1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự độc đáo của truyện ngắn Nguyễn Bản

109 565 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 859,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuốn Lí luận văn học, Nxb GD, H, 1993 do Giáo sư Hà Minh Đức chủ biên lại định nghĩa như sau: Nhân vật trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo PGS

TS Nguyễn Ngọc Thiện - người đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo trong tổ, khoa Ngữ Văn, các cán bộ phòng Sau Đại học, phòng Khoa học công nghệ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn những người thân yêu, đồng nghiệp và bạn bè

đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Hà Nội, Ngày 07 tháng 10 năm 2010

Học viên

Nguyễn Thị Dung

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các luận

điểm, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố

trong bất cứ một công trình nào

Hà Nội, Ngày 07 tháng 10 năm 2010

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Dung

Trang 3

MỤC LỤC

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Đóng góp của luận văn 9

NỘI DUNG 11 Chương 1: Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Bản 11

1.1 Khái niệm nhân vật 11

1.2 Các loại nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Bản 12

1.3 Những thủ pháp nghệ thuật độc đáo trong việc khắc hoạ nhân vật 12

Chương 2: Cốt truyện - Kết cấu

2.1 Cốt truyện 13

2.1.1 Khái niệm cốt truyện 13

2.1.2 Cốt truyện độc đáo trong truyện ngắn của Nguyễn Bản 16

2.1.3 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện độc đáo trong truyện ngắn của Nguyễn Bản 28

2.2 Kết cấu

2.2.1 Khái niệm kết cấu 41

2.2.2 Kết cấu liên hoàn độc đáo trong truyện ngắn của Nguyễn Bản 41

Chương 3: Một số thủ pháp độc đáo khác về nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Bản (Điểm nhìn trần thuật, thời gian trần thuật)

44 3.1 Điểm nhìn trần thuật 53

3.1.1 Khái niệm điểm nhìn 77

3.1.2 Điểm nhìn trần thuật độc đáo trong truyện ngắn Nguyễn Bản 77

3.2 Thời gian trần thuật 78

3.2.1 Khái niệm thời gian trần thuật 86

3.2.2 Thời gian trần thuật độc đáo trong truyện ngắn Nguyễn Bản 81

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 5

Các tác phẩm chính của ông gồm: 6 tập truyện ngắn in riêng và nhiều

tuyển tập in chung Ông cũng là dịch giả các cuốn tiểu thuyết như: Ba chàng ngự lâm, Trà hoa nữ, Hoa đỗ quyên đỏ, Dưới mặt trời hung bạo, Người đua diều

Năm 1994 ông cho ra mắt tập tuyển những truyện ngắn trữ tình Mùi tóc thảo Năm 2003 tập truyện Nợ trần gian và đặc biệt năm 2007 vừa qua, ở vào

tuổi 77 con người sống lặng lẽ ấy đã làm khuấy động văn đàn văn nghệ bằng

6 đầu sách cả dịch, tái bản, và sáng tác mới với hai tập truyện ngắn Đường phố lòng tôi và Mặt trời đồng xu đã làm ám ảnh lòng người đọc Từ những

thập niên 1990, một loạt truyện ngắn của ông đã đoạt giải: Ánh trăng là một

truyện ngắn hay được giải của báo văn nghệ năm 1992 và được dịch sáng

tiếng Pháp, tiếng Anh Cơn lũ đoạt giải thưởng của báo văn nghệ năm 2001 Sống lấp; Tầm tã mưa ơi đạt giải giải thưởng tuần báo VN và không có gì

lạ khi số truyện được giải của ông lên tới số 7, nếu tính cả giải do trưng cầu ý

kiến độc giả cho truyện Bức tranh màu huyết thạch là 8

Với những thành công đáng kể như vậy, song những bài nghiên cứu về Nguyễn Bản chưa nhiều, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ và để thành một công trình

Trang 6

nghiên cứu thì chưa có ai Vì vậy, trong khuôn khổ của luận văn, người viết muốn bày tỏ tấm lòng yêu mến chân thành đối với nhà văn và cũng mạo muội xin được phân tích, đánh giá, bàn luận về một khía cạnh nhỏ liên quan đến tài

năng của nhà văn Sự độc đáo của truyện ngắn Nguyễn Bản

Thực hiện đề tài này, người viết mong muốn được đóng góp một phần nhỏ khẳng định tài năng của Nguyễn Bản và xác lập lại giá trị nghệ thuật tự

sự mà Nguyễn Bản đã cống hiến cho văn học và cuộc đời trong truyện ngắn nói riêng, văn xuôi Việt Nam đương đại nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Truyện ngắn là một thể loại xuất hiện và tồn tại từ xa xưa dưới những hình thức tự sự khác nhau Trải qua bao biến cố thăng trầm của thể loại, ngày nay truyện ngắn đã chiếm được vị trí quan trọng trên văn đàn văn học nghệ thuật và gúp phần làm nên diện mạo chính của văn học hôm nay

Những năm gần đây, truyện ngắn đã lên ngôi Đã có cả một đội ngũ đông đảo với sức trẻ, tài năng, họ đã tạo nên truyện ngắn văn học đương đại một vườn hoa nhiều màu sắc rực rỡ Bên cạnh những tên tuổi quen thuộc như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Minh Châu, Đỗ Bích Thuý, Trần Hà Nguyễn Bản là một nhà văn tuy chỉ mới xuất hiện trên văn đàn

nhưng ông đã trở thành một hiện tượng đặc biệt, một cây "viết truyện ngắn có

cá tính", đã để lại nhiều dấu ấn, làm hâm nóng văn đàn, trở thành đề tài trong

một số cuộc tranh luận văn chương của các nhà nghiên cứu phê bình lí luận, được nhiều bạn đọc chú ý trên một số bài báo và trang Web GS Nguyễn

Đăng Mạnh trong lời giới thiệu của tập truyện Nợ trần gian có viết: "Hình

như anh có một quan niệm sống riêng và muốn khép kín lòng mình trước mọi người - hồi ấy người ta gọi thế là cá nhân chủ nghĩa, không chịu hòa mình với tập thể Về sau này thì tôi hiểu rằng, muốn viết văn, muốn làm nghệ thuật thì trước hết phải sống sâu sắc với chúng…" [05;1] Cũng chính vì thế mà sau

Trang 7

này, Nguyễn Hoàng Sơn trên tranh luận văn học với bài "Cái "Ánh trăng"

trong mỗi hồn người (Về sự "hồi xuân" của cây bút truyện ngắn Nguyễn

Bản", đã nhận nhận xét về ông: "Với Nguyễn Bản, nghệ thuật là ánh trăng ám ảnh anh từ tuổi thiếu niên, cất giữ đâu đó trong tâm thức, cái ánh trăng đã an

ủi anh những lúc lận đận và giờ đây đã rọi sáng những dòng anh viết" [57;

207] Hay khi nói về truyện ngắn của ông, trong tập Những tâm hồn lạc của Trí Việt, nhà văn Ngô Thị Kim Cúc đã bình truyện Sông Lấp như sau:

"Người đàn bà bị chồng ruồng bỏ, vậy mà vẫn cứ mãi yêu mối tình đầu cay đắng ấy của mình, yêu dai dẳng và khốn khổ Ngay cả khi đã có được một người đàn ông khác, một tình yêu mới còn đẹp đẽ, trọn vẹn nhiều lần hơn vẫn

cứ không thể nguôi quên, không trút bỏ nổi những trì níu, day dứt lạ kì ấy nên người ta đành đổ cho một căn nguyên hư hư thực thực, đó là linh hồn của dòng sông mà “Tôi” đã thả trôi hồn mình xuống vào những khoảnh khắc tuyệt vọng đau đớn nhất trong cuộc đời mình" [44; 1]

Viết về truyện của Nguyễn Bản, Dương Hướng đã bình như sau:

"Truyện nào cũng đầy ắp nỗi lòng đau đáu yêu thương, khát khao hạnh phúc Văn ông tinh tế, ý tứ sâu xa mang tầm tư tưởng lớn thời đại Ông yêu đắm đuối cái đẹp của ánh trăng, cái đẹp của “làn da chị” cứ ám ảnh, đeo đuổi

làm khổ ông suốt đời (Ánh trăng) Bi kịch dữ dội và đau đớn, với nhân vật

ông Tư, một cán bộ chống Pháp luôn mơ tưởng một cuộc sống tươi đẹp, ông thành thật, vụng dại, khờ khạo vô cùng Ông Tư đặt tên các con là Tưởng, Đạo, Đức, những ước mong chúng có được một tương lai tươi sáng, nhưng

cuối cùng ông phải đi làm “đĩ đực”" (Chuyến ly hương cuối đời)…[ 29;3]

Nếu như trong tạp chí Sông Hương số 235(9/2008), Hồ Thế Hà bình về

truyện Ánh trăng: "Nguyễn Bản đã ghi lại cái khoảnh khắc trong đời mà thành định mệnh trong tâm lí chàng trai bằng giọng văn trữ tình, nhẹ nhàng, giàu chất thơ, khiến người đọc bất giác hiểu rằng, con người - ngoài những

Trang 8

trạng thái bình thường, vẫn có lúc len lén trong tim những cảm xúc kỳ diệu không thể thổ lộ cùng ai " [20;89], thì Nguyễn Khải trong Nhà văn Nguyễn Bản và cái "vạ" văn chương! trannhuong.com lại nhận xét Ánh trăng được viết bởi cây bút lão luyện nên nó giản dị, nó thật, đọc lời thoại mà như sờ nắn thấy người [54; 2] Cũng trong trang web đó, Trần Huy Thuận viết: "Dù sáng tác hay dịch, cây bút Nguyễn Bản cũng luôn thể hiện là một người tài hoa và

có trách nhiệm; đau đáu với đời, hướng về những lớp người nghèo khó lam lũ Cuộc đời đã tạo nên tính cách anh, với một tâm hồn vị tha và khép kín" [54; 2]

Đến Nguyễn Khôi, nhà thơ đồng hương đánh giá "Ở Nguyễn Bản, ta có cảm tưởng anh đang nối tiếp dòng của Thạch Lam với "Gió đầu mùa", chỗ khác của Nguyễn Bản là những cuộc tình thường éo le, trắc trở " [30; 3]

Ngoài ra cũng phải kể đến những bài viết của chính Nguyễn Bản, những bài tranh luận trên báo chí, trên trang Web cũng là tiền đề quan trọng tạo điều kiện cho chúng tôi những thông tin cần thiết trong quá trình hoàn thành luận văn này

Như vậy, qua những ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy, dù đứng dưới góc

độ nào, các nhà văn, nhà nghiên cứu cũng đi đến khẳng định: Nguyễn Bản là

cây bút có nhiều hứa hẹn và nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Bản là một

mảnh đất trống cần khám phá Tuy nhiên, trong giới hạn của một đề tài luận

văn, chúng tôi sẽ chỉ đi vào tìm hiểu những nét chính về Sự độc đáo của truyện ngắn Nguyễn Bản

3 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện luận văn này, chúng tôi hướng tới các mục đích sau:

