhiên chỉ làm rõ hơn ý chí, sứcmạnh tâm hồn trẻ trung và tư chất nghệ sỹ của họ
- Mưa rừng: Sau những câu thơ hun hút nhọc nhằn miêu tả dốc núi, câu thơ
tả mưa miên man trong 7 thanh bằng với rất nhiều âm thanh mở, câu thơ đã gợi
tả một không gian mênh mông, dàn trải, nhạt nhòa trong mưa:
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
+ Hình ảnh “mưa xa khơi” có thể coi là một ẩn dụ cho thấy cả thunglũng mờ mịt như loãng tan trong biển mưa, không gian bỗng như mênh mông, xavời hơn Sau những chặng đường hành quân gian khổ, người lính như đangdừng chân đâu đó đưa mắt nhìn cảnh núi rừng chìm trong mưa Ánh mắt nhữngngười lính xa nhà bâng khuâng hướng tới những ngôi nhà bồng bênh thấp thoángtrong màn mưa hư ảo… Sắc thái phiếm chỉ khiến cụm từ “nhà ai” trở nên mơ hồ,
xa xăm; sắc thái nghi vấn gợi nỗi trăn trở trong lòng người Cả câu thơ chỉ có duynhất tiếng “nhà” mang thanh huyền như một thoáng trầm lắng suy tư để rồi sau
đó tất cả là những thanh không chơi vơi trong nỗi nhớ
Trang 7+ Giữa mưa rừng buốt lạnh, giữa núi rừng mênh mông, hình ảnhnhững ngôi nhà đã gợi cảm giác ấm áp, nhớ nhung, dễ làm xao xuyến lòng người
là “hịch”, “cọp” cũng mang thanh trắc nhưng thuộc âm vực thấp Những dấu sắctrong câu trên như gợi âm thanh tiếng thác nước man dại ở vòm cao thăm thẳm,những dấu nặng liên tiếp trong câu dưới lại như mô phỏng bước chân nặng nềcủa thú dữ, gợi cái thâm u, bí ẩn đầy đe dọa ở vòm tối thấp của núi rừng
+ “Chiều chiều” và” đêm đêm” là những trạng ngữ chỉ thời gian lặp lạinhững miên viễn, vĩnh hằng, những sức mạnh thiên nhiên khủng khiếp đã ngự trịnơi núi rừng miền Tây không phải một chiều, một đêm mà là chiều chiều, đêmđêm - sự ngự trị muôn đời! Nhưng cũng chính điều này lại càng khiến chân dungngười chiến sỹ Tây Tiến thêm hào hùng, mạnh mẽ Họ đã hành quân qua nhữngvùng đất hoang sơ, dữ dội, vắng bóng con người, họ đã vượt qua tất cả nhữnggian truân vất vả bằng ý chí kiên cường và lòng dũng cảm
b) Nỗi nhớ về người chiến sỹ Tây Tiến trong chặng đường hành quân
Sự vất vả gian truân cũng như vẻ đẹp trong tâm hồn người lính đã ít nhiều thểhiện trong những câu thơ miêu tả cảnh thiên nhiên miền Tây và hành trình quamiền Tây; Ngoài ra còn có những câu thơ trực tiếp miêu tả hình ảnh người línhcũng như những kỷ niệm của họ trên đường hành quân
- Trước hết là một ký ức sâu đậm của Quang Dũng về hình ảnh một ngườichiến sỹ Tây Tiến trên đường hành quân
“Anh bạn dãi dầu không bước nữaGục lên súng mũ bỏ quên đời”
+ Từ láy “dãi dầu” đã thể hiện tất cả những vất vả nhọc nhằn của cácanh khi hành quân qua miền Tây, khi phải vượt qua những núi cao vực thẳm,những thác ghềnh dữ dội, những sương gió nắng mưa
+ Hai câu thơ tựa như một bức ký họa đầy ấn tượng về người lính
Có thể hiểu đây là hình ảnh người lính phong trần buông mình vào giấc ngủ hiếm
Trang 8hoi trong phút dừng chân, một giấc ngủ mệt nhọc, vô tư, trẻ trung; Cũng có thểhiểu đây là câu thơ miêu tả thực tế đau xót trên chiến trường khi người lính kiệtsức, gục ngã, không thể bước tiếp cùng đồng đội Cũng có thể thấy người línhquỵ xuống khi đang đi giữa hàng quân nhưng “súng mũ” vẫn bên mình - như vậy
là dù không vượt qua được khó khăn nhưng anh cũng không thoái lui, chùn bước,không đầu hàng khó khăn, không rời bỏ đội ngũ Và nhất là hiện thực khắc nghiệtcủa chiến tranh đã được Quang Dũng biểu hiện bằng cách nói thật lãng mạn đểqua đó làm hiện lên không phải khó khăn mà là tinh thần dũng cảm vượt lên khókhăn, đó chính là vẻ đẹp hào hùng của người chiến binh Tây Tiến
- Con đường hành quân của chiến sỹ Tây Tiến không chỉ có gian truân vất
vả mà còn có cả những kỷ niệm ngọt ngào, thắm thiết ân tình Miền Tây không chỉ
có núi cao, rừng sâu…, miền Tây còn còn có những bản làng nên thơ với khóilam chiều ấm áp quện bên sườn núi, có hương thơm quyến rũ của xôi nếp hương
+ Mở đầu bằng cụm từ “nhớ ôi…”, câu thơ đã bộc lộ cảm xúc nhớnhung dâng trào mãnh liệt sau những chặng đường hành quân giữa mưa rừngbuốt lạnh, giữa những tiếng chân thú rình rập đầy đe dọa, bát cơm mới thơmngào ngạt cùng làn khói bếp mỏng manh vương vấn quấn quýt phút dừng chân ởMai Châu, một bản làng miền Tây, tất cả đã đem đến cảm giác thanh bình thậthiếm hoi, quý giá trong chiến tranh Giống như âm thanh tiếng gà trưa trên đườnghành quân của anh chiến sỹ trong bài thơ Xuân Quỳnh, hương thơm bát xôi nếpđầu mùa ở Mai Châu sẽ mãi là một kỷ niệm khó quên về tình cảm quân dân ấm
áp trong cả đời người lính chiến
+ Câu “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” gợi ra nhiều cách hiểu Cóthể hiểu các chiến sỹ Tây Tiến dừng chân ở Mai Châu giữa mùa lúa chín, đónnhận bát xôi ngào ngạt hương nếp đầu mùa và tình em thơm thảo… Cũng có thểhiểu theo một nét thật lãng mạn của cụm từ “mùa em” Người ta thường chỉ nói
“mùa hoa”, “mùa quả”… Đó là thời điểm căng tràn, sung mãn, đầy ắp sắc hươngcủa hoa trái… Quang Dũng đã tạo ra một nghĩa mới mẻ, táo bạo và thật đa tình
về mùa em khiến cho Mai Châu không chỉ là một địa danh với kỷ niệm thơm thảocủa hương nếp đầu mùa, Mai Châu còn gợi nhớ hình ảnh về những cô gái miền
Trang 9Tây duyên dáng Có người lính nào quên được giây phút dừng chân ở Mai Châu,khi nồng ấm xung quanh các anh là dân làng, là các sơn nữ sóng sánh ánh mắt,rạng rỡ nụ cười, nồng nàn hương sắc… Những thanh bằng trong câu thơ đã gợi
tả tinh tế cảm giác bồng bênh, xao xuyến tới đê mê của những chàng trai Hàthành hòa hoa và lãng mạn
Với sự kết hợp uyển chuyển giữa họa và nhạc, giữa bút pháp hiện thực vàcảm hứng lãng mạn, 14 câu thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng đã tái hiệnsinh động và biểu cảm về một vùng đất hiểm trở, khắc nghiệt mà thơ mộng kỳthú, gắn liền với chặng đường hành quân của người chiến sỹ Tây Tiến qua miềnTây Từ những kỷ niệm hiện lên trong nỗi nhớ da diết về quá khứ, Quang Dũng
đã thể hiện chân thực bức chân dung của những người lính Tây Tiến kiêu dũng
và hào hoa, góp phần làm đậm thêm cảm hứng chủ đạo của bài thơ Tây Tiến
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng (8 câu đoạn
2)
I/ Mở bài:
- Tác giả (A.1), tác phẩm (A.2.1)
- Cả bài thơ là nỗi nhớ tha thiết của Quang Dũng hướng về những kỷ niệm khôngthể nào quên với miền Tây và trung đoàn Tây Tiến Tám câu thơ được bình giảngnằm trong đoạn thứ hai của bài thơ Đây là đoạn thơ tái hiện những ấn tượng sâusắc về một đêm lửa trại và sau đó là nỗi nhớ của nhà thơ về cảnh và người miềnTây Thông qua những kỷ niệm và nỗi nhớ ấy, Quang Dũng đã khắc họa sinhđộng vẻ đẹp lãng mạn và hào hoa của người chiến sỹ Tây Tiến
II/ Thân bài:
Nếu 14 câu đầu chủ yếu thể hiện sức mạnh hào hùng của người chiến sỹ TâyTiến trong cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây hiểm trở thì tới đoạn 2, quanhững kỷ niệm ngọt ngào tươi sáng, nhà thơ đã tập trung miêu tả nét hào hoanghệ sỹ trong tâm hồn những chàng trai Hà thành lãng mạn, mộng mơ
1 Bốn câu đầu: Miêu tả những ấn tượng sâu sắc, những cảm nhận tinh tế của
người chiến sỹ Tây Tiến về một đêm lửa trại nơi trú quân giữa một bản làng nào
đó ở miền Tây
- Câu thơ đầu tiên tựa như một tiếng reo vui:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Trang 10+ Đây là lần thứ hai “đuốc” được liên tưởng đến “hoa” - nếu trong đêmsương Mường Lát, chiến sỹ Tây Tiến nhìn đuốc soi đường lung linh, huyền ảonhư “hoa về trong đêm hơi” thì lần này, trong một đêm lửa trại giữa bản mườngmiền Tây, bút pháp lãng mạn đã khiến ảnh lửa bập bùng nơi đóng quân trở thànhđuốc hoa rực rỡ, gợi những liên tưởng thú vị, đem đến sự náo nức, rạo rực tronglòng người, khiến đêm liên hoan giữa bộ đội và dân làng trở thành đêm hội tưngbừng.