- Rèn luyện khả năng nghiên cứu khoa học

- Qua nghiên cứu người viết mong muốn đóng góp một phần nào đó vào việc tìm hiểu, khám phá sự độc đáo, hấp dẫn trong tập truyện ngắn của Nguyễn Bản một cách cụ thể hơn, sâu sắc hơn Từ đó, thấy được tài năng

Trang 9

nghệ thuật của nhà văn trong việc ghi lại những gì xảy ra xung quanh cuộc sống của con người thời hiện đại

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là chỉ ra

sự độc đáo trong tập truyện ngắn của Nguyễn Bản ở các mặt: nhân vật,cốt truyện - kết cấu và một số thủ pháp nghệ thuật khác như điểm nhìn trần thuật

và thời gian trần thuật qua các tập truyện ngắn của ông

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, người nghiên cứu lấy một số truyện ngắn trong các tập

truyện ngắn Nợ trần gian; Mặt trời đồng xu; Mùi tóc Thảo; Đường phố lòng tôi của Nguyễn Bản trên các phương diện là nhân vật, kết cấu - cốt

truyện, điểm nhìn và thời gian trần thuật làm đối tượng nghiên cứu Điều đó cũng có nghĩa là chúng tôi đi tìm kiếm, khẳng định sự linh hoạt và những nét riêng độc đáo trong ngòi bút Nguyễn Bản

- Đường phố lòng tôi (Tập truyện - 2007)

Từ đó, khẳng định sự cách tân của nhà văn trong công cuộc đổi mới văn học

6 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở về đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên, chúng tôi sẽ kết hợp vận dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Trang 10

- Phương pháp hệ thống, tổng hợp

- Phương pháp phân tích, so sánh

- Phương pháp thi pháp học

- Phương pháp tự sự học

7 Đóng góp của luận văn

Về mặt lí luận, người viết muốn làm nổi bật nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Bản Trên cơ sở khẳng định thêm sự đúng đắn tin cậy của con đường nghiên cứu văn học hiện nay

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu những đóng góp mới của Nguyễn Bản trong nghệ thuật tự sự của văn học Việt Nam Thông qua đó để góp phần khẳng định tài năng và vị trí của Nguyễn Bản trong nền văn học mới và giúp người đọc có những kiến giải sâu sắc về nhà văn này

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN BẢN

1.1 Khái niệm nhân vật

Về mặt thuật ngữ:

Hiểu theo nghĩa rộng: “nhân vật” là khái niệm không chỉ được dùng

trong văn chương mà còn ở nhiều lĩnh vực khác Theo bộ Từ điển tiếng Việt

của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, 2007, thì “nhân vật” là khái niệm mang hai nghĩa: nghĩa thứ nhất đó là

đối tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học Thứ hai, đó là người có một vai trò nhất định trong xã hội [47; 881] Tức

là, thuật ngữ “nhân vật” được dùng phổ biến ở nhiều mặt, cả đời sống nghệ thuật, đời sống xã hội - chính trị lẫn đời sống sinh hoạt hàng ngày… Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến khái niệm

“nhân vật” theo nghĩa thứ nhất mà bộ Từ điển tiếng Việt định nghĩa như vừa

trích dẫn ở trên, tức là nhân vật trong tác phẩm văn chương

Với ý nghĩa như thế của khái niệm “nhân vật”, ta sẽ trở lại xuất xứ của thuật ngữ này

Trong tiếng Hy Lạp cổ, “nhân vật” (đọc là “persona”) lúc đầu mang ý nghĩa chỉ cái mặt nạ của diễn viên trên sân khấu Theo thời gian, chúng ta đã

sử dụng thuật ngữ này với tần số nhiều nhất, thường xuyên nhất để chỉ đối tượng mà văn học miêu tả và thể hiện

Đến cuốn Lí luận văn học, Nxb GD, H, 2004 do tác giả Phương Lựu chủ biên đã định nghĩa khá kĩ về khái niệm nhân vật văn học: nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng

Trang 12

phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như: Cám, Tấm, Thạch Sanh… Đó là những nhân vật không tên như: thằng bán tơ, một mụ nào trong

Truyện Kiều… Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần

thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung ý nghĩa con người (…) Khái niệm nhân vật có khi chỉ được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm Nhưng chủ yếu là hình tượng con người trong tác phẩm Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu để

ta nhận ra [36; 277 - 278]

Trong cuốn Lí luận văn học, Nxb GD, H, 1993 do Giáo sư Hà Minh Đức chủ biên lại định nghĩa như sau: Nhân vật trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách… Và cần chú ý thêm một điều: thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc hoạ sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người… Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể, mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc có liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm [18; 102]

Khái niệm “nhân vật văn học” còn được định nghĩa trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb GD, H, 2006 của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình

Sử, Nguyễn Khắc Phi với nội dung cơ bản giống với định nghĩa trong cuốn Lí luận văn học đã nêu: Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha…), cũng có thể không có tên riêng (…) Khái niệm nhân vật

Trang 13

văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm (…) Nhân vật văn học là một đơn vị đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người

Đối với mỗi nhân vật văn học thì tính cách được coi là đặc điểm quan

trọng nhất, là nội dung của mọi nhân vật văn học [36; 280] Dostoevsky cũng khẳng định: Đối với nhà văn toàn bộ vấn đề là ở tính cách [36; 280] Tính

cách với ý nghĩa rất lớn như vậy nên trước kia một số giáo trình Nga đã gọi nhân vật là tính cách Ở đây cần hiểu tính cách là phẩm chất xã hội lịch sử của con người thể hiện qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh

lý của họ, tính cách cũng là nhân vật nhưng là nhân vật được thể hiện với một chất lượng tư tưởng và nghệ thuật cao hơn, tuy chưa đạt đến mức độ là điển hình [21;105] Và tính cách tự nó cũng bao hàm những thuộc tính có nét cụ

thể, độc đáo của một con người cá biệt nhưng lại mang cả những nét chung, tiêu biểu cho nhiều người khác ở một mức độ nhất định, đồng thời có một quá trình phát triển hợp với lôgic khách quan của đời sống

1.2 Các loại nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Bản

Nhân vật văn học là một thế giới vô cùng phong phú và đa dạng Chính

vì vậy, nhân vật càng độc đáo thì hầu như không có sự lặp lại và bộ mặt nhân

Trang 14

vật càng phong phú Song nhìn nhận ở phương diện tổng thể trong tác phẩm văn học, các nhà nghiên cứu lí luận, nghiên cứu văn học đã chia nhân vật văn học thành các kiểu loại khác nhau để dễ tiếp nhận, dễ phân tích, đánh giá theo những tiêu chí như nội dung cấu trúc, vai trò, chức năng … của nhân vật Với nội dung và hình thức tác phẩm thì có nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ Với đặc điểm tính cách của nhân vật và lý tưởng xã hội thẩm mỹ của tác giả lại thì có thể phân chia thành: nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực) Hai kiểu nhân vật này cũng mang tính lịch sử Nhưng nếu dựa vào sự phân chia loại thể theo truyền thống của Arixtôt thì gồm có nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự, nhân vật kịch Trong đó nhân vật trữ tình được thể hiện chủ yếu qua thế giới tinh thần, nội tâm và cảm xúc phong phú Nhân vật trữ tình thường không được thể hiện qua hành động hoặc nếu có xuất hiện hành động thì hành động đóng vai trò khơi gợi tính cảm xúc chứ không có tác dụng thúc đẩy thành xung đột Còn nhân vật tự sự là nhân vật xuất hiện trong tác phẩm tự sự (truyện, tiểu thuyết, ký…) Nó thường hiện lên đầy đủ từ ngoại hình, cử chỉ, ngôn ngữ đến thế giới nội tâm bên trong Nhân vật tự sự là con người đời thường tham gia vào các tình huống khác nhau của đời sống để tạo thành chuỗi các tình tiết xung đột trong tác phẩm Bên cạnh đó, nhân vật kịch là loại nhân vật hiện lên chủ yếu qua hành động, ngôn ngữ, cử chỉ, lời nói và xung đột, ít được miêu tả cụ thể về ngoại hình

Ngoài các tiêu chí phân chia nhân vật ở trên còn có một tiêu chí nữa đó

là dựa vào cấu trúc của nhân vật người ta phân loại thành: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng Tuy nhiên ở luận văn này, chúng tôi cũng không bàn sâu về những loại nhân vật trờn

Các nhân vật trong tác phẩm của truyện ngắn của Nguyễn Bản hết sức phong phú và đa dạng Có nhiều cách phân loại thế giới nhân vật văn xuôi của ông Hoặc theo lứa tuổi của nhân vật (thế hệ trẻ, thế hệ trung niên, thế hệ già)

Trang 15

Hoặc có thể phân loại theo giới tính, theo thành phần, nghề nghiệp, xã hội…

Có cách phân loại nhân vật theo thời kì sáng tác của tác giả, gắn với cảm hứng chủ đạo một thời Cách phân chia nào cũng có lý và là một phương diện loại biệt để dễ nhận diện Tuy nhiên cũng cần tổng hợp để có một cách phân loại hợp lý và khoa học hơn Phải chăng đó là cách phân loại nhân vật xuất phát từ cách nhìn nhận, quan niệm về con người và cùng với nó là khuynh hướng tìm tòi, phát hiện những nguyên mẫu nhân vật trong thực tại đời sống gắn với những thời kì sáng tác lớn, nhỏ của nhà văn Chính vì vậy, chúng tôi chỉ xin đi sâu vào tìm hiểu một số loại nhân vật cơ bản sau:

1.2.1 Nhân vật tha hoá

Theo Từ điển tiếng Việt, “Tha hoá” được hiểu là bị biến chất thành xấu

đi [17; 1126] và thường gắn với cảm hứng phê phán, với việc "phóng đại cái

xấu làm cho nó trở nên ghê tởm và đáng ghét hơn" Vì vậy, thuật ngữ "Nhân vật tha hoá" ra đời gấn như đồng hành với chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học và nhân loại

Nhân vật tha hoá là nhân vật suốt ngày bận rộn với những toan tính dục vọng, ham muốn cá nhân Và trong cuộc sống mưu sinh đó không ít kẻ ngã gục, họ không còn giữ được cái bản chất và thiên lương trong sáng nữa Tâm hồn họ bị vẩn đục, suy nghĩ thì tăm tối nhỏ nhen, hành động trở nên bỉ ổi, sự tha hoá biến chất trở thành sự thực tất yếu và phổ biến Với tâm lý thực dụng như thế, con người không chỉ tăm tối trong suy nghĩ và hành động mà còn trở nên độc ác, lạnh lùng và tàn nhẫn

Trong tác phẩm văn học, dạng thức nhân vật tha hoá xuất hiện tương đối phổ biến Dưới sự tác động của hoàn cảnh xã hội, con người dễ bị tha hoá

Đó là quy luật và là nỗi đau quằn quại của cả nhân loại Nằm trong mạch nguồn của văn học dân tộc, chịu sự chi phối chung của thi pháp thời đại lại là nhà văn có ý thức trách nhiệm với ngòi bút, luôn quan tâm day dứt trước số

Trang 16

phận con người nên bên cạnh niềm say mê ca ngợi cái đẹp, cái thiện, Nguyễn Bản không hề phê phán cái xấu, cái ác Trong tập truyện ngắn của mình, nhân vật tha hoá được Nguyễn Bản xây dựng nhằm thể hiện sự hoài nghi và sự đổ

vỡ niềm tin nơi con người và cuộc sống hiện đại Tuy nhiên nhân vật tha hoá trong sáng tác của ông ít nhiều cũng tự ý thức được sự tha hoá của mình Nhân vật hiếm khi bị đặt trước sự lựa chọn nghiệt ngã của cuộc sống mà được nhà văn tái hiện như một lối sống riêng của những con người còn có khả năng giữ được bản lĩnh trước sự tác động của môi trường sống

Ở truyện ngắn Chuồn chuồn đi đón cơn mưa, nhân vật xưng “Tôi”

(người chồng) là điển hình của sự tha hoá Nhà văn Nguyễn Bản đã khéo léo đặt anh ta bên cạnh một người vợ hoàn hảo để làm nổi bật sự tha hoá của nhân vật Có được người vợ như vậy, những tưởng anh ta sẽ cảm thấy tự hào, hãnh diện và rất mực trân trọng Song thật bất ngờ khi chính anh ta lại là căn nguyên của sự rạn vỡ hạnh phúc gia đình Hắn ngu muội đắm chìm trong cuộc tình lãng mạn với người phụ nữ khác Đồng nghĩa với nó là anh đang trượt dài trên cái dốc của sự tha hoá Tưởng như hạnh phúc gia đình sẽ bị phá

vỡ bởi tay người chồng Ngược lại người vợ lại quá vĩ đại, vĩ đại đến mức

chính người chồng mất nết cũng phải khẳng định: Vợ tôi, mỗi khi nhắc đến mọi người đều hết lời khen ngợi [6; 99] Đấy vợ tôi như thế mà bảo tôi bỏ ư?

[6; 94] Bởi vậy, trước sự thúc dục của nhân tình là anh hãy bỏ vợ thì anh luôn lờ đi cho xong chuyện Có thể nói khuyết điểm, sự tha hoá của người chồng được lấp đầy bằng cả một tấm lòng rất mực chu đáo, tốt bụng, nhân hậu cao cả của người vợ Điều đó khiến anh cảm thấy hổ thẹn và tự ý thức được sự hư hỏng và mất nết của mình để kịp thời dừng lại Câu chuyện kết thúc cũng là lúc cuộc tình vụng trộm giữa anh và Thành tan vỡ, chỉ còn lại hình ảnh cái “tổ chuồn chuồn” trong suy nghĩ Còn tổ ấm gia đình anh được gìn giữ và sẽ được vun đắp bởi bàn tay của hạnh phúc vợ chồng

Trang 17

Giống như nhân vật người chồng trong truyện Chuồn chuồn đi đón cơn mưa, hình ảnh người chồng trong truyện ngắn Mùi tóc Thảo cũng đang

trên đà của sự tha hoá Xuất phát từ những kỉ niệm êm đềm về cô gái Tày lai Mán, tiếp đó là sự xuất hiện của Thảo - cô gái cùng đoàn xe ngựa, có vẻ đẹp

tự nhiên, tình cờ và đặc biệt là mùi tóc khiến cho gã đàn ông luôn mê man, thấp thỏm và sợ nó tuột đi, trôi đi Anh ta hăm hở lao theo thách thức và khao khát được chiếm lĩnh mùi tóc Thảo Anh sẵn sàng bỏ ngoài tai lời giáo huấn

của chú Năng Con Hân nó xích cổ mày [6; 237] Hân chính là vợ anh, hiện

đang là bà chủ tịch Thị trấn, nhưng anh có cần gì đâu ngoài mùi tóc Thảo Càng ngày anh càng lún sâu vào sự tha hoá và sống buông thả cùng tình yêu đắm say, mạnh mẽ, phóng túng rất đàn ông của mình

Bên cạnh đó, xây dựng nhân vật kiểu tha hóa với nhiều cấp độ và biểu hiện khác nhau, Nguyễn Bản không chỉ phản ánh chân thực muôn mặt của đời sống mà còn lý giải hiện thực bằng cả tấm lòng đôn hậu, nhân ái - cái tâm trong sáng của người nghệ sỹ như người thầy thuốc đã "tìm ra đúng căn bệnh của cái thời đã qua", khác với cây bút đương thời, Nguyễn Bản "không hoảng hôt, không la lối cũng không oán trách và đổ vấy ''xằng xiên" hay "cố ý thổi phồng hiện thực" nhà văn thật "điềm tĩnh", "thực sự và rạch ròi" chỉ ra và lý giải những điều được và chưa được của cuộc sống Bởi vậy, một số nhân vật tha hóa của Nguyễn Bản tuy méo mó về nhân tính, mù quáng bởi dục vọng nhưng chưa đến mức dị dạng trở thành những "quái thai" của xã hội như trong

một số tác phẩm văn học Hiện thực phê phán Việt Nam 1930-1945 (Giông tố

- Vũ Trọng Phụng; Chí Phèo - Nam Cao ) Ở một số trường hợp, nhà văn

cũng ít bộc lộ thái độ cảm thông coi sự tha hóa của con người là do sự xô đẩy

của hoàn cảnh hay những khoảnh khắc bồng bột nhất thời Đọc Sông Lấp

[6;147], Nguyễn Bản đã để cho nhân vật Mão (Làm nghề lái xe) tưởng chừng

sẽ trượt dài trên con đường của sự tha hóa: anh yêu rồi lấy Phượng và có bé

Trang 18

Lưu (2 tuổi) Cuộc sống thật êm đẹp nếu như không có những đêm Mão trở

về nhà hơi rượu nồng nặc, dội nước ùm ùm ( ) như con trâu mộng bên cái xác ve, quay mặt, gáy liền một mạch tới sáng ( ) [6;151], với lời tuyên bố đã

yêu người khác, yêu cầu Phượng làm đơn ly hôn

Cũng giống như nhân vật Mão, người đàn bà trong Cơn giông cuối mùa, Phượng trong Mùa chim lợn…, Nguyễn Bản đã phát hiện ra sự hoàn

lương của những con người tha hóa ấy hai năm sau bướm hoa đã chán Mão đến chỗ Phượng tha thiết chuộc lại lỗi lầm Tất cả những tha hoá ấy của họ là

kết quả sự phức tạp trong xã hội hiện đại Trước guồng quay chóng mặt của cuộc sống, con người cũng bị cuốn theo Song Nguyễn Bản đủ tỉnh táo để không quá tô hồng hay bôi đen nhân vật Ngược lại tỏ ra rất tìm tòi, sáng tạo trong việc miêu tả kiểu nhân vật này

Bằng tài năng nghệ thuật độc đáo, Nguyễn Bản đã gửi gắm vào đời những chân dung nhân vật tha hoá vừa có đường nét gân guốc sắc cạnh, giàu chất tạo hình vừa có tầm khái quát cao Những nhân vật mang đậm dấu ấn sáng tạo của nhà văn Những nhân vật ấy gắn bó mật thiết với thời họ sống và còn để lại không ít dư âm trong lòng các thế hệ bạn đọc Xây dựng nhân vật tha hoá, Nguyễn Bản muốn phơi bày tất cả những mặt trái của cuộc sống con người thời hiện đại Đồng thời đó cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh, buộc con người phải suy ngẫm để có thái độ sống đúng đắn trước những đổi thay của cuộc sống, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường và sự chi phối của đồng tiền Đó vừa là một cách để thức tỉnh, vừa thể hiện ý thức trách nhiệm, tinh thần công dân của người cầm bút, vừa thể hiện chiều sâu nhân đạo của ngòi bút Nguyễn Bản

1.2.2 Nhân vật bi kịch

Truyện ngắn của Nguyễn Bản giống như một ngôi nhà bí ẩn Kẻ dừng chân đôi ba phút tìm thấy được sự cồng kềnh, những góc nổi trội và tồi tàn

Trang 19

của nó, kẻ nán lại lâu sẽ nhìn thấy bên cạnh đó lẩn khuất trong cái ngóc ngách

là những nhân vật bi kịch Họ đang phải gồng mình trước những cơn giông của cuộc đời

Khái niệm “bi kịch” đã được biết đến nhiều trong văn học Thông

thường nhân vật rơi vào bi kịch là do sự xô đẩy của hoàn cảnh khách quan và chủ quan Nhân vật đứng trước sự lựa chọn hoặc sống thì phải chà đạp lên nguyên lý, đạo đức sống hoặc muốn giữ mình trong sạch thì phải chọn cái chết

Theo Brecht các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không giản đơn là bản dập của những con người sống mà là những hình tượng khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả Nguyễn Bản vốn là một nhà văn trải

nghiệm và có kinh nghiệm sống phong phú Bởi vậy, việc khám phá chiều sâu tâm lý con người được nhìn nhận ở một góc độ khá sắc sảo Điều đó được thể hiện độc đáo trong việc khai thác con người bi kịch Nhân vật trong các sáng tác của Nguyễn Bản thường có số phận bé nhỏ lầm lũi, rơi vào bi kịch vừa mang tính ngẫu nhiên, vừa mang tính sắp đặt Số phận và bi kịch của họ trong từng hoàn cảnh có nét tương đồng Phần lớn họ là những người phụ nữ gặp cảnh tréo ngéo trong duyên số Họ sống bằng cả tấm lòng nhưng lại không được đền đáp xứng đáng Họ cứ phải âm thầm gánh chịu những nối đau, những nỗi oan ức Họ là những lớp nghèo khổ lam lũ, những tâm hồn giản dị,

chất phác Truyện ngắn Nợ trần gian đã phát hiện ra thân phận người đàn bà

hết sức tội nghiệp Đó là điều mà Nguyên Hồng luôn ao ước có thể dùng ngòi bút của mình để miêu tả nỗi thống khổ của loài người Người phụ nữ lấy

chồng Tàu - cô Bùi trong truyện ngắn Nợ trần gian là nhân vật bi kịch điển

hình của tập truyện Điểm xuất phát, đúng hơn là tình huống bi kịch của con người rất đỗi đời thường đó mang số phận hẩm hiu, lỡ làng của người phụ nữ

Nếu trong Chí Phèo của Nam Cao, xấu như Thị Nở mà vẫn lọt vào được "mắt

xanh" của một gã đàn ông Chí Phèo, thế mà cô Bùi của Nguyễn Bản nghèo và

Trang 20

xấu tới mức chỉ ước ăn nằm với một thằng tù để có một đứa con cũng không được Trong hoàn cảnh xã hội ấy, chị Bùi chỉ là đại diện cho rất nhiều phụ nữ khác cùng chung cảnh ngộ Không chỉ nhà nghèo, thiếu hụt về nhan sắc mà bi

kịch đau đớn nhất của chị là: làm đàn bà mà không được làm mẹ, nếu muốn kiếm con phải mất một chỉ vàng, nhưng cũng chỉ được của thằng đánh giậm