+ Cụm từ “bừng lên” là một nốt nhấn tươi sáng cho cả câu thơ, nóđem đến ấn tượng về ánh sáng và đây là ánh sáng chói lòa, đột ngột của lửa, củađuốc, xóa đi cái tối tăm lạnh lẽo của núi rừng, thể hiện niềm vui sướng, rạo rựctrong lòng người Người đọc còn có thể hình dung ra những ánh mắt ngỡ ngàng,những gương mặt bừng sáng của các chiến sỹ, bừng sáng vì sự phản chiếu củaánh lửa bập bùng đêm hội, bừng sáng còn vì ngọn lửa ấm nóng trong tâm hồn,ngọn lửa của niềm vui trẻ trung, lạc quan, ngọn lửa của tình yêu với con người vàmảnh đất miền Tây
- Câu 2: Hình ảnh trung tâm của hội đuốc hoa là các thiếu nữ miền sơncước:
“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”
+ Từ “kìa” và cụm từ nghi vấn “tự bao giờ” đã bộc lộ cảm giác vừangỡ ngàng thú vị, vừa ngưỡng mộ trìu mến của các chiến sỹ trước sự xuất hiệncủa các cô gái miền Tây Đó là cảm giác rất chân thực trong một dịp vui hiếm hoisau bao ngày hành quân giữa rừng già với núi cao, dốc thẳm, sương dày, vớimua rừng và thú dữ Với niềm vui tỏa ra từ câu thơ, Quang Dũng còn đưa ngườiđọc đến một cảm nhận thú vị khi liên tưởng tới câu thơ đầu “Doanh trại bừng lên”hình như không chỉ vì ánh sáng của lửa, của đuốc mà còn vì sự xuất hiện độtngột của các sơn nữ miền Tây
+ Các cô gái hiện lên với hai ấn tượng đẹp đẽ bởi bút pháp mỹ lệ hóatrong “xiêm áo” lộng lẫy và nét “e ấp” đầy nữ tính Những ấn tượng ấy khiến các
cô đẹp hơn trước một đoàn quân “xanh màu lá”, duyên dáng hơn trước nhữngngười lính “dữ oai hùm” Nét tương phản của cảm hứng lãng mạn đã tạo nên chấtthi vị làm dịu đi rất nhiều hiện thực khắc nghiệp của chiến tranh
+ Người lính Tây Tiến không chỉ ngỡ ngàng, say đắm trước vẻ đẹpcủa những thiếu nữ miền Tây e ấp và duyên dáng mà còn mơ màng trong “manđiệu” núi rừng “Man điệu” có thể hiểu là vũ điệu uyển chuyển của các sơn nữ,cũng có thể là giai điệu mới mẻ của vùng đất lạ trong tiếng “khèn lên” mê hoặclòng người Với tâm hồn hào hoa nghệ sỹ, đặc biệt nhạy cảm với cái đẹp, ngườilính Tây Tiến say đắm chiêm ngưỡng và cảm nhận những hình ảnh rực rỡ,
Trang 11những âm thanh ngọt ngào, những đường nét duyên dáng… trong đêm lửa trại
để được thả hồn phiêu diêu bay bổng trong thế giới mộng mơ với những vẻ đẹpsay người của phương xa đất lạ Câu thơ có tới 6 thanh bằng đã diễn tả tinh tếcảm giác mơ màng chơi với ấy
2 Bốn câu sau: Thể hiện nỗi nhớ về cảnh của người miền Tây Những hoài niệmrực rỡ và sống động về một đêm lửa trại đã được thay bằng những bâng khuâng
xa vắng trong nỗi nhớ tha thiết mênh mông về cảnh sắc con người miền Tây
- Câu 1:
+ Nỗi nhớ miền Tây được gửi vào lời nhắn với “người đi”, nhưng đâuchỉ là nhắn với ai đó mà thực ra nhà thơ đang để lòng mình hướng về Châu Mộc,hướng về núi rừng Miền Tây, trong một chiều sương nhạt nhòa, màn sươnghuyền ảo của núi rừng, màn sương huyền ảo của hoài niệm, nhớ nhung
+ Trong tiếng Việt, “ấy” là một đại từ chỉ định luôn đem đến sắc thái xaxôi, mơ hồ cùng nỗi nhớ tiếc cho những danh từ đứng cùng với nó như: thuở ấy,ngày ấy, người ấy… Và bây giờ, khi đang ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũngcũng nhắc về chiều sương ấy với bao nỗi nhớ thương lưu luyến khi Châu Mộc trởnên nhạt nhòa trong sương khói và buổi chiều miền Tây với cảnh, với người… đã
bị đẩy về một quá khứ thật xa xăm
- Câu 2, 3, 4: Sau lời nhủ thầm xao xuyến, nhà thơ cất lên những tiếng hỏi
mà phép điệu trong cấu trúc câu: “Có thấy hồn lau… có nhớ dáng người…” đã thểhiện nỗi nhớ nhung đầy trăn trở hướng về cảnh và người miền Tây
+ Câu hỏi thứ nhất hướng về những hàng lau xám buồn bên bờ sônghoang dại:
“Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”
Nét đặc sắc trong câu thơ chính là hình ảnh ẩn dụ về “hồn lau”thay vì bờ lau, hàng lau hay rừng lau… Hoa lau có màu xám trắng, bông lau đượctạo bởi muôn ngàn hạt nhỏ li li nên chỉ cần một chút gió rất nhẹ hoa cũng xaođộng, cả bờ lau đung đưa mềm mại Sắc trắng của hoa lau trong chiều sươngnhạt nhòa, mơ ảo, cái phơ phất của ngàn lau trong xạc xào gió núi… đã khiếnrừng lau như có hồn, như biết sẻ chia nỗi niềm với con người, sự giao cảm khiếnnỗi nhớ càng mênh mông da diết
Khi đã xa miền Tây, câu hỏi “có thấy hồn lau nẻo bến bờ” cànglàm “xao xác” lòng người Hoa lau thường mọc ven bờ sông, triền núi, nơi vắngngười qua lại Trong những năm tháng quá khứ, người chiến sỹ Tây Tiến hànhquân giữa núi rừng miền Tây, bên dòng sông Mã, giữa phơ phất ngàn lau, launhư linh hồn của rừng núi chia sẻ buồn vui với chiến sỹ trên đường hành quân.Nay người đã đi xa, ngàn lau vẫn ở lại giữa mênh mông gió núi, cảm giác về
Trang 12những bờ lau cô đơn “nẻo bến bờ” khiến nỗi nhớ càng xao xác trong lòng người
đã chia xa miền Tây
+ Câu hỏi thứ hai dành cho con người miền Tây:
“Có nhớ dáng người trên độc mộcTrôi dòng nước lũ hoa đung đưa”
Trong làn sương mờ của hoài niệm, con người miền Tây chỉ hiện lênnhư một bóng dáng mờ xa huyền ảo Dáng người ấy vừa cứng cỏi, kiên cườngtrên con thuyền “độc mộc” đè thác lũ băng băng lướt tới, vừa mềm mại, duyêndáng trong hình ảnh ẩn dụ “hoa đung đưa” Nếu “hoa đung đưa” gợi hình hơnbiểu cảm và chủ yếu gợi hình ảnh những cánh hoa dập dờn đôi bờ sông thì “hoađung đưa” không dừng lại ở nét nghĩa cụ thể ấy mà còn gợi tả tinh tế dáng vẻ dịumềm, tình tứ của những sơn nữ miền Tây - đó là một sáng tạo mới mẻ về ngôn
từ, thể hiện chất lãng mạn rất đặc sắc của hồn thơ Quang Dũng
III/ Kết luận:
- Nghệ thuật: Đoạn thơ đã sử dụng những từ ngữ đặc biệt có giá trị biểuhiện và biểu cảm như “bừng”, “hồn lau”, “đung đưa”… bút pháp thi trung hữunhạc và thi trung hữu họa đã đem đến chất nhạc, chất họa đặc sắc cho bài thơ,với những câu thơ tái hiện sinh động một không gian huyền ảo, với những đườngnét thi vị, tràn ngập âm thanh, lung linh ánh sáng; những câu thơ khi rạo rực hânhoan, khi bâng khuâng xa vắng, khi mơ mộng bồng bềnh
- Nội dung: Bút pháp lãng mạn đậm nét trong đoạn thơ đã khắc họa vẻ đẹpthơ mộng của cảnh và người miền tây qua cảm nhận của những người línhphong trần có tâm hồn nghệ sỹ Giữ được tâm hồn mộng mơ lãng mạn ngaytrong những năm tháng vất vả gian truân không chỉ thể hiện được nét hào hoa màcòn là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh hào hùng để các anh chiến đấu vàchiến thắng Những giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc trong bài thơ đã gópphần khắc họa vẻ đẹp toàn vẹn cho bức chân dung người lính Tây Tiến trong bàithơ cùng tên của Quang Dũng
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng (đoạn 3 + 4
câu cuối)
I/ Mở bài:
- Tác giả (A.1), tác phẩm (A.2.1)
Đoạn thơ được bình giảng là phần cuối của bài thơ Tây Tiến Thông qua nỗi nhớ
về cuộc sống chiến đấu gian khổ và sự hy sinh anh dũng của chiến sỹ Tây Tiến,đoạn thơ đã trở thành một bức tượng đài về hình ảnh những người chiến binh
Trang 13miền Tây với vẻ đẹp hào hùng của lý tưởng cao cả, của ý chí kiên cường, của sự
hy sinh dũng cảm cùng vẻ đẹp hào hoa lãng mạn của những tâm hồn đằm thắmmộng mơ
II/ Thân bài:
1 Bốn câu đầu: Nhà thơ đã tái hiện chân thật cuộc sống chiến đấu gian khổ kiêncường của các chiến sỹ Tây Tiến trong những năm đầu của cuộc kháng chiếnchống Pháp
a) Hai câu đầu:
- Trong ký ức của Quang Dũng, Tây Tiến là một “đoàn binh không mọctóc” Nét vẽ ngoại hình này xuất phát từ một hiện thực trong cuộc sống của ngườilính Tây Tiến: họ phải cạo trọc đầu để giảm bớt những bất tiện trong cuộc sống ởrừng; cũng có thể đó là hậu quả của những trận sốt rét liên miên nơi rừng thiêngnước độc Dù hiểu theo cách nào, hình ảnh ấy cũng gợi lên sự gian khổ, thiếuthốn, nghiệt ngã của chiến tranh Nhưng với cách diễn đạt độc đáo của QuangDũng, cũng như trong câu thơ “Anh bạn dãi dầu không bước nữa”, câu thơ “TâyTiến đoàn binh không mọc tóc” đã chuyển hoàn toàn tình thế bị động sang trạngthái chủ động Sự chủ động khiến người lính Tây Tiến hiện lên không tiều tụy,nheo nhếch mà kiêu bạc, ngang tàng Hơn thế nữa, còn có thể coi hình ảnh “đoànbinh không mọc tóc” là một nét vẽ phi thường làm đậm thêm cảm hứng lãng mạncho hình tượng thơ
- Câu 2: Chân dung người lính còn được vẽ tiếp trong một nét ngoại hìnhđặc sắc:
“Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
+ Có thể hiểu đây là màu xanh áo lính hay màu xanh của lá ngụytrang khiến cho cả đoàn quân “xanh màu lá” Nhưng theo mạch thơ, có lẽ nênhiểu đây là câu thơ miêu tả những gương mặt xanh xao gầy ốm vì sốt rét, vì cuộcsống kham khổ ở rừng Có thể nhận ra các diễn đạt tinh tế của Quang Dũng khinhà thơ miêu tả một đoàn quân “xanh màu lá” chứ không phải “xanh xao”, ngườilính Tây Tiến như hòa với thiên nhiên cây lá - ốm mà không yếu, gầy ốm mà vẫntràn đầy sức sống Cũng có thể thấy “không mọc tóc” và “xanh màu lá” là cáchdiễn đạt đẹp và thanh về một hiện thực thô ráp nặng nề trong chiến tranh
+ Và ngay trong vế sau của câu thơ đã là một tương phản độc đáo vớihình ảnh “dữ oai hùm” - trên những gương mặt xanh xao gầy ốm của người línhvẫn toát lên nét dữ dội kiêu hùng, vẻ uy nghi lẫm liệt, tựa như những vị chúa tểrừng xanh! Cũng với hình ảnh về một “đoàn binh không mọc tóc”, những gương
Trang 14mặt “dữ oai hùm” cũng là nét vẽ đặc sắc, ấn tượng của cảm hứng lãng mạn trongbức chân dung phi thường về người chiến binh Tây Tiến.