[05;12] Trước dòng đời đưa đẩy, chị đành chịu bỏ làng, bỏ nước bán mình sang Tàu để lấy một gã nông dân còn nghèo hơn cả những người nghèo khổ nhất của đất nước mình, để sống vất vả trên một vùng đất cằn cỗi hoang vu Cuộc sống tuy nghèo khổ song chị vẫn còn niềm an ủi là hai đứa con trai; đồng nghĩa với ước nguyện làm mẹ của chị đã thành Chỉ có điều hạnh phúc

ấy rất mỏng manh, nó có thể tuột khỏi tầm tay lúc nào không hay

Trong Mặt trời đồng xu, anh thanh niên vì ôm ấp mộng văn chương, vì

sự bồng bột của tuổi trẻ nên đã rơi vào bi kịch của một trí thức Anh ta phải

đem danh giá bố mẹ, ông bà ra tín chấp đổi lấy một bữa ăn Kỉ niệm cuối cùng còn sót lại chỉ là mặt trời đồng xu và bữa cơm ngon nhất đời Còn nhân

vật Hoàng trong truyện ngắn Ánh trăng vì một đời mải mê kiếm tìm hình

mẫu người phụ nữ lý tưởng từ thuở thiếu niên cũng đã rơi vào bi kịch

Ngoài ra, chúng ta còn bắt gặp kiểu nhân vật bi kịch trong các truyện

ngắn khác như: ông Tư trong Chuyến ly hương cuối đời, cô gái trong Tầm tã mưa ơi, người phụ nữ trong Cơn lũ… Tuy nhiên bi kịch của các nhân vật

trong sáng tác của Nguyễn Bản khác biệt so với bi kịch của Chí Phèo trong

truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao ở tính chất và mức độ Bi kịch trong truyện Chí Phèo là khi nào xã hội thực dân phong kiến còn tồn tại thì chừng

ấy còn có những Chí Phèo khác Còn bi kịch trong sáng tác của Nguyễn Bản

là khi nào con người còn chưa vượt qua cái nhỏ nhen, ích kỉ và thù hận thì chừng ấy con người sẽ tự đẩy mình vào vòng luẩn quẩn Qua sáng tác của Nguyễn Bản, chúng ta thấy một điều: chính con người mới là nguyên nhân

Trang 21

trực tiếp gây ra bi kịch của mình và muốn thoát ra khỏi bi kịch đó đòi hỏi con người phải hành động Con người ta chỉ trực tiếp trải qua điều đó mới thấu

hiểu và nhìn nhận nó đúng đắn Cô Bùi trong Nợ trần gian phải trải qua cuộc

đời, số phận đầy bất hạnh mới hiểu ra bản chất xã hội và thấm thía bi kịch của

chính mình Nhân vật người phụ nữ trong Ánh trăng và Sông lấp cũng vậy

Kiểu nhân vật bi kịch trong tập truyện hầu hết liên quan đến tình yêu, hôn nhân và gia đình Họ được đặt trong hoàn cảnh điển hình, qua đó càng làm nổi bật phẩm chất của họ

Thể hiện kiểu nhân vật bi kịch này, con người được đặt trong tình huống đời tư nhất Nếu không phải vì nhà nghèo lại thiệt thòi về nhan sắc thì chưa chắc cô Bùi lại rơi vào bi kịch Hay không vì tình thế gia đình khốn khổ thì ông Tư sẽ không ly hương và làm một việc mất tư cách lúc cuối đời

Có thể thấy, nhân vật bi kịch trong tập truyện ngắn của Nguyễn Bản rất phong phú và phức tạp, được biểu hiện cụ thể và rất sâu sắc qua số phận của những người phụ nữ chân chất, giàu lòng yêu thương trắc ẩn Bên cạnh đó là

bi kịch của những trí thức trong quá trình đấu tranh vật lộn với cuộc sống hiện thực để vươn tới lẽ sống cao đẹp Kiểu nhân vật này luôn diễn ra sự mâu thuẫn giữa hiện tại và tương lai; tình yêu lý tưởng và hiện thực cuộc sống; giữa hồi tưởng và ước mơ Nó khiến cho con người luôn ở trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, nửa buông xuôi nửa chờ đợi, nửa chấp nhận, nửa nuối tiếc thậm chí nửa hi vọng nửa sợ hãi Cũng viết về nhân vật bi kịch, đặc biệt là những con người dưới đáy giống như Thạch Lam, nhưng truyện của Nguyễn Bản không hề có ý bi quan, mặc dù có buồn Những con người ấy dù có nếm vào hoàn cảnh khốn cùng như thế nào vẫn có chiều hướng suy nghĩ tích cực, thể hiện khát vọng sống, khát vọng vượt hoàn cảnh - dù chỉ là trong ký ức

Nếu như cô Huệ trong Dạ hội khi còn là học sinh mong muốn đỗ đại học và

mặc dù thi hai lần không đỗ cô vẫn ao ước với khát vọng thi tiếp hoặc đi làm gì

Trang 22

đó để thoát ly khỏi cuộc sống khổ cực của làng quê thì đến cô Bùi trong Nợ trần gian vẫn tin chắc sau này sẽ dạy con biết chữ để một ngày nào đó trở về nước

thăm quê ngoại, những đứa con tàu sẽ chào ông và bà xưng cháu, đọc được tên làng, tên nước, tên xóm mẹ nó Như vậy, việc xây dựng thành công nhân vật bi

kịch cũng góp phần khẳng định tài năng nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Bản

1.2.3 Nhân vật lƣỡng diện, đa diện

Nhân vật lưỡng diện, đa diện là khái niệm dùng để chỉ những nhân vật không phải chính diện cũng không hẳn phản diện Đây là kiểu nhân vật sống giữa ranh giới: thiện - ác, ánh sáng - bóng tối Những nhân vật lưỡng diện, đa diện thường bị đặt vào những tình huống có sự mâu thuẫn, đối lập giữa thực tại với khát vọng và lý tưởng Dưới sự tác động của tình huống đó, nội tâm nhân vật diễn

ra cuộc đấu tranh quyết liệt để lựa chọn một con đường, một cách sống phù hợp

Nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam truyền thống có sự hài hoà giữa suy nghĩ bên trong và biểu hiện bên ngoài, nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại lại nhìn nhận từ nhiều chiều, nhiều góc độ, không có sự phù hợp giữa nội tâm bên trong với biểu hiện bên ngoài Các nhà văn đã có được cái nhìn toàn diện về con người Họ nỗ lực truy tìm và tái hiện những “con người bên trong con người” Chính vì vậy, trong truyện ngắn Việt Nam thời

kì đổi mới, nhân vật lưỡng diện, đa diện ngày càng giữ vai trò quan trong việc thể hiện quan niệm của nhà văn về con người đa trị lưỡng cực Đồng thời cũng cho thấy sự thức tỉnh mạnh mẽ về ý thức cá nhân và tình trạng khủng hoảng niềm tin, đánh mất lý tưởng của con người thời đại

Trong truyện ngắn Nguyễn Bản, nhân vật lưỡng diện, đa diện được đặt trên ranh giới giữa bản năng và tính thiện, giữa một thế giới lý tưởng trong

mơ ước với hiện thực đời thường khốc liệt Nhân vật tự phán xét chính mình, nhìn nhận lại thế giới xung quanh, tự đối thoại, lục vấn và cảnh tỉnh chính mình trước sự dồn đẩy âm thầm quyết liệt của lương tâm và bổn phận làm

Trang 23

người Qua đó, tác giả tái hiện sâu sắc cuộc vật lộn đau đớn giữa bản năng, thú tính với tính thiện và khát vọng làm người đích thực

Ông Tư trong truyện ngắn Chuyến ly hương cuối đời là nhân vật lưỡng

diện, đa diện Đây là một trong những nhân vật khá phức tạp của tập truyện Ông Tư là người thật thà, chất phát đến nỗi khờ khạo, suốt đời long đong vất

vả, bươn trải đủ nghề để kiếm sống, lo cho vợ con Song số phận cứ đùa giỡn ông khiến ông làm gì cũng thất bại: nuôi lợn lợn chết, đóng gạch thì bị nước nhấn chìm, đi buôn thì bị bắt… Cuộc sống ngày càng nghèo khổ, túng bấn, ông vào Nam làm ăn lại bị lợi dụng tư cách Ông cố gắng giữ gìn tư cách và tìm về với gia đình, quê hương Những tưởng từ đây ông được an phận, nào ngờ vào những năm cuối đời, ông đành ngậm ngùi bàn với vợ cho phép mình được ly hương lần thứ hai để làm một việc mất tư cách Đó là sự bất hạnh trong cuộc đời của ông Tình thế gia đình đặt ông vào sự lựa chọn giữa việc ở lại để giữ tư cách với việc ly hương, tự đánh mất tư cách Trước sự lựa chọn

ấy, con người ông Tư luôn diễn ra cuộc đấu tranh nội tâm âm thầm, mãnh liệt

và cuối cùng ông đã phải chọn con đường tự đánh mất tư cách Tuy nhiên, độc giả vẫn rất trân trọng ông bởi trong sâu thẳm tâm hồn con người ông luôn tiềm ẩn một tấm lòng cao cả của một người chồng, người cha suốt đời vì vợ,

vì con Ở ông hai mặt đối lập tốt - xấu luôn có sự trung hoà Tính chất lưỡng diện, đa diện của nhân vật ông Tư chính là ở chỗ đó

Hay nhân vật Hoàng trong truyện ngắn Ánh trăng, vốn là một trí thức

vậy mà ngay từ độ tuổi 13, Hoàng đã “ngẩn ngơ” trước sắc đẹp của người phụ

nữ đáng tuổi chị mình Năm tháng trôi đi, Hoàng trở thành một người đàn ông thành đạt, nhưng Hoàng vẫn mải miết kiếm tìm hình ảnh người phụ nữ lý tưởng trong quá khứ, trong đêm trăng năm ấy, để rồi anh nhiều lần lấy vợ rồi lại bỏ vợ Đó là cái giá phải trả cho những ảo mộng hão huyền, lãng mạn của tuổi trẻ Chỉ có thể bằng sự tỉnh táo nhạy bén của mình, Nguyễn Bản mới đi

Trang 24

sâu được vào thế giới tâm hồn đầy phức tạp của nhân vật Hoàng đến vậy Qua

đó, ta mới thấy được cuộc đấu tranh nội tâm âm thầm quyết liệt cũng như thấy được nỗi đau dằng xé tâm can của nhân vật

Nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Mặt trời đồng xu cũng là

một nhân vật lưỡng diện, đa diện Anh có ước mơ, hoài bão và ôm ấp cái mộng văn chương Anh sẵn sàng nhịn đói để tiền mua sách và bút Nhưng chỉ vì cái

mộng văn chương ấy, anh đã đem danh giá cha mẹ, ông bà ra thế chấp lấy một bữa ăn Đó là cái giá quá đắt Có thể coi đây là sự bồng bột của tuổi trẻ Song bằng việc phát hiện, soi sáng những ước mơ, hoài bão đó, Nguyễn Bản đã giúp chúng ta phần nào thấy được vẻ đẹp tiềm ẩn trong sâu thẳm tâm hồn con người

Có thể nói kiểu nhân vật lưỡng diện, đa diện xuất hiện khá dày đặc

trong các sáng tác của Nguyễn Bản như: Bức tranh màu huyết thạch với nhân vật Nguyệt và Nguyên; hay Bức tranh mây với các nhân vật Vân Hạ,

Thao, Tuấn, Độ … Để đặc tả sự “lưỡng diện, đa diện” của nhân vật, nhà văn khéo đặt nhân vật của mình trong mối quan hệ với các nhân vật khác khiến nhân vật rơi vào bi kịch Từ đó làm nổi bật phẩm chất của họ Một điều đáng

quan tâm hơn, hầu hết các nhân vật đó đều là nhân vật “Tôi” hay cái tôi tác

giả Đôi khi nó hiện ra như người kể chuyện, có lúc lại mơ hồ không xác định:

một nhân vật “Tôi” nửa là chính nhà văn, nửa là nhân vật hư cấu Có lúc nó

nhập hẳn vào Nguyễn Bản, là “người của nghề” Đây cũng là khuynh hướng

tự nhận thức của nhà văn, là cuộc đi tìm lại chính mình trong sự giác ngộ mới

về cá tính nghệ thuật Đó còn là cách Nguyễn Bản tâm sự, giãi bày nỗi niềm vui buồn, trải nghiệm trong đời, nhất là đời viết Nhân vật lưỡng diện, đa diện được Nguyễn Bản nhào nặn dựa trên cơ sở những chất liệu của cuộc sống đời thường Nhà văn đã “mạnh dạn đưa cái hàng ngày vào văn học”, từ đó khái quát lên tầm tư tưởng hết sức đúng đắn, tiến bộ Ông như muốn khẳng định một thực tế hiển nhiên là: trong cuộc sống không có con người hoàn thiện

Trang 25

Trong bản thân mỗi con người đều tồn tại những mặt trái ngược: có mặt tốt, có mặt xấu, chế ngự những ham muốn bản năng để phát huy mặt tốt, để làm người theo đúng nghĩa của nó Nói về vấn đề này, Nguyễn Minh Châu từng khẳng

định: con người có cả rồng phượng lẫn rắn rết Tiếp đó là Nguyễn Bình Phương: mỗi người ta ở một thời điểm nào đó trở thành đấu trường giao tranh qua lại giữa thánh và phàm Sau đó thì chỉ còn lại cái bã rã rời, mỏi mệt Cuộc sống bỗng dưng cao hơn, sâu hơn, phong phú hơn nhưng cũng mạo hiểm hơn Tóm lại những cái đó, cuộc sống này thật là đáng sống (Nguyễn Bình Phương, giá trị tiểu thuyết có những bước mạo hiểm, vnn.vn) Biệt tài của Nguyễn Bản

cũng được đánh giá ở ngòi bút xây dựng kiểu nhân vật lưỡng diện, đa diện này

Nói tóm lại, việc xây dựng các loại nhân vật trong tập truyện ngắn của Nguyễn Bản rất phong phú, đa dạng với nhiều kiểu người, nhiều số phận, nhiều tính cách Và đôi khi sự phân chia các kiểu loại nhân vật chỉ mang tính tương đối, nhiều khi nó chồng chéo và bao hàm nhau, nhiều khi rất khó phân định rõ ràng Mỗi nhân vật đều mang trong lòng một nỗi đời riêng, nhìn

bề ngoài khó có thể thấy được Chỉ có thể được nhìn nhận bằng nhiều chiều

và bằng chính sự trải nghiệm cuộc sống của người nghệ sĩ thì nhân vật mới được hiện hữu một cách rõ nét, sinh động Qua thế giới nhân vật đó, tác giả đã đặt ra nhiều vấn đề sâu sắc, thiết thực mang ý nghĩa nhân sinh Đó chính là

chất nhân văn, nhân bản thấm sâu trong mỗi trang văn của Nguyễn Bản

1.3 Những thủ pháp nghệ thuật độc đáo trong việc khắc họa nhân vật

Thế giới nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Bản hiện lên rất đa dạng phong phú và phức tạp như chính hiện thực cuộc sống Nhu cầu phản ánh chân thực cuộc sống đã thôi thúc nhà văn khám phá phát hiện, đưa vào tác phẩm những bức chân dung sinh động của nhiều dạng người, nhiều kiểu

người trải dài trong thời gian và không gian

Trang 26

Xây dựng nhân vật là một quá trình tìm tòi và sáng tạo Mỗi nhà văn đều

có những thủ pháp xây dựng riêng biệt mang đậm cá tính sáng tạo của mình

Để xây dựng nên một thế giới nhân vật sinh động và đa dạng Nguyễn Bản đã

sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau thể hiện qua: cách đặt tên nhân vật; miêu tả ẩn ức tâm trạng nhân vật (qua nghệ thuật đối thoại và độc thoại nội tâm) Không chấp nhận những lối mòn trong sáng tác, nhà văn tài hoa này luôn dấn thân trên con đường sáng tạo để nhằm vươn tới sự mới mẻ độc đáo

trên con đường sáng tác của mình

1.3.1 Cách đặt tên nhân vật

Tên nhân vật là một trong những yếu tố làm nên nhân vật, trong đó thể hiện những đặc điểm, tính cách của nhân vật chứ không phải đơn giản chỉ là những ký hiệu riêng để phân biệt, những chữ viết tắt: AQ của Lỗ Tấn, K của Kápka hay những nhân vật không tên được tác giả gọi bằng "y", "hắn",

"thị", "mụ" Khi nhà văn đã đặt tên cho nhân vật tức là đã có ý thức, có quan niệm về một con người, nhất là đối với nhân vật "có vấn đề" Vì thế, tên nhân vật dù ở hình thức nào cũng đều gợi lên những dụng ý nghệ thuật

Tiếp xúc với các sáng tác của Nam Cao, ta bắt gặp những cái tên "xấu xí", lạ hoắc Chí Phèo, Thị Nở, Trương Rự, Trạch Văn Đoành, mụ Lợi Cái tên có nhiều thanh trắc, như chứa chất cái bất thường, ngang ngạnh Đấy là những cái tên "có vấn đề", đều thể hiện quan niệm về con người của nhà văn Còn trong truyện của Thạch Lam, nhân vật lại mang cái tên rất mềm mại, nhẹ nhàng với những thanh bằng, đọc lên nghe thanh thoát Thanh, Nga, Mai, Lan, Tâm, Liên, An Chính sự phát triển ý thức cá nhân, ý thức cá tính trong văn học đã chi phối cách đặt tên nhân vật trong mỗi sáng tác của nhà văn

Với Nguyễn Bản, tên nhân vật của ông thường ít cầu kỳ hoa mỹ kiểu: Huệ Chi, Tú Anh, Tố Tâm Song cũng không nôm na như Cái Tý, thằng Dần, Đĩ Chuột, Thị Nở Tên nhân vật của ông phần lớn là một danh từ

Trang 27

riêng, dù là người nông dân lam lũ, nhọc nhằn hay những trí thức tiểu thị dân

cũng đẹp một cách giản dị, quen thuộc và gần gũi: Bùi, Mận, Tỵ (Nợ trần gian); Phan, Liên, Minh (Tầm tã mưa ơi); Bằng, Thái, Đồng (Điệu Săm Pa)

Những nhân vật gắn liền với đồng ruộng, cỏ cây, mây trăng thường

mang những cái tên gắn liền với cuộc sống ấy như: Nguyệt (Bức tranh màu huyết thạch); Vân Hạ (Bức tranh mây); Thảo (Mùi tóc Thảo) Những tên

nhân vật dù làm nghề gì cũng mang đầy ý nghĩa, gợi mối dây liên hệ với tính cách, phẩm chất nghề nghiệp hay gắn với một ý nghĩa nào đó mong muốn con

cái ngoan ngoãn, có cuộc sống hạnh phúc, có tương lai tươi sáng: Phúc (Vô ngã) Tưởng, Đạo Đức (Chuyến ly hương cuối cùng); Vị (Nụ cười và nước mắt); Ngọt, Bùi (Nợ trần gian)

Đôi khi, Nguyễn Bản đặt tên cho nhân vật của mình gắn liền với một đặc điểm ngoại hình nào đó như: Phả Quặm - bố mẹ, chị và Phả đều lông quặm, mẹ loà, Thoạt Móm - bị hậu sởi bị móm hết răng, Ba Toe - răng mọc đầy mồm, Mạnh Tào - Bố làm kép tuồng, chuyên đóng vai Tào Tháo, Hoan Còm - bé bị sài mòn; Huýt Vòi - Bố đi lính khố đỏ, đẻ nó thứ tám đặt là Huýt,

hay thò lò mũi bị đệm là vòi (Chuyện sâu trong ngõ giếng)

Ngoài ra cũng cần phải nói tới các xưng hô đối với nhân vật của tác giả hay của chính một nhân vật khác trong tác phẩm Gọi nhân vật bằng các đại

từ: Hắn (Nợ trần gian, Nửa đời thơ, Những cánh hoa quỳ dại, Người đàn

bà phương xa, Nụ cười và nước mắt); Gã (Quân tốt lụt); Lão (Miền hoang tưởng) gợi một tính cách xấu xa và tức cười cho người đọc Hay cách gọi bằng các đại từ: nàng (Tầm tã mưa ơi); cô, anh (Dạ hội); chị (Nợ trần gian, Rừng đêm cuối năm), ông, bà lại gợi sự quý mến, trân trọng

Như vậy, tên gọi có vẻ trừu tượng nhưng đạt hiệu quả không hề thua kém việc khắc họa nhân vật qua ngoại hình hay qua ngôn ngữ Và khả năng tự biểu hiện của những cái tên này rất cao, người đọc có thể hình dung được bản

Trang 28

chất, đặc điểm nổi bật về tính cách, lối sống mà chưa cần đi sâu vào chi tiết hay hành động của nhân vật Nguyễn Bản đã có dụng ý xây dựng nhân vật có tính chất đại diện cho một loại người nào đấy trong xã hội, có sức khái quát rất lớn Dường như ông muốn xóa nhòa cá tính của từng nhân vật để chỉ ra đặc tính chung của một loại người Từ đó, nhà văn dẫn người đọc đi tới nhận thức về cuộc sống Đây là một thủ pháp đắc địa được ông sử dụng thành công Nguyễn Bản đã không ngần ngại gọi tên nhân vật bằng những ký hiệu lấy ra từ những đặc điểm thuộc về nghề nghiệp, tuổi tác, chức vụ, chức danh hay ngoại hình và không hề giấu diếm nụ cười hài hước trước thói xấu của con người hiện đại Cách gọi tên nhân vật kiểu này có tác động lớn bởi nó

thực sự đã "động chạm" đến nhiều con người trong xã hội, đến nhiều người

đọc và có thể thấy bóng dáng mình trong đó Với tầm bao quát rộng về đời

sống, với kiểu gọi tên nhân vật độc đáo đã đem lại một ấn tượng "như thật”,

một dấu ấn khó quên với người đọc khi họ gấp sách lại Những cái tên giản dị rất đời thường ấy đã làm nên nét đặc sắc riêng cho nhà văn