+ Hình ảnh ẩn dụ “dữ oai hùm” còn gợi liên tưởng tới “cọp trêu người”
ở đoạn trên - một liên tưởng thú vị, tự hào: dường như ở miền đất có bóng hổrình rập đe dọa với “cọp trêu người” thì người lính cũng phải có “oai hùm” dữ dội,
uy nghi để chế ngự và chiến thắng
=> Miêu tả người chiến sỹ Tây Tiến trong gian khổ, bệnh tật nhưngQuang Dũng không chú trọng vào gian khổ cùng hậu quả của nó mà nghiêng về
ca ngợi vẻ đẹp phi thường, lãng mạn, hào hùng
b) Hai câu sau:
Bức tượng đài chiến sỹ Tây Tiến không chỉ có nét ngang tàng oai phong trongdáng vẻ uy nghi dữ dội mà còn được thể hiện ở chiều sâu đẹp đẽ trong tâm hồn:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giớiĐêm mơ Hà Nội dáng kiềm thơm”
+ “Mắt trừng” là ánh mắt mở to hướng thẳng về phía trước, ánh mắtngời lên ý chí chiến đấu, khát vọng chiến thắng, cái khát vọng gửi trong mộngchiến trường, giấc mộng cao đẹp của những người trai thời loạn Ánh mắt ấy thựcchất là một hình ảnh ước lệ của cảm hứng lãng mạn nhằm tôn thêm sự oai phonglẫm liệt trong dáng vẻ, nét kiêu hùng ngạo nghễ trong tâm hồn những người lính
có lý tưởng và khát vọng lớn lao, ra đi vì nghĩa lớn như những tráng sỹ xưa “Giãnhà đeo bức chiến bào - Thét roi cầu vị ào ào gió thu”
+ Những chàng trai Hà Nội ra đi vì sức vẫy gọi mãnh liệt của lý tưởngsong trái tim của họ vẫn dành một góc lưu luyến nhớ nhung về “Hà Nội dáng kiềuthơm” Theo cấu trúc câu, có thể hiểu người lính miền viễn xứ khi xa quê vẫn mơmàng nhớ về Hà Nội, nhớ về thủ đô hoa lệ đẹp như một dáng kiều thơm; cũng cóthể hiểu theo một cách rất lãng mạn đó là nỗi nhớ về những thiếu nữ Hà thànhvới vóc dáng đáng yêu, kiều diễm Qua hình ảnh ẩn dụ về “dáng kiều thơm”, câuthơ đã gợi tả vóc dáng sắc hương những cô gái Hà Nội hào hoa thanh lịch trongnỗi nhớ nhung của người lính xa nhà
+ Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng: “hai câu thơ như chứa đựng cảhai thế giới” Sự tương đồng trong 2 nét nghĩa của “mộng” và “mơ”, sự tươngphản của 2 thế giới nghĩa chung và tình riêng đã làm nên vẻ đẹp toàn vẹn chotâm hồn người lính: họ không chỉ có lý tưởng cao cả, ý chí kiên cường, sẵn sàng
hy sinh vì nghĩa lớn mà còn là những chàng trai lãng mạn mộng mơ có trái timchan chứa tình yêu thương
Trang 15+ Cũng như hình ảnh: “Người ra đi đầu không ngoảnh lại - Sau lưngthềm nắng lá rơi đầy” trong sáng tác mùa thu trước Cách mạng, và sau đó làngười lính trong: “Những đêm dài hành quân nung nấu - Bỗng bồn chồn nhớ mắtngười yêu”, những chàng trai Hà Nội trong đoàn quân Tây Tiến cũng thật lãngmạn, kiêu hùng; tình yêu thương trở thành động cơ đẹp đẽ để họ ra đi chiến đấu
vì những điều yêu thương, đó là những nét khắc họa chân thực, cảm động về cảmột thế hệ người Việt Nam dằn lòng gạt tình riêng ra đi vì nghĩa lớn
2 Bốn câu sau: Trực tiếp miêu tả sự mất mát hy sinh anh dũng của người chiến
sỹ
- Câu thơ đầu: Đem đến một cảm giác buồn bã, ảm đạm về cái chết:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ”
+ Có thể nhận ra một nét nghĩa tương đồng trong cả 4 từ của câu thơkhi tất cả đều ít nhiều gợi tới sự xa xôi: “rải rác” gợi ra hình ảnh của những nấm
mồ nằm xa nhau dọc đường hành quân, “biên cương” là nơi cuối cùng của đấtnước, cũng có thể coi là “viễn xứ”, xứ xa; “mồ” là hình ảnh của cái chết gợi sựchia lìa xa cách của tử biệt sinh ly, của sự sống và cái chết, của cõi dương và cõi
âm, của những nấm mồ miền viễn xứ với những người thân yêu chờ đợi nơi quênhà Những nét nghĩa ấy cũng hướng tới miêu tả một thực tế: rất nhiều cái chết,rất nhiều nấm mồ của những con người xa quê nằm lại miền viễn xứ - có lẽ đóchính là nguyên nhân đưa đến cảm giác ảm đạm lạnh lẽo cho cả câu thơ
+ Trong một câu thơ và đoạn thơ dùng rất nhiều từ Hán Việt thì “mồ"
là một từ thuần Việt có giá trị biểu hiện và biểu cảm thật xúc động Không sửdụng từ “mộ” trang trọng, “mồ” là một danh từ miêu tả chính xác thực tế chiếntrường lúc đó khi các anh hy sinh trên đường hành quân, việc chôn cất sơ sài, vội
vã, đồng đội xót lòng để các anh lại trong những nấm đất hoang lạnh, hiu hắt, đơn
sơ trên đường Bản thân cái chết đã gợi nên sự buồn bã, càng lạnh lẽo hơn khicác anh không được nằm bên nhau, những nấm mồ cứ rải rác trên từng chặngđường hành quân gian khổ, những nấm mồ thiếu hơi ấm của gia đình, quê hương
- sự hy sinh của các anh càng làm đau lòng người sống Tây Tiến là một trong số
ít những tác phẩm văn chương thời chống Pháp trực tiếp miêu tả sự mất mát hysinh của người lính, thậm chí bằng những câu thơ gợi nỗi bi thương, đau xótnhất
- Câu thứ hai: Tuy nhiên Tây Tiến bi mà không lụy, ảm đạm mà không yếumềm, cảm hứng bi tráng đã trở thành âm hưởng chủ đạo của đoạn thơ và của bàithơ
+ Một trong những yếu tố đem đến sắc thái mạnh mẽ và hào hùng chođoạn thơ chính là việc Quang Dũng đã sử dụng một loạt các từ Hán Việt như:
Trang 16biên cương, viễn xứ, chiến trường, độc hành khiến sự hy sinh của chiến sỹ TâyTiến được đặt vào một không khí thiêng liêng trang trọng tạo tâm thế ngưỡng mộđầy tôn kính cho người đọc.
+ Và cảm giác ảm đạm ngậm ngùi trong câu 1 đã nhanh chóng đượcxóa đi bởi tứ thơ mạnh mẽ, rắn rỏi như một lời tuyên thệ trong câu 2:
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Hình tượng thơ đậm nét bi tráng, phảng phất hình ảnh nhữngtráng sỹ xưa: “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”, những con người sẵn sàng gạttình riêng ôm chí lớn “ra đi không vương thê nhi” Cũng với cách diễn đạt chủđộng trong kiểu câu phủ định,, câu thơ đã tô đậm lý tưởng cao cả và khí pháchkiên cường của những người chiến sỹ anh hùng “quyết tử cho Tổ quốc quyếtsinh”
“Đời xanh” là hình ảnh ẩn dụ cho tuổi thanh xuân, thời gian đẹpnhất trong đời, quãng thời gian một đi không trở lại; nhịp đi liền mạch trong câuthơ “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” cho thấy ý chí quyết tâm cao độ củanhững người thanh niên ưu tú sẵn sàng hiến dâng cuộc đời và tuổi thanh xuân,cũng có nghĩa là sẵn sàng hiến dâng phần đời đẹp nhất cho đất nước, đó cũng làtâm nguyện, là ý chí cao đẹp của những người thanh niên Việt Nam thời chống
Mỹ đã được Thanh Thảo thể hiện trong những câu thơ chânh thành, xúc động:
“Chúng tôi - đã đi không tiếc đời mìnhNhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếcNhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc”
+ Như vậy, sau câu thơ đầu nói về cái chết, về những nấm mồ, câuthơ tiếp theo lại khẳng định ý chí, lý tưởng và khí phách của chiến sỹ Tây Tiến.Phải chăng đây cũng là hàm ý sâu xa của nhà thơ: các anh nằm lại trong nhữngnấm mồ miền viễn xứ nhưng khí phách tinh thần vẫn sống mãi tuổi hai mươi, vàvới Tổ quốc các anh là bất tử, vẻ đẹp hào hùng của các anh vẫn có sức cổ vũmãnh liệt tới muôn đời
- Câu thứ ba: Không chỉ hình ảnh của cái chết, câu thơ miêu tả việc chôncất tử sỹ cũng gây ấn tượng rất mạnh mẽ cho người đọc:
“Áo bào thay chiếu anh về đất”
+ Cảm hứng lãng mạn trong bút pháp mỹ lệ hóa đã biến tấm áo quânphục sờn rách của người lính chiến thành tấm áp bào đẹp đẽ, thiêng liêng QuangDũng có kể lại: “Khi tử sỹ nằm xuống không đủ manh chiếu để liệm, nói áo bàothay chiếu là mượn cách nói của thơ trước đây để an ủi những người đồng chívừa ngã xuống” Vượt lên trên hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh, trong cảm
Trang 17nhận của Quang Dũng, những người đồng đội thân yêu của ông khi ngã xuốngvẫn được khâm liệm trong những tấm áo bào trang trọng vốn chỉ dành cho nhữngtráng sỹ anh hùng xả thân vì đất nước.