1.3.2 Miêu tả ẩn ức tâm trạng nhân vật

1.3.2.1 Nghệ thuật đối thoại

Lời đối thoại là lời trong cuộc giao tiếp song phương mà lời này

xuất hiện như mội phản ứng đáp lại lời nói trước [45;159] Đối thoại chỉ diễn

ra khi có người nói, người nghe và mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng đến người tiếp truyện và xoay quanh một chủ đề nhất định Mối quan hệ giữa các nhân vật càng đa dạng, các nhân vật đối thoại càng nhiều thì càng bộc lộ các đặc điểm thuộc về tính cách, cá tính, nghề nghiệp, giai cấp, lứa tuổi của mình Hơn nữa, sự bộc lộ đó còn thể hiện qua nội dung lời nói, qua cả cách

nhân vật đối thoại Biện pháp này “giúp bạn đọc như nghe thấy nhân vật nói năng với lối tư duy và ứng xử riêng trong những tình huống cụ thể Đôi khi lời đối thoại còn được tác giả giới thiệu kèm theo giọng nói, cách nói" [40, 1]

Trang 29

Tuỳ mỗi loại văn, biện pháp này được sử dụng với mức độ đậm hay nhạt khác nhau Thơ trữ tình hầu như không sử dụng đối thoại, kịch sử dụng đậm

đặc đối thoại, còn các tác phẩm văn xuôi tự sự thì việc sử dụng biện pháp đối

thoại rất đa dạng, linh hoạt

Đối thoại tạo sự khu biệt hoá, cá tính hoá các nhân vật Có nghĩa là, những đặc điểm riêng trong lời nói mỗi nhân vật (cách nói, lời nhân vật hay dùng, cử chỉ, điệu bộ kèm theo…), có tác dụng phân biệt người này với người kia Biện pháp này giúp độc giả như nghe thấy nhân vật nói năng, tư duy ứng

xử trong từng tình huống cụ thể Đôi khi lời đối thoại bộc lộ cả quan điểm, thế giới quan, nhân sinh quan của nhân vật

Trong các tập truyện ngắn của Nguyễn Bản, biện pháp đối thoại được

ông sử dụng khá thành công Nhà văn đã để nhân vật trong tác phẩm của mỡnh đối đáp, trò chuyện với nhau một cách tự nhiên, trực tiếp phát ngôn ra những suy nghĩ, con người thật nhất của mình mà không hề che dấu dưới bất

kỳ hình thức ngôn ngữ hoa mỹ nào Thông thường ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật trong văn học giàu xung đột, giàu kịch tính và mang chất triết lý trải nghiệm

Đọc văn của Nam Cao, Thạch Lam, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, người đọc cũng rất hay gặp những đoạn đối thoại Nếu sự xuất hiện các cuộc đối thoại của các nhân vật trong sáng tác của Nam Cao, Lê Minh Khuê khá tập trung, ngắn gọn nhưng lại dồn dập, liên tiếp chứa lượng thông tin lớn, đối thoại gần như triệt tiêu hoàn toàn lời dẫn chỉ còn âm thanh va đập lại nhau của lời thoại phát ra từ nhân vật nhằm tạo ra những mâu thuẫn, xung đột kịch tính và bộc lộ tính cách, cá tính của nhân vật Ví như cuộc đối thoại

giữa cái Đĩ và bà nó: Bà lên làm gì thế? Đó bảo lên kiếm cơm ăn mà lại!

Lớp này nhà ở cho nhà ai? Chẳng ở với nhà ai (Một bữa no - Nam Cao)

Đối thoại của Nguyễn Huy Thiệp tước bỏ đi màu sắc cảm xúc, buộc các lời đối thoại ấy soi vào nhau, bộc lộ vào nhau thì biện pháp đối thoại của các

Trang 30

nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Bản lại gần như ngược lại Nhà văn không tập trung đi sâu khai thác những mâu thuẫn phức tạp của đời sống xã hội mà chủ yếu nghiêng về màu sắc tình nghĩa hướng tới sự đồng cảm, chia sẻ, biểu thị tâm trạng nhiều hơn (điều này thì Nguyễn Bản lại gần với Thạch Lam)

Chúng ta có thể nhận thấy lời đối thoại của các nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Bản được tách ra khỏi lời người kể chuyện Nó có thể tồn tại dưới dạng gạch đầu dòng nhằm khơi mở trạng thái tâm lý biểu hiện qua những lời thoại có tính chất bâng qươ Nhưng lại tạo ra không khí chan hòa, thân mật đặc tả được số phận hẩm hiu của tầng lớp nhỏ bé trong xã hội, đặc biệt là người phụ nữ Đó là những đoạn đối thoại giữa người phụ nữ lấy chồng Tàu với Mận - Người bạn thân:

- Nhà có ti vi chưa?

- Lấy tiền đâu ra mua ti vi, ngày hai bữa cháo ngô, một bữa cơm còn vất

- Sao bảo ti vi đen trắng bên ấy rẻ lắm

- Rẻ, tính ra tiền mình chỉ hơn trăm ngìỡn, nhưng nợ như thế bao giờ mua được ti vi… [05;37]

Đến truyện Chuyến ly hương cuối đời, cảm hứng khắc họa con người

ở góc độ đời thường của Nguyễn Bản thể hiện qua việc nhà văn tạo dựng tình huống để người kể chuyện và nhân vật - ông Tư, đối thoại trực tiếp với nhau

và thường được biểu hiện bằng các từ ngữ trong lời dẫn trước với lời thoại rất đỗi đời thường, vụn vặt nhưng lại tiềm ẩn nỗi lòng trắc ẩn của nhân vật Đó là cuộc trò chuyện về việc ông Tư xoay sang nuôi lợn nái:

- Tôi xoay nuôi nái ông ạ, mọi người đổ xô nuôi thịt, giống đắt, mấy tay nó nuôi nái, tươm lắm

- Nhưng nhỡ nó lại đòi ăn bột đậu thì sao?

Ông cười:

- Không, giống lợn nái phàm ăn lắm… [05; 255]

Trang 31

Rồi cuộc đối thoại về việc ông Tư rủ đi Sài Gòn buôn thuốc, việc ông

Tư mua nhà, bán nhà… Tất cả đều hướng tới cái đích cuối cùng là xây dựng một nhân vật vụng dại, khờ khạo, suốt đời long đong, vất vả nhưng vẫn bị bi kịch số phận trì níu

Tiếp đó là trong truyện Tầm tã mưa ơi diễn ra cuộc đối thoại triền

miên giữa hai người đàn ông, đồng thời điểm xuyết những đoạn đối thoại với các nhân vật khác như: Liên, Nga, cụ giáo Chẳng hạn cuộc đối thoại giữa

người đàn ông tên Phan và cô giáo Phan nói:

- Cụ giáo có biết mình đẹp không? Đẹp lắm đấy! Sao người ta lại giấu

cô giáo ở đây?

Cô giáo cười:

- Hai năm trước, em còn phải dạy mãi Lĩnh Sơn, toàn núi với rừng, cách đây mười năm cây số kia Xin mói mới được về đây [06; 107]

Những đặc trưng tiêu biểu của đối thoại, đôi khi còn được nhà văn thể hiện rõ nét trong lời đối thoại trực tiếp biểu thị ngầm thái độ của các nhân vật qua những câu cảm thán, những câu hỏi rất ngắn, miêu tả phần nào trạng thái tâm lí nhân vật trong cuộc hội thoại:

Trạng thái sửng sốt:

- Trời, Vân Hạ thật đấy ư? [06;22]

- Sao, mà bác cũng biết chuyện à? [06;159]

Trạng thái ngạc nhiên: - Kìa, cụ Phượng sao lại đi? [ 06;110]

Trạng thái ngao ngán, chán chường, bực tức:

- Trời ơi! đêm khuya người ta mặc váy ngắn đến ư ?[06;113]

Trạng thái vui thích, sung sướng:

- Ồ, thích chứ hay là chủ nhật tuần sau? [04;195]

Ngòi bút khéo léo của Nguyễn Bản còn thể hiện ở sự lựa chọn sao cho ngôn ngữ nhân vật phù hợp với tính cách của từng loại nhân vật

Trang 32

Ở kiểu nhân vật tha hoá thì lời đối thoại rất ngắn gọn, đôi khi lời đối thoại chỉ là chống chế, qua loa, không mang tính chất giao tiếp, kiểu như:

- Mặc kệ tôi, chú ở đây trông xe [04; 245]

- Lúc ấy có mà trời can [04; 246]

Với kiểu nhân vật bi kịch thì lời nói đối thoại thường chua chát về thân phận của mình:

- Tao xấu quá, nếu như mày, có khối đứa thèm [05; 14]

- Lấy tiền đâu mà mua ti vi, ngày hai bữa cháo ngô, một bữa cơm còn vất [05; 19]

- Không lo đâu Tao già rồi, lại xấu thế này, bán cho ma à [05; 21]

- Thế còn hai cuốn sách, anh có giữ được không? [06;143]

Đến kiểu nhân vật lưỡng diện, đa diện, đặc biệt những con người trí thức, tác giả đã mang đến cho độc giả những lời đối thoại đa dạng, phong phú Có khi lời nói đầy trải nghiệm và triết lý:

- Cái nghiệp văn chương mà đi làm giám đốc là chôn mình luôn đấy, phải không cô giáo? [05; 223]

- Thì tôi đang muốn lạc Kiếp người khốn khổ, suốt đời lạc nhau Hình như có những người sinh ra là để lạc nhau [05; 226]

Có khi nhân vật trò chuyện với nhau mục đích là chia sẻ, tâm sự nỗi buồn thương, lẻ loi, cô đơn nhưng không được biểu hiện bằng giọng kể lể mà dưới hình thức hỏi, hỏi đúng tâm trạng đối phương, chẳng hạn như:

- Chị đẹp thế, sao không kiếm một người xứng đáng, thiếu gì người? [06; 207]

- Tự chị xin à? [06;210]

- Còn chị, đáng ra phải là vợ ông thứ trưởng [ 06; 210]

- Có thật lòng tôi nguội lạnh rồi không? [06; 231]

Rõ ràng, từ những thái độ trong lời thoại trên, người ta cũng dễ dàng nhận ra trạng thái tâm lý, tình cảm, cảm xúc của các nhân vật

Trang 33

Có thể thấy trong truyện những đoạn đối thoại kiểu này thường kèm theo những phụ từ: à, ý, đấy, lắm, sao, ngỡ vừa thể hiện tính chất đối thoại mang màu sắc địa phương, vừa bộc lộ tâm trạng nhân vật chứa chất đầy tâm

sự trong lòng khó nói ra

Đôi khi lời đối thoại của nhân vật nằm trong lời người dẫn truyện, không có dấu hiệu xuống dòng và gạch đầu dòng, tồn tại dưới dạng lời tâm

sự: Tôi cãi: "chả viết là gì, những cánh đồng rau khúc, ngõ lăng, tháp sư, những đàn sáo mỏ ngà nhảy giật lùi theo bước chân" Phả ngắt lời: "Là viết

về đất vua, địa linh nhân kiệt như các nơi kia" [06; 245] Khi miêu tả hình

ảnh người đàn bà lấy chồng Tàu trong truyện ngắn Nợ trần gian qua đối thoại

với Mận đã thể hiện một chuỗi dài những bi kịch trong cuộc đời chị Chị vốn

là một người phụ nữ thiệt thòi về nhan sắc, gia đình nghèo nên chị chỉ có một ước mơ bình thường, giản dị là được làm mẹ Song cái thời chị sống là cái

thời mà gái ế mà lại xấu, muốn kiếm con phải mất một chỉ vàng, nhưng cũng chỉ được của thằng đánh giậm [05; 29] Chị đau đớn thốt lên: Nghèo cũng được nhưng mà làm đàn bà mà không được làm mẹ thì không chịu nổi [05; 28]

Những câu nói của chị hàm chứa sự từng trải sâu sắc Số phận đã gắn cuộc đời chị với một người chồng Tàu Ở nơi xứ lạ, người phụ nữ ấy phải đương đầu với bao khó khăn, khổ cực, đặc biệt là sự đối chọi chống lại cái nghèo truyền kiếp Cách thể hiện lời đối thoại như thế chứng tỏ Nguyễn Bản luôn có

ý thức gắn lời của nhân vật với lời người kể chuyện Qua lời cắt nghĩa của người kể chuyện, việc bộc lộ nội tâm nhân vật được sâu sắc hơn, từng cử chỉ, nét mặt của người tham gia cuộc đối thoại như được tái hiện trước mắt người đọc

Tóm lại, qua tập truyện ngắn, Nguyễn Bản đã sử dụng biện pháp đối thoại như một công cụ đắc lực vào việc làm rõ bản chất, cá tính, tâm lý nhân vật cùng với những ưu tư hệ lụy rất con người Hơn thế ngôn ngữ đối thoại của nhà văn còn góp phần lý giải chiều hướng con đường đời của nhân vật

1.3.2.2 Nghệ thuật độc thoại nội tâm

Trang 34

Độc thoại nội tâm là thủ pháp nghệ thuật cơ bản và hữu hiệu để miêu tả

tâm lý nhân vật Ngôn ngữ đối thoại nghệ thuật là lời nhân vật tự nói về mình,

về bản thân mình trong tác phẩm Là lời phát ngôn của nhân vật nói với chính mình thể hiện quá trình tâm lí nội tâm, mô phỏng hoạt động cảm xúc, suy nghĩ của con người trong dòng chảy trực tiếp của nó [45;108]

M.B Khrapchenko cho rằng: Độc thoại nội tâm cho biết tiếng nói thầm thì, ý nghĩ sâu kín chỉ riêng nhân vật với mình bên trong Đó là lúc nhân vật thật nhất [31;26] Trong tác phẩm, biện pháp này thường được sử dụng khi

nhân vật rơi vào hoàn cảnh éo le, nhiều kịch tính, xung đột, rơi vào trạng thái

cô lập, đòi hỏi nhân vật phải băn khoăn, trăn trở để đưa ra quyết định cuối Cùng với những biện pháp nghệ thuật khác cho thấy hình thức bên ngoài của nhân vật, biện pháp độc thoại nội tâm hoàn thiện nhân vật ở mức độ cao hơn:

đó là chiều sâu tâm hồn nhân vật Thông qua biện pháp độc thoại nội tâm, độc giả có thể cảm nhận được tiếng nói thầm, ý nghĩ sâu kín bên trong của nhân vật, thấy được nỗi niềm tâm sự, trăn trở nào đó của nhân vật Đây cũng là ưu thế của văn chương so với các loại hình nghệ thuật khác Nếu như hội họa, điêu khắc nói rõ ngoại hình vóc dáng của đối tượng, âm nhạc chỉ tác động trực tiếp vào thính giác để người tiếp nhận tự suy ra hoàn toàn cái hồn của đối

tượng thì nhờ độc thoại nội tâm văn chương có khả năng vượt trội trong việc

miêu tả đời sống tâm lý - cái trừu tượng khó nắm bắt của đối tượng Những suy nghĩ tình cảm tinh tế của nhân vật sinh động hay không tùy thuộc vào khả năng sáng tạo của nhà văn, chứ không bị hạn chế như việc sáng tạo trong các ngành nghệ thuật khác Đây cũng là giây phút lắng đọng nhìn vào chiều sâu tâm hồn nhân vật và biết được nó đang nghĩ gì, nhà văn muốn nói gì

Trong văn Nam Cao hay Thạch Lam, người đọc cũng rất hay gặp những đoạn độc thoại nội tâm Nếu như những đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao được ông sử dụng như một thủ pháp

Trang 35

nghệ thuật thể hiện những day dứt, trăn trở đấu tranh nội tâm căng thẳng, giằng xé, thì độc thoại nội tâm của Nguyễn Bản lại có nét giống với Thạch Lam, tâm trạng của nhân vật trôi chảy triền miên hơn bởi sự trăn trở, dằn vặt trong tâm trạng, hay suy tư của cảm xúc, cảm giác Độc thoại nội tâm trong văn Nguyễn Bản thường được thể hiện linh hoạt Thông qua độc thoại nội tâm, Nguyễn Bản đã trực tiếp và gián tiếp bộc lộ tình cảm của nhân vật qua suy ngẫm, đối đáp với người cùng tham gia thoại Ở mỗi nhân vật, nhà văn đều tìm thấy tiếng nói riêng phù hợp với tâm hồn, suy nghĩ của họ Nhân vật của Nguyễn Bản thường là những con người hiền lành, tốt bụng và cam chịu nên những đoạn độc thoại nội tâm cũng nhân hậu, nhẹ nhàng như tâm hồn tính cách của họ

Độc thoại của người thanh niên trong truyện ngắn Mặt trời đồng xu là

độc thoại của một người từng trải nên độc thoại nghiêng về sự chiêm nghiệm,

giãi bày, nghĩa là hướng nội: Một bữa cơm ngon, cái đói đã hết, nhưng cảm giác nhục nhã lúc này mỗi lúc một tấy lên như mong mủ lên da thịt mặt tôi Tôi đã đem danh giá bố mẹ, ông bà ra tín chấp Mà vì cái gì kia mới được chứ? Mộng văn chương, sự bồng bột của tuổi trẻ [06; 142] Lời độc thoại

cũng là lời tự vấn của chính nhân vật Nhân vật tự day dứt về những việc mình đã làm Ở nhân vật này vừa có những nét tính cách riêng đáng tôn trọng: sống có ước mơ, hoài bão, có niềm say mê văn chương nhưng vừa có nét đáng trách: quá bồng bột và hay ngộ nhận Nhưng điều đáng trân trọng ở con người này đã dám nhìn thẳng vào sự thật và để cho lương tâm tự lên án qua những đoạn độc thoại nội tâm đầy day dứt, giằng xé tâm can

Bên cạnh đó, độc thoại nội tâm trong sáng tác của Nguyễn Bản còn xuất hiện dưới dạng câu hỏi tu từ Nhân vật tự đặt ra những câu hỏi để tự vấn,

tự phân tích mổ xẻ Trong truyện ngắn Chuồn chuồn đi đón cơn mưa diễn ra

những đoạn độc thoại nội tâm dài không những có tác dụng soi chiếu chiều sâu tâm hồn nhân vật mà còn tạo nên âm điệu trầm buồn, ám ảnh của truyện

Xuyên suốt tác phẩm là lời độc thoại của người chồng hư hỏng: Đấy, vợ tôi

Trang 36

như thế mà lại bảo tôi bỏ ư? Rồi còn hai đứa con tôi nữa chứ Chúng nó đang học Đại học Phá nát một gia đình như thế vì sự mất nết của mình ư? Tôi chỉ coi việc đó là sự mất nết, tôi không coi đó là sự hư hỏng, vì tôi vẫn yêu và quý trọng vợ tôi, tôi không phá gia đình… [06; 94] Hay Thật ra, tôi cũng có lỗi với Thành Tôi không dám nói thẳng thừng với Thành rằng không đời nào tôi bỏ vợ tôi…[06; 94] Tất cả những đoạn độc thoại nội tâm ấy phần lớn thể

hiện sự suy ngẫm, day dứt của người chồng về những gì mình đã làm và về

hạnh phúc cá nhân

Ngoài ra, độc giả còn bắt gặp rất nhiều những lời độc thoại nội tâm

trong sáng tác của Nguyễn Bản Đó là độc thoại nội tâm của Hoàng trong Ánh trăng, Độ trong Bức tranh mây, người đàn bà trong Sông lấp, người đàn ông trong Mùi tóc Thảo… Qua lời độc thoại ấy nội tâm của mỗi nhân vật được

tiếp cận theo một hướng mới, với sự vận động của tâm lý trong những diễn biến tâm lý phong phú, phức tạp Ngòi bút nghệ thuật của nhà văn đã khám phá được chiều sâu tâm hồn nhân vật với cả ánh sáng và bóng tối, những điều giằng xé bên trong và cả cái khó khăn vất vả của quá trình tự hoàn thiện mình

Sử dụng các thủ pháp nghệ thuật để miêu tả nhân vật là một trong những hình thức hữu hiệu mà các nhà văn luôn quan tâm Nguyễn Bản là một trong những nhà văn không nằm ngoài số đó Những thủ pháp nghệ thuật độc đáo trong việc khắc hoạ nhân vật như: cách đặt tên nhân vật, miêu tả ẩn ức tâm trạng nhân vật (nghệ thuật đối thoại và độc thoại) trong truyện ngắn của ông nhằm tạo nên tính sinh động của nghệ thuật tự sự cũng như sự hấp dẫn đối với người đọc Mỗi biện pháp nghệ thuật được sử dụng có mục đích với những ý đồ khác nhau, song đều nhằm làm nổi bật cá tính, quan niệm sống, các nền nếp sinh hoạt nhất là khám phá chiều sâu tâm hồn nhân vật

Trang 37

CHƯƠNG 2 CỐT TRUYỆN - KẾT CẤU

2.1 Cốt truyện

2.1.1 Khái niệm cốt truyện

Cốt truyện là một trong những yếu tố quan trọng của cấu trúc tác phẩm

tự sự Nếu như trong các loại tác phẩm trữ tình, cốt truyện hầu như không tồn tại vì ở đây tác giả biểu hiện sự diễn biến của tình cảm, tâm trạng Thì trong

tác phẩm tự sự (và cả kịch): cốt truyện là cái khung để giữ cho toàn bộ toà nhà nghệ thuật ngôn từ đứng vững [09; 9] Cốt truyện được hiểu là cái sườn

của tác phẩm, là cái lõi diễn biến của truyện từ khi xảy ra cho đến khi kết thúc Cốt truyện là cái tóm tắt những điểm chủ yếu, làm thành một câu chuyện rất ngắn với dung lượng ít hơn nhiều bản thân tác phẩm và có thể kể lại được ("truyện " hay "chuyện" khởi nguyên vốn là để kể hoặc để nghe)

Từ xưa đến nay, vấn đề cốt truyện luôn dành được sự quan tâm, thu hút của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Nhìn chung cốt truyện được nhìn nhận dưới những quan điểm không hoàn toàn trùng khít