+ Hình ảnh “áo bào thay chiếu” còn gợi liên tưởng đến lý tưởng caoquý một thời, coi việc chết ngoài chiến địa lấy “da ngựa bọc thây” làm niềm tự hàocủa đấng trượng phu, coi “chí làm trai dặm nghìn da ngựa” là điều thiêng liêngcao quý; những người lính Tây Tiến hôm nay cũng xem việc hy sinh nơi chiếntrường, được khâm liệm bằng tấm áo của chính mình là niềm vinh quang củanhững con người “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
+ Sự bi thảm của cái chết đã được xóa đi không chỉ vì lý tưởng cao cả
và khí phách hào hùng mà còn bởi cách nói giảm khi coi chết chỉ là “về đất”.Không chỉ làm dịu nhẹ nỗi đau, hai chữ “về đất” còn gợi ra những tầng nghĩa sâusắc: “đất” là hình ảnh gợi sự bền vững muôn đời của non sông đất nước, “về” gợibao ấm áp bởi sự đón nhận và ấp ủ, nâng niu Các anh đã từ biệt gia đình, quêhương ra đi về miền viễn xứ với mộng chiến trường cao cả, đã chiến đấu kiêncường, đã hy sinh anh dũng vì Tổ quốc, nay Tổ quốc trìu mến, yêu thương, mởrộng vòng tay đón nhận những người con thân yêu trở về thanh thản, yên nghỉtrong lòng đất mẹ, tựa như những người chiến sỹ trong thơ Tố Hữu: “vui vẻ chếtnhư cày xong thửa ruộng” (Trăng trối - Tố Hữu), Sự trở về này đã nhập các anhvào thế giới vĩnh hằng của cha ông, thế giới của “những người chưa bao giờkhuất, đêm đêm rì rầm trong tiếng đất, những buổi ngày xưa vọng nói về” (Đấtnước - Nguyễn Đình Thi)
- Câu thứ tư: Âm hưởng bi tráng được gợi ra từ hình tượng người chiến sỹ
Tây Tiến đã được đẩy lên tới đỉnh điểm trong câu kết đoạn:
“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
+ Sông Mã đã từng xuất hiện trong tiếng gọi tha thiết ở đầu bài thơ
“Sông Mã ” như một biểu tượng của miền Tây, của chiến khu, nay trở lại với âmthanh dữ dội, hào hùng của cảnh tiễn đưa tử sỹ Không phải là “vang lên” hay “cấtlên”, cụm từ “gầm lên” đã thể hiện trọn vẹn tính chất dữ dội trong những cung bậctình cảm mạnh mẽ và sâu sắc: bi phẫn, đau xót, tiếc thương, cảm phục
+ Sông Mã từng gắn bó với các anh trong suốt chặng đường hànhquân gian khổ qua miền Tây, nay Sông Mã lại là chứng nhân lịch sử thay lời cho
cả thiên nhiên trời đất, núi sông, gầm vang “khúc độc hành” bi tráng đưa tiễnnhững người con yêu quý trở về yên nghỉ trong lòng đất mẹ Ý nghĩa của khúcđộc hành vừa mạnh mẽ, hào tráng, vừa phảng phất âm hưởng cô đơn gợi nỗingậm ngùi buồn bã Đây là cảm giác không tránh khỏi khi đứng trước cái chết, khiphải tiễn đưa những người thân yêu trong chuyến ra đi cuối cùng đơn độc
Trang 183 Đoạn kết: Khúc vỹ thanh nhớ nhung về Tây Tiến
- Trở về với hiện tại, Tây Tiến đã lùi xa trong ký ức, trong nỗi nhớ thương:
“Tây Tiến người đi không hẹn ướcĐường lên thăm thẳm một chia phôi”
+ Tác giả nhắc tới hình ảnh “người đi” trong những nét nghĩa mơ hồ:
đó có thể là những chiến binh Tây Tiến, những chàng trai Hà Nội năm xưa từ biệtquê hương, ra đi Tây Tiến “không hẹn ước” ngày về, cách hiểu này gợi niềmthương mến, cảm phục với những “người chiến sỹ, mùa thu ấy ra đi từ đó khôngvề ” (lời một bài hát); cũng có thể hiểu đó là thời điểm cuối năm 1948 khi QuangDũng đang ở Phù Lưu Chanh, bâng khuâng nhớ về việc mình đã chia xa trungđoàn Tây Tiến “không hẹn ước” ngày về, đã từ biệt miền Tây không biết bao giờgặp lại
+ Đoạn kết còn đồng thời mở ra một không gian thăm thẳm, xa xa, mịt
mờ của “đường lên” với miền Tây, với Tây Tiến - cái xa xăm mịt mờ ấy càng làmđậm thêm cảm giác “chia phôi” ngăn cách với những người thân yêu nhất tronglòng nhà thơ, một cựu chiến binh Tây Tiến
- Những năm tháng ngắn ngủi sống trong đoàn binh Tây Tiến đã để lại tronglòng nhà thơ những hoài niệm không thể phai mờ Bài thơ kết lại bằng lời nhắnnhủ da diết:
“Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấyHồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”
+ Có thể hiểu nhà thơ đang thể hiện một tâm nguyện âm thầm màthủy chung son sắt của tất cả những “ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy” - trong lòng
họ, thời gian gắn bó với trung đoàn, với miền Tây từ mùa xuân ấy là những thờigian quý giá nhất trong đời, những thời gian vời vợi nhớ thương Dù có thể chia
xa nhưng tâm hồn những người lính Tây Tiến sẽ mãi mãi ở lại với miền Tây, vớiSầm Nưa, Pha Luông, Mường Hịch những vùng đất xa xôi đựng đầy kỷ niệmvới đồng đội, với trung đoàn Tây Tiến trong những năm tháng gian khổ hào hùngbởi:
“Khi ta ở, chỉ là nơi đất ởKhi ta đi đất đã hóa tâm hồn”
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)+ Cũng có thể hiểu nhà thơ đang xót xa nhắc tới những người đồngđội đã vĩnh viễn nằm lại trong những nấm mồ cô đơn miền viễn xứ Họ đã “lênTây Tiến mùa xuân ấy”, đã chiến đấu kiên cường và hy sinh dũng cảm; linh hồn
Trang 19và thân xác của họ đều ở lại với miền tây, để lại nỗi nhớ thương da diết chonhững người còn sống.
III/ Kết luận:
Đoạn thơ đã thể hiện những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuậtcủa Quang Dũng, đó là bút pháp tương phản đầy ấn tượng của cảm hứng lãngmạn, là chất họa và chất nhạc đậm nét với giá trị biểu cảm mạnh mẽ, là chất bitráng đưa tới những xúc động sâu sắc trong lòng người Qua đó Quang Dũng đãkhắc họa sâu đậm hình ảnh người chiến binh Tây Tiến trong cả cuộc sống chiếnđấu gian khổ và sự hy sinh anh dũng, làm hiện lên vẻ đẹp toàn vẹn trong tâm hồncác anh, những người lính hào hùng và hào hoa Hình ảnh các anh càng làm rõthêm cảm hứng chủ đạo của bài thơ: nỗi nhớ tha thiết của người cựu chiến binhTây Tiến hướng về miền Tây, về trung đoàn Tây Tiến, về những năm tháng chiếnkhu không thể nào quên…
Trang 20VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CMT8 - 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỶ
XX
A VĂN HỌC VIỆT NAM 1945 - 1975
1 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa:
- Nền văn học vận động và phát tiển dưới sự lãnh đạo của Đảng CS, thốngnhất về khuynh hướng tư tưởng, tổ chức và quan niệm nhà văn mới: nhà văn -chiến sỹ
- Đất nước diễn ra nhiều sự kiện lớn lao: cuộc chiến tranh giải phóng dântộc và công cuộc xây dựng cuộc sống, con người mới ở miền Bắc
2 Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu:
2.1 Chặng đường 45-54:
Văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp với chủ đề bao trùm là
ca ngợi Tổ quốc và quần chúng Cách mạng, ca ngợi cuộc kháng chiến và conngười kháng chiến, văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng, khángchiến, hướng tới đại chúng, phản ánh sức mạnh của quần chúng nhân dân, thểhiện niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến
+ Đôi mắt - Nam Cao
+ Vợ nhặt
Trang 21+ Mùa lạc
+ Vợ chồng A Phủ
+ Ba người trên sân ga
2.3 Chặng đường 65-75:
Văn học chặng đường này tập trung viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ với chủ
đề bao trùm là ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng
- Gắn bó sâu sắc với vận mệnh đất nước nên văn học gần như song hànhvới từng chặng đường lịch sử dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đấtnước Hai đề tài lớn của văn học 45-75 là Tổ quốc và CNXH, văn học phản ánhcuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc vói nhân vật trung tâm là chiến sỹ Vănhọc sau 54 còn phản ánh công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc với hình ảnhcon người mới với những khát vọng lớn lao và phẩm chất tốt đẹp
3.2 Nền văn học hướng về đại chúng:
- Quần chúng nhân dân vừa là đối tượng phản ánh, đối tượng phục vụ, vừa
là nguồn cung cấp lực lượng sáng tác cho văn học cách mạng, quan niệm “đấtnước của nhân dân” đã làm thay đổi hẳn cách nhìn nhân dân của các nhà văn
- Văn học tập trung phản ánh cuộc sống, số phận, con đường tất yếu đếnvới cách mạng của những con người lao động bị áp bức, ca ngợi sức mạnh vànhững phẩm chất tốt đẹp của nhân dân khiến văn học có tính nhân dân sâu sắc
và nội dung nhân đạo cao cả
Trang 22- Tính nhân dân trong văn học thời kỳ này không chỉ thể hiện ở nội dung màcòn ở hình thức nghệ thuật với những sáng tác ngắn gọn dễ hiểu, ngôn ngữ trongsáng bình dị, vận dụng sáng tạo vốn văn học dân gian
3.3 Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:
- Văn học tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản có ý nghĩa sống còn vớivận mệnh đất nước Con người được khám phá ở những lẽ sống lớn, tình cảmlớn, thường là những đại diện ưu tú cho cộng đồng, thể hiện phẩm chất, sứcmạnh, vẻ đẹp và khát vọng của cả cộng đồng, có số phận gắn liền với số phậncộng đồng Lời văn mang giọng điệu trang trọng, ngợi ca, tráng lệ và hào hùng
- Cảm hứng lãng mạn được thể hiện trong việc khẳng định vẻ đẹp lý tưởngcủa cuộc sống mới, con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tintưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc
B VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU 1975 ĐẾN HẾT THẾ KỶ XX
1 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa:
Sau chiến thắng của cuộc vệ quốc vĩ đại 1975, đất nước ta bước vào thời kỳ độclập tự do và thống nhất Hậu quả nặng nề của chiến tranh khiến đổi mới trở thànhmột đòi hỏi bức thiết về mọi mặt, trong đó có văn hóa nghệ thuật Trong thời kỳđổi mới, nền kinh tế thị trường và điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn hóa các nước
đã chi phối mạnh tới văn học
1.1 Sự phát triển và đặc điểm cơ bản:
- Thơ ca: Không còn sức hấp dẫn mạnh mẽ như thời kỳ trước, một loạt các
bản trường ca ra đời với xu hướng tổng kết, khái quát về chiến tranh thông quanhững trải nghiệm của bản thân
- Văn xuôi: Đặc biệt khởi sắc, có những đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt trong
cả nội dung và hình thức thực hiện, có sức hút cao với người đọc Đó là nhữngtác phẩm có nhu cầu đổi mới cách viết về chiến tranh, nhìn nhận lại hiện thực đờisống Từ sau Đại hội Đảng VI 1986, văn học Việt Nam đã thực sự đổi mới vớinhững tác phẩm có giá trị cao ở nhiều thể loại: truyện ngắn và tiểu thuyết củaNguyễn Minh Châu, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, bút ký của Hoàng Phủ NgọcTường, kịch của Lưu Quang Vũ
Nhìn chung văn học thời kỳ này vận động theo hướng dân chủ hóa mang tínhnhân bản nhân văn sâu sắc Văn học đa dạng về đề tài, chủ đề, có tính hướngnội, đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận, khám phá con
Trang 23người cà đời sống, đặc biệt chú ý tới số phận cá nhân trong cuộc sống đời tư thế sự.
Trang 24-NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
A QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC:
Khái quát: Không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, HCM còn là nhà
văn nhà thơ lớn với nhiều tác phẩm có giá trị HCM am hiểu sâu sắc quy luật vàđặc trưng của văn học nghệ thuật từ phương diện tư tưởng chính trị đến nghệthuật biểu hiện Điểu này được thể hiện trực tiếp trong quan điểm sáng tác vănchương của Bác
1 Hồ Chí Minh coi văn nghệ là một vũ khí chiến đấu phụng sự cho cuộc đấutranh cách mạng Nhà văn phải có tinh thần xung phong như người chiến sỹngoài mặt trận:
“Nay ở trong thơ nên có thépNhà thơ cũng phải biết xung phong”
- Đây là một “tuyên ngôn về thơ” (Tố Hữu) Chất “thép” là cảm hứng đấutranh xã hội tích cực, là tính chiến đấu của thơ ca và văn học nghệ thuật Văn họcphải trở thành một hoạt động tinh thần phong phú, phục vụ có hiệu quả cho sựnghiệp đấu tranh cách mạng Khi văn học trở thành vũ khí cách mạng thì đươngnhiên nhà văn phải là chiến sỹ cách mạng, phải ở giữa cuộc đời, trực tiếp gópphần vào nhiệm vụ đấu tranh và phát triển xã hội
- Quan niệm này đã được Bác nói rõ hơn trong thư gửi các họa sỹ nhân dịptriển lãm hội họa năm 1951: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị
em là chiến sỹ trên mặt trận ấy” Quan niệm của Bác vừa khẳng định vai trò tolớn, vừa thể hiện yêu cầu của xã hội với văn hóa nghệ thuật và người nghệ sỹtrong công cuộc cải tạo và xây dựng xã hội Họ phải là những chiến sỹ có tinhthần chủ động, tích cực tấn công trên mặt trận đặc biệt là văn hóa nghệ thuật, với
vũ khí đặc biệt là tác phẩm văn chương
2 Hồ Chí Minh đặt biệt quan tâm đến đối tượng tiếp nhận và mục đích sáng tác
để quyết định nội dung và hình thức tác phẩm Trước khi viết, Bác thường đặt ra
cho mình câu hỏi: viết cho ai (đối tượng tiếp nhận), viết để làm gì (mục đích sángtác) rồi sau đó mới quyết định: viết cái gì (nội dung) và cuối cùng là lựa chọn cáchviết như thế nào (hình thức) Những câu hỏi trên đã thể hiện quan niệm của HCMcoi sáng tác văn chương trước hết là một hành vi chính trị, coi trọng tính mục đíchtrong sáng tác, đặc biệt lấy quảng đại quần chúng làm đối tượng phục vụ Quanniệm này cũng được thể hiện rõ nét trong thực tế sáng tác của Bác: khối lượngcác tác phẩm trực tiếp dành cho mục đích tuyên truyền chính trị chiếm vị trí lớnnhất trong sự nghiệp văn chương; bên cạnh những tác phẩm có giá trị nghệ thuật
Trang 25cao là những tác phẩm giản dị mộc mạc, gần gũi với cách cảm, cách hiểu củaquần chúng nhân dân.
3 Hồ Chí Minh luôn đề cao tính chân thật và tính dân tộc của văn chương, coi đó
là một tiêu chí quan trọng để xác định vị trí của tác phẩm Nhưng chân thật không
có nghĩa là đơn giản, sơ lược mà phải có tính nghệ thuật cao, Bác khuyên nghệ
sỹ phải: “miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn” những hiện thực phongphú của đời sống, phải “giữ tình cảm cho chân thật”, nên “phát huy cốt cách dântộc… giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”
Kết luận: Hồ Chí Minh đã thể hiện một cách nhất quán những quan điểm ấy trong
sáng tác của mình khiến tác phẩm của Bác luôn có tư tưởng sâu sắc, nội dungthiết thực, hình thức nghệ thuật sinh động, phong phú
B SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC:
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là một nhà
văn hóa lớn Bên cạng sự nghiệp chính trị, Người còn để lại cho nhân dân ta một
sự nghiệp văn chương lớn lao về tầm vóc tư tưởng, phong phú về thể loại và đặcsắc về phong cách Tác phẩm của Người được viết bằng tiếng Pháp, tiếng Hán
và tiếng Việt với 3 loại hình nổi bật: văn chính luận, truyện ký và thơ ca
1 Văn chính luận:
- Nội dung và mục đích: trực tiếp tố cáo tội ác của kẻ thù hoặc thể hiệnnhững nhiệm vụ chính trị trong từng chặng đường lịch sử của cách mạng, kêu gọiquần chúng nhân dân thực hiện những nhiệm vụ chính trị ấy
- Nghệ thuật: Văn chính luận của HCM được viết không chỉ bằng lý trí sáng
suốt, trí tuệ sắc sảo mà còn bằng cả tấm lòng yêu ghét nồng nàn, được biểu đạtbằng những lời văn chặt chẽ, súc tích
- Tác phẩm: Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến(1946)
2 Truyện ký:
- Nội dung và mục đích: Tố cáo tội ác dã man, bản chất tàn bạo của bọn
thực dân đế quốc, bọn phong kiến tay sai đối với nhân dân các nước thuộc địa,
ca ngợi những tấm gương yêu nước và cách mạng
- Nghệ thuật: Các tác phẩm truyện ký của Bác được viết bằng bút pháp hiện
đại với nghệ thuật trần thuật linh hoạt, tình huống truyện độc đáo, hình tượng sinhđộng…, thể hiện trí tưởng tượng phong phú, vốn văn hóa sâu rộng, trí tuệ sắcsảo và trái tim tràn đầy nhiệt tình yêu nước và cách mạng
Trang 26- Tác phẩm: Những trò lố hay là Va ren và PBC, Vi hành
3 Thơ:
3.1 Nhật ký trong tù (Ngục trung nhật ký):
- Là tập nhật ký bằng thơ, viết bằng chữ Hán, được sáng tác trong thời gian
Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bứt giam ở Quảng Tây TrungQuốc từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943
- Nội dung: Tập thơ phản ánh sinh động và tài hoa tâm hồn và nhân cáchcao đẹp của người chiến sỹ cách mạng trong hoàn cảnh khắc nghiệt chốn lao tù
Vì vậy có thể coi Nhật ký trong tù là bức chân dung tinh thần tự họa của HCM một bậc “đại trí - đại nhân - đại dũng” (Viên Ưng - TQ) Tập thơ còn phản ánhchân thực bộ mặt tàn bạo của chế độ nhà tù Quốc dân đảng và một phần xã hộiTrung Quốc những năm 1942-1943 với ý nghĩa phê phán sâu sắc
Đây là tập thơ sâu sắc về tư tưởng, độc đáo và đa dạng về bút pháp, làkết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật thơ ca HCM
3.2 Hai tập: Thơ Hồ Chí Minh (86 bài) và Thơ chữ Hán HCM (36 bài):
- Hoàn cảnh sáng tác: Đây là những bài thơ được Bác viết ở Việt Bắc từ
1941-1945 và trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
- Nội dung: Bên cạnh những bài thơ nhằm mục đích tuyên truyền cách
mạng như: Hòn đá to, Ca binh lính… là những bài thơ nghệ thuật vừa có màu sắc
cổ điển, vừa mang tinh thần thời đại như: Pác Bó hùng vĩ, Nguyên tiêu… Nổi bậttrong thơ Bác là nhân vật trữ tình có tâm hồn hòa hợp với thiên nhiên, có bản lĩnhvững vàngcủa một nhà cách mạng vĩ đại, phong thái ung dung của một bậc hiềntriết, khí phách kiên cường của người chiến sỹ cách mạng
- Nghệ thuật: Đó là những bào cổ thơ thâm thúy có tứ thơ phóng thoáng ở
nhiều đề tài, kết hợp chất trữ tình cách mạng và cảm hứng anh hùng ca của thờiđại mới
C PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT: (Phong cách nghệ thuật hết sức phong phú đa dạng)
1 Văn chính luận:
Thường ngắn gọn, súc tich, lập luận chặt chẽ, lý lẽ đanh thép, bằng chứng đầysức thuyết phục, giàu tính luận chiến, đa dạng về bút pháp Văn chính luận củaBác rất giàu hình ảnh, thấm đượm cảm xúc, văn phong linh hoạt, khi ôn tồn thấutình đạt lý, khi đanh thép, mạnh mẽ, hùng hồn
Trang 272 Truyện ký:
Tùy theo từng đối tượng tiếp nhận, Bác lựa chọn bút pháp, giọng điệu và vănphong thích hợp Nhìn chung, truyện ký Nguyễn Ái Quốc có phong cách rất hiệnđại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sâu sắc Tácphẩm thường tạo ra tiếng cười trào phúng nhẹ nhàng hóm hỉnh nhưng … thâmthúy sâu cay Bên cạnh đó, Bác còn có những tác phẩm thắm thiết chất trữ tìnhlàm xúc động lòng người Chất trí tuệ và tính hiện đại là nét đặc sắc của truyệnngắn Nguyễn Ái Quốc
3 Thơ ca:
a Thơ tuyên truyền cách mạng
Thường được viết theo hình thức bài ca với lời lẽ giản dị mộc mạc, dễ hiểu dễnhớ, mang đậm màu sắc dân gian Loại thơ này cũng rất đa dạng về hình thức:
- Thơ châm ngôn
- Thơ chúc Tết mừng xuân theo tục lệ cổ truyền dân tộc
- Thơ tuyên truyền, kêu gọi
mà ghi lấy linh hồn tạo vật, bút pháp tả cảnh ngụ tình khiến phong cảnh trở thànhtâm cảnh, khiến thiên nhiên luôn thấm đượm cảm xúc con người; Thơ Bác luônđầy ắp thiên nhiên, nhân vật trữ tình luôn gắn bó hòa nhập với thiên nhiên mangphong thái ung dung tự tại, tiên phong đạo cốt
- Bút pháp hiện đại:
+ Chất hiện đại trong thơ Bác được thể hiện ngay ở tính dân chủ, đưathơ ca trở về gần gũi với cuộc đời; nhân vật trữ tình luôn ở vị trí trung tâm củabức tranh thiên nhiên, không chịu sự chi phối của thiên nhiên mà thậm chí còn cótác động tích cực trở lại thiên nhiên
+ Chủ thể trữ tình mang phong thái ung dung tự tại, hòa nhập vớithiên nhiên nhưng không phải ẩn sỹ lánh đời mà là chiến sỹ cứu đời, yêu đời
Trang 28+ Hình tượng nghệ thuật trong thơ HCM không tĩnh tại mà luôn vậnđộng mạnh mẽ hướng về ánh sáng, sự sống, tương lai.
Kết luận: Nhìn chung phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh đa dạng, phong
phú mà thống nhất Sự thống nhất thể hiện trong toàn bộ sáng tác văn thơ củaBác trên cơ sở nhất quán về quan niệm sáng tác Cách viết của Bác luôn ngắngọn, trong sáng, giản dị, luôn chủ động trong việc sử dụng linh hoạt các thể loạingôn ngữ, bút pháp và thủ pháp nghệ thuật nhằm đạt tới mục đích thiết thực chotừng tác phẩm Sáng tác của Bác luôn kết hợp sâu sắc giữa chính trị và văn học,
tư tưởng và nghệ thuật, truyền thống và hiện đại Với một di sản văn học đồ sộ vàquý giá, Người đã góp phần đặt nền móng và mở đường cho văn học cách mạngViệt Nam
Trang 29- Ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Việt Bắc trở về Hà Nội, tại ngôinhà số 48 Hàng Ngang, Bác đã soạn thảo Tuyên ngôn độc lập, và ngày02/9/1045, tại quảng trường Ba Đình Hà Nội, Bác đã đọc bản Tuyên ngôn độc lậpkhai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Đây cũng là lúc hoàn cảnh nước ta rất phức tạp, bọn thực dân đế quốcđang âm mưu xâu xé nước ta, nấp sau danh nghĩa quân Đồng minh vào tước khigiới quân đội Nhật: Phía Bắc là quân đội Quốc dân đảng, tay sai của đế quốc Mỹ
đã trực sẵn ở biên giới để đổ bộ vào Việt Nam, tiến vào từ phía Nam là quân độiAnh, phía sau là lính viễn chinh Pháp
Ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã nhận định mâu thuẫn giữaAnh, Pháp, Mỹ và Liên Xô có thể khiến Anh, Mỹ sẽ nhân nhượng để cho Pháp trởlại Việt Nam Còn Pháp, để chuẩn bị cho cuộc xâm lược lần thứ hai, chúng đãđưa ra một chiêu bài rất dễ đánh lừa công luận quốc tế: Pháp có công khai hóaĐông Dương, đây vốn là đất bảo hộ của Pháp bị Nhật chiếm Nay Nhật đã đầuhàng Đồng minh, Pháp đương nhiên có quyền trở lại Đông Dương thay thế quânđội Nhật
Hoàn cảnh ra đời đã cho thấy đối tượng và mục đích của bản Tuyên ngôn độclập Đối tượng của bản Tuyên ngôn không chỉ là “đồng bào cả nước” như tronglời mở đầu mà còn là các nước trên thế giới, chủ yếu là phe Đồng minh, trong đó
có Anh, Mỹ, đặc biệt là Pháp Như vậy mục đích của bản Tuyên ngôn không chỉ làtuyên bố độc lập dân tộc, nội dung bản tuyên ngôn còn có thể coi là một cuộctranh luận ngầm đối với những đối tượng ấy để bác bỏ luận điệu kẻ cướp củathực dân Pháp Xác định được đối tượng và mục đích hướng tới của bản Tuyênngôn độc lập, người đọc sẽ hiểu sâu sắc hơn nội dung tư tưởng, giọng điệu vàcách lập luận của tác phẩm
Trang 302 Nội dung chính (mục đích sáng tác):
- Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam trên cơ sở chân lý
lẽ phải không thể chối cãi, xuất phát từ thực tế Việt Nam có quyền hưởng tự dođộc lập và sự thật đã chiến đấu ngoan cường để trở thành một nước tự do độclập
- Lên án, tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương, kết hợp vớinhững cứ liệu hùng hồn để phủ nhận quyền của thực dân Pháp với Việt Nam, bác
bỏ luận điệu xảo trá, sai trái của chúng trước dư luận quốc tế, tranh thủ sự đồngtình ủng hộ của nhân dân thế giới với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ViệtNam trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc
- Khẳng định quyết tâm chiến đấu của nhân dân Việt Nam để giữ vữngquyền tự do độc lập
Phân tích nghệ thuật lập luận trong đoạn mở đầu của Tuyên ngôn độc lập
I/ Mở bài
- Hồ Chí Minh là tác gia lớn của Văn học Việt Nam Di sản văn học củaNgười gồm nhiều thể loại, trong đó văn chính luận giữ một vị trí đặc biệt quantrọng
- Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện có giá trị cao về lịch sử và văn học,cũng đồng thời là một mẫu mực về nghệ thuật lập luận trong văn chính luận
- Đoạn mở đầu của tác phẩm đã thể hiện rõ nét và sinh động điều đó
II/ Thân bài
1 Trình tự lập luận
Mở đầu bản tuyên ngôn, tác giả Hồ Chí Minh đã trích dẫn những lời bất hủ
về quyền con người trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ để từ cơ sở
đó, tác giả đã “suy rộng ra” quyền dân tộc Tiếp theo là lời trích dẫn từ tuyên ngôn
nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791 để chốt lại bằng một khẳng địnhđanh thép: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”
2 Hiệu quả lập luận của những lời trích dẫn
Trang 31- Khi mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam bằng việc trích dẫn 2bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ, tác giả HCM đã tạo ra một vị thế ngang hànggiữa cuộc cách mạng tháng 8-1945 của Việt Nam với những cuộc cách mạng vĩđại khác của thế giới như cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Mỹ 1776, cuộccách mạng tư sản của Pháp 1789… Hơn thế nữa, tác giả còn kín đáo thể hiệnniềm tự hào dân tộc khi cách mạng Việt Nam đã cùng một lúc thực hiện nhiệm vụcủa cả 2 cuộc cách mạng kia: đó là nhiệm vụ dân tộc như cuộc chiến tranh giảiphóng dân tộc của Mỹ khi “đánh đổ các xiềng xích thực dân hàng trăm năm nay
để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập” và nhiệm vụ dân chủ như cách mạng tưsản Pháp khi “đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dânchủ cộng hòa” Đây cũng là cách làm sáng tỏ tính chất hợp quy luật của cáchmạng Việt Nam trong xu thế chung của cách mạng thế giới, cũng là cách để nângcao vị thế, tầm vóc của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế
- Lấy phần trích dẫn này làm tiền đề triển khai các lập luận, lý lẽ trong bảntuyên ngôn độc lập của Việt Nam, tác giả đã khiến cho những luận điểm đúng đắntrong 2 bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ vốn được thế giới thừa nhận như những
chân lý lớn của nhân loại đã trở thành cơ sở pháp lý vững vàng, mang tầm vóc
quốc tế cho lời tuyên bố độc lập của dân tộc Việt Nam
- Việc trích dẫn cũng thể hiện một nghệ thuật lập luận vừa khéo léo, vừasắc sảo, kiên quyết của người viết
+ Khéo léo vì thái độ trân trọng với những cuộc cách mạng vĩ đại của
2 quốc gia Pháp và Mỹ khi đặt lời tuyên bố bất hủ của tổ tiên họ vào phần mở đầubản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam Khéo léo còn vì hàm ý khẳng định: ViệtNam sẵn sàng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ và thành quả cách mạng vĩ đạicủa nhân loại, Cách mạng tháng Tám năm 1945 không phải sản phẩm của chủnghĩa dân tộc hẹp hòi, nó xứng đáng được nhận sự đống tình ủng hộ của nhânloại tiến bộ trên thế giới
+ Việc trích dẫn cũng tỏ ra kiên quyết sắc sảo khi cảnh cáo thực dânPháp và đế quốc Mỹ: họ không thể phản bội lý tưởng cao quý của chính tổ tiênmình, không thể chà đạp lên lá cờ tự do - bình đẳng - bác ái mà tổ tiên họ từnggiương cao
Lời khẳng định sau khi trích dẫn: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãiđược” là cách lập luận “vừa khôn khéo, vừa kiên quyết” của HCM, là thủ pháp
“lấy gậy ông đập lưng ông” rất mạnh mẽ, đích đáng
3 Hiệu quả của những lời luận bàn, mở rộng nâng cao:
- Sự “suy rộng ra” từ quyền con người tới quyền sống, quyền tự do, quyềnbình đẳng của các dân tộc trên thế giới đã thể hiện tư duy lý luận sáng tạo của
Trang 32Đảng, của HCM, nhờ đó, lời tuyên bố độc lập của Việt Nam trở thành chân lý củamọi thời đại Đó cũng là đóng góp lớn về tư tưởng của Chủ tịch HCM đối vớiphong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới - 1 dòng thác cách mạng sẽ pháttriển mạnh mẽ vào nửa sau thế kỷ XX.
- Một nhà hoạt động cách mạng thế giới đã khẳng định: “Cống hiến nổi tiếngnhất của cụ HCM là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thànhquyền lợi dân tộc, như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vậnmệnh của mình”
III/ Kết luận:
Nghệ thuật lập luận trong đoạn mở đầu đã cho thấy Tuyên ngôn độc lập là mộtáng văn chính luận chặt chẽ, lý lẽ đanh thép, văn phong trang trọng và trongsáng
Giá trị lịch sử và giá trị văn học của Tuyên ngôn độc lập
1 Giá trị lịch sử
- Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử đúc kết nguyện vọng sâu sắccủa dân tộc Việt Nam về quyền độc lập, tự do, cũng là kết quả tất yếu của quátrình đấu tranh gần 100 năm của dân tộc ta để có thể có được quyền thiêng liêng
và chính đáng ấy
- Bản Tuyên ngôn độc lập đã tuyên bố chấm dứt chế độc thực dân phongkiến ở Việt Nam, khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng cho dân tộc ViệtNam trên trường quốc tế, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta: kỷ nguyênđộc lập, tự do, kỷ nguyên nhân dân làm chủ đất nước
2 Giá trị văn học
- Tuyên ngôn độc lập là áng văn chương yêu nước lớn của thời đại cáchmạng Tác phẩm đã khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam,gắn độc lập dân tộc với quyền sống của con người, nêu cao truyền thống yêunước, truyền thống nhân đạo củ người Việt Nam, đó cũng là những cảm hứngbao trùm trong lịch sử văn học Việt Nam
- Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận mẫu mực Dung lượng tácphẩm ngắn gọn hàm súc; kết cấu tác phẩm chặt chẽ, mạch lạc; lập luận đanhthép giàu sức thuyết phục; chứng cứ cụ thể xác thực; ngôn ngữ chính xác gợicảm, tác động mạnh mẽ vào cả nhận thức và tình cảm của người đọc, ngườinghe
Trang 33Nghệ thuật lập luận sắc bén của tác giả HCM trong phần 2 của bản Tuyên ngônđộc lập nhằm bác bỏ luận điệu kẻ cướp của thực dân Pháp, khẳng định quyền
độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam
II/ Thân bài
1 Luận điệu - chiêu bài:
Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược lần thứ hai, thực dân Pháp đã đưa ra một chiêubài rất dễ đánh lừa công luận quốc tế: Pháp có công “khai hóa” Đông dương, đâyvốn là đất “bảo hộ” của Pháp bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng Đồng minh,Pháp đương nhiên có quyền trở lại Đông Dương thay thế quân đội Nhật
2 Cuộc tranh luận ngầm:
Nội dung của bản Tuyên ngôn độc lập có thể coi như một cuộc tranh luận ngầm
nhằm bác bỏ hoàn toàn luận điệu xảo trá của thực dân Pháp
- Thực dân Pháp vừa lừa bịp thế giới bằng lá cờ “tự do - bình đẳng - bác ái”khi chúng “đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta” Bản Tuyên ngôn lần lượt
đưa ra những bằng chứng cho thấy ở Việt Nam không hề có tự do khi thực dân
Pháp “tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”, khi “nhà tù
nhiều hơn trường học”; không hề có bình đẳng khi thực dân Pháp “giữ độc quyền
in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng”, khi “chúng không cho các nhà tư sản của ta
ngóc đầu lên”; không có bác ái khi thực dân Pháp “tắm các cuộc khởi nghĩa của
ta trong những bể máu”, khi chúng “thẳng tay chém giết những người yêu nướcthương nòi của ta”
- Thực dân Pháp kể công khai hóa Việt Nam, bản Tuyên ngôn kể tội chúng
“thi hành chính sách ngu dân… bóc lột dân ta tới xương tủy… đặt ra hàng trămthứ thuế vô lý làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng”
Trang 34Cùng với phát xít Nhật, thực dân Pháp cũng là thủ phạm gây ra nạn đói khủngkhiếp 1945 giết chết hơn 2 triệu đồng bào ta từ Bắc kỳ tới Quảng Trị.
- Thực dân Pháp kể công bảo hộ Việt Nam, bản Tuyên ngôn lên án chúng
trong 5 năm đã “bán nước ta hai lần cho Nhật”
- Thực dân Pháp khẳng định Việt Nam là thuộc địa của chúng bị Nhật
chiếm, nay Nhật đã đầu hàng Đồng minh thì Pháp đương nhiên có quyền trở lạiĐông Dương thay thế quân đội Nhật Tuy nhiên, bản tuyên ngôn đã chỉ rõ mộtcách hùng hồn, đanh thép: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thànhthuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa… Sự thật là dân ta
đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”
- Thực dân Pháp nhân danh Đồng minh tuyên bố Đồng minh tuyên bố đã
thắng Nhật và chúng có quyền lấy lại Đông dương, bản Tuyên ngôn chỉ rõ chúng
là kẻ phản bội Đồng minh, đã hai lần dâng Đông Dương cho Nhật Trong khi đóViệt minh lãnh đạo nhân dân Việt Nam đứng lên đánh Nhật giải phóng đất nước,Việt minh cũng nhiều lần kêu gọi Pháp liên minh đánh Nhật nhưng Pháp cũngkhông hề đáp ứng, như vậy Pháp không đủ tư cách là một nước thuộc phe Đồngminh
- Bản tuyên ngôn cũng lên án tội ác dã man và tư cách đê tiện của thực dânPháp: hèn hạ quỳ gối trước phát xít Nhật, khủng bố Việt minh, khi chạy trốn cònnhẫn tâm giết tù chính trị, trong khi đó, Việt minh đã tỏ rõ lòng nhân đạo khi giúpquân Pháp chạy qua biên giới
Tất cả những lý lẽ đanh thép, những bằng chứng hùng hồn trên đã bác bỏhoàn toàn luận điệu của thực dân Pháp và đưa ra một kết luận không ai có thểphủ nhận được: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và thực sự đãthành một nước tự do, độc lập”
Trang 352.2 Hoàn cảnh sáng tác.
- Việt Bắc là căn cứ địa vững chắc của cách mạng Việt Nam từ đầu nhữngnăm cách mạng tới khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp Nơi đây ngườidân Việt Bắc che chở, đùm bọc và đã sát cánh bên bộ đội, cán bộ để giành vàbảo vệ nền độc lập dân tộc
- Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến chống Pháp kếtthúc thắng lợi, tháng 10/1954, các cơ quan trung ương của Đảng và chính phủ từbiệt căn cứ địa Việt Bắc trở về Hà Nội Một loạt những vấn đề đặt ra trong đờisống tình cảm của dân tộc: liệu những người chiến sỹ có giữ được tấm lòng thủychung với đồng bào Việt Bắc và quê hương Có nhớ những tháng ngày gian khổ,hào hùng và sâu nặng nghĩa tình trong kháng chiến? Việt Bắc sẽ có vị trí như thếnào trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ mới?
- Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác Việt Bắc Bài thơgồm có 2 phần: Phần đầu tái hiện hình ảnh của cách mạng và kháng chiến ở ViệtBắc, phần sau gợi ra viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ca ngợi công ơn củaĐảng, của Bác Hồ đối với dân tộc Qua đó, nhà thơ đã thể hiện nghĩa tình thắmthiết với Việt Bắc - quê hương cách mạng, với đất nước và nhân dân, với cuộckháng chiến nay đã trở thành kỷ niệm khiến niềm vui trong hiện tại luôn gắn kếtvới nghĩa tình trong quá khứ và niềm tin ở tương lai Bài thơ là khúc hát tâm tình
Trang 36của con người Việt Nam trong kháng chiến mà chiều sâu của nó là truyền thống
ân nghĩa, là đạo lý thủy chung của dân tộc
2.3 Cấu tứ chung của bài thơ:
- Bài thơ được đặt vào trong hoàn cảnh đặc biệt của một cuộc chia tay đầynhớ thương lưu luyến giữa những con người từng gắn bó lâu dài, từng chia sẻmọi ngọt bùi cay đắng Nay trong giờ phút chia tay cùng nhau gợi lại những kỷniệm đẹp đẽ trong quá khứ, khẳng định nghĩa tình bền chặt, sự thủy chung vàhẹn ước về tương lai
- Nhưng đây lại là một cuộc chia tay rất đặc biệt vì người ra đi thưc chất lại
là người trở về, cuối chặng đường của người đi không phải là chân trời góc bể xaxôi mà là tổ ấm gia đình, là thủ đô hoa lệ, là cuộc sống hòa bình…, và vì thế tronglòng người ở lại, ngoài nỗi nhớ thương còn là niềm trăn trở về sự thủy chung củangười đi
- Hình ảnh này thường dùng để diễn tả những tình cảm riêng tư như tìnhbạn, tình yêu…, nay thể hiện những nghĩa tình thiêng liêng lớn lao của cáchmạng Cách cấu tứ đặc biệt này khiến chuyện nghĩa tình cách mạng, kháng chiếnđược diễn tả bằng ngôn ngữ và giọng điệu ngọt ngào của tình yêu, đưa ngườiđọc vào khoảnh khắc xúc động của ân tình lưu luyến, của hồi tưởng và hoài niệm,của tin tưởng và ước vọng… Đây cũng là nét riêng đặc sắc trong phong cách thơ
Tố Hữu
- Với hai nhân vật trữ tình là người đi - kẻ ở, bài thơ được kết cấu theo hìnhthức đối đáp tựa như những câu hát giao duyên trong ca dao xưa Thực ra, bêntrong lớp đối thoại của kết cấu là lời độc thoại của tâm trạng: kẻ ở - người đi, câuhỏi lời đáp cũng chỉ là sự phân thân của chủ thể trữ tình, là thủ pháp để nhà thơbộc lộ nỗi niềm tâm trạng, tạo ra sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân… Để thể hiện
sự phân thân ấy, bài thơ đã sử dụng sáng tạo và tinh tế hai đại từ “mình” và “ta”.Trong tiếng Việt, “mình” có thể là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất để chỉ bản thânngười nói, cũng có thể là ngôi thứ hai để chỉ những đối tượng giao tiếp thân yêu,gần gũi, thường hay xuất hiện trong các quan hệ tình yêu, vợ chồng Trong bàithơ Việt Bắc, “mình” lại chủ yếu được dùng ở ngôi thứ hai cho thấy sự gắn bóthân thiết vô cùng giữa hai nhân vật đối đáp - “mình” có thể là người ra đi trongcâu hỏi của người ở lại: “Mình về có nhớ ta”, có khi là người ở lại trong nhữngxao xuyến của người đi: “Ta về mình có nhớ ta”; tuy nhiên “mình” cũng có lúcchuyển hóa đa nghĩa, vừa là người đi, vừa là người ở lại trong sự hòa nhập, gắnkết: “mình đi mình có nhớ mình?” Đại từ “ta” cũng được sử dụng rất linh hoạt,độc đáo chủ yếu ở ngôi thứ nhất - người phát ngôn, nhưng nhiều khi lại dùng để
Trang 37chỉ chung người đi, kẻ ở với nghĩa “chúng ta” như “rừng cây, núi đá, ta cùng đánhtây”…
B TÌM HIỂU BÀI THƠ:
Bình giảng 24 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
I/ Mở bài:
- Tác giả, tác phẩm
- Đoạn thơ bình giảng nằm ở phần đầu bài thơ Việt Bắc, chủ yếu thể hiện
nỗi niềm tâm trạng của người ở lại trong sự thấu hiểu, đồng cảm, đồng vọng của
người ra đi, qua đó khẳng định tình cảm son sắt của người dân Việt Bắc vớikháng chiến cũng như sự thủy chung của những người cán bộ kháng chiến vớiViệt Bắc
II/ Thân bài:
1 Bốn câu đầu: Là khúc dạo đầu ân tình thủy chung và niềm nhớ thương đầy
trăn trở của người ở lại với người ra đi
- Nội dung chủ yếu trong 2 cặp câu lục bát này là hai câu hỏi láy lại da diết:
“Mình về mình có nhớ ta
… Mình về mình có nhớ không?”
- “Mình” và “ta” là những đại từ nhân xưng quen thuộc trong ca dao xưa, làlối xưng hô bình dị, thương mến vô cùng của tình yêu đôi lứa Hai câu hỏi trongđoạn mở đầu đã gợi nhắc tới những câu ca dao nói về cảnh chia tay bịn rịn, nhớnhung của đôi lứa:
“Mình về mình nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”
Hoặc:
“Mình về ta dặn câu nàyDặn dăm câu nhớ, dặn vài câu thương”
Tố Hữu đã mượn một hình thức ngôn từ quen thuộc của văn học dân tộc đểgửi gắm những nội dung tình cảm lớn lao của thời đại mới, những câu ca ngọtngào của tình yêu đã trở thành những câu hỏi xao xuyến của nghĩa tình cáchmạng, thể hiện nỗi nhớ nhung của người ở lại với người về xuôi
Trang 38- Hai câu thơ lục bát có tới bốn chữ “mình” và chỉ có một chữ “ta” Tươngquan ngôn từ ấy đem lại cảm giác hình ảnh người ra đi tràn ngập không gian vàđầy ắp trong nỗi nhớ của người ở lại đồng thời cũng gợi một chút đơn côi, lặngthầm cho người ở lại nơi núi rừng hoang vắng, hắt hiu…
- Đoạn thơ đã sử dụng phép lặp quen thuộc trong ca dao khiến nỗi nhớ trởnên miên man da diết không thể nguôi ngoai, cũng đồng thời tạo nên âm hưởngday dứt, trăn trở, thể hiện một trong những cảm hứng chủ đạo của bài: liệu nhữngngười chiến thắng có giữ được tấm lòng thủy chung, có mãi nhớ tất cả nhữngngười đã góp phần tạo nên chiến thắng
- Câu hỏi thứ nhất hướng về thời gian, đó là “mười lăm năm ấy…” Trongtiếng Việt, đại từ “ấy” luôn khiến những danh từ chỉ thời gian đứng trước nó bị đẩy
về một quá khứ thật xa xăm, trở thành những thời gian gợi nỗi nhớ thương, ngậmngùi, tiếc nuối… Câu thơ cũng đồng thời gợi liên tưởng đến câu Kiều đằm thắmvề: “mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình” Còn trong câu thơ của Việt Bắc, “mườilăm năm ấy” là những thời gian từ “… khi thắng Nhật, thuở Việt minh” và sau đó
là những năm tháng kháng chiến, là những thời gian Việt Bắc trở thành căn cứđịa của Cách mạng, trở thành thủ đô kháng chiến Đó cũng là những thời gian
“thiết tha mặn nồng”, là thời gian mà “ta” và “mình” từng gắn bó, chia ngọt sẻ bùivới “biết bao nhiêu tình”, biết bao ân sâu nghĩa nặng
- Nếu câu hỏi thứ nhất “mình về mình có nhớ ta” làm xao xuyến lòng ngườibởi sự phảng phất giọng điệu những câu ca về tình yêu, thì câu hỏi thứ hai “mình
về mình có nhớ không” lại khiến con người phải trăn trở, suy ngẫm vì sự tha thiết
và nghiêm nghị trong giọng điệu câu thơ Câu hỏi này hướng đến không gian:
“Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
+ Hai vế của câu thơ đan xen những hình ảnh của cả miền xuôi như
“cây”, “sông” và miền núi như “núi”, “nguồn” Nỗi nhớ và sự gắn bó khăng khíttrong lòng người như đã hiện hữu ngay trong sự đan xen ngôn từ “Nhìn cây…nhìn sông” là thực tế chắc chắn trong tương lai khi người kháng chiến đã về xuôi,
đã sống với quê hương, với đồng bằng còn “nhớ núi”, “nhớ nguồn” là để tâm hồntrở về với quá khứ, với Việt Bắc, điều này có xảy ra hay không còn tùy thuộc vào
sự thủy chung của người ra đi Câu thơ tiềm ẩn mối tương quan giữa thực tế vàmong đợi, như tiềm ẩn một chữ “có” đầy trăn trở: “nhìn cây có nhớ núi, nhìn sông
có nhớ nguồn?”
+ Trong câu hỏi thứ hai, bên cạnh nỗi nhớ nhung và niềm trăn trở, ýthơ còn đem đến những suy ngẫm sâu xa về nghĩa tình đạo lý, về cội nguồnchung thủy, về nét đẹp trong đời sống tư tưởng của một dân tộc luôn nhắc nhau
Trang 39“uống nước nhớ nguồn” Đây cũng là một lẽ sống cao cả, một tình cảm lớn đãnhiều lần xuất hiện trong thơ Tố Hữu:
“Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay
Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm”
Kết luận: Với những câu hỏi tu từ da diết, những hình thức điệp từ, điệp ngữ,điệp cấu trúc, những cách vận dụng tinh tế và sáng tạo ca dao tục ngữ dângian…, đoạn thơ đầu đã thể hiện ân tình sâu nặng của đồng bào miền Bắc với bộđội, cán bộ kháng chiến trong giờ phút chia tay đầy lưu luyến
2 Bốn câu tiếp: Miêu tả cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi lưu luyến, nhớ
nhung của người đi kẻ ở
- Câu thơ đầu nhắc tới “tiếng ai tha thiết bên cồn” cho thấy những nhớnhung xao xuyến, những day dứt trăn trở trong lòng người ở lại gửi gắm trong 4câu thơ trên đã được người ra đi thấu hiểu cảm nhận “Ai” chính là người ở lạinhưng tính chất phiếm chỉ trong cụm từ tiếng ai đã đem lại cảm giác những câuhỏi tha thiết trong 4 câu đầu là tiếng của ai đó chưa nhìn rõ mặt, mới chỉ nhưnhững âm thanh vọng từ cỏ cây núi rừng, suối sông Việt Bắc, là tiếng lòng củangười ở lại, tuy nhiên sự tri âm tri kỷ đã khiến họ thấu hiểu lòng nhau, người ở lại
“thiết tha”, người ra đi “tha thiết”, hô ứng, đồng cảm, đồng vọng…
- Những âm thanhh ấy cứ quấn quýt vương vấn theo từng bước chân khiếnngười đi:
“Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”
+ Sự đăng đối trong 2 vế câu thơ đã góp phần thể hiện sự đăng đối,đồng điệu trong cảm xúc của con người
+ “Bâng khuâng” là từ láy gợi ra những trạng thái cảm xúc mơ hồ khó
tả bởi sự đan xen buồn vui, luyến tiếc nhớ nhung…, khiến con người như ngơngẩn… “Bồn chồn” là tâm trạng thấp thỏm nôn nao khiến con người không yên.Tuy cũng là từ láy miêu tả trạng thái cảm xúc nhưng “bồn chồn” không dừng lại ởnhững nỗi niềm trong tâm tưởng mà còn có thể ngoại hiện trong ánh mắt, dáng
vẻ hay hành động… Vì thế câu thơ không chỉ thể hiện nỗi bịn rịn nhớ nhung tronglòng mà còn gợi tả cả những bước chân ngập ngừng lưu luyến của người đi
- Sự ngập ngừng được thể hiện rõ nét trong cử chỉ “cầm tay nhau” chứachan ân tình xúc động; trong sự lặng im vì “biết nói gì hôm nay…”, khi mọi lời nóiđều bất lực, đều không thể diễn tả những nỗi niềm đang trào dâng mãnh liệt; sựngập ngừng đặc biệt hiện ra trong nhịp thơ 3-3-2 bồn chồn, day dứt thay thế chonhịp chẵn êm đềm thông thường của thể thơ lục bát:
“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Trang 40- Trong giờ phút chia ly, nếu “tiếng ai” là những âm thanh mơ hồ vì thực ra
nó là tiếng lòng của người ở lại, là tiếng vọng từ trong tâm tưởng, trong cảm nhậncủa người ra đi thì hình ảnh chiếc “áo chàm” lại cụ thể đến nao lòng:
“Áo chàm đưa buổi phân ly”
Đây là biểu tượng đơn sơ mà xúc động về những người dân Việt Bắcnghèo khổ, nghĩa tình Sắc áo chàm có thể nhòa mờ trong khói sương rừng núinhưng sẽ vĩnh viễn in đậm trong nỗi nhớ thương của người về xuôi Hình ảnhhoán dụ về chiếc áo chàm vừa gợi ra trang phục đặc trưng của người dân ViệtBắc, vừa khắc họa tính cách mộc mạc và tấm lòng son sắt của họ với cách mạng,với kháng chiến Câu thơ đã đồng thời cho thấy cả sự xót xa và niềm cảm phụcđầy thương mến của những người ra đi với đồng bào Việt Bắc
Đoạn thơ đã miêu tả giờ phút chia tay giữa những người dân Việt Bắc với bộđội, cán bộ kháng chiến, từ nỗi bâng khuâng trong tâm trạng, sụ ngập ngừng mỗibước chân đi, cử chỉ “cầm tay nhau” thân thương trìu mến, cho đến cả sự im lặngkhông lời xiết bao xúc động… Bốn câu thơ vừa là sự đồng vọng nhớ nhung củangười về xuôi với người ở lại, vừa tái hiện sinh động cảnh tiễn đưa bịn rịn, lưuluyến, sâu nặng nghĩa tình trong ngày chiến thắng
3 Mười hai câu tiếp theo:
Nếu 2 câu hỏi ở phần đầu mới chỉ gợi ra hình ảnh khái quát của chiến khu “mườilăm năm ấy” thì với những gắn bó thiết tha của chiến khu Việt Bắc với “núi”, với
“nguồn” thân thuộc thì những câu hỏi trong đoạn thơ sau đã hướng tới những kỷniêm thật cụ thể, xúc động
- Đoạn thơ gồm sáu câu hỏi của người ở lại với người ra đi, những câu hỏidồn dập, gấp gáp bởi nỗi nhớ trào dâng khi giờ phút chia tay đang đến gần Sựđắp đổi nhịp nhàng trong các điệp ngữ của câu 6 “mình đi có nhớ… mình về cónhớ…”, sự đắp đổi trong 2 vế của các câu 8, đó là những yếu tố tạo nên nhạcđiệu ngân nga, dìu dặt, ngọt ngào cho đoạn thơ Nhạc điệu trữ tình ấy đã gópphần thể hiện tinh tế nỗi vấn vương, xao xuyến, giăng mắc trong lòng kẻ ở người
đi, để qua đó, quá khứ đầy ắp kỷ niệm đã ào ạt trở về
- Trong những lời nhắc nhở tha thiết của người ở lại với người ra đi, ViệtBắc đã hiện lên thật sống động từ những khắc nghiệt của thiên nhiên với “mưanguồn, suối lũ, lau xám, mây mù…” tới cuộc sống kháng chiến gian khổ thiếu thốnvới “miếng cơm chấm muối”, từ những trang sử hào hùng “khi kháng Nhật, thuởViệt minh” tới những sự kiện trọng đại của cách mạng và kháng chiến nơi “TânTrào, Hồng Thái…”
- Những câu hỏi tha thiết của người ở lại đã làm rõ cội nguồn tạo nên sựgắn bó sâu nặng giữa “mình” và “ta”, giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ kháng