Theo Aristote (384-322): Cốt truyện là cơ sở, là linh hồn của bi kịch sau đó mới đến tính cách; bi kịch bắt chước hành động và vì vậy nó phải bắt chước những con người hành động [49; 13] Điều đó cho thấy Aristote chú ý

tới yếu tố hành động của của cốt truyện, qua đó cho phép tác giả bộc lộ và lý giải tính cách nhân vật Cách định nghĩa này phù hợp với cốt truyện văn học thời kì nở rộ của chủ nghĩa hiện thực, còn trong các tiểu thuyết tâm lý xã hội, truyện vừa và kịch thế kỉ XIX-XX, người ta phát hiện ra sự tiến hóa của các lập trường sống, các quan điểm thế giới cảm xúc nhân vật

Pospelov lại xem cốt truyện là phương diện hình thức của tác phẩm, là

tiến trình sự kiện hình thành từ hành vi của nhân vật, nghĩa là sự vận động không thời gian của cái được miêu tả

Trang 38

Đô bin lại nhìn dưới góc độ khác Theo ông, cốt truyện - đó là quan niệm về con người

Kế thừa và tiếp thu sáng tạo những tư tưởng lí luận của văn học phương Tây, các nhà nghiên cứu và nhà văn ở Việt Nam đưa ra cách hiểu của mình về thuật ngữ cốt truyện

Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khác Phi: Hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc loại tự sự và kịch có thể tìm thấy một cốt truyện hai phương diện gắn

bó hữu cơ: một mặt, cốt truyện là phương diện bộc lộ tính cách; mặt khác, cốt truyện còn là phương diện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội [45; 80]

Còn Lại Nguyên Ân cho rằng thuật ngữ cốt truyện được hiểu là: Sự phát triển hành động; tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự

và kịch, đôi khi cả trong tác phẩm trữ tình [03; 113]

Qua một số định nghĩa trên, có thể thấy cốt truyện được hiểu ở hai phương diện gắn bó hữu cơ: một mặt cốt truyện là phương diện bộc lộ tính cách nhân vật, nhờ cốt truyện nhà văn thể hiện sự tác động qua lại giữa các tính cách Mặt khác, cốt truyện là phương diện để tái hiện các xung đột xã

hội Không nên hiểu cốt truyện chỉ đơn giản là tích truyện: Cốt truyện là chuỗi các sự kiện hữu hạn có tính liên tục trước sau, có quan hệ nhân quả hoặc có liên hệ về ý nghĩa, vừa có tác dụng biểu hiện về tính cách, số phận nhân vật, vừa là yếu tố gây hấp dẫn cho người đọc [62; 65] Trong một tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, cốt truyện luôn giữ vị trí "xương sống", nó liên kết các chi

tiết, các sự kiện thành một hệ thống Bởi thế, GS.Hà Minh Đức đã khẳng

định: Cốt truyện là một hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề tư tưởng tác phẩm [19;173]

Trang 39

Tuy các quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung các ý kiến đều nhất trí rằng nội hàm của khái niệm cốt truyện bao gồm "Hệ thống hoàn chỉnh các sự kiện hành động chính trong tác phẩm" Cốt truyện là hệ thống các sự kiện, biến cố, cụ thể được trình bày trong tác phẩm với ý đồ nghệ thuật của tác giả như tiến trình và thể hiện qua các phương tiện nghệ thuật Cốt truyện là nội dung quan trọng và trực tiếp, đồng thời cũng là một phương tiện nghệ thuật của tác phẩm Chính vì vậy, nói đến cốt truyện người ta thường phân chia thành những cách khác nhau

Theo cách hiểu truyền thống, cốt truyện là cái lõi của truyện, thể hiện những biến cố quan trọng, đảm bảo sự mạch lạc của diễn biến câu chuyện, gồm các thành phần: Trình bày, thắt nút, phát triển, cao trào và kết thúc Nhưng cốt truyện trong văn xuôi hiện đại đã không còn giữ vị trí độc tôn nữa,

nó bị xoá bỏ quan hệ nhân quả, phá huỷ tính hiện thực - những yếu tố không thể thiếu của cốt truyện theo quan niệm truyền thống Vai trò của cốt truyện

mờ nhạt: "Thay vì duy trì tính thống nhất trong trình tự thời gian và nhân quả của chuỗi sự kiện gắn với hành động của nhân vật chính Thay vì triển khai,

tự sự bám vào các cuộc phiêu lưu của các nhân vật, nhà văn lại biến tự sự trở thành cuộc phiêu lưu của cái viết - sự chắp ghép ngẫu nhiên của các mảnh vỡ

- những sự kiện phân tán rời rạc" (Trịnh Bá Đĩnh)

Đến văn học đương đại Việt Nam cũng có chuyển biến về nghệ thuật tổ chức cốt truyện, với những cách tân, khám phá mới mẻ, cốt truyện không phải

là những yếu tố bắt buộc Thế kỷ XX yếu tố "Chuyện" ngày càng co hẹp lại, kết cấu cốt truyện mỗi lúc lỏng dần ra Từ chỗ truyện là một trục chủ đạo và thu hút mọi yếu tố trong tác phẩm quanh nó để có một tác phẩm lý tưởng dần dần vai trò cụ thể và tích cực của nó yếu đi, các sự kiện, biến cố dường như muốn thoát ra vòng ngoài làm các "điện tử tự do" Ở từng tác phẩm cụ thể, trong những tình huống lịch sử cụ thể, mỗi tác giả có thể nhào nặn cốt truyện

Trang 40

trong sáng tác theo chiều hướng khác nhau theo ý đồ riêng của mình Có tác phẩm không có cốt truyện ("Hai đứa trẻ" - Thạch Lam); có tác phẩm từ đầu đến cuối chỉ xoay quanh các biến cố tâm trạng ("Toả nhị kiều" - Xuân Diệu);

có tác phẩm nhà văn chỉ dựa vào các biến cố, sự kiện rồi sau đó triển khai ra ("Gặp gỡ cuối năm" - Nguyễn Khải) Nhưng dù biến hoá thế nào thì nét chủ

đạo trong bản thân cốt truyện, tức là "chuyện" sẽ không biến mất một cách tuyệt đối vì nếu không có nó tác phẩm không còn là tác phẩm "tự sự" nữa

Tác phẩm chính là cái móc để nhà văn treo lên đó cái áo - tác phẩm của mình

2.1.2 Cốt truyện độc đáo trong truyện ngắn Nguyễn Bản

Là một cây bút truyện ngắn nghiêng về trữ tình, nên truyện ngắn của Nguyễn Bản thường ít những tình tiết ly kì, đầy kịch tính, hay những tình huống, diễn biến phức tạp của cuộc đời nhân vật mà ông chủ yếu viết về những cái bình thường hàng ngày Qua khảo sát 4 tập truyện ngắn của Nguyễn Bản, chúng tôi thấy một số ít truyện được viết theo truyện trong truyện: 7/36 truyện, còn đa số là truyện không có cốt truyện: 19/36 truyện

2.1.2.1 Truyện trong truyện

Với truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX, truyện lồng trong truyện là một lối cách viết mới mẻ, thể hiện việc chịu ảnh hưởng phương Tây rõ nét, tác phẩm đầu tiên cần kể tới là truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản Những tác phẩm có kết cấu truyện lồng trong truyện là hai câu chuyện trong một truyện không tách rời mà luôn được chêm xen vào nhau một cách linh hoạt tạo ra ấn tượng về sự chân thực của chuyện được kể, kéo độc giả lại gần với thế giới nghệ thuật của tác phẩm hơn, đồng thời tạo sự sinh động cho truyện Kết cấu truyện như thế hoàn toàn mới mẻ đối với truyền thống truyện

Việt Nam Ở Nguyễn Bản kiểu truyện này được thể hiện rõ trong Nợ trần gian; Cháo đêm; Điệu samba; Chuyện sâu trong ngõ giếng; Miền hoang tưởng

Ngày đăng: 23/07/2015, 11:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí, Nxb. Thanh niên, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2000
2. Phan Thái Vàng Anh (2009), "Thời gian trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam Đương đại", Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, (54) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam Đương đại
Tác giả: Phan Thái Vàng Anh
Năm: 2009
3. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ Văn học, Nxb. Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 2004
4. Nguyễn Bản (1994), Mùi tóc Thảo, Nxb. Công an nhân dân, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùi tóc Thảo
Tác giả: Nguyễn Bản
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 1994
5. Nguyễn Bản (2003), Nợ trần gian, Nxb. Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nợ trần gian
Tác giả: Nguyễn Bản
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2003
6. Nguyễn Bản (2007), Mặt trời đồng xu, Nxb. Công an nhân dân, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt trời đồng xu
Tác giả: Nguyễn Bản
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2007
7. Nguyễn Bản (2007), Đường phố lũng tụi, Nxb. Kim Đồng, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường phố lũng tụi
Tác giả: Nguyễn Bản
Nhà XB: Nxb. Kim Đồng
Năm: 2007
8. Lê Huy Bắc (2004), "Truyện ngắn nguồn gốc và khái niệm", Nghiên cứu Văn học( 05), Tr 85-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn nguồn gốc và khái niệm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2004
9. Lê Huy Bắc (2008), Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2008
10. LiKhachốp (1990), "Thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học", Tạp chí Văn học (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học
Tác giả: LiKhachốp
Năm: 1990
11. Trần Ngọc Dung (1994), "Phong cách truyện ngắn Thạch Lam", Sách Thạch Lam - Văn chương và cái đẹp, Nxb. Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách truyện ngắn Thạch Lam
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 1994
12. Phạm Thùy Dương (2006), Tìm hiểu thi pháp truyện ngắn Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn Thạc sĩ Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thi pháp truyện ngắn Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Phạm Thùy Dương
Năm: 2006
13. Trần Thanh Đạm (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (viÕt chung), Nxb. GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 1971
14. Phan Cự Đệ (chủ biờn)(2004), Văn học Việt nam thế kỷ XX- những vấn đề lịch sử và lý luận, Nxb. GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt nam thế kỷ XX- những vấn đề lịch sử và lý luận
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biờn)
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 2004
15. Phan Cự Đệ (2006), "Thi pháp truyện ngắn hiện đại", Phan Cự Đệ tuyển tËp, TËp 3, Nxb. GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp truyện ngắn hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 2006
16. Phan Cự Đệ (2006), "Đặc trưng của thể loại truyện ngắn hiện đại", Phan Cự Đệ tuyển tập, Tập 3, Nxb. GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng của thể loại truyện ngắn hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 2006
17. Hà Minh Đức (1971), Nhà văn và tỏc phẩm, Nxb. GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tỏc phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 1971
18. Hà Minh Đức (chủ biên) (1993), Lí luận văn học, Nxb. H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb. H
Năm: 1993
19. Hà Minh Đức (chủ biên) (2006), Lí luận Văn học, Nxb. GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận Văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 2006
20. Hồ Thế Hà (2008), "Từ cái nhìn tham chiếu phân tâm học qua một số truyện ngắn hiện đại Việt Nam", Sông H-ơng, ( 235), Tr 87-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ cái nhìn tham chiếu phân tâm học qua một số truyện ngắn hiện đại Việt Nam
Tác giả: Hồ Thế Hà
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